Lưu trữ

Archive for the ‘Uncategorized’ Category

Phượng-hoàng đã sải cánh bay

(Nguồn)

Khi vừa nhận được tin linh-mục Vũ Khởi Phụng từ-trần hồi 21 giờ ngày Thứ Tư 02-3-2016 tại Tu-viện Thái-hà – Hà-nội, tôi thật bình-tĩnh trong lời thầm nhủ là ngày giờ phải đến thì đã đến thôi. Song rồi tiếp sau đó là bắt đầu thấy bâng-khuâng với một cảm-giác hụt-hẫng và mất-mát cứ thấm dần, thấm dần. Nhất là sau khi nhìn qua một số hình ảnh đầu tiên tại tu-viện Dòng Chúa Cứu Thế Thái-hà khi ông mới ra đi. Người đi vừa thoát hết hệ-lụy, nằm đó thanh-thản như còn say trong giấc ngủ muộn nhưng nhìn những người ở lại đang đứng vây quanh sao lòng thấy bùi-ngùi, se-thắt.

Cha con một thuở là đây, thầy trò duyên nợ cũng còn đây và anh em một đời gắn-bó trong ân-tình và tín-nghĩa cũng chỉ còn những phút này đây. Rồi từ đấy những hồi-ức cứ từ-từ quay ngược về quá-khứ đã bắt tôi đặt bút viết những dòng hoài-niệm này.

Viết… thay cho nén hương bái-biệt.

Cuộc đời có nhiều chuyện tình-cờ đến mà người ta thường gọi nó là duyên. Và tuy chỉ có một chữ duyên đơn-giản song lại gói-ghém biết bao nhiêu ý tình để nhờ đó mà đời người có những liên-hệ làm thành mối tương-quan cảm-thông trong tình thân-hữu, thân-thiết trong nghĩa đệ-huynh hoặc gắn bó bằng tâm-linh giao-cảm.

Nhớ lại, một ngày nào đó năm 1980, tôi đi lễ chiều ở nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp vì nhà tôi muốn tìm một linh-mục Dòng Chúa Cứu Thế giải-tội và lại còn nhờ tôi góp ý chọn giúp một vị nào đó trong những linh-mục tôi đã quen hoặc biết ở đấy. Tôi lừng-khừng trả lời rằng linh-mục nào chẳng có đủ bảy chức thánh, chẳng được trao ban và uỷ-thác cho năng-quyền tha tội…Để Chúa chỉ cho. Vậy là nhà tôi xăm-xăm đi vào phòng khách nhà dòng, còn tôi ngồi lại chờ trước núi đá Đức Mẹ.

Khoảng hai mươi phút sau, cha Phụng và nhà tôi từ trong cửa phòng khách nhà dòng bước ra, quẹo phải và song-song chậm bước đi vòng theo khu sân trước nhà dòng, đi tiếp ngang qua mặt tôi để về phía phòng thánh rồi lòng-vòng đâu đó một hồi thật lâu nữa mới trở lại. Tôi vội đứng lên, ông bắt tay tôi rồi chào từ-biệt sau khi nhắc với nhà tôi ngày giờ họ đã hẹn gặp lại.

Nhà tôi nét mặt rạng-rỡ, nhẹ-nhàng kể-lể là đang đứng lớ-ngớ trước cửa phòng khách thì gặp lúc cha Phụng vừa tiễn khách về đang quay vào, bèn lại gặp. Rồi vào phòng khách xưng tội và sau đó cùng nhau đi lòng-vòng để nghe cha chia sẻ về một số cảm-nghiệm tâm-linh. Và nhà tôi kết-luận là cha có cách nói chuyện rất “người”, không bị ảnh-hưởng bởi cái chủ-quan thường có nơi các giáo-sĩ; nhất là khi làm “cha giải tội” thì chỉ giảng và dạy. Cha Phụng giải tội mà như một người bạn tâm-linh, muốn ủi-an nâng đỡ hơn là làm cho xong một thủ-tục, một trách-vụ.

Từ đó, nhà tôi có vẻ “mê” ông, hay ghé thăm chuyện trò, lại còn rắc-rối thắc-mắc là sao ngay từ thời sinh-viên tôi cũng hay tới lui sinh-hoạt và lễ lạy ở nhà thờ Kỳ-đồng, đã quen biết các linh-mục, tu-sĩ tại đấy như cha Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Cao Đình Trị, Phạm Gia Thụy…chẳng hạn, mà sao lại không quen cha Vũ Khởi Phụng thì tôi chỉ trả lời gọn lỏn và ngang chành là tại không có duyên.

Thực ra thời vào gian ấy, cha Phụng mới chịu chức, rất trẻ-trung và được rất nhiều người ái-mộ vây quanh. Thỉnh-thoảng tôi cũng gặp ông tại phòng làm việc của cha Chân Tín, của Nguyễn Ngọc Lan…và dù vẫn có chào hỏi đủ lễ nhưng không hiểu sao tôi lại không thích nhập vào cái đoàn rồng rắn lúc nào cũng tíu-tít rộn-ràng ấy.

Rồi bỗng dưng từ một nhu-cầu tâm-linh của nhà tôi mà đã mở ra một mối thân-tình cho đến nay.

Độ ấy, tại nhà thờ Giáo-xứ Đức Mẹ Hằng Cứu-giúp, Thánh-lễ tám giờ mỗi sáng Chúa-nhật thường do linh-mục Phạm Gia Thụy phụ-trách và Thánh-lễ 6 giờ 30 chiều do linh-mục Vũ Khởi Phụng phụ-trách. Gia-đình tôi chọn đi lễ tám giờ sáng vì tôi thích nghe cha Thụy giảng trong phong-cách mà người nghe có cảm-tưởng như ông đang trải-nghiệm những suy-tư tâm-linh của chính đời mình. Thế nhưng bây giờ đành phải nhường, đổi sang lễ 6 giờ 30 chiều để nhà tôi nghe cha Phụng giảng mà theo anh thì tự nhiên như chia sẻ tâm-tình. Tôi chỉ biết lẩm-bẩm với chính mình rằng để xem chia-sẻ được bao lâu và tự hứa sẽ chú tâm nghe để còn đem sợi tóc ra chẻ cho vui.

Thú thực, thời-gian đầu tôi không thích lắm cách giảng của cha Phụng với văn-phong chữ nghĩa mà tôi cho là hơi bóng-bảy và có chút “làm dáng” khi diễn ý. Tuy thế tôi đã bắt đầu thầm phục ông về thái-độ luôn chủ-động trong khi diễn giảng, luôn ý-thức về những gì mình đang nói. Lại còn rất nhanh khi cần tự-động chuyển ý nội-dung diễn-tả để ứng-đối cho kịp tình-huống bất ngờ nào đó thật uyển-chuyển mà người nghe có thể vẫn nghĩ như là có soạn sẵn. Có lần, chỉ một đoạn Tin Mừng mà các tác-giả Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca ghi rất gọn sự việc Chúa chữa cơn bệnh nhức đầu cho bà mẹ vợ ông Phê-rô thôi mà cha Phụng thao-thao trên toà. Tôi nghĩ có thể nhiều người chẳng hiểu hết hay nắm bắt được bao nhiêu ý-nghĩa nhưng đã vẫn lắng nghe theo bài-bản và thật mát tai với ý mới được diễn giảng về những điều ông gọi là “cơn cảm cúm và váng-vất tâm-linh”. Lễ xong, chúng tôi đến trước cửa phòng thánh gặp ông. Do vẫn quen với việc chúng tôi thường hay góp chút ý này, ý khác để chia sẻ sau những lần nghe giảng nên cha Phụng hỏi chúng tôi ngay về bài giảng vừa rồi ra sao. Vì mối tương-quan giữa chúng tôi lúc đó đã đủ thân-thiết và tự-nhiên nên tôi nói ngay là cứ như bánh phồng tôm. Ông thẳng-thắn thú nhận là vì vừa đi giảng ở ngoài về, lại thấy nội-dung gọn-gàng quá nên không soạn trước và ông cười nói với nhà tôi rằng, đồng ý là bánh phồng tôm tuy không bổ, không no nhưng lâu lâu ăn một lần kèm theo các món khác thì cũng thêm hương-vị, nhất là sự giòn-giã của nó, thì cũng đâu phải sợ bị lạc-điệu.

Một dịp trao-đổi khác, tôi rất cực-đoan đòi hỏi rằng Thần-khí Đức Ki-tô trao ban và sự sáng của Thánh-linh soi dẫn để đâu mà khi người ta làm bậy, nhất là các đấng bậc, thì lại đổ cho ma quỷ cám-dỗ hoặc là những phút yếu lòng. Đấy là cách nói ăn gian và đổ vấy …Cha Phụng bảo tôi nếu không thích kiểu ăn gian và đổ vấy như thế thì nói cách khác vậy…chẳng hạn như là Chúa Thánh-linh đi vắng chốc lát hay đi vắng thường-xuyên. Lại một lần, trong dịp gặp mặt “bỏ túi” tại nhà, có cả linh-mục Thiện Cẩm cũng là một thân-hữu chí-thiết của gia-đình, sau bữa ăn tôi vừa gọt xoài vừa rào đón là rất ngại mua loại trái cây này vì không biết chua ngọt ra sao. Cha Thiện Cẩm bảo nếu sợ chua thì đừng ăn xoài mà đổi sang đu-đủ đi, còn cha Phụng nói ngay là pha ly nước đường uống là chắc nhất…

Đại-khái những cái kiểu nói “chuyện chẳng ra chuyện” mang ngôn-ngữ đời thường và không cầu-kỳ này thường là nội-dung của các dịp trò chuyện mà có thể nhiều người sẽ gọi là chuyện huề vốn. Với tôi lại khác, tôi thấy mình có lời khi bắt buộc phải thêm nhiều suy-nghĩ để tự-thân rà lại tính quá-khích và cực-đoan của mình trong tâm-linh cũng như ngoài cuộc sống; về đạo cũng như với đời…

Tuy-nhiên, cái cơ-duyên tâm-linh dẫn đến tương-quan bằng-hữu này không phải lúc nào cũng đơn-giản như vị chua của xoài, vị ngọt của đu-đủ hay của ly nước đường. Chẳng hạn trong những dịp cùng phân-tích, trao đổi về dội-dung hay bình-phẩm về các nhân-vật trong một số sách ông cho tôi mượn về đọc như Sous le soleil de satan, Les Grands Cimetières sous la Lune và Journal d’un curé de campagne của Georges Bernanos; L’Avocat du diable của Morris West hay La saison des pluies của Graham Greene… thì lại toàn là “lý sự” khô-khan và gai-góc với một số cách nhìn cuộc sống được phản-ảnh qua các nội-dung câu chuyện. Có điều, cũng nhờ đó tôi nhận ra rằng bằng tâm-thức của một nhà tu hoà với chất văn-chương và nghệ-thuật trong di-truyền, linh-mục Vũ Khởi Phụng đã tạo cho người chung quanh hay thân-cận dễ tìm được nơi ông phong-độ của một hiền-nhân đầy tình người nhẹ-nhàng, dễ làm cho người khác thấy được cảm-thông hơn là một quyền-uy chỉ dùng lý-tính để cột buộc. Đôi khi, dựa vào mối thân-tình sẵn có, chúng tôi đùa vui nói là hèn chi ông có làm cao lắm cũng chỉ đến Phó Giám-tỉnh chứ không bao giờ “dám” tỉnh.

Lần đầu chúng tôi đến căn nhà ở trong khu trại Bùi-phát thăm hai cụ thân-sinh của cha Phụng từ Hà-nội vào là dịp người em trai út của ông vừa ở trại tù cải-tạo về. Khi cụ ông Vũ Thế Hùng vừa giới-thiệu anh Vũ Đằng Giao, tôi buột miệng đọc câu văn trong bài tự Đằng-vương các của Vương Bột, danh-sĩ thời nhà Đường bên Tầu: Đằng-giao khởi-phụng, Mạnh học-sĩ chi từ tông (Giao-long vượt cao, phụng-hoàng nổi dậy; đó là tài-hoa của Mạnh học-sĩ, ông tổ của từ chương – Trần Trọng San dịch) thì cụ ông đọc ngay câu kế tiếp Tử-điện thanh-sương, Vương tướng-quân chi võ-khố (tia chớp tía, hạt sương trong, đó là tiết-tháo của Vương tướng-quân). Rồi sau những lời chào hỏi với hai cụ, với chị Phụng-Anh và anh Giao xong, cụ ông trở lại ngay bài tự Đằng-vương các với thắc-mắc là xưa nay, câu được nhiều người coi như tuyệt-bút trong bài văn viết theo thể “tự” này là câu Lạc-hà dữ cô-vụ tề phi. Thu-thuỷ cộng trường-thiên nhất sắc (Ráng chiều rơi và con cò cô độc cùng bay; nước sông mùa thu nhập với bầu trời thành chung một mầu) mới phải chứ. Tôi thưa với cụ là vì thuộc cả bài nên vừa nghe hai “tên tuổi” trong nhà thì nhớ đến và chắc không ra ngoài ý này. Cụ cuời thay cho lời xác-nhận.

Thế là ngay trong buổi sơ-kiến, nội-dung thăm hỏi thì ít mà cùng tâm-đắc về văn-chương đạo-học Đông-phương thì nhiều. Tôi phải khai thêm lý-lịch là trước 30-4-1975 đã học Văn-chương Việt Hán ở Đại-học Văn-khoa Sài-gòn như muốn gián-tiếp “khoe” với hai cụ cái nếp đào-tạo của nền học-thuật tại Miền Nam Việt-Nam. Từ đó, mỗi thời-gian hai cụ ở Sài-gòn thì chúng tôi hay tới lui thăm hỏi và nghe chuyện văn-chương, chuyện về chốn cũ người xưa của đất cố-đô. Trong câu chuyện, nếu như cha Phụng có được nhắc đến thì cả hai cụ cũng chỉ dùng tên trống không để gọi… Phụng thế này, Phụng thế nọ. Còn với chị Phụng-Anh và anh Giao thì có thêm chữ “ông”.

Năm 1987, tôi có dịp ra Hà-nội. Cả hai cụ niềm-nở chuyện trò khi tôi đến thăm và cụ ông ân-cần bảo tôi …“cô đi vào Nam lúc còn quá nhỏ, cho nên bây giờ dù có thông-kim bác-cổ cũng chưa đủ nếu không biết gì thêm về Thăng-long ngày trước. Tôi tình-nguyện làm người hướng-dẫn cô đi ngược về cái thuở còn núi Nùng, sông Tô-lịch…”. Sáng sớm ngày hẹn, cụ từ đường Trần Hưng Đạo đến đón tôi ở phố Hàng Ngang. Người chị dâu trưởng-tộc của gia-đình tôi đem hết chút di-sản ngàn năm văn-vật trước 1954 còn rơi rớt lại ra dùng đón cụ. Hai cụ con vừa ra khỏi nhà là cụ khen bà chị dâu tôi rối-rít. Tôi phụ-chú là ở ga Hàng Cỏ có bao nhiêu băng nhóm và nói bao nhiêu thứ tiếng là chị con thông-thạo hết đấy. Cụ nói bằng giọng xót-xa… “Xã-hội này nó bắt con người phải ra như thế cô ạ. Tôi khen là chị ấy còn giữ được, chứ bây giờ người ta ứng-xử và giao-tế bằng thứ ngôn-ngữ thô-lậu cứ như dân chợ búa thôi”… Lần đó, tôi được cụ đưa đi thăm chốn hành-cung ngày xưa của các vua nhà Lê là chùa Trấn-quốc hiện nay; sang Trấn Võ để xem pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ đứng cao sừng-sững hơn ba mét và cái gác ở ngay cổng vào, nhỏ như gác chuông của một ngôi chùa ở nhà quê mà cụ bảo rằng đấy là cái lầu nơi đó các văn-nhân đồng thời ngồi nhìn ra Hồ Tây xướng hoạ, ngâm vịnh. Vào vườn Bách-thảo đứng trên đỉnh núi Nùng bây giờ chỉ còn là cái gò đất. Cụ cũng chỉ cho tôi khu trường Bưởi ngày trước là nơi có một đoạn sông Tô-lịch đã bị lấp mất. Khi về lại trong Nam, tôi nói với cha Phụng “đường gian-nan – nếu có – cha đã trải qua chưa bằng gang tay so với những tháng năm hai cụ phải hoà vào nhịp sống của xã-hội Miền Bắc mà tuyệt-đại đa-số đã mất gốc văn-hoá và đạo-học của thời hai cụ”.

Năm 2006, tôi còn được gặp hai cụ thêm lần nữa ngoài Hà-nội, tại Thái-hà. Được cùng cụ đọc lại bài Thăng-long thành hoài-cổ của Bà Huyện Thanh-quan với đá trơ gan cùng tuế nguyệt …nước chau mặt với tang thương… và chỉ vạch cho tôi cái tên đường Cổ Ngư vô nghĩa. Theo cụ, con đường gọi là đường Thanh Niên ngày nay, thuở xa xưa là một lối mòn cỏ mọc kín đầu dẫn vào túp lều tranh của một ông già tên là Ngự, chuyên cất vó cá. Người chung quanh vì kính ông cao tuổi nên gọi là cố Ngự. Khi con đường đuợc mở rộng và nối dài ngăn đôi giữa Hồ Tây và hồ Trúc Bạch thì vẫn còn giữ tên cũ Cố Ngự nhưng lại bị đọc trại thành Cổ Ngư.

Các cha Cao Đình Trị và Phạm Gia Thụy ngạc-nhiên thấy tôi thân với cha Phụng. Theo hai vị thì cách nhìn sự việc của cha Phụng và tôi không giống nhau. Mà cũng đúng, tôi thấy ông nhiều khi như hơi luộm-thuộm, ba phải; các lằn ranh nào ông cũng đứng giữa. Còn ông thì phê tôi lúc nào cũng “jongler avec des concepts”. Tôi tự dịch ngay cho ông nghe và giải-thích là dịch không cần hay hoặc chính-xác mà chỉ cần đúng ý của người nói; đó là “nhảy như con loi-choi với các định-kiến”. Ông cũng bảo tôi rằng chữ nghĩa rất hiền-hoà và vô-tư mà sao cô dùng nó thì cứ như những lưỡi dao, những mũi kim sắc nhọn. Tôi trả lời là vì không đi tu, lại càng không phải một “rédemptorist”.

Có điều, tuy cứ mở miệng là “đốp chát” nhưng tôi cũng nhận ra sự đáng quý nể nơi cha Phụng là cái tâm hiền-hoà, cái tinh-thần khó nghèo và kiêm-ái trong nếp sống đơn-sơ cần thiết của một bậc tu-trì. Quanh năm suốt tháng chỉ đi xe đạp. Nghe đâu cũng có lúc đeo đồng-hồ, nhưng đã gỡ ra cho “đệ-tử” đem bán lấy tiền giúp người nghèo rồi không chịu đeo lại, dù có nhiều người – trong đó có cả nhà tôi – cứ gạ-gẫm mua tặng cái khác. Cha Trị cản đừng mua vì có đeo rồi cũng gỡ ra để đâu không biết hoặc thấy ai đó than khổ thì cho ngay. Lễ thánh bổn-mạng không loan-báo rềnh-rang, ai có biết mà mừng mà chúc thì nhẹ-nhàng cám ơn. Các dịp kỷ-niệm khấn dòng hay thụ-phong linh-mục thì do nhà Dòng làm; còn bản-thân, như chị Phụng-Anh nói, là phải nhắc và bắt về nhà ăn cơm mới nhớ…

Linh-mục Cao Đình Trị là người đã cho tôi nhận ra mối dây huynh-đệ đẹp lành và đầy liên-đới giữa anh em Dòng Chúa Cứu-thế với nhau qua những chia sẻ của ông với tôi về cha Phụng. Một buổi chiều đầu năm 1992, tôi gặp cha Trị trước giờ lễ chiều thì được báo tin “Phụng mới bị đụng xe, đang nằm ở Trần Hưng Đạo”. Cái lối nói chuyện thân-tình này lúc đầu tôi cũng hơi ngại vì vắng bóng những chữ “ngài” này, “ngài” nọ mà chỉ còn chữ “ông ấy” thế vào. Rồi lâu dần tôi cũng bị nhiễm nên cũng quen tai và dùng rất tự-nhiên. Song nếu như khi người khác, nhất là các giáo-dân ngoan đạo, nghe ăn nói như vậy thì sẽ cho là “gở lạ”.

Tôi vào thăm thấy một chân ông đang treo bằng sợi dây “cable” nhỏ máng trên một bánh xe “rouleau”, đầu kia là một khối nặng nằm kênh trên sàn nhà. Y-tá giải-thích vì lúc chân bị cán lên thì chỗ xương gẫy đã chồng lên nhau, giờ phải kéo từ-từ cho ăn khớp lại rồi mới mổ ra bắt vít bắt ốc. Tôi chào “Tại đi nhiều quá nên Chúa tạm treo chân thôi” và ông cười theo cái tính mà nhà tôi gọi là “xem nhẹ các sự thế-gian” trả lời “Người chỉ bẻ nhẹ một chân thì chưa chừa được”. Tâm-linh cũng là thế đấy.

Năm 2008, giữa lúc Thái-hà đang sáng rực ánh nến công-lý, tôi ghé nhà Kỳ-đồng gặp cha Cao Đình Trị, xin được phỏng-vấn linh-mục Giám-tỉnh Phạm Trung Thành và linh-mục Vũ Khởi Phụng khi ấy đã ra Hà-nội làm Bề-trên tu-viện Thái-hà. Sau gần 10 năm không gặp mà cha Trị vẫn cứ cách xưng hô vui-vẻ ngày trước thường dùng “Xếp ở đâu về và về bao giờ vậy”. Trong khi chờ cha Giám-tỉnh Phạm Trung Thành từ trên lầu xuống, câu chuyện hàn-huyên nhanh gọn và về Thái-hà: “Sao lại đưa “ngài” ra đấy vào giữa lúc này, Chúa có lầm không và anh em có hại nhau không vậy”. Cha Trị cười bảo “…có vậy mới phải chịu khó làm việc nghiêm-túc và theo nguyên-tắc đi, để sử-dụng cho hết những cái xưa nay được đánh giá là giỏi-giang, uyên-bác, thâm-trầm và khôn-ngoan trước khi chết chứ…”

Đêm Giáng-sinh năm 2011, tôi đến Thái-hà nghe Thánh-ca và dự lễ đêm. Tôi cứ đứng chù-chừ không biết làm sao chen vào trước một rừng người dầy đặc ngay từ đường lớn dẫn vào bệnh-viện Đống-đa và chật cả khu sân rộng trước Tu-viện. Cuối cùng phải liên-lạc với Nguyễn Hữu Vinh để được dẫn vào qua lòng nhà thờ, xuyên ngang phòng áo rồi từ đấy ra phía sau sân khấu mà xuống chỗ cộng-đoàn đang ngồi. Cha Phụng đứng lên đón rồi chỉ cho tôi vào ghế trống ngay phía sau ông mà ai đó đã nhường cho. Tới cuối buổi trình-diễn Thánh-ca, ông lên nói lời kết-thúc và không quên có lời chào mừng “khách quý”. Ngày hôm sau tôi trở lại Tu-viện định chào để ra phi-trường vào Sài-gòn thì cha Phượng cho biết ông đi dâng lễ ở một nhà dòng nữ nào đó. Và lần cuối cùng nói chuyện với ông là khi gọi điện-thoại từ Sài-gòn ra chào để về Úc.

Và bây giờ, tin ông mất đã làm bao hồi-ức kéo về để rồi một mảnh trời kỷ-niệm được mở ra và sẽ dần-dần khép lại.

Cha kính

Giờ này, xác-thể cha đã tan thành tro than, đã trở về với mớ cát bụi tuyệt-vời từ nguyên-thủy; song con tin rằng làn hơi thần-khí đã hà vào cho chúng ta thành thân-phận thì vẫn còn đó và đang bay gần về cõi phúc trường sinh. Hoặc giả như người xưa quan niệm “thác là thể phách, còn là tinh-anh” thì trong cái tinh-anh ấy đang hoà theo khí thiêng trời đất, khí thiêng sông núi, mong rằng cha vẫn không ngừng nài xin ơn Người phù-trợ cho anh em, cho Giáo-hội, cho Quê-hương, cho khí-phách phượng-hoàng bền vững nơi hết thảy anh em mình. Cho đến một ngày không còn những cái mà theo cách một người anh em Phan-sinh của chúng ta là linh-mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh đã gọi là những con gà mái đủ mầu đỏ, tím, đen.

Vĩnh biệt…

Phạm Minh-Tâm

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized

CHỮ TÌNH TRONG THÔNG ĐIỆP DEUS CARITAS EST”

I. Tác giả, nội dung và mục đích của thông điệp:
Dư luận thường rất chú ý đến thông điệp đầu tiên của một vị tân Giáo Hoàng. Người ta cố tìm trong đó những ý hướng chủ đạo cho cả triều đại của vị Giáo Hoàng ấy. Đặc biệt Đức Benedicto XVI từ ngày được đưa lên Tòa Thánh Phê-rô đã khiến nhiều người thắc mắc. Người ta công nhận ngài là người rất thông minh, uyên bác, là một bộ óc thần học tầm cỡ. Nhưng cũng có tiếng than rằng ngài bảo thủ, cố chấp, ngăn cản đường tiến của thần học. Thậm chí người ta đặt cho ngài danh hiệu “Hồng Y thiết giáp”, coi ngài như cỗ chiến xa bắn hạ, húc đổ, san bằng tất cả trên đường đi của mình. Một số lập trường bảo thủ của Đức Gio-an Phao-lô II gây bực bội cho những thành phần nào đó được coi là do có sự đóng góp tích cực, và những gợi ý đắc lực của Hồng Y Ratzinger. Phải chăng Hồng Y Ratzinger là một người có bàn tay sắt, chuyên môn siết chặt, chuyên môn dập tắt, chuyên môn đàn áp mọi thứ cảm hứng ? Ít ra đó là ấn tượng ta cảm nhận từ một số nhà thần học và dư luận báo chí Phương Tây.
Đến khi Đức Gio-an Phao-lô II qua đời, trong cương vị đoàn trưởng Hồng Y Đoàn, Đức Hồng Y Ratzinger phải xuất hiện trước mắt toàn thế giới, nhiều người đã ngạc nhiên: “Hóa ra đây là cụ Ratzingger nổi tiếng đấy ư ?” ( tiếng dữ đồn xa ). Cụ già tóc bạc, nói năng khiêm tốn, tình nghĩa, khi thuyết giảng thi chinh phục được những người khó tính nhất, chẳng có gì là hiện thân của những thái độ tiêu cực. Lại thêm mấy hôm nữa, Hồng Y Ratzinger trở thành Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI. Người ta lại đưa ra những dự đoán, dự báo về sự siết chặt và dập tắt. Tương lai sẽ cho biết những lời tiên tri ấy đúng đến mức nào.
Cho tới nay một năm đã qua chưa thấy Đức Giáo Hoàng mới siết chặt hay dập tắt gì nhiều. Chỉ thấy ngài liên tục kêu gọi đối thoại, hợp tác, thậm chí mời cơm những người chỉ trích mình gay gắt nhất và nhẩn nha trao đổi với họ hằng tiếng đồng hồ ( một việc mà Đức Gio-an Phao-lô II trong suốt 26 năm trị vì, không bao giờ chịu làm ). Đức Hồng Y Gioan B. Phạm Minh Mẫn vừa đi dự hội nghị Hồng Y về nói rằng Đức Benedito XVI ngồi suốt buổi chăm chú lằng nghe mọi ý kiến, cuối phiên họp Ngài đúc kết ý kiến của anh em Hồng Y và thay vì đưa ra mệnh lệnh hoặc quyết định, Ngài đưa ra những định hướng. Có người nói trong cương vị bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, Ngài Ratzinger có nhiệm vụ bảo toàn giáo lý chính thống, đó là một phương diện của Ngài. Ngày nay, với tư cách mục tử của toàn Dân Chúa sẽ lộ ra một cá tình khác mà những người thân quen với Ngài vẫn biết, nhưng những người chỉ quen nghe những lời chỉ trích phê bình sẽ cho là bất ngờ: Ngài Ratzinger là người của đối thoại, cảm thông, rất tôn trọng người khác.
Không biết thông điệp mới này có giúp ta vượt quá những ấn tượng do phe này phái nọ tạo nên để phát hiện một định hướng nào của Đức Giáo Hoàng cho toàn thể Giáo Hội ?
Đọc bản văn thông điệp không khó lắm. Sau những chiêm niệm thâm trầm trùng điệp của Đức Gio-an Phao-lô II, ta gặp lối nói khúc chiết như suối trong chảy xuôi của Đức Benedito XVI. Ta có cảm tưởng như trên Toà Thánh Phê-rô ngày nay vẫn là vị giáo sư trên bục giảng ngày nào. Thậm chí có cả giai thoại vui vui như những lời châm chọc nhau của hai triết gia Gassendi và Descartes. Xưa nay thông điệp của các Đức Giáo Hoàng thường đưa ra những nhận định cao xa, bằng một giọng văn tôn nghiêm diệu vợi. Đức Benedicto XVI thì không ngần ngại nêu đích danh những nhân vật trong đời: Gassendi, Descartes, Friedrich Nietzsche. Ngài trích dẫn cả thi hào Latinh Virgilio…
Nhưng quan trọng nhất vẫn là nội dung. Đức Thánh Cha nói rõ chủ đề ngay từ đầu thông điệp: “Thiên Chúa là Tình Yêu, ai ở trong Tình Yêu thì ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người ấy ( 1Ga 4, 16 ). Những lời này trong thư thứ nhất của Thánh Gio-an đã bày tỏ minh bạch đâu là trọng tâm của Đức Tin Ki-tô Giáo”.
Đức Thánh Cha muốn bày tỏ chân lý trọng tâm này cho “một thế giới đôi khi gắn kết Thánh Danh Thiên Chúa với thù hận, thậm chí với căm hờn bạo lực được coi như một bổn phận. Cho nên trong thông điệp đầu tiên này Tôi muốn nói đến tình yêu Thiên Chúa chan chứa trên chúng ta, để rồi đến lượt chúng ta cũng phải chia sẻ tình yêu ấy với người khác”.
Thông điệp được chia làm hai phần: “Phần Thứ nhất thiên về suy tư nhiều hơn, vì vào buổi khởi đầu sứ vụ giáo tông, tôi muốn làm sáng tỏ ở đây những sự kiện cốt yếu về tình yêu Thiên Chúa đã hiến tặng cho con người một cách nhưng không nhiệm mầu, cùng là mối liên hệ nội tại của Tình Yêu ấy với tình yêu hiện thực của con người”.
Phần hai ứng dụng niềm tin ấy, tức là nói về cách Giáo Hội thực thi điều răn yêu mến, nhằm gây nên “trên thế giới này một sinh lực mới, một dấn thân mới của con người để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa”.
Tiếp đó vị giáo sư đi tìm ý nghĩa của từ “Yêu”. Ngày nay “tình yêu” là một từ được sử dụng nhiều nhất, chúng ta gán cho cùng một từ đó những ý nghĩa khác nhau. Ví dụ: yêu nước, yêu nghề, cha mẹ con cái yêu nhau, yêu người, yêu xã hội và yêu Thiên Chúa. Nhưng giữa tất cả những tình yêu ấy, nổi bật lên “tình yêu nam nữ” xem ra như là “một hứa hẹn hạnh phúc không gì cưỡng lại nổi”. Cho nên vấn đề đặt ra: “tất cả những dạng yêu thương ấy cơ bản có phải là một chăng, khiến cho tình yêu dù thể hiện đa dạng đa diện, nhưng xét cho cùng chỉ là một thực tại, hay là chúng ta đã dùng chỉ một từ mà ám chỉ những thực tại hoàn toàn khác nhau ?” ( Số 2 ).
II. Thiên Chúa dựng nên người ta có Nam có Nữ.
Trong thông điệp này, tình yêu nam nữ được hân hạnh mở đường đưa ta vào thế giới của tình yêu.
Đã rõ tình yêu nam nữ là một cao đỉnh của tình, thông điệp bàn luôn đến dục tính. Xưa nay tính dục ít có vinh dự được làm đề tài cho một thông điệp của Đức Giáo Hoàng. Vả lại, thông thường người ta cho rằng Giáo Hội có nói đến tính dục thì cũng là nói với một thái độ tiêu cực thôi, nghĩa là cảnh giác, bài xích, cấm đoán sự tội lỗi.
Bàn về tình dục, thông điệp “Deus Caritas Est” đưa ra lập luận có tính cách biện chứng, xin được giảm lược như sau:
1. Định đề: Tình dục có ý nghĩa tích cức của nó. ( Do đó phải có ý kiến phê bình Giáo Hội đã đàn áp tình dục ).
2. Phản đề: Phân tích và phê bình tình dục ( và do đó giải thích đạo lý của Giáo Hội ).
3. Hợp đề: Đặt chữ dục lại trong chữ tình.
1. Thông điệp Deus Caritas Est đã không ngại đề cao tình dục khi nói rằng dường như nó “hứa hẹn một hạnh phúc không gì cưỡng lại nổi”. Đã thế thông điệp đặt ra câu hỏi: “Phải chăng Giáo Hội với tất cả những điều răn cùng cấm đoán, đã biến cái điều quý báu nhất trên đời thành sự đắng cay ?” Thông điệp cũng công nhận rằng trong Đạo Ki-tô, từ xưa tới nay vẫn có những khuynh hướng “đối nghịch với thân xác”, và như thế những lời phê bình như của Nietzsche rằng “giới Ki-tô Giáo đã đầu độc tính dục” cũng có đôi chút cơ sở ( số 3 – 5 ).
2. Nhưng phê bình có đôi chút cơ sở không có nghĩa là phê bình đúng. Vừa nhìn nhận thực tại tính dục và một chút cơ sở của những lời phê bình đối với Giáo Hội xong, thông điệp liền chỉ rõ đâu là những độc tố khiến cho Giáo Hội thận trọng trước vấn đề tính dục. Đức Benedicto XVI duyệt qua từ những tôn giáo phồn thực cổ. Đức Giáo Hoàng nói tới “người Hy Lạp, cũng như nhiều nền văn hóa khác…” ( số 4 ), ( như thế ta nghĩ ngay đến từ những đạo thờ sinh thực khí, mà vết tích còn nhiều ở nước ta ) cho đến nền văn minh kích dục khiêu dâm hiện đại với thân xác con người, bản thân con người bị biến thành đồ vật, một món hàng bán buôn ( số 5 ).
Ít ra thì những tôn giáo phồn thực cổ còn gợi lên một ý niệm gì thiêng liêng. Người ngày nay hơn hay kém người ngày xưa ở chỗ đã vất bỏ cái phần thiêng liêng hư hư thực thực ấy, chỉ còn lại tính dục trơ trẽn, vô tâm. Khiêu gợi giữa chợ, bán buôn giữa chợ, chợ thật ngoài đời và chợ ảo trên các phương tiện truyền thông. Lòng dục cũng là một thứ ma túy, nó cho người ta những giây phút hưng phấn, nhưng lại gặm nhấm mất cái nhân phẩm.
Dần dần nó tạo cho những kẻ mê dục một thái độ khinh người rẻ của trong lãnh vực tính giao; xác thịt lên ngôi độc tôn thì giá trị tinh thần lần lượt tắt lịm. Có thể nói đến lúc đó thì tình dục chỉ còn lại chữ dục mà đã mất chữ tình.
Hiện tượng mê chữ dục mà mất chữ tình ngày nay ta thấy nhan nhản. Xin nêu vài ví dụ: Tệ nạn phá thai đang phổ biến là một bộ mặt trái của dục mà thiếu tình. Không hiểu sao những ân ái sôi nổi lại gần với sự nhẫn tâm hủy hoại sự sống đến thế, những yêu đương lại gần với tâm địa sát sinh đến thế. Một vị linh mục ở Kontum vừa gởi về cho chúng tôi những tấm hình chụp các thai nhi đã đầy đủ hình hài bị tống khứ khỏi bụng mẹ. Bên nghĩa trang dành cho các thai nhi có tấm bia với một bài thơ dài. Xin trích một đoạn:
“Con nằm đây hai tay chắp nguyện cầu
Lạy mẹ cha trăm ngàn lạy nữa
Hãy để con, cho con được sinh ra…”
Nhưng rồi…
“Con không có lời ru
Đưa con vào cuộc đời
Để con được làm người
Con không còn tiếng khóc chào đời…
Xin thắp lên cho con một ngọn nến…
Trong lòng đất lạnh…
Xin cắm cho con một cành hoa”
( Thơ Xuân Vũ Trần Đình Ngọc )
Bây giờ thỉnh thoảng lại thấy báo chí nói đến các cô dâu Việt Nam được “xuất khẩu” sang nước ngoài. Cha Nguyễn Văn Hùng ở Đài Loan gửi về cho chúng tôi nhiều chứng từ về những cô dâu thay vì được làm vợ thảo mẹ hiền, thì hóa ra phải làm “nô lệ tình dục”. Rất nhiều người, đặc biệt chị em phụ nữ đã bầy tỏ sự phẫn nộ và tủi nhục. Những chị em đã lập gia đình hạnh phúc đúng nghĩa với người nưới ngoài cũng mang tiếng oan lây. Mấy hôm trước đây, chúng tôi phải an táng một thiếu phụ có học hẳn hoi, vì hoàn cảnh gia đình cũng đã nhắm mắt đưa chân trong một cuộc hôn nhân có tính cách mua bán đó. Ít lâu sau, chị trở về Việt Nam trong tâm trạng trầm uất.
Bạn bè rủ chị đi Nhà Thờ. Chị đã định ngày hôm sau sẽ đi xưng tội. Không biết bị ngăn cản thế nào, thay vì đi xưng tội, chị đã treo cổ tự tử.
Thật ra, những điều linh mục Nguyễn Văn Hùng ở Đài Loan mô tả về tình cảm nhiều cô dâu Việt Nam còn khủng khiếp hơn gấp nhiều lần những điều báo Chosun của Hàn Quốc nói. Báo tuổi trẻ đã có loạt bài ( Xem Tuổi Trẻ những ngày cuối Tháng 5 – 2005 ) phản ánh tình cảnh khốn cùng đó. Nhưng không biết vì đâu sau đó tất cả lại chìm vào yên lặng. Tại sao ta không lắng nghe tiếng nói thiện chí và nhân ái của chính đồng bào ta, mà phải đợi đến báo chí nước ngoài bêu riếu mới làm ầm ỹ lên ? Và, quan trọng hơn nữa: ầm ỹ rồi thì có biện pháp gì hữu hiện để chữa lành những nỗi đau thể xác và tinh thần đó ?
Như một câu thơ Việt Nam đã mô tả: Kết cuộc của những mối tình đó là “Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi”
Khi tình dục đã quay lại huỷ hoại sự sống, thì tình dục là bạo lực.
Vì thế ở đây không đơn thuần chỉ là tình dục nữa, nhưng là cả một hệ thống xã hội đen trục lợi bất lương trên thân xác và hoàn cảnh nghèo khổ của người dân nước mình. Chúng tôi tự hỏi: Ở Tòa Thánh đã có ủy ban Công Lý và Hòa Bình, và nhiều Giáo Phận trên thế giới cũng có ủy ban này, phải chăng Giáo Hội Việt Nam chúng ta cũng cần có một ủy ban để đến với những nạn nhân của bất công và bất an đó ?
3. Số 4 và số 5 của thông điệp cho ta cảm nhận được tai họa đó. Có một thứ tình yêu bị đồng hóa hoặc bị chế ngự bởi nhục dục, gọi theo từ Hy Lạp là Eros ( do đó ngôn ngữ Tây Phương có những từ Erotisme, Erotique ): “Ái tình ( eros ) hứa hẹn sự vô tận, sự vĩnh hằng, một thực tại lớn hơn nhiều và hoàn toàn khác hẳn so với cuộc sống thường ngày”. Nói thế, rõ ràng là nhìn nhận một cách tích cực về tình dục, nhưng, liền đó có một chữ nhưng: “Nhưng… để đạt mục đích đó thì không thể đơn giản quỵ lụy bản năng. Cần phải có sự thanh luyện và trưởng thành, mà muốn thế thì phải hy sinh”. Thanh luyện, trưởng thành, hy sinh chẳng những không hề khước từ hoặc “đầu độc” tính dục, mà thật ra chữa lành và phục hồi sự cao cả của nó.
Sở dĩ như thế trước tiên là vì “con người được cấu thành bởi xác và hồn. Con người thực sự là mình khi xác và hồn kết hợp với nhau khăng khít; thách thức của Eros chỉ thực sự được khắc phục khi ta đạt được tình trạng xác hồn thống nhất. Giả sử con người muốn là tinh thần thuần túy mà hất hủi xác thịt coi như nó chỉ là phần thú tính ở nơi mình, thì cả tinh thần lẫn thể xác đều mất nhân phẩm; đàng khác, nếu con người phủ nhận tinh thần mà coi như chỉ có vật chất, xác thịt mới là thực tại duy nhất, thì cũng đánh mất luôn sự cao cả của mình… Không phải chỉ có tinh thần, cũng không phải chỉ có thể xác yêu, mà là con người, là nhân vị, là thụ tạo xác hồn đồng nhất, yêu. Chỉ khi nào cả hai chiều kích ấy thực sự thống nhất, thì con người mới đạt đến tầm vóc đầy đủ của mình. Chỉ như vậy thì ái tình, – Eros – mới chín, mới đạt đến sự cao cả của nó”… Chỉ khi ấy Eros mới mang tính cách “xuất thần” lên cõi Chúa, nó đưa ta vượt quá chính mình; chính vì lẽ đó mà nó cần một con đường đi lên, khổ chế, thanh luyện và chữa lành ( số 8 ).
III MẠC KHẢI MỚI VỀ TÌNH YÊU TRONG KINH THÁNH.
“Suy tưởng có phần triết lý trên đây về bản chất của tình yêu”. chúng ta đã tiến đến “ngưỡng cửa của Đức Tin theo Kinh Thánh”. Đức Thánh Cha trở lại với câu hỏi ban đầu: tất cả những tâm trạng khác nhau được diễn tả cùng bằng từ “yêu” có quy về một uyên nguyên duy nhất nào không, hay trái lại, chẳng liên hệ gì với nhau. Và câu hỏi đặc biệt quan trọng nữa là “sứ điệp yêu thương như Kinh Thánh và truyền thống Hội Thánh công bố cho ta có điểm nào tiếp giáp với cảm nghiệm thông thường của người ta về tình yêu không, hay là trái nghịch với cảm nghiệm đó” ( số 7 ).
Ngay từ đầu Thông Điệp, Đức Benedicto XVI đã nhắc lại rằng Cựu Ước Hy Lạp chỉ dùng từ Eros có hai lần, còn Tân Ước thì không dùng đến nó. Tân Ước lại thích dùng từ Agape, là một từ không thông thường lắm trong tiếng Hy Lạp (số 3 ). Vậy, Eros và Agape sánh với nhau như thế nào ?
Eros gợi lên sự thèm muốn chiếm đoạt còn Agape thì hàm ngụ ý hướng hiến dâng, hiến tặng. Có thể nói Eros nặng về chữ dục mà Agape thì nặng về chữ tình. Nhưng “giả sử sự đối nghịch này được đẩy đến tận cùng, thì hóa ra bản chất của Đạo Ki-tô đã tách ra khỏi những sinh hệ căn bản của kiếp người, để làm thành một thế giới riêng, có lẽ là tuyệt vời đấy, nhưng dứt khoát cách biệt với tình huống phức hợp của nhân sinh”.
Vậy mà Eros và Agape… lại không bao giờ có thể tách rời nhau hoàn toàn. Hai phương diện khác nhau ấy càng tìm được sự hợp nhất đặc thù trong cùng một thực hữu tình yêu, thì bản tính chân thực của tình yêu… càng thành hiện thực. Dù cho lúc đầu Eros chủ yếu là thèm muốn và lăm le chiếm đoạt, vì đã bị thu hút bởi một hứa hẹn hạnh phúc lớn lao, nhưng khi đến gần đối tượng, thì mỗi lúc mỗi bớt quan tâm đến mình, mỗi lúc mỗi gia tăng tìm kiếm hạnh phúc cho đối tượng, mỗi lúc mỗi thêm quan tâm đến người yêu, hiến mình để mong muốn “sống vì” người ấy. Thế là nhân tố Agape đã lọt vào tình yêu, bởi nếu không như thế thì Eros sẽ trở nên nghèo nàn, thậm chí còn đánh mất cả bản tính của mình. Mặt khác, con người không thể chỉ sống bằng tình yêu dâng hiến, quan hoài mà thôi. Không thể cho mãi được, còn phải nhận nữa. Bất kỳ ai muốn trao tặng tình yêu cũng phải nhận tình yêu như một món quà tặng” ( số 7 ).
Nếu được phép ví von, ta có thể nghĩ đến mối tình của người phụ nữ trong ca dao nam bộ:
“Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”.
Trong lời “cho thiếp theo cùng” có chất Eros, nhưng đến khi “đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”, thì Eros đã biến thành Agape rồi !
Do đó, “về cơ bản, “yêu” là một thực thể duy nhất, với những chiều kích khác nhau; vào những thời điểm khác nhau, chiều kích này hay chiều kích kia có thể nổi rõ hơn. Nhưng nếu hai chiều kích ấy hoàn toàn tách biệt nhau, thì kết quả chỉ còn là một bức biếm họa về tình yêu, quá lắm cũng chỉ là một thứ tình yêu bần cùng”. Và đến đây, Thánh Kinh mặc khải “những chiều kích mới của tình yêu” ( số 8 ).
Mạc khải Thánh Kinh tiết lộ cho ta một điều mới: ấy là cái tình của con người, với Eros và Agape, lại là một phản ánh của Thiên Chúa. Trong cõi siêu việt của Ngài, Thiên Chúa cũng yêu với Eros và Agape. Ngài yêu các thụ tạo của Ngài. Ngài yêu con người. Ngài yêu Dân Ngài tuyển chọn. Các ngôn sứ: “đặc biệt là Hôsê và Ezekiel đã mô tả nỗi đam mê của Thiên Chúa đối với Dân Ngài bằng ngôn ngữ luyến ái táo bạo” ( số 9 ). Mà vì thế Sách Diễm Ca, tức là một tập thơ tình, một tập tình ca đề cao tình yêu nam nữ ( số 6 ) cuối cùng lại “diễn tả được quan hệ của Thiên Chúa với con người, của con người với Thiên Chúa” và trở nên một “nguồn nhận thức và cảm nghiệm thần hiệp”, diễn tả chính cái huyền nhiệm con người có thể kết hợp với Thiên Chúa.
Nhưng Thiên Chúa đã nhìn thấy gì nơi thế giới này và nơi con người để mà yêu thương đến như vậy ? Hóa ra thế giới này và con người được tạo dựng có một giá trị thẳm sâu khiến cho Thiên Chúa cúi xuống và cuốn hút nó vào huyền nhiệm yêu thương của Ngài: “Thiên Chúa là uyên nguyên tuyệt đối của vạn vật; nhưng nguyên lý của vạn vật trong cõi tạo thành ấy… đồng thời cũng là một tấm lòng yêu mến với tất cả nỗi dạt dào của một tình yêu chân thực. Thành ra Eros được nâng lên cực điểm cao quý, nhưng đồng thời cũng trở nên trong sáng đến mức trở nên một với Agape” ( số 10 ). “Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người lớn đến nỗi Ngài trở nên người và đi theo con người cho tới mức bằng lòng chịu chết” ( số 10 ). Và đó là mầu nhiệm, là mạc khải Đức Ki-tô.
Từ con đường đi tìm chiên lạc đến con đường lên Golgotha, từ nhập thể đến bí tích Thánh Thể ( Thánh Thể với Agape là một, số 14 ), Thiên Chúa đã tự hiến mình để nên một với con người và yêu thương cho đến tận cùng ( số 12 – 13 – 14 ): “Đây là tình yêu ở dạng căn cội nhất. Chiêm ngưỡng cạnh nương long bị đâm thâu của Chúa Ki-tô ( Ga 19, 37 ), ta sẽ hiểu được thông điệp “Thiên Chúa là Tình yêu” ( 1 Ga 4, 8 ) khởi đi từ đâu. Đây chính là nơi chân lý ấy phải được chiêm ngưỡng. Ta phải khởi đầu từ đó mà định nghĩa tình yêu. Chính trong sự chiêm ngưỡng đó mà Ki-tô hữu phát hiện đâu là đường sống, là đường yêu thương của mình” ( số 12 ).
Mở đầu câu chuyện, Đức Benedicto XVI có nói đến tính dục, nhưng khởi đầu thật của vấn đề không phải là tính dục, mà là trái tim bị đâm thâu của Chúa Ki-tô. Đó mới là uyên nguyên, là nguồn cơn. Và đó cũng là giải đáp cho câu hỏi lúc đầu: mọi thứ tình trên đời đều có một nguồn chung, phát xuất từ Thiên Chúa là Tình Yêu.
Từ uyên nguyên đó, có Eros, có Agape chảy tràn xuống cuộc đời. Người đồ đệ Chúa đón nhận lấy nguồn yêu thương cho riêng bản thân mình: “đương đối với Thiên Chúa duy nhất là hôn nhân nhất phu nhất phụ. Hôn nhân dựa trên tình yêu chính chuyên trọn đời trở nên hình ảnh của mối quan hệ của Thiên Chúa với Dân, của Dân với Thiên Chúa. Cách Thiên Chúa yêu thương trở nên chuẩn mực cho tình yêu của con người” ( số 11 ).
Người đồ đệ Chúa cũng để cho tình yêu thương của Thiên Chúa qua mình tràn vào thế gian. Biết rằng Thiên Chúa yêu thương con người, nên ta nhìn ai cũng thấy đó là “người thân cận” ( số 15 ).

Chuyên mục:Uncategorized Thẻ:

NHỚ CHA TRẦN HỮU THANH

“Thôi, tắt đèn đi ngủ !” đó là những lời nói cuối cùng của cha Trần Hữu Thanh. Lúc đó đã gần 2 giờ sáng ngày 24.10.2007. Có ba đệ tử ở bên cha già trong phòng bệnh viện. Hai chú đã ngủ, một chú thức bên giường cha, không hiểu sao cha cho đánh thức hai người đang ngủ rồi lại bảo tắt đèn đi ngủ. Chú đệ tử thưa rằng ánh sáng là do đèn ngoài đường hắt vào, còn trong phòng đã tắt đèn rồi. Đột nhiên cha Thanh nấc liền hai lần. 92 năm cuộc đời chấm dứt.
Tôi cứ nghĩ ra Hà Nội chuyến này, một việc cần làm trước tiên là đến bệnh viện thăm cha già Thanh. Không ngờ tôi chưa kịp bước lên máy bay, thì cha đã… tắt đèn đi ngủ. Tối hôm ấy tôi bước vào Nhà Thờ Nam Đồng Hà Nội, nhìn qua nắp kính quan tài thấy nét mặt cha thật bình yên. Những nét già nua thường thấy như biến đâu mất. Khuôn mặt đầy đặn làm tôi liên tưởng đến ngày tôi còn bé, đến những ấn tượng hồi mới được biết cha Thanh. Ngày ấy cha đi ngược về xuôi, khi Miền Trung, khi Miền Nam, khi Châu Âu, khi Thái Lan, cả con người là một khối năng lượng lúc nào cũng sục sôi. Những ý tưởng lời nói vừa thực tế, vừa sâu sắc vừa hóm hỉnh cứ liên tục trào ra như suối trong mát bất tận. Nhiều người đến viếng cha có cảm tưởng trông cha “hiền” hơn lúc còn sống.
Thật ra sáu bảy năm cuối đời về sống giữa bà con Giáo Dân Nam Đồng, lúc nào cha chẳng “hiền” ? Nhưng cha già ơi, cha tắt đèn nhắm mắt rồi, từ nay mỗi khi đến đây con sẽ không thấy đôi mắt long lanh dưới mái tóc bạc phơ, và một nụ cười chúm chím. Cười thế này là cụ sắp nói ra một cái gì oái oăm mặn mà lắm đây. Lại có lúc cụ nằm trên giường cười một mình. Đó là lúc cụ vừa sáng tác ra một câu chuyện gì tiếu lâm đủ mùi gia vị, cứ đợi đấy rồi cụ sẽ kể với nụ cười chúm chím vỡ toang thành tiếng cười rung rung sảng khoái. Nghe bà con kể đến những ngày cuối cùng trên giường bệnh, yếu lắm rồi không nói được nữa, cụ vẫn còn những cử chỉ trêu chọc bác sĩ hay chị bếp Nhà Dòng tìm đến vấn an.
Cái hài của cụ không phải là tếu suông. Nó là một mặt của tình yêu toàn diện cụ dành cho cuộc sống, cuộc sống tranh sáng tranh tối, vàng thau lẫn lộn, tồi tàn bệ rạc, nhưng với tính lạc quan tự nhiên, với nhiệt tình sẵn sàng xắn tay hành động, và nhất là với Đức Tin mãnh liệt vào Chúa, cụ vẫn tìm ra ở đó cái vẻ đáng cười, đáng thương, đáng cứu.
Đức Tin mãnh liệt ấy cụ thừa hưởng được từ gia đình từ những thời tai bay vạ gió 1885: phong trào Văn Thân không chỉ “bình Tây” mà còn “sát Tả”. Ông nội và nhiều người thân trong gia đình cụ đã chịu tử vì đạo, bây giờ tôi thấy tiếc đã không hỏi cụ cho rõ một điều: trong lăng mộ tập thể các vị tử đạo ở họ Tri Bưu gần bên linh địa La Vang phải chăng có hài cốt của những bậc tiền nhân trong gia đình cụ ? Quá khứ của một dòng họ là yếu tố quan trọng định hình nhân cách cho các thế hệ tương lai. Khí thiêng của Đức Tin nhập thể nơi những diễn biến quằn quại của lịch sử làm nên dung mạo của Tín hữu và của Giáo Hội. Cụ Thanh là một dung mạo như thế.
Cụ Thanh bắt đầu cuộc đời Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế vào thời điểm dân tộc chuyển mình trong đau thương máu lửa. Cụ chịu chức tháng 6 năm 1942 tại Nhà Thờ Cửa Bắc, Hà Nội. Thế chiến thứ II đưa quân đội Nhật vào chiếm đóng Việt Nam, và cũng đưa cả bom đạn của người Mỹ. Linh Mục Thanh được giao nhiệm vụ dạy văn chương Việt Nam cho các đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế ở Huế. Ngay từ trẻ Cha đã có những khiếu về ngôn ngữ và hùng biện.
Dòng Chúa Cứu Thế Huế do các Thừa Sai Canada thành lập đang là một điểm thu hút cả giới bình dân cố cựu lẫn giới trí thức tân tiến của đất Thần kinh. Thư viện Accueil do cha Thomas Côté điều hành là nơi hội tụ của nhiều người đang ưu tư về vận nước. Có sinh hoạt văn hóa được hoàng hậu Nam Phương đến chủ tọa, nhưng nhiều lúc khác những người sau này sẽ là lãnh tụ cách mạng, những người như ông Tố Hữu, ông Tạ Quang Bửu cũng thường lui tới. Nhiều người khác sau này sẽ là những khuôn mặt tri thức lớn của Miền Nam: Giáo sư Nguyễn Huy Bảo ( anh ruột cha Nguyễn Huy Lịch ) người Hà Nội, đồ đệ của triết gia Henri Bergson gây dựng sự nghiệp giáo sư triết học của mình ở Huế. Ông Bùi Xuân Bào xuất thân từ một gia đình nho học thâm nghiêm đang trải qua những trăn trở tâm linh dữ dội trên đường đến với Chúa.
Tất cả những lớp người đó nay đã thuộc về quá khứ, ở Sài-gòn có chăng còn Nữ Tu Mai Thành, em ruột giáo sư Bào. Trong sự “trở lại đạo” của hai anh em họ Bùi ít nhiều có phần đóng góp của Dòng Chúa Cứu Thế. Sau này soeur Mai Thành sẽ nói, sẽ viết về bước đường tâm linh gian khổ mà diệu kỳ của gia đình bà, cho đến ngày cụ thân sinh sau bao nhiêu phiền muộn về mấy người con bỏ đi theo Chúa lại càng được Chúa soi sáng và giải thoát.
Ngày nay thư viện Accueil của cha Thomas Côté đã làm vừa xong nhiệm vụ. Sách báo ngồn ngộn của nó đang chồng chất trong một căn phòng đầy bụi bặm và đang có nguy cơ bị mối mọt và những mùa mưa lê thê xứ Huế xâm hại. Cùng với những người đã nâng niu chúng, những sách báo ấy cũng đã đi dần về phía quá khứ. Nhưng không vì thế mà ta phải than thở như trong Sách Thánh: “Phù vân của mọi phù vân, mọi sự đều là phù vân”: “Vanitas vanitatum, omnia vanitas” là vì những người đã từ đấy đi làm cách mạng thì cách mạng vẫn còn đây. Những người đã từ đã từ đấy đi làm nhà giáo, đi làm nhà tu thì đồ đệ của họ cũng vẫn còn đây.
Nhắc tới cái thư viện ấy là để trình với bạn đọc rằng cái môi trường do Dòng Chúa Cứu Thế ở Huế tạo nên đã có thời oanh liệt của nó. Trong môi trường đó cha Thanh xuất hiện và được nhìn nhận như một thế hệ kế thừa không thiếu những điểm xuất sắc và cũng từ giữa môi trường ấy mà cha chứng kiến những ngày long trời lở đất của Cách Mạng tháng 8 mùa thu năm 1945.
Khí thế của những ngày ấy còn đọng lại trong một câu hát, cha Thanh không giỏi nhạc, hát lại càng không hay, nhưng trong một buổi họp mặt mừng Xuân Đinh Hợi vừa qua, giới trẻ đua nhau ca hát, tự nhiên cụ ôn lại kỉ niệm trẻ khỏe năm xưa. Cụ Thanh ngồi trên xe lăn cất tiếng ồ ề ca một bài do ai khác đặt nhạc nhưng cụ phổ những lời còn mang chất lửa của những ngày toàn quốc vùng lên đó:
“Ta người Công Giáo đáp tiếng non sông cương quyết đấu tranh
Nam Bắc một lòng xông pha quật cường sống
Trong thời nguy biến đã có chúng ta không tiếc hy sinh
Cho quốc dân minh tự do vẫy vùng…”
Thế rồi một vài câu sau đó:
“Ta xin thề: Ta theo Vua Giê-su mà tranh đấu…”
Đối với cái “gu” của người thời nay chẳng biết cung cách “ta người Công Giáo” như thế có phần nào hơi nghênh ngang, hơi hiếu thắng, hơi “triomphaliste” một chút không ? Nhưng khí phách ngày ấy nó như thế. Và bên dưới những điệu nhạc lời ca có vẻ hành khúc khải hoàn đó, đã có thể đoán được một vấn đề sâu hơn, thậm chí là vấn đề thường hằng.
Một người như cha không thể không suy nghĩ nhiều về vận mạng dân tộc đã đành mà cũng về vận mạng của Đức Tin, của Giáo Hội giữa lòng dân tộc này nữa. Thánh Phao-lô đã bảo đời sống Đức Tin của người tín hữu, của người tông đồ “là kho tàng vô giá mang trong bình sành lọ đất.” Còn Giáo Hội thì như con thuyền Việt Nam “lênh đênh qua cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”. Bây giờ quá nửa thế kỷ đã qua, nhìn lại thấy chìm thì không chìm, vẫn nổi, nhưng quả là lắm cảnh lênh đênh.
Sáu mươi năm đã qua rồi, từ những ngày sôi bỏng ấy, cha Thanh trở về nơi cha đã ra đi> Học Viện DCCT, nơi ngày xưa cha theo học, đã biến thành bệnh viện Đống Đa. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn ngôi Nhà Thờ do Nhà Dòng xây dựng, các Linh Mục và Tu Sĩ của Dòng vẫn phục vụ tại đó. Một Tu Viện mới đã mọc lên.
Hôm nay Cộng Đồng Dân Chúa ở Hà Nội tiễn đưa cha. Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ, và Giáo Dân tề tựu rất đông. Bầu khí trang nghiêm và tĩnh lặng, chỉ nghe thấy tiếng đàn tranh rỉ rả, và những giọng hát trầm bổng: “Có một điều tôi hằng ước mong, là được ở trong Nhà Chúa, suốt đời tôi, suốt đời tôi…” Cha muốn thế thì đã được thế. Chuyện đời của cha lắm tình tiết, cha bôn ba tìm kiếm nhiều, lênh đênh cũng nhiều, nhưng xuyên suốt cuộc đời vẫn là ước mong Nhà Chúa. Trước sau vẫn là thế thôi.
Từ năm 1949, cha Thanh từ giã bục giảng lớp học để dốc toàn lực cho tòa giảng trong Nhà Thờ. Một nỗi ưu tư chẳng bao giờ vắng bóng trong tâm tưởng của cha: đất nước và dân tộc sẽ ra sao ? Chiến tranh Việt Pháp đạt tới cường độ tạo ra một khúc quanh mới, trên bàn cờ chiến lược thấy xuất hiện những thế và lực mới. Đối với cha, điều mệnh hệ trên hết là Đức Tin sẽ nẩy nở hay tàn lụi qua cơn biến loạn này ? Hội Thánh sẽ phát triển hay tan hoang theo thời cuộc ?
Cha không phân biệt một bên là dân tộc một bên là tôn giáo. Phân biệt như thế là không có Đức Tin nữa rồi. Người như cha chỉ biết gieo mầm Đức Tin bất kể hoàn cảnh thuận hay nghịch. Trời cho cha bản tính lạc quan và nhiệt thành, cha lao vào công cuộc tông đồ của Hội Thánh, dẫu biết rằng người cộng sản đang nắm ngọn cờ độc lập dân tộc để lãnh đạo kháng chiến. Giữa Cộng Sản và tôn giáo trong tình hình thế giới lúc ấy, mối quan hệ thật gay go phức tạp. Xem ra có mâu thuẫn đối kháng.
Có lúc cha Thanh đã tưởng cựu hoàng Bảo Đại có thể là một giải pháp. Cha đã góp công phác họa lá cờ vàng ba sọc đỏ được nối liền bởi một con rồng uốn hình chữ S, tượng trưng cho dân tộc Việt da vàng máu đỏ ba miền Bắc Trung Nam là một. Về sau, cụ Tôn Thất Sa là một họa sĩ có tiếng ở Huế dựa vào bản phác thảo của cha, bỏ con rồng đi làm ra lá cờ vàng của chế độ quốc gia vào lúc trong cuộc chiến tranh Việt Pháp thấy lộ ra những ý đồ đấu tranh quốc – cộng.
Dù sao thì lịch sử cũng cho thấy ông Bảo Đại không phải là người có đủ bản lãnh để trụ lại được trong bão táp lịch sử. Mà suy cho cùng thì lá cờ hay chế độ chính trị cũng chẳng phải là điều cha Thanh tìm kiếm. Phút cao hứng vẽ cờ qua đi, cha trở về với con người thực chất của mình. Điều cha thật sự muốn ngã ngũ với đời không phải là vấn đề chính trị hay quân sự. Mấu chốt của nó ta đã thấy từ trong sánh Công Vụ Tông Đồ: Có một Giê-su mà người Do Thái bảo là đã chết, nhưng Phao-lô cố quyết là vẫn sống ( Cv 25, 18 ). Và suốt từ ngày ấy tới tận đời các tổ tiên Tử Đạo của cha Thanh đến cha Thanh, những người tin vẫn một mực nói như Phao-lô. Và không những chỉ nói Giê-su vẫn sống mà thôi, mà còn nói chỉ co Giê-su đang sống ấy mới nắm bí quyết của mọi lẽ sống ở đời.
Lần lượt cha Thanh đi dọc ngang các tỉnh duyên hải miền Trung từ Quảng Trị đến Khánh Hòa. Cha thức tỉnh đức tin cho hàng chục ngàn người có Đạo, hàng nghìn người ngoài Đạo xin gia nhập Hội Thánh.
Năm 1954, chiến tranh đến hồi kết cục với Hiệp Định Genève. Trước mắt đã thấy rõ Giáo Hội ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ phải làm sao sống được trong những điều kiện ngặt nghèo. Cha Thanh lao vào soạn thảo tài liệu nhằm giúp người Công Giáo miền Bắc sống Đạo trong thời Cách Mạng. Tuy vậy, Nhà Dòng không phân công cho cha Thanh ở miền Bắc. Nhiệm vụ góp phần chống đỡ ngôi nhà Giáo Hội ở miền Bắc được trao phó cho cha Vũ Ngọc Bích.
Cha Thanh ở lại miền Nam. Tình hình miền Nam diễn ra những đổi thay quan trọng. Giải pháp Bảo Đại đã đổ sụp. Ông Ngô Đình Diệm nắm chính quyền, với sự trợ lực của người em là ông Ngô Đình Nhu. Hai anh em họ Ngô đã chọn một học thuyết để dựa vào đó mà đương đầu với chủ nghĩa Marx. Người ta bắt đầu nghe nói đến thuyết Nhân Vị.
Gì chứ nhân vị thì đúng là điều cha Thanh quan tâm, lần này không chỉ là một lá cờ, mà là cả một hệ tư tưởng. Phải chăng đây là giải pháp cho những ưu tư về con người mà xã hội đang thao thức tìm kiếm ? Lại một lần nữa, những khắc khoải về thân phận con người đưa cha vào nhiều nỗi truân chuyên.
Từ ngày chế độ do anh em nhà họ Ngô gây dựng sụp đổ, ở Miền Nam người ta hay nói đến nền “Cộng Hoà Nhân Vị” với nhiều dụng ý mỉa mai. Sự mỉa mai này được duy trì từ khi cả nước đi vào cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa. Không riêng gì nước ta, ngay từ hồi ông Diệm, ông Nhu còn thống trị, ở bên Tây, quê hương của ông Emmanuel Mounier là người lập thuyết Nhân Vị, cũng có những nhà trí thức bĩu mỏ cái xã hội mang danh là “nhân vị” ấy chẳng nhân vị gì hết. Thôi thì ông Diệm, ông Nhu làm chính trị, các ông phải đưa đầu chịu báng, phải hứng lấy búa rìu của lịch sử, và ít ra hai ông cũng được điểm này: Đã kiên trì với tâm tưởng của mình cho đến nỗi thiệt mạng.
Nhưng nếu sự mỉa mai phát xuất từ một thực tế xã hội lại lan đến cả một chủ nghĩa, thì thật là bất công đối với thuyết Nhân Vị của ông Emmanuel Mounier. Xét cho cùng, nếu thời ấy xã hội Miền Nam không phản ảnh được những lý tưởng nhân vị, thì ngày nay xã hội của chúng ta đâu có phản ảnh được lý tưởng của Kail Marx ? Người có Đức Tin vẫn biết rằng có một thứ tội đầu, một thứ nguyên tổ, dân gian gọi là tội tổ tông, hay tội nguyên tổ, nó làm cho những người điều tốt đẹp nhất như bột, hư đường, hư các thứ vườn địa đàng.
Dù thế nào chăng nữa, đối với những người như cha Thanh, thuyết Nhân Vị quả là hấp dẫn. Cha cũng lên tiếng cổ vũ Nhân Vị. Thực tế mà nói, đó là một công việc đội đá vá Trời. Xã hội Việt Nam đang đi vào một cuộc chiến tranh mới, một cuộc đấu sinh tử. Thuyết Nhân Vị xem ra chỉ sống và triển khai được trong một môi trường hoà bình, hoặc nếu không được như vậy thì nó chỉ tác động, khi người ta thấm đòn của những sự phi nhân trong cuộc đời. Ngoài ra thì nó quá tinh tế, nó không đủ độ chát chua cho những thời kỳ chém to kho mặn. Những người như cha Thanh cố gắng diễn giải nó sao cho thật cụ thể. Như mang hết khoa hùng biện, mang cả cái khiếu kể chuyện, các khiếu hài hước tự nhiên của cha vào cuộc.
Ngày nay nhìn lại bối cảnh lịch sử, thấy rằng đó là một bước đi liều lĩnh theo nghĩa: “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, mà xem còn tạo xoáy vấn đề đến đâu”. Lòng tin dạy cha rằng hạt giống phải chết đi mới mong có mùa gặt. Bảo rằng có thể từ đó làm nên cả một chế độ xã hội thì sẽ là thất bại. Nhưng sẽ có thành công nếu có những con người cảm nhận được thế nào là nhân phẩm. Như một nhà cách mạng tiền bối đã nói: “Không thành công cũng thành nhân”. Và “Thành nhân” thì trong lòng cuộc đời vẫn có cái mà Tin Mừng gọi là muối, là men.
Người tin theo Chúa là người không chỉ lo toan thực hiện ý đồ của mình, mà trước tiên phải tỉnh thức chiêm ngưỡng những việc Chúa làm thường ở ngoài mọi sự mình chuẩn bị và tiên liệu. Chính vì thế điều quan trọng nhất không phải là những dự phóng này nọ của mình, mà là nắm chặt lấy lời Mạc khải, rồi gieo Lời, nói Lời. Cha Thanh hoạt động nhiều, xoay xở nhiều, nhưng trước sau rồi cũng quay về với Lời Chúa.
Năm 1959, cha khăn gói lên đường du học ở Học Viện Lumen Vitae, thuộc Đại Học Công Giáo Louvain ( Bỉ ). Tuổi 53 không còn là tuổi sinh viên, nhưng bù lại cha Thanh mang đến trường cả một bề dày kinh nghiệm để suy nghĩ dưới sự xúc tác cuả các bậc thầy trong lĩnh vực huấn giáo. Cha có được đức tính luôn tỉnh thức cảm nhận những đổi thay của sự sống và của thời cuộc. Cha nhận ra rằng thế giới nói chung, đất nước nói riêng, đang biến chuyển liên tục, và sự biến chuyển ấy hàm chứa rất nhiều tiềm năng cả lành lẫn dữ. Thách thức trước mắt đối với Hội Thánh là làm sao cho cái xã hội tương lai đang từng ngày thành hình đó phải là một môi trường thông thoáng để đón nhận được tiếng gọi của Đức Tin. Như tên gọi của nó, Lumen Vitae có hoài bão phục vụ Lời Chúa sao cho anh sáng của sự sống xuyên qua được những tấm màn trần thế để chiếu toả trong cõi nhân sinh.
Ở tuổi ấy, và với thời cuộc lúc ấy, cha nóng lòng muốn học hỏi cho nhanh để còn về nước phục vụ. Sau hai năm học cha lĩnh bằng cử nhân Thần Học Mục Vụ Giáo Lý. Cha chọn đề tài luận văn tốt nghiệp: “Huấn giáo nơi những vùng dân cư thiên Cộng” ( “Catéchèse et Populations Communisantes” ). “Communisantes”. ở đây được hiểu về những người đã chịu ảnh hưởng, đã có cảm tình, đang dần dần trở thành người cộng sản, hoặc sống trong những vùng, những thời thế đang từng bước chuyển sang chế độ do đảng Cộng Sản lãnh đạo.
Cha đưa vào luận văn những kinh nghiệm thu thập được trong những năm tháng cha hoạt động ở miền Trung từ Bình Trị Thiên, đến Nam Ngãi, Bình Phú, và trong giới Việt Kiều Thái Lan. Luận văn của cha được đánh giá khá cao. Cha nhớ nhất và tâm đắc nhất lời nhận xét của một vị nào đó đã đọc hoặc nghe những luận điểm của cha: “Tác giả có một điều gì đó để nói, và cũng biết cách nói ra điều đó” ( Il a quelque chose à dire, et il sait comment le dire ). Thì ra đang khi góp phần xây dựng chủ thuyết Nhân Vị, cha lại đã quan tâm đến một tình thế khác, một hệ tư tưởng khác. Xuyên qua hai tình thế mâu thuẫn đó, vẫn có một sứ mạng duy nhất. Cha vẫn có một điều gì đó để nói và phải nói.
Cũng cần nói rằng ở thời điểm này Giáo Hội Công Giáo khắp nơi như đang dậy men. Mọi người đang chờ đợi, đang chuẩn bị Công Đồng Vatican II, dưới sự chỉ đạo của Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII. Nhiều nhà thần học, nhiều giới chuyên môn đã linh cảm rằng trong kho tàng Thánh Kinh, Thần Học, Giáo Phụ của Giáo Hội còn tiềm tàng rất nhiều sức bật mà những thói quen trì trệ, lưu cữu, hẹp hòi đã khiến cho bị quên lãng. Đức Giáo Hoàng nói tới một mùa xuân mới, một bầu khí mát lành mới, một sức mạnh hợp nhất, bình an cho mọi người.
Năm 1962, Công Đồng Vatican II khai mạc. Sau những bước đầu chầm chậm, dè dặt, thì những nét về nguồn, những nét canh tân cứ dần dần nổi bật lên. Bầu khí trong Giáo Hội trở nên rất phấn khởi cho những ai quan tâm nghiên cứu và muốn có sáng kiến, muốn mở những con đường mới cho một thời đại mới. Cha Thanh cũng như bao người khác hàng ngày theo dõi những diễn biến trong Công Đồng. Mặc dù tư tưởng “Nhân Vị” bị thời thế cho rơi vào câm lặng, nguồn cảm hứng mới từ Công Đồng Vatican II như một dòng chảy mênh mang khiến cha hăng say cống hiến tâm huyết của mình cho đồng bào.
Đây cũng là thời kỳ Dòng Chúa Cứu Thế của cha mở rộng công việc truyền giáo ở những vùng nghèo khổ. Gần Sài-gòn thì có vùng rừng ngập mặn Cần Giờ, ở miền Trung là vùng Châu ổ trong tỉnh Quảng ngãi. Trên cao nguyên, ngoài miền truyền giáo đã có từ trước ở vùng Fyan ( Lâm Đồng ) để đến với bà con dân tộc K,ho, một địa hạt mới rất rộng đã mở ra trong tỉnh Pleiku ( nay là Gia Lai ) khi ấy còn âm u rừng núi để phục vụ người dân tộc Jrai.
Riêng phần cha Thanh thì vẫn miệt mài với công tác huấn giáo. Lúc này cả những ý tưởng lẫn hoạt động của cha đã được bên ngoài biết đến. Trong thập niên 1960, cha được các hội nghị Giáo Lý Quốc Tế mời đi tham luận ở Đức, Philippines, Thái lan.
Tóm lại là một thời để gieo. Sẽ phải đến một thời hạt giống gieo phải biến tan trong lòng đất. Cuộc chiến tranh khốc liệt ở Việt Nam cũng đi dần đến hồi kết thúc…
Một lần cuối cha Thanh chủ động dấn thân vào chính trị: đó là năm 1974 ở Sài-gòn. Cha cùng với 301 Linh Mục khác ký tuyên ngôn lập Ủy Ban Chống Tham Nhũng. Cha Thanh trăn trở đã nhiều về tiền đồ đất nước, cha cũng đã xoay xở nhiều bề, nhiều phía. Càng ngày càng thấy rõ một điều: sự tham lam ích kỷ như một thứ tà khí bao trùm lên xã hội, nó gặm nhấm, nó làm tiêu tan, nó vô hiệu hóa những ý đồ tốt đẹp nhất. Cha cũng có kinh nghiệm về chống tham nhũng: trong những năm 50 với việc phanh phui vụ “Gạo miền Trung”, cha góp phần làm cho nhiều quan chức đứng đầu 6 tỉnh miền Trung mất chức. Nhưng lần này không chỉ là chuyện của những quan chức cấp tỉnh. Lần này vấn đề lớn hơn nhiều: tham nhũng là quốc nạn, nó biến thành thói tục, thành cơ chế, thành cái nếp xuyên suốt xã hội từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Nó khiến xã hội trở nên vô hồn, nó đầu độc sinh khí cộng đồng.
Mặt khác, chiến tranh Việt Nam đang đến hồi kết thúc. Súng vẫn còn nổ trên các mặt trận, nhưng Hiệp Định Paris đã ký kết rồi. Sớm hay muộn sẽ có thử thách quyết định. Một xã hội bị tham nhũng làm cho mọt ruỗng về tinh thần thì làm sao chịu đựng nổi sóng gió. Cha Thanh lao vào cuộc đấu tranh mới với cảm giác tình hình đã trở nên cấp bách. Phong trào chống tham nhũng tạo ra những cuộc xuống đường rầm rộ, công bố những bản cáo trạng nẩy lửa. Các nhà báo cũng vào cuộc với những hình thức đấu tranh ngoạn mục. Có những buổi sáng Chúa Nhật đi giữa phố xá Sài-gòn người ta có cảm giác lạ lùng bỡ ngỡ, đường phố không bóng xe qua lại, nghe được cả tiếng chim hót líu lo như ở giữa đồng quê. Hôm đó là ngày phong trào chống tham nhũng biểu tình, các ngả đường trung tâm thành phố bị vây chặn bằng những hàng rào dây kẽm gai.
Ở miền Nam ngày ấy, và trong một số giới nào đó, cho đến tận ngày nay, có những người không tha thứ cho cha Thanh và các bạn hữu của cha. Người ta bảo cha phá hoại cuộc chiến chống Cộng Sản, cha làm suy yếu chế độ chống cộng. Cái hôm trung tâm Sài-gòn không bóng xe, đứng bên hè phố có một ông mặc complet rất lịch sự, nhưng miệng phun ra một chuỗi những lời tục tĩu như để đáp lại tiếng chim hót trên cây. Ông đang chửi cha “những thằng Linh Mục làm lợi cho Cộng Sản”. Gia đình ông thường vẫn đi lại rất thân thiết với nhiều Linh Mục. Ông là một trong những người giầu nhất Sài-gòn, và trong những mặt hàng ông sản xuất và kinh doanh có những cuộn dây kẽm gai đang ngăn cắt đường phố.
Cha Thanh thì nghĩ rằng một xã hội đã bị tham nhũng di căn sẽ chẳng chống được cái gì mà cũng chẳng xây được cái gì. Và cũng có nhiều người nghĩ như cha nên vụ việc mới thành phong trào. Có những ông chống cộng cùng mình như ông dân biểu Đỗ Sinh Tứ và các bạn, xưa nay vẫn rất kỵ cái nhóm “cấp tiến” ở Dòng Chúa Cứu Thế, nay cũng tươi cười xuất hiện tay trong tay với nhóm cha Thanh, thậm chí với cả nhóm Chân Tín – Nguyễn Ngọc Lan nữa. Có hôm cha Thanh từ trong nhà bước ra sân Nhà Thờ, bỗng dưng có mấy người Nhật tiến lại nghiêng mình rất sâu chào cha. Mọi người cứ tưởng đó là bạn hữu của cha hay nhà báo gì đó, hóa ra không phải. Họ nhận ra cha vì đã thấy cha trên tivi bên Nhật, và họ muốn tỏ lòng ngưỡng mộ. Thành ra có người khen cha Thanh sáng suốt, có người chê cha điên khùng mê muội. Cha Thanh lại cười chúm chím, ngúc ngắc đầu bảo rằng: “Tôi đã cưỡi hổ rồi, không xuống được nữa đâu”.
Nhưng con hổ cha đang cưỡi sắp bị tử thương rồi. Cách Mạng sắp đến rồi. Và chính quyền Cách Mạng không đặt vấn đề cha Thanh sáng suốt hay mê muội. Sáng suốt hay mê muội thì cũng thế thôi, đàng nào thì cha cũng là người có tội. Đấu tranh làm sạch xã hội nếu là có công với xã hội tư sản thì sẽ là có tội với xã hội cách mạng vô sản. Thế mới là biện chứng.
Ngày 30.4.1975 đưa cha Thanh và cả Sài-gòn sang một thế giới khác. Những người, những vấn đề, những tranh đấu của mấy hôm trước bỗng dưng biến đâu mất. Hôm đầu tháng 5 đó, cha Thanh từ trong Nhà Thờ bước ra, đón người đến hỏi thăm bằng nụ cười chúm chím: “Té ra mình vẫn còn phong độ như xưa !” – Phong độ gì thế cha ? Còn phong trào đâu, còn lãnh tụ gì đâu, còn tranh đấu gì đâu mà phong với độ ? – Không. Phong độ trong cái thuật dạy Giáo Lý cho trẻ con kìa ! Vẫn cứ hào hứng y nguyên như khi còn trẻ vậy ! Bao giờ cũng thế, thăng trầm chán chê rồi thì cha Thanh lại trở về Giáo Lý làm điểm tựa.
Trong Thánh Kinh Cựu Ước có chuyện ông ngôn sứ Giô-na. Chúa bảo ông đi công tác ở phía Đông, ông lại đi ra biển ở phía Tây. Cứ tưởng ông sẽ thành bổn mạng của những người vượt biển di tản, nào ngờ sự việc xảy ra biến ông thành bổn mạng của những người hồi hương giảng đạo. Cha Thanh thì chẳng hề có ý tưởng di tản sang Tây hay sang Mỹ. Có điều những ước mơ của cha cho đất nước có phần hơi nghiêng về phía Tây so với lịch sử đang diễn biến trên mảnh đất Á Đông này. Ông ngôn sứ Giô-na mở mắt ra thấy mình đã trôi dạt đến ngay trước cửa thành Ni-ni-vê to đùng. Trời cho một cơn biến động lịch sử và ở thời điểm 1975 ấy, cha Thanh bước những bước đầu tiên vào quãng đường cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Thế là không đơn giản rồi. Một phút vui mừng vì cái phong độ dạy trẻ con vẫn còn nguyên thì Ccha nói vậy, nhưng cuộc đời đâu có dễ dàng thế. Người như cha, tình hình như thời điểm ấy, làm gì có thể bình an chí thú bên lũ trẻ. Điều ấy cha dư biết. Một hôm cha đi đâu không biết, nhưng không thấy về nhà nữa. Thế là bắt đầu con đường chông gai và gian nan đi vào xã hội mới. Con người ta cần 9 tháng để đi vào cuộc đời, cha Thanh phải mất 12 năm để đi vào xã hội mới. Hơn 3 năm tù ở nhà lao Chí Hòa ( Sài-gòn ) và Thanh Liệt ( Hà Nội ). Rồi 9 năm bị quản chế, 5 năm ở Họ Đạo Quang Húc dưới chân núi Ba Vì, rồi 4 năm ở thôn Trần Nội, Giáo Phận Hải Phòng…
Một thời gian khá lâu, chẳng có tin tức gì về cha Thanh, chẳng có thăm nuôi, chẳng biết cha ở đâu. Thậm chí ở nước ngoài đồn cha đã chết rồi. Không biết có phải vì chuyện đồn đại ấy không mà Nhà Nước cho báo nước ngoài phỏng vấn cha. Ảnh cha được phóng to trên trang nhất của tờ báo. Hồi đó đất nước chưa mở cửa, nhưng tờ báo đi vòng vo thế nào đó, rồi cũng đến Sài-gòn. Ít ra thì thân nhân, bạn bè anh em trong Dòng cũng biết ở một nơi nào đó trong cõi vắng lặng thông tin cha Thanh vẫn còn sống.
Có một Thánh Vịnh nói về chuyến đi qua những thung lũng âm u sát khí, ở đó người ta chỉ chống cây gậy của Chúa để trấn tĩnh tâm hồn. Về sau cha Thanh chia sẻ rằng chưa bao giờ cha nhớ đến từng người, từng việc trong cuộc đời và cầu nguyện nhiều cho bằng những năm tháng ấy. Một cảm nghiệm nữa là tình cảnh nghèo khó, thiếu thốn trăm bề của các Xứ Đạo miền Bắc. Nông thôn miền Bắc không thiếu gì những Nhà Thờ nhỏ hoang phế, trống vắng, bị sự ẩm thấp, mối mọt, rêu phong gặm nhấm dần. Thường thường bên cạnh đó cũng có một Nhà Xứ hay Nhà Phòng cũng xuống cấp như Nhà Thờ. Chung quanh là một khoảng đất trống hay vườn cây có thể tạo thế cô lập cho cơ sở tôn giáo. Những Giáo Sĩ bị quản chế thường được đưa tới những nơi như thế, thử làm người lão bộc thức đêm đợi Chúa đi vắng rất lâu chưa thấy về.
Chúa có vẻ chưa đến, nhưng ông Linh Mục quản chế dần dần nghe thấy hơi thở và nhịp tim của một đoàn chiên vẫn thầm lặng đâu đấy chung quanh Nhà Thờ. Đoàn chiên xem chừng hao gầy, xơ xác vì sống sót qua nhiều đợt phong ba. Rồi đôi bên có nhiều phương cách nhẹ nhàng bắt liên lạc với nhau, dựa vào nhau, sưởi ấm lẫn nhau. Những người giáo dân mộc mạc ấy sau những năm dài bơ vơ về mặt tâm linh, có khi chẳng còn biết gì nhiều. Trơ trần ra chỉ có một lòng trung thành mỏi mòn. Cảm thấy có một ông Linh Mục ở gần, dù bị ngăn cách, là như đất hạn gặp được trời mưa. Tình cảnh ấy khiến cho Linh Mục tuy không được tự do, nhưng lại bồi hồi vì nghe tiếng gọi phát xuất từ những tầng sâu thẳm của Thiên Chức nơi mình.
Cảm nghiệm ấy khiến cho cha Thanh khi mãn hạn 14 năm tù và quản chế không còn muốn về miền Nam nữa. Cha chỉ về Nam thăm nhà Dòng, thăm thân nhân, bạn bè nhưng đã tâm niệm định cư bên ngôi Nhà Thờ trống vắng ở thôn Trần Nội, gần thị xã Hải Dương, Giáo Phận: Hải Phòng. Đến tuổi già, cha lại phát hiện một sứ mạng mới, Giáo Phận Hải Phòng cũng như những Giáo Phận khác ở Miền Bắc, đang hết sức neo đơn về nhân sự, lại gặp một người tầm cỡ như cha xin tình nguyện phục vụ, nên cũng rất vui lòng đón tiếp cha.
Trước mắt cha Thanh bây giờ có cả một thế hệ trẻ mọc như cỏ dại chẳng biết gì về sinh hoạt trong Hội Thánh. Ngày Đức Cha Nguyễn Tùng Cương về thăm thôn Trần Nội, lũ trẻ con mở mắt nhìn thao láo, bảo nhau “chúng mày ơi ! Ông này mặc áo đàn bà !”. Cha Thanh nối lại nghiệp cũ là dạy Giáo Lý, giảng và làm lễ, bây giờ không phải là những cộng đoàn đông nghẹt, nhưng là thôn dân trong ngôi nhà nguyện vài chục mét vuông. Cha tiếp đón người này kẻ khác, không phân biệt tôn giáo. Cha quan tâm đến công việc làm ăn của thôn làng. Bạn bè cũ ở nước ngoài gửi cho cha những hạt giống rau, quả mới. Cha mang phân phát cho dân trồng thử. Trần Nội có những sản phẩm rau, dưa độc đáo bắt đầu làm ăn khấm khá hẳn lên.
Có lúc DCCT tìm cách đưa cha về Hà Nội. Nhà Dòng có thời đã hoạt động khá mạnh ở miền Bắc. Vào thăm rất nhiều ngôi Nhà Thờ vắng lạnh, ta vẫn gặp thấy ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, màu sắc đã mờ đi theo năm tháng. Đó là vết tích hoạt động của Dòng. Khi mọi sự đổi thay, thì Đức Mẹ vẫn kiên trì ở lại giữa đoàn con nghèo khó về mọi mặt. Nhưng bây giờ trên toàn miền Bắc, Dòng chỉ còn lại hai Linh Mục già. Cha Vũ Ngọc Bích được mọi người kính cẩn gọi là cha Bề Trên, mặc dù suốt bao nhiêu năm cha sống một mình, chẳng có ai để làm “bề dưới”. Nay thì cha Bích đã mù mắt rồi, đã “mất sức lao động rồi”. Sau một đời kiên trung, đã đến lúc phải tìm cho cha Bích một người thừa kế. Ngoài cha Thanh thì có còn ai nữa đâu ?
Các ông ở ban tôn giáo Thành Phố cười cười hóm hỉnh: “vậy là các vị định đưa cụ 79 lên kế vị cụ 80 à ?” Thật ra vấn đề không đơn giản là tuổi tác. Cha Thanh thường nhắn nhủ các anh em trẻ trong Dòng: “Khi tiếp xúc với chính quyền, ta luôn phải khiêm tốn và lế độ.” Việc tiếp xúc với chính quyền đối với cha là chuyện thường lệ trong bao nhiêu năm. Cha luôn chủ ý tỏ ra khiêm tốn và lễ độ. Chỉ có điều trao đổi một lúc thì bao nhiêu vấn đề ùa tới, chuyện nước, chuyện non, chuyện đạo, chuyện đời. Thế là cái giọng sang sảng từ ngày xưa lại cất lên. Bây giờ nghĩ lại thấy quả nhiên đất nước đã biến đổi từ từ, nhưng biến đổi rõ ràng. Có những chuyện ngày nay mọi người, từ báo chí đến tư nhân đều nói, nhưng 15, 20 năm trước là điều cấm kỵ. Để cho cái giọng sang sảng của cha Thanh hồi sinh trên tòa giảng một Nhà Thờ ở Hà Nội thì khác nào cho bom nổ giữa thủ đô ? Đấy mới là vấn đề, chứ không phải cái tuổi 79.
Vậy thì lấy ai tiếp nối sự kiên trì của cha Bích ? Câu hỏi hiểm hóc ấy tìm được đáp án thật bất ngờ, mà lại là một đáp án Nhà Dòng mong đợi từ lâu. Chẳng là toàn Hà Nội chỉ có 4 Nhà Thờ thôi, để cho Nhà Thờ của cụ Bích không có Linh Mục, chẳng hóa ra Hà Nội không có tự do tôn giáo ? Các vị trong Mặt Trận Tổ Quốc và Ban Tôn Giáo TP vận động khẩn khoản. Một ngày đẹp trời cha Bích mù lòa chống gậy ngồi xích-lô lên Tòa Tổng Giám Mục xin một Linh Mục về Nhà Thờ Thái Hà thay thế mình. Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng tỏ ra tiêu cực. Ngài trả lời một câu rất có dụng ý: “Nhà Thờ đó xưa nay DCCT phụ trách. Nhà Dòng phải tìm người thay thế. Phần tôi dẫu có dư Linh Mục cũng không cử ai về đấy cả.” Đức Hồng Y làm gì mà có dư Linh Mục, ngài cũng thiếu thốn đủ điều. Thực sự là ngài muốn yểm trợ nhà Dòng.
Vậy là kẹt cứng. Dân miền Bắc từ kinh nghiệm của mình lâu nay có một câu ngạn ngữ mới. Người ta không nói: “Cái khó nó bó cái khôn”, Người ta nói: “Cái khó nó ló cái khôn.” Giữa một cụ Thanh có giọng nói sang sảng và cụ Hồng Y cứ lắc đầu liên tục, các vị trong Ban Tôn Giáo Nhà Nước cũng “ló cái khôn”. Bên cạnh cụ Bích từ vài năm nay có Thầy Sáu Trịnh Ngọc Hiên. Thầy Sáu Hiên đã học xong chương trình chủng viện trong Nam, lại là người biết thuốc Nam, biết châm cứu. Nhà Dòng xin cho thầy ở bên cạnh cụ Bích để săn sóc, đỡ đần cụ lúc tuổi già sức yếu.
Thầy Hiên là người nhẫn nại, hiền hòa, nhỏ nhẹ. Chính cái tính hiền hòa, nhỏ nhẹ đó đã khiến nhà Dòng chọn thầy để sống ở Hà Nội. Các vị trong Ban Tôn Giáo bảo: “thế sao không phong chức cho ông Hiên đó ?” Nhà Dòng mừng quá. Thay vì hai cụ già, từ nay có hai cụ già và một cụ trẻ ở miền Bắc. Tốt lành quá đi thôi. Thế là thầy sáu Hiên chuẩn bị nhanh chóng. Đã gần một nửa thế kỷ mới lại có một Tu Sĩ chịu chức Linh Mục ở Hà Nội. Thấm thoát lại hơn 15 năm qua, cụ Bích đã về bên Chúa rồi, cho đến ngày nay Giáo Dân Hà Nội vẫn yêu mến cha Bề Trên Hiên vì cái tính tận tụy, hiền hòa, nhỏ nhẹ…
Hôm cha Giu-se Trinh Ngọc Hiên chịu chức, cha Giu-se Trần Hữu Thanh ngồi khóc giữa đoàn đồng tế ! Cha có nhiều điều để nhớ; cha nhớ một lần chưa lâu, có ai đó thấy xa trông rộng đã phân giải với cha rằng: “Ai lai giết những người như cụ làm gì. Giết cụ để cụ làm Thánh Tử Đạo à ? Lớp các cụ là những người để cho lịch sử đào thải. Các cụ cứ già cõi dần mòn rồi tan biến thôi”. Vậy mà hôm nay ở đâu nẩy ra cái ông Linh Mục mới này. Tre cứ già mà măng vẫn cứ mọc. Bên cạnh cái già cỗi vẫn có cái trường tồn. cái gì tự nó già cỗi thì để cho lịch sử đào thải, tiếc hay không tiếc cũng thế thôi ! Khi những cái già cỗi đã qua đi rồi, sẽ lộ ra cái trường tồn, với tất cả tính mịn màng của một sự sống mới. Đó là định luật muôn đời của tất cả những gì có thực chất, có nội lực. Đời người, xét cho cùng là một quá trình nhận thức cái gì già cỗi và cái gì trường tồn ở nơi mình.
Điều cha Thanh chứng kiến lúc cuối đời là chung quanh cha có nhiều mầm non. Những lần về thăm Sài-gòn và thấy các thế hệ trẻ của Dòng đang học tập, cha đã khóc như đã từng khóc hôm cha Hiên chịu chức. Năm lần đầu tiên sau năm 1975, DCCT Sài-gòn có một lễ phong chức Linh Mục, cha Cao Đình Trị, khi đó là Giám Tỉnh, đã đứng lên cám ơn mọi thân nhân bằng hữu và quan khách đạo đời. Cha nói: “Người ta cưu mang một đứa con mất 9 tháng, Nhà Dòng chúng tôi cưu mang những người con mới này mất 19 năm”. Gian nan khó nhọc là thế, nhưng Ơn Trên thương rồi ra cũng mẹ tròn con vuông. Trong số những người trẻ mới nhập Dòng, nhiều người đến từ miền Bắc. Nhà Dòng yêu cầu các bạn trẻ ấy giữ nguyên hộ khẩu ở miền Bắc cho sâu rễ, bền gốc, để khi nào đào tạo xong, thì họ trở về phục vụ Chúa nơi quê hương mình.
Cha Thanh có nhiều dự tính cho tương lai. Với những điều cha kinh nghiêm về Giáo Hội miền Bắc, cha nhẩm tính số các Xứ Đạo trong và ngoài Giáo Phận Hải Phòng, số anh em trẻ đang sắp đến thời kỳ hoạt động, và cha mơ ước lập những đoàn Thừa Sai Đại Phúc để lui tới khắp nơi theo truyền thống từ xưa của Dòng. Trong khi chờ đợi, cha Hiên cũng đã bớt lẻ loi, những anh em trẻ gốc miền Bắc đã lác đác trở về Hà Nội tiếp tay với cha.
Ngôi Nhà Thờ cha già Bích suốt mấy chục năm duy trì cho sống qua những mùa khắc nghiệt bắt đầu nẩy cành xanh ngọn. Chung quanh Nhà Thờ, sinh viên các tỉnh lên Hà Nội học ở trọ khá đông. Dân lao động từ dưới quê lên Hà Nội làm ăn, sinh sống, những anh xe ôm, những chị đồng nát, và trăm thứ ngành nghề trí óc lẫn chân tay cũng nhận ngôi Nhà Thờ như nhà chung của mình. Nhà Thờ Nam Đồng thành ra một cộng đoàn hết sức đông đảo, với rất nhiều người trẻ. Tối thứ bảy, tối Chúa Nhật, người ta đến chật ních Nhà Thờ, chật kín sân, tràn khắp hành lang tầng trệt và tầng lầu Nhà Dòng. Rồi các hội đoàn, các lớp Giáo Lý, các ca đoàn, các nhóm sinh viên v.v…
Năm 2001, cha Thanh trở về Hà Nội, chứng kiến và đồng hành với những bước phát triển ấy. Ông cụ 79 không thể về làm việc ở Hà Nội được, nhưng ông cụ ngoài 80 thì phải về thôi. Cha Thanh càng ngày càng suy yếu. Những cơn thấp khớp đau đớn khủng khiếp khiến cha cắn răng nằm liệt nhiều ngày liền. bệnh trạng ngày càng phức tạp, người ta chuẩn bị làm đám tang, đã xây sẵn kim tĩnh cho cha ngoài nghĩa trang Giáo Xứ Phú tảo ( thôn Trần Nội là một họ lẻ của Giáo Xứ Phú Tảo ). Không thể không đưa cha về Hà Nội, là nơi có bệnh viện, có thầy, có thuốc. Vậy rồi sức sống dai dẳng của cha cũng vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo, tưởng chết mà lại hồi sinh. Có điều tay chân bị biến dạng nhiều, dần dà cha phải ngồi xe lăn.
Từ đó, hầu như năm nào cha cũng phải nhập viện một vài lần. Nhưng hễ xuất viện trở về nhà là lại cười, lại tếu. Chiều tối cha vẫn lên Nhà Thờ ngồi xe lăn đồng tế với anh em. Dù sao thì đất nước cũng từ từ thay đổi. Không còn ai cảm thấy phải e dè điều gì về những bài giảng của cha. Tay chân bị bệnh tật làm mất hiệu năng, nhưng tiếng nói vẫn rất tốt, vẫn ấm, vẫn rành mạch. Có khi cha cứ ngồi xe lăn mà giảng trong Lễ chiều cả tuần liền. Hễ anh em đề nghị cha giảng là cha nhận lời ngay. Cha nhận thấy còn nhiều điều lắm để nói.
Không ra ngoài nhiều nhưng cha theo dõi tình hình trong đạo ngoài đời. Mỗi ngày cha dành thì giờ đọc báo chí trong nước, ngoài nước, rồi ngẫm nghĩ, cầu nguyện. Gặp anh em ở các nơi xa đến Hà Nội, cha hỏi thăm ngay những chuyện xảy ra ở các địa phương mà cha đã biết qua các phương tiện truyền thông. Giáo Dân gần xa, và cả những người bên lương quen dần với hình ảnh vị Linh Mục tóc bạc phơ, tối tối thì ở trên Cung Thánh, nhưng ban ngày hay lăn xe đi trong sân Nhà Thờ, thăm hỏi người già, trêu chọc người trẻ, với một bầy nhi đồng, thiếu nhi hay tìm đến lân la, quẩn quanh. Trong tuổi già, không còn chuyên trách một nhiệm vụ nào, cha như một nền móng tâm linh cứ tự nhiên lan tỏa trên những lớp trẻ đang cố gắng gánh vác sứ mệnh đời trước truyền lại.
Lần cuối cùng cha Thanh giảng là hôm Nhà Thờ Nam Đồng dâng lễ cầu hồn cho cha Mi-ca-e Hoàng ( tên gốc là Michel Laliberté ) mới qua đời ở Canada. Đây là một trong hai người cuối cùng còn sống sót trong lớp Thừa Sai DCCT người Canada qua lập Dòng và hoạt động ở Việt Nam.
Những người đã cao tuổi ở Nam Đồng còn nhớ hình ảnh vị Thừa Sai trẻ tóc vàng, râu vàng ngày xưa hay lái một chiếc xe hơi nhỏ chạy khắp phố phường Hà Nội. Chiếc xe ấy trong những năm khốn khó cuối thế chiến thứ II đã từng chở những bệnh nhân nghèo đi cấp cứu. Hồi nạn đói Ất Dậu, có lúc xe chở cả người chết đi chôn. Những người tương đối trẻ tuổi hơn ở miền Nam thì còn nhớ cha Mi-ca-e Hoàng sống giữa bà con người Thượng K’Hor trên Lâm Đồng. Nghe nói từ năm 1975, trở về Canada, cha Hoàng kiếm được đồng nào đều dành hết cho bà con K’Hor nghèo.
Cách đây hơn 10 năm, nghe nói nước ta mở cửa, cha Hoàng cùng mấy vị Thừa Sai khác, tất cả đều đã ngoài 80 rủ nhau sang Việt Nam thăm lại cảnh cũ ( nay đã khác trước nhiều ). Về lại Nam Đồng sau 50 năm biệt tăm tích, Giáo Dân Nam Đồng đã đón tiếp các bậc cố tri vô cùng đằm thắm. Nhân các vị hỏi thăm tình hình, một Giáo Dân đã buột miệng: “Chúng con nghèo lắm, cha ạ”. Và một vị Thừa Sai bỗng nhớ lại tiếng Việt đã mấy chục năm không nói, đã trả lời nghẹn ngào: “Nhưng tình thì không nghèo đâu, giầu lắm, giầu lắm !”
Vị Thừa Sai ca ngợi tình giàu đó cùng với mấy vị nữa đã qua đời rồi. Nay đến lượt cha Hoàng từ giã thế gian, cha chỉ ước được thăm Việt Nam một lần nữa, nhưng mộng không thành. Mấy Linh Mục Tu Sĩ trẻ ngày nay không biết gì nhiều về cha Mi-ca-e Hoàng. Họ nhờ cha già Thanh, hình như học trên cha Hoàng một lớp thì phải, nói mấy lời chia sẻ ( các vị Thừa Sai Canada ngày xưa có một sáng kiến độc đáo: họ đưa các Đại Chủng Sinh Thừa Sai người Canada sang Việt Nam đào tạo chung với các Đại Chủng Sinh người Việt của Dòng, do đó lập ra Học Viện DCCT Hà Nội. Cha Thanh vẫn nói rằng đó là bí quyết khiến các vị Thừa Sai Canada này thành công ở Việt Nam ).
Tối hôm đó trong Thánh Lễ dù đã cảm thấy mệt, cha Thanh vẫn ôn lại những kỷ niệm với người anh em đồng song; cha Mi-ca-e Hoàng chịu chức Linh Mục năm 1945 ở Nhà Thờ Cửa Bắc, không một thân nhân ruột thịt nào có mặt. Gia đình không chỉ ở cách xa nửa vòng trái đất, mà còn bị ngăn cách bởi cuộc thế chiến khốc liệt. Hà Nội và vùng phụ cận sống dưới sự đe dọa của mưa bom bão đạn. Từ đó cha Thanh suy ra cái hồn của người Thừa Sai. Cha vừa giảng, vừa khóc.
Giảng xong bài giảng cuối cùng đó, cha Thanh trở bệnh nặng lúc đêm khuya…
Tình giầu của người Giáo Dân Việt Nam lại hiện lên; không cần phải hô hào, mọi người tự động tìm về Nhà Thờ. Các chú Đệ Tử của Dòng đã săn sóc cha từ nhiều năm nay đưa cha về Tu Viện, và lo việc khâm liệm. Các ông, các anh thanh niên phân công nhau lo giữ gìn trật tự, tiếp tân. Các bà, các cô xé hàng ngàn chiếc khăn cho khách thập phương sắp đến viếng và lo việc chợ búa, cơm nước cho gia đình, bạn bè của cha…
Hai ngày cha Thanh nằm như ngủ trong chiếc hòm kính ở Nam Đồng, người đến viếng hết lớp này đến lớp khác, nhưng bầu khí thật bình an, thanh tĩnh.
Trong những đoàn người đông đảo ấy, thỉnh thoảng nổi lên những khuôn mặt đã như đồng hóa với những giai đoạn thăng trầm của Dân Chúa.
Một chiếc xe nhỏ đậu lại trong sân Nhà Thờ. Một chiếc xe lăn được đưa xuống. Mấy thanh niên dìu một cụ già từ xe hơi lên xe lăn. Đó là cha Phạm Hân Quynh từ một Xứ Đạo xa về viếng cha Thanh.
Cha Quynh bây giờ có vẻ như một bóng mờ của cha Quynh ngày xưa. Tuổi cũng ngót nghét chín mươi, lại đã ba lần tai biến mạch máu não, làm gì mà bóng chẳng mờ. Ngày xưa cha Quynh lanh lẹ, tinh anh bao nhiêu ! Từ ngày ở Đại Chủng Viện đã là một bộ óc Triết Học xuất sắc, chủ động trao đổi ý tưởng với các triết gia lớn đương thời. Rồi đi học Sorbonne, bạn học với người sau này là Tổng Giám Mục Lustiger của Paris, cha Quynh ở Pháp vào lúc đất nước chuyển mình trong Cách Mạng Tháng 8. Cha đã từng bàn bạc, suy nghĩ biết bao nhiêu về đất nước với các bạn Việt Nam cùng học ở Paris. Cha tốt nghiệp và về nước vào thời điểm 1954, với ý thức rõ ràng là về nước sẽ gặp một hoàn cảnh khó khăn và tế nhị. Giáo Hội Hà Nội nói riêng, miền Bắc nói chung dàn hàng một loạt trí thức trẻ, mong xây dựng Đức Tin giữa thời Cách Mạng.
Những tên tuổi như Phạm Hân Quynh, Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Thông ( từ Châu Âu về ), Nguyễn Ngọc Oánh ( từ Mỹ về ) một thưở đã sáng chói trong lòng giới trẻ Công Giáo Hà Nội. Hai cha Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Thông sẽ có một số mệnh bi thảm. Cha Quynh và cha Oánh cũng lao đao tợn, nhưng rồi cũng sống sót qua thời khốn khó. Cha Oánh vừa qua đời hồi tháng 8 năm 2007, cha Quynh còn chèo chống đến ngày nay.
Giữa những năm Giáo Hội như bị đóng băng về tư tưởng, cha Quynh vẫn cố duy trì hoạt động trí thức. Dẫu cha không thể để lại những tác phẩm lớn, cha vẫn đóng góp bằng lời nói và ngòi bút giúp cho Dân Chúa động não. Cha đề cập những vấn đề cụ thể, thiết thực bằng một văn phong dễ tiếp thu cho những người mộc mạc chung quanh cha. Đặc biệt cha đào tạo được những người Giáo Dân, tuy chất phác, nhưng biết làm việc Tông Đồ có hiệu quả. Khi dòng đời đưa cha Trần Hữu Thanh cập bến Giáo Phận Hải Phòng, thì cha Quynh với cha Thanh trở thành đôi bạn tương đắc, cộng tác với nhau.
Hôm nay cha Quynh, với các đồ đệ vây cạnh, đang đứng trước linh cữu cha Thanh. Cha đang mấy máy nói gì đó, như tâm sự, như khấn xin. Lại gần thì thấy cha đang nói: “Anh đã ngẩng cao đầu mà sống. Anh đi trước, rồi tôi sẽ theo anh”.
Còn một cụ nữa tóc cũng bạc phơ, vừa đến với vài người đồ đệ. Cha Bergmann Thảo của Đan Viện Xi-tô Châu Sơn đấy. Châu Sơn là nơi từ ngày thành lập, có những con người và câu chuyện giống như là huyền thoại. cha Thảo đã có mặt từ những ngày đầu, chứng kiến và tham gia mọi sự. Biến cố 1954 đưa cha vào miền Nam. Ba mươi năm sau, cha chịu thương chịu khó trở về chốn cũ. Nhà Dòng Châu Sơn nổi tiếng ngày xưa đã thành một nơi hoang phế, ẩm thấp, âm u, với vài cụ già tuổi đời đã ngót một thế kỷ. Cha Thảo cũng đã tuổi cổ lai hy, lao vào dựng lại người, dựng lại nhà. Ngày nay Đan Viện Châu Sơn lại sáng sủa, khang trang, với một cộng đoàn trẻ, đông đúc. Cha Thảo đang dự định xây một nhà Tĩnh Tâm hơn 100 phòng. Mỗi khi có ai ở Dòng Chúa Cứu Thế vào Châu Sơn, Cha Thảo bao giờ cũng hỏi thăm bạn già: “Cha Thanh lúc này ra sao?”
Bây giờ thì cụ Thanh, cụ Thảo, cụ Quynh, người đi và người ở lại, đều hội tụ ở đây. Đó là lớp người, lúc ở xa, lúc ở bên nhau, nhưng đã cùng lên thác xuống ghềnh. Đã đến lúc người ta gọi là: “chuyển giao các thế hệ”. Thế hệ mới đã đứng sẵn đó rồi. Cộng đoàn trẻ Dòng Chúa Cứu Thế khá đông đúc, riêng Cha Thanh trước khi qua đời được niềm an ủi nhìn thấy một đứa con tinh thần, ở nơi chính Cha từng bị quản chế, chịu chức Linh mục ( xem bài… ). Rồi Linh mục đoàn trẻ Giáo phận Hải Phòng, với vị Giám mục trẻ dẫn đầu, đang quây quần chung quanh linh cữu, đang hiệp thông trong một lời ca: “Có một điều tôi hằng ước mong, là được ở trong nhà Chúa suốt đời tôi…”
Cha Thanh được an táng khá xa tu viện Dòng Chúa Cứu Thế. Người ta không đưa Cha lên nghĩa trang Thanh Tước, nơi đa số các Linh mục và tu sĩ của Dòng an nghỉ, ở đó có những vị thừa sai đầu tiên người Canada, thuộc lớp người “một đi không trở lại”, và những Linh mục tu sĩ đầu đàn người Việt: Cha Hiệp chết vì lây nhiễm khi săn sóc các bệnh nhân chấy rận trong một nạn dịch, Cha Dong chết khi đang trên đường từ Nam Định lên gần đến Hà Nội thì trúng bom Mỹ trong năm cuối của thế chiến thứ hai. Cũng không đưa Cha về nghĩa trang Thạch Bích để an nghỉ bên người anh em Vũ Ngọc Bích, người đã giữ đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và đón tiếp khách nghèo thập phương suốt gần 20 năm cô đơn.
Theo yêu cầu tha thiết của giáo dân, của Giáo phận Hải Phòng, mọi người đưa Cha về Phú Tảo, nơi Cha từng bị quản chế. Chắc chắn ý Cha cũng muốn thế, vì suốt những năm cuối đời, dù đau yếu, dù ngồi xe lăn, cứ đến các lễ lớn và Tết nguyên đán, là nhất định Cha phải về đấy, sống giữa đoàn chiên nghèo. Ngày nay người con tinh thần của Cha là Cha Hội đang tiếp nối công việc của Cha, chăm sóc ngôi nhà thờ cổ và giáo xứ ở đây.
Người địa phương, người từ Hải Phòng về, người Hà Nội đến, anh em trong Dòng từ khắp nơi, gia đình ruột thịt của Cha từ Quảng Trị, từ Đồng Nai tụ lại. Cả một đoàn người thật dài đi bộ đưa tiễn, từ nhà thờ Phú Tảo ra nghĩa địa cách xa hai cây số. Thời tiết đã tàn thu chớm đông, nhưng trời vẫn nắng hâm hấp qua màn sương. Thanh niên ba xã chia phiên nhau khiêng linh cữu từng đoạn suốt từ nhà thờ đến nghĩa địa.
“Có một điều tôi hằng ước mong…”
VŨ, Sài-gòn ngày 7.1.2008

Chuyên mục:Uncategorized

Chương 20

Mùa hạ lướt qua, những loài hoa trổ bông mùa hè cũng tàn rụi dần rồi mất hẳn. Ếch nhái im tiếng trong ao vũng. Cò hạc tung cánh bay xa, và Đan Thanh trở về.

Chàng về đến một buổi trưa, mưa bay lất phất, không vào tu viện, từ cổng lớn chàng bước thẳng vào xưởng mỹ nghệ. Chàng đi bộ, không mang theo ngựa.

Bảo Ân giựt mình khi thấy chàng bước vào. Dù nhận ra chàng ngay thoáng nhìn đầu tiên, cậu ta vẫn bàng hoàng khi chào đón chàng, người trở về dáng dấp hoàn toàn khác lạ: không phải là Đan Thanh thật, mà già đi nhiều tuổi, mặt mũi bơ phờ, đầy bụi và nhăn nhíu, với đôi má hóp bệnh hoạn, cặp mắt như đau đớn, nhưng chàng không lộ vẻ gì thống khổ, nụ cười vẫn nở trên môi, một nụ cười quen thuộc, già cỗi và kiên nhẫn. Chàng bước đi khó nhọc, hai chân lê lết, có vẻ như nhuốm bệnh và quá mệt mỏi.

Một Đan Thanh lột xác khác lạ đang nhìn cậu tập sự với đôi mắt dị thường. Chàng trở về trong âm thầm, như chưa hề rời xa nơi đây giây phút nào và bước vào xưởng như từ phòng bên cạnh. Chàng bắt tay Bảo Ân, không nói gì, không chào hỏi hoặc kể chuyện. Chàng chỉ nói: Tôi muốn ngủ,” dáng điệu thật mệt mỏi. Chàng gọi Bảo Ân đi chỗ khác và vào phòng riêng cạnh xưởng. Chàng cất mũ để nước mưa nhiễu xuống, cởi giày và đến gần giường. Bên trong là tượng Đức Mẹ phủ tấm vải che, chàng gật đầu nhưng không tháo vải che xuống để mừng đón. Chàng tiến đến khung cửa sổ, thấy Bảo Ân bứt rứt đứng chờ bên ngoài, chàng lên tiếng gọi: “Bảo Ân, cậu không cần nói với bất cứ ai là tôi đã về. Tôi mệt lắm. Hãy đợi đến mai!”

Rồi chàng nằm dài trên giường để nguyên quần áo. Một lúc lâu không ngủ được, chàng trổi dậy, lê bước đến tấm gương treo trên tường, chăm chú nhìn tên Đan Thanh thứ hai đang ngó lom lom mình, một Đan Thanh chán chường, mệt mỏi, già nua và tàn tạ, râu ria đã lấm tấm bạc. Đó là một người đàn ông cằn cỗi, dáng dấp xốc xếch đang đứng phía sau chàng, trong mặt phẳng tấm gương mờ đục thật dị kỳ và xa lạ. Con người không có vẻ gì thực sự đang có mặt, không quan hệ gì đến chàng. Con người đó kết hợp từ nhiều khuôn mặt khác nhau mà chàng đã từng quen biết, một nét của thầy Không Lộ, của nhà quý tộc lớn tuổi mà chàng đã giúp viết hồi ký, một nét của Thánh Jacques, một ông Thánh râu bạc trắng, già lom khom dưới chiếc mũ hành hương, luôn luôn vui vẻ và từ ái.

Chàng đọc kỹ khuôn mặt trong tấm gương và thích thú khám phá con người xa lạ bên trong. Chàng gật đầu chào hắn, tỏ dấu hiểu biết hắn: vâng chính là chàng, đúng là nét mặt mà chàng đã tưởng tượng về mình. Một ông già cực kỳ chán chường, trở về từ một chuyến du hành, một con người tầm thường. Chàng yêu thích con người này, có một nét gì trên khuôn mặt mà tên Đan Thanh đẹp trai ngày trước không có. Trong tất cả sự mỏi mệt và tan rã ấy, ẩn hiện dấu hiệu của hài lòng và cuối cùng là một cái gì giải thoát. Chàng khẽ mỉm cười với chính mình và thấy rõ con người mình đang kết nối với hình bóng trong gương. Một người bạn tốt mà chàng đã dẫn về sau một chuyến đi. Không những chàng đã đánh mất con ngựa, chiếc bao da và những nén vàng, mà nhiều món khác đã vuột thoát khỏi tầm tay: tuổi trẻ, sức khỏe, lòng tự tín, màu rám hồng trên đôi má và tia sáng dũng mãnh trong ánh mắt. Người bạn già yếu trong tấm gương được chàng yêu quý hơn tên Đan Thanh thuở trước. Tuy già lão yếu ớt, thật tội nghiệp nhưng an bình và hài hòa. Chàng mỉm cười, hạ thấp làn mi đã bắt đầu nhăn, lên giường và chìm vào giấc ngủ.

Hôm sau, đang ngồi cong lưng trên bàn vẽ thì Huyền Minh đến thăm. “Tôi nghe là anh đã về, cám ơn Chúa tôi rất mừng. Vì anh không đến gặp tôi, nên tôi đến thăm. Tôi có làm rộn anh không?”

Huyền Minh đến gần bạn. Đan Thanh đứng dậy bắt tay chàng. Dù Bảo Ân đã báo chàng biết trước, chàng vẫn không tránh khỏi sửng sốt thấy bạn thảm não như vậy. Đan Thanh cười thân ái với chàng:

– Vâng, tôi đã trở về. Chào mừng anh, Huyền Minh. Chúng ta đã không gặp nhau một thời gian. Tha lỗi cho tôi vì không đến anh.

Huyền Minh nhìn thẳng vào ánh mắt Đan Thanh. Chàng không những chỉ thấy bạn mình kiệt sức, tàn tạ và đáng xót thương, mà còn thấy những điều khác, vẻ an nhiên lạnh lùng cam chịu, gần như siêu thoát của một ông già hiền từ. Qua kinh nghiệm đọc được tâm hồn trên nét mặt, Huyền Minh đã thấy một Đan Thanh biến chất khác lạ, không dừng trụ nơi đây, tâm hồn đã bay xa khỏi thực tại, phiêu lạc vào mộng mơ hoặc đã đến một khung cửa mở về cõi giới nào khác.

– Anh bị bệnh chăng? Huyền Minh lo lắng hỏi bạn.

– Vâng, tôi đang ốm. Tôi nhuốm bệnh ngay khi khởi hành được vài ngày. Xin anh hiểu cho tôi là tôi không muốn trở lại một khi đã ra đi. Anh sẽ cười nhạo tôi nếu tôi trở về quá sớm và cởi mất đôi giày đi xa của tôi. Không, tôi không muốn như vậy. Tôi lại tiếp tục đi loanh quanh. Tôi cảm thấy hổ thẹn vì chuyến đi hụt này. Tôi đã đặt quá nhiều hứa hẹn. Vâng tôi cảm thấy xấu hổ. Chắc chắn anh hiểu điều ấy, anh vốn là người thông minh. Xin lỗi anh, có phải anh hỏi đến việc ấy? Thật là một tai ương. Tôi cố quên đi những gì chúng ta đã nói với nhau. Nhứt là về mẹ tôi, anh đã nói đúng. Tôi rất đau đớn, quá nhiều, nhưng…

Lời thì thào của Đan Thanh tắt dần bằng một nụ cười.

-Chúng tôi sẽ chạy chữa cho anh lành mạnh. Đan Thanh, chúng tôi sẽ lo cho anh. ước gì anh quay về ngay khi mới ngã bệnh! Thực sự không có gì để anh phái hổ thẹn với chúng tôi. Phải chi anh trở về ngay.

Đan Thanh bật cười:

– Vâng, bây giờ tôi đã hiểu. Tôi không dám trở về sợ làm trò cười. Bây giờ thì tôi đã về, tôi cảm thấy an lành.

– Anh có đau lắm không?

– Đau? Có chứ. Tôi đau nhiều. Nhưng trong nỗi đau này vẫn có điều hay, nhờ vậy mà tôi biết nghĩ đúng. Bây giờ tôi không xấu hổ nữa dù đứng trước mặt anh. Ngày mà anh đến cứu tôi trong tù, tôi đã cắn răng thật chặt vì quá hổ thẹn. Nhưng bây giờ thì không thế nữa.

Huyền Minh đặt bàn tay mình lên cánh tay Đan Thanh, và ngay lúc ấy Đan Thanh ngưng nói, nhắm nghiền đôi mắt, thoáng cười và ngủ trong an bình. Tu viện trưởng bối rối đi tìm viên y sĩ, cha An Tôn, để điều trị người bệnh. Khi họ trở lại, Đan Thanh đã trổi dậy và đang ngủ gục trước bàn vẽ. Họ mang Đan Thanh vào giường và viên y sĩ ở lại khám bệnh.

Bệnh Đan Thanh quá nặng, chàng được mang vào bệnh xá để Bảo Ân ở đấy trông nom.

Không ai biết được câu chuyện về cuộc hành trình vừa qua. Đan Thanh có kể vài chi tiết, còn điều khác chỉ là phỏng đoán. Chàng nằm vùi, đôi khi lên cơn sốt và nói mê, những lúc chàng tỉnh táo, người ta gọi Huyền Minh đến gặp chàng vì biết rằng những lời cuối cùng của người bệnh rất quan trọng đối với Huyền Minh.

Huyền Minh đã hiểu được phần nào qua lời tường thuật và xưng tội của Đan Thanh. Những phần khác do Bảo Ẩn kể: lại “Cơn đau nổi lên lúc nào à? Ngay từ đầu. Tôi đang phi ngựa trong rừng, bị ngã trong lòng con suối nhỏ và nằm đấy suốt đêm trong dòng nước lạnh lẽo, xương sườn bị gãy và tôi thấy đau tức trong lồng ngực. Tuy cách nơi đây không xa, nhưng tôi không muốn quay về. Vì như thế quá trẻ con. Tôi biết nhưng không muốn làm trò cười. Rồi tôi tiếp tục lên đường, đến khi không phi ngựa được nữa vì quá đau, tôi bán con ngựa và vô nằm bệnh viện một thời gian khá lâu.

– Tôi sẽ ở lại đây, Huyền Minh. Tôi sẽ không cưỡi ngựa nữa. Không còn lang thang nữa, không vui đùa khiêu vũ, cả đàn bà cũng không. Nếu không tôi sẽ còn đi xa lâu năm hơn nữa. Nhưng tôi biết rằng không còn niềm vui nào ngoài kia nữa. Và tôi nghĩ rằng trước khi từ giã cõi đời, tôi muốn vẽ thêm, nặn thêm một số tượng. Dù sao chăng nữa cũng mang lại một niềm vui khuây khỏa.

Huyền Minh nói với chàng:

– Tôi rất mừng thấy anh trở lại. Tôi mong nhớ anh vô hạn. Tôi nghĩ đến anh mỗi ngày và rất lo sợ anh sẽ không bao giờ muốn quay trở về.

Đan Thanh gật đầu:

– Vâng sự mất mát này cũng không lớn lắm.

Huyền Minh từ từ cúi xuống, lòng bừng cháy vì đau

đớn và yêu thương, và bây giờ, lần đầu tiên từ nhiều năm kết bạn với Đan Thanh, chàng vuốt tóc và hôn lên trán bạn. Ngạc nhiên, và khi đã hiểu, Đan Thanh vô vàn cảm động.

– Đan Thanh, tu viện trưởng thì thầm bên tai chàng, tha thứ cho tôi vì đã không nói với em sớm hơn. Đáng lý tôi phải nói ngay vào ngày tôi đến thăm em trong ngục thất, hoặc khi tôi trông thấy những pho tượng đầu tiên của em, hoặc bao lần trước đây. Hôm nay tôi phải nói với em là tôi yêu thương em biết bao, em đã mang ý nghĩa đến cho đời tôi, cuộc sống tôi phong phú là nhờ em. Có thể đối với em không là gì hết. Con người của em là để yêu thương, điều này không phải mới lạ đối với em, vì bao nhiêu đàn bà đã yêu thương và chiều chuộng em. Với tôi thì khác. Đời tôi khô cằn thương yêu, tôi thiếu vắng hương sắc tuyệt vời nhất của cuộc đời. Tu viện trưởng Từ Ân của chúng ta đã một lần nói tôi là kẻ ngạo mạn, có lẽ cha nói đúng. Tôi không bất công đối với mọi người. Tôi cố gắng vô tư và kiên nhẫn đối với tất cả, nhưng chưa bao giờ tôi biết yêu thương. Trong hai học giả của tu viện, tôi chỉ chọn người thông thái nhất, chưa bao giò tôi yêu thương người yếu kém vì chính sự yếu kém của người ấy. Và nếu tôi biết yêu thương là nhờ em. Tôi đã biết yêu thương em, chỉ yêu thương riêng em giữa muôn người. Em không thể tưởng tượng được hết ý nghĩa ấy như thế nào. Đó là mạch nước trong sa mạc, là cây cỏ trổ hoa giữa vùng đá sỏi hoang sơ. Tôi phải tạ ơn riêng em, người đã làm trái tim tôi không khô chết, và đó là giới xứ duy nhất trong tôi còn hé mở để đón rước Thánh Ân.

Đan Thanh mỉm cười sung sướng, có hơi thẹn thùng. Trong giâv phút tỉnh táo chàng nói, giọng êm dịu trầm tĩnh:

– Khi anh cứu tôi khỏi chết treo, và ngày mà chúng ta cùng phi ngựa trở về tôi đã hỏi anh về con ngựa Mây Mây và anh đã trả lời thật rõ ràng. Tôi hiểu là anh đã chú trọng đến Mây Mây bé nhỏ của tôi dù vốn dĩ anh là một người ít quan tâm đến loài vật. Tôi hiểu là anh đã vì tôi và tôi lấy làm sung sướng. Bây giờ tôi càng thấy rõ đó là một sự thật và thật tình anh đã yêu thương tôi. Lúc nào tôi cũng yêu thương anh, Huyền Minh. Nửa phần đời tôi trôi qua chỉ để chiếm bằng được trái tim anh. Tôi vẫn biết là anh đã yêu mến tôi nhưng chưa bao giờ tôi dám mong chờ một ngày nào đó anh sẽ nói ra, vì anh là người rất kiêu mạn. Anh ban cho tôi tình yêu vào giờ khắc này, giờ khắc mà tôi không còn gì để lưu giữ lại, phiêu lãng và tự do, cả thế gian và đàn bà đều đã lìa bỏ tôi. Tôi xin nhận và cảm tạ.

P ho tượng Đức Mẹ- Liên Đài vẫn đứng yên trong phòng và nhìn họ.

– Em có thường nghĩ đến cái chết không? Huyền Minh hỏi.

– Vâng, tôi có nghĩ và cả đến tương lai đời tôi. Hồi trẻ, còn là học trò của anh, tôi ước mong một cuộc sống tâm linh như anh. Anh đã chỉ cho tôi thấy là tôi không được ơn trên gọi như anh. Và tôi tự ném mình qua một cuộc sống trái ngược, lao vào thế giới của nhục cảm, nơi mà đàn bà mang lạc thú đến với tôi thật dễ dàng. Không phải tôi muốn miệt thị hoặc khinh bỉ dục lạc, tôi đã thường được sung sướng vô cùng. Và tôi đã có đầy đủ cơ hội thu nhặt một số kinh nghiệm về những gì mà cảm tính mang đến cho tâm hồn. Nghệ thuật nảy sinh từ đó. Nhưng, giờ đây cả hai ngọn lửa cảm giác và nghệ thuật đều tàn lụn trong tôi. Tôi không còn sung sướng ngất ngây với khoái lạc, ham muốn đã dập tắt dù có còn bóng hồng thấp thoáng theo sau. Cả mơ ước sáng tác nghệ thuật cũng đã hết sôi bỏng. Những bức tượng tôi tạc đã đủ, nhiều hoặc ít cũng không đáng chi. Đã đến lúc tôi chết. Tôi đã sẵn sàng và hiếu kỳ đợi chết.

– Tại sao lại hiếu kỳ? Huyền Minh hỏi.

– Vâng, có lẽ hơi ngu xuẩn. Nhưng thật sự tôi tò mò muốn biết. Không phải muốn biết thế giới bên kia, Huyền Minh. Tôi nghĩ đến thế giới ấy rất ít thú thật với anh tôi không tin. Sẽ không có thế giới bên kia. Cây khô nào đã trơ cằn thì sẽ chết mãi mãi, cánh chim kia đã chết lạnh thì không thể bay trở lại với cuộc sống và con người đã chết rồi cũng vậy. Sau khi ta nằm xuống vĩnh viễn, có lẽ người khác còn tiếp tục nghĩ đến ta nhưng chỉ trong thoáng nào đó thôi. Không, tôi hiếu kỳ muốn chết chỉ vì tôi tin hoặc mơ là tôi đang trên đường về với mẹ tôi. Tôi ước mong chết sẽ là hạnh phúc cao vời, cao vời như hạnh phúc trong tình yêu, tình yêu được thỏa mãn. Thay vì nghĩ đến thần chết với lưỡi hái, tôi không thể ngưng suy niệm về hình bóng mẹ tôi đến mang tôi đi, mẹ sẽ dẫn tôi đến cõi không,

cõi chân chất.

Sau nhiều ngày Đan Thanh nằm im không nói năng, Huyền Minh lại đến thăm, chàng thấy Đan Thanh còn tỉnh táo và thích chuyện trò.

– Cha Tôn nói em phải chịu đau đớn lắm. Sao em lại trầm tĩnh vậy, Đan Thanh? Hình như em đã tìm được an bình?

– Có phải anh muốn nói an bình với Chúa? Không, tôi không tìm được an bình ấy. Tôi không muốn an bình trong tay Chúa. Chúa đã dựng một thế gian xấu xa mà chúng ta không nên ca tụng, và cho dù tôi có hoặc không ca tụng Ngài đi nữa, Ngài cũng bất cần. Ngài đã dựng một thế gian tội lỗi. Nhưng tôi đã tìm được an bình trong lồng ngực đau đớn này. Ngày xưa tôi không quen chịu đựng đau đớn, và đôi khi tôi lại nghĩ là thần chết sẽ đến dễ dàng, nhưng tôi đã lầm. Khi thần chết kề cận bên tôi trong đêm tù đày nơi ngục tối của Bá tước Huân Lịch, tôi thấy rõ là không dễ gì đối diện với tử thần. Tôi vẫn còn quá mạnh và quá dữ để được chết, họ cần phải giết tôi đến lần thứ hai tôi mới chết được. Nhưng bây giờ thì khác hẳn.

Đan Thanh mệt vì nói nhiều. Tiếng chàng yếu dần. Huyền Minh bảo chàng hãy yên nghỉ.

– Không, Đan Thanh nói, tôi cần nói với anh. Trước đây tôi hổ thẹn nên chưa dám nói. Chắc anh sẽ cười tôi. Ngày mà tôi lên yên ngựa ra đi không phải không duyên cớ. Tôi có nghe tin đồn Bá tước Huân Lịch qua lại vùng này với cô nhân tình Ái Liên. Vâng, có lẽ không quan trọng đối với anh, và đến hôm nay đối với tôi cũng vậy. Nhưng lúc ấy người tôi nóng bỏng, tôi không nghĩ gì khác ngoài Ái Liên. Nàng là người đàn bà đẹp nhất mà tôi đã biết và yêu. Tôi muốn gặp lại nàng, hưởng hạnh phúc với nàng một lần nữa. Tôi đi kiếm và sau một tuần tìm được nàng. Và chính giờ khắc ấy trong người tôi bỗng biến chuyển. Như tôi đã nói, tôi đã gặp nàng. Sắc đẹp nàng vẫn không suy giảm. Tôi đã tìm được nàng cũng như tìm đúng cơ hội đến với nàng, nói với nàng. Và chính khi ấy, Huyền Minh, nàng không còn ham muốn tôi nữa. Tôi đã quá già so với nàng, không còn đẹp trai, không còn đủ sức vui chơi, nàng không còn muốn bất cứ điều gì nơi tôi. Chuyến đi của tôi như vậy xem như chấm dứt. Nhưng tôi vẫn lên đường. Tôi không muốn quay về với anh để anh lại thây tôi chán nản và rồ dại. Và tôi lại đi, mất hết sức lực và tuổi trẻ, trở nên u mê nên bị vấp, lăn từ lưng con ngựa ngã xuống lòng suối. Xương sườn tôi bị gãy và tôi nằm trơ trọi cả đêm không ai cứu giúp. Chính lúc ấy, lần đầu tiên, tôi biết đau đớn thật sự. Khi té xuống, tôi có cảm giác một cái gì gẫy vụn trong lồng ngực, điều đó làm tôi thích thú, tôi vui sướng được nghe tiếng gãy vụn. Tôi nằm dài trong làn nước và biết rằng mình sắp gần đến cái chết, nhưng hoàn toàn khác hẳn lúc ở trong ngục viên Bá tước. Tôi không có gì kháng cự lại, chết không còn làm tôi hãi sợ. Tôi cảm thấy đau buốt dữ dội chưa từng có, và trong cơn đau, tôi đã mơ hoặc ảo ảnh đã hiện lên, tùy ý anh muốn gọi. Tôi nằm đó để cơn đau đốt cháy lồng ngực, tôi đã giãy giụa và kêu thét lên khi một tiếng cười mà từ sau ngày thơ ấu tôi không còn nghe nữa. Đó là tiếng của mẹ tôi, giọng một người đàn bà thật thâm trầm, ngây ngất vì yêu đương. Và tôi thấy mẹ tôi, mẹ đến với tôi, ẵm bồng tôi lên, mở bung lồng ngực, từng ngón tay mẹ len vào giữa các đốt xương và móc trái tim tôi. Khi tôi đã thấy và đã hiểu, tôi không còn đau đớn. Và bây giờ khi Cơn đau nổi dậy, tôi cũng không cảm thấy đau hoặc thù hận, chỉ có ngón tay của mẹ đang nắm kéo quả tim tôi. Mẹ đã khá vất vã. Đôi lúc mẹ bóp chặt và than phiền cả trong cơn ngây ngất. Thỉnh thoảng mẹ cười, êm ru nho nhỏ. Có khi mẹ không ở bên tôi, mẹ cao xa tận thiên đàng và tôi thấy gương mặt mẹ ẩn hiện giữa đám mây, mông lung và bát ngát như mây trời. Bóng mẹ lung linh trên ấy, mẹ cười u ẩn, nụ cười buồn của mẹ bay đến bên tôi và lôi quả tim tôi ra khỏi lồng ngực.

Rồi Đan Thanh tiếp tục nói về mẹ, người mẹ của chàng. Vào ngày cuối cùng, chàng thều thào:

– Anh có nhớ không? Tôi hoàn toàn quên mất bóng mẹ cho đến ngày mà anh gợi lại và mẹ tôi đã hiện đến. Ngày đó tôi đau đớn kinh khủng, như có bầy thú đến xâu xé ruột gan. Chúng ta hãy còn trẻ, còn là những cậu bé khôi ngô. Nhưng kể từ lúc ấy mẹ đã kêu gọi tôi và tôi phải đi theo mẹ ở khắp nơi, mẹ là Lan cô gái giang hồ, mẹ là pho tượng diễm tuyệt của thầy Không Lộ, mẹ là nguồn sống, là tình yêu, là ngây ngất. Mẹ còn là kinh hoàng, đói khát, là bùa lực của bản năng. Bây giờ mẹ là tử thần, ngón tay mẹ đã ăn sâu vào lồng ngực.

– Đừng nói nhiều, bạn yêu dấu – Huyền Minh nói – hãy đợi đến mai!

Đan Thanh lại cười và nhìn sâu vào ánh mắt Huyền Minh, một nụ cười khi thì trông già nua yếu ớt, lúc lại đầy tuệ giác và từ bi – nụ cười chàng đã mang về sau chuyến lãng du.

Đan Thanh thì thào:

– Bạn thân mến, tôi không thể đợi đến ngày mai. Tôi phải từ biệt bạn bây giờ, và trước khi vĩnh biệt, tôi phải nói Với bạn tất cả mọi sự. Hãy lắng nghe tôi một lát. Tôi muốn nói về mẹ tôi, về những ngón tay mẹ đang bóp siết tim tôi. Nhiều năm qua ước mơ tha thiết nhất và giấc mộng thầm kín nhất của tôi là tạc một pho tượng của Mẹ. Mẹ là hình ảnh thiêng liêng nhất tôi hằng ấp ủ trong tim. Mẹ là ảo vọng huyền bí của tình yêu. Tôi không thể nào chịu đựng nổi, dù trong chốc lát, khi nghĩ tôi sẽ chết trước khi tạc tượng mẹ, cuộc đời tôi như vậy sẽ thật là vô ích. Nhưng bây giờ mọi việc đảo lộn một cách lạ lùng. Không phải tay con nặn và tạo hình mẹ mà chính tay mẹ nặn và tạo hình con. Mẹ đang bấu chặt ngón tay quanh tim con, và rứt tung ra, người con trống rỗng dần, mẹ lôi cuốn con về cõi chết và cùng chết theo con là mộng ước ngày nào, pho tượng tuyệt tác, người Mẹ- Đại Thể- Eva. Con vẫn còn trông thấy pho tượng, và nếu đôi tay con còn sinh lực, con có thể tạo được. Nhưng mẹ không muốn, mẹ không muốn con hiển lộ bí ẩn của mẹ. Mẹ chỉ muốn con chết. Con vui lòng đi vào cõi chết. Mẹ đã mang cái chết đến với con thật dễ dàng.

Huyền Minh lắng nghe những lời của Đan Thanh, rung động đến tận cùng. Chàng phải cúi sát vào đôi môi của bạn. Có những lời chàng nghe không rõ, có những lời chàng nghe được nhưng ý nghĩa đã chìm khuất.

Bây giờ người bệnh mở mắt và nhìn thật lâu vào gương mặt bạn. Ánh mắt Đan Thanh nói lên lời vĩnh biệt. Bỗng Đan Thanh khẽ lắc đầu, môi chàng mấp máy:

– Nếu một mai anh qua đời, Huyền Minh, làm sao anh chết được khi không có mẹ bên anh? Không có mẹ, ta sẽ không biết yêu. Không có mẹ ta sẽ không biết chết.

Chàng lại nói sau đó những lời khó hiểu. Trong hai

ngày cuối cùng, Huyền Minh đã ngồi bên giường bạn ngày lẫn đêm theo dõi mạch sống từ từ tuôn mất. Những lời nói sau cùng của Đan Thanh như ngọn lửa đã thắp sáng tâm tư chàng.

Chuyên mục:Uncategorized

Chương 19

Trong vòng hai năm Đan Thanh đã làm việc chung trong nhóm và kể từ năm thứ hai chàng để Bảo Ân tập sự thực thụ. Nơi chấn song thang lầu, chàng đã tạo đựng một thiên đường nhỏ bé. Chàng say ngất điêu khắc một vùng hoang sơ hùng tráng với cây cỏ, bụi rậm, chim muông đậu trên cành và con người trọn thân hoặc riêng khuôn mặt, lác đác nhô lên. Giữa khu vườn sơ khai an bình lộc non mơn mởn chàng đã miêu tả đời sống của các tộc trưởng bộ lạc. Nếp sống cần mẫn của chàng ít khi bị đứt đoạn. Hiếm có một ngày như hôm nay chàng không thể làm việc được, khi bất an và khó chịu làm chàng chán ghét nghệ thuật. Chàng giao việc vặt cho cậu học trò rồi đi dạo hoặc cưỡi ngựa ra vùng quê để hít thở mùi hương kỷ niệm đoạn đời tự do, lang thang trong rừng vắng, hoặc viếng thăm một cô gái quê, đi săn hoặc nằm lăn trên cỏ xanh ngắm nhìn những ngọn cây đan vào nhau thành mái vòm cung, hoặc nhìn lộc non các cây đương xỉ, cây đỗ tùng đâm chồi cả một vùng hoang liêu. Luôn luôn chàng muốn trở về sau một hoặc hai ngày. Rồi chàng lao đầu vào công việc với nỗi đam mê mới, hăng say điêu khắc đám cỏ tươi tốt, dịu dàng và từ ái trau chuốt những tượng đầu người từ phiến gỗ, mạnh dạn vạch cắt chiếc miệng, con mắt, hàm râu xếp nếp. Ngoài Bảo Ân chỉ có Huyền Minh biết về các bức tượng và thời gian này chàng cũng thường đến xưởng làm, nơi chàng ưa chuộng nhất trong tu viện. Huyền Minh đứng nhìn ngắm bạn chàng, vui sướng và ngạc nhiên. Tất cả cá tính thơ ngây, băn khoăn và bướng bỉnh đều được bạn chàng hiển lộ vào tác phẩm,ở đấy bừng lên một vũ trụ, một tiểu thế giới sống động, có lẽ chỉ là một trò chơi nhưng chắc chắn trò chơi ấy không kém giá trị so với trò chơi luận lý, văn phạm và thần học.

Một lần Huyền Minh trầm ngâm bảo:

– Tôi đang học được rất nhiều từ anh. Tôi bắt đầu hiểu nghệ thuật là gì. Ngày xưa theo ý tôi nghệ thuật không thể so sánh với tư duy và khoa học. Tôi đã nghĩ như thế này: vì con người là một tổng hợp mơ hồ giữa tinh thần và vật chất, vì tinh thần mở lối cho ta nhận biết sự vĩnh cửu, trong khi vật chất kéo ta xuống nơi thấp hèn và trói buộc ta trong vô thường biến dịch. Nếu muốn nâng cao và mang lại ý nghĩa cho cuộc đời, con người phải cố thoát ra khỏi sự lôi cuốn của giác quan và hướng về nếp sống tâm linh. Từ trước đến nay, tôi vẫn tự phụ và xem nhẹ nghệ thuật, nhưng đến lúc này, tôi mới hiểu là có nhiều nẻo đường dẫn đến tri kiến và con đường tư duy không phải là con đuờng duy nhất, và cũng không phải là con đường tốt nhất. Lẽ dĩ nhiên đó là con đường của tôi và tôi vẫn tiếp tục dấn bước. Nhưng tôi thấy anh trên con đường đối nghịch, con đường cảm giác, anh đã trực nhận được sâu xa bản thể của con người và có thể diễn đạt theo một phương cách sống động hơn phương cách của nhà tư duy.

– Bây giờ anh đã hiểu, Đan Thanh nói, tại sao tôi không thể: nhận thức nếu không nhờ đến hình ảnh.

– Tôi hiểu điều trên từ lâu. Dòng tư tưởng của chúng ta chính là một diễn trình không dứt trừu tượng hóa sự vật. Tôi gạt bỏ thế giới cảm giác và cố kiến tạo một thế giới thuần túy tâm linh.

Trong khi anh thì lại ôm vào lòng những cái gì vô thường mong manh nhất, mà hiển bày ý nghĩa của thế giới qua chính sự vô thường đó. Anh không quay lưng với cuộc đời, anh hiến mình cho nó, và bằng sự hy sinh của anh, anh hiến dâng nó lên cao nhất, sánh với bất tử. Chúng tôi, những người tư duy, thì đến với Thượng đế bằng cách vén cái mặt nạ thế gian khỏi chân diện mục của Ngài. Anh đến với Thượng đế bằng cách yêu thương những gì Ngài tạo dựng và bằng cách tái tạo chúng. Cả hai, anh và tôi, đều là những con người đang nỗ lực, và đương nhiên phải bất toàn, nhưng nghệ thuật thật vô tội vạ hơn là tư duy.

– Tôi không biết, Huyền Minh. Nhưng khi thắng lướt thế tục, cưỡng lại sự đau khổ, những nhà triết học và thần học như anh cũng không thành công hơn gì chúng tôi. Tôi đã thôi thèm muốn từ lâu sự uyên bác của anh, bạn ạ, nhưng tôi vẫn còn thèm muốn sự an bình của anh, sự giải thoát, tĩnh lặng nơi anh.

– Anh không nên nghĩ như vậy, Đan Thanh, không có sự bình an nào như anh tưởng. ồ, dĩ nhiên có, nhưng không phải là cái bình an luôn luôn ở bên chúng tôi không rời. Chỉ có cái bình an phải được chinh phục lại mãi mãi, mỗi ngày mỗi giờ trong đời sống chúng tôi. Anh không thấy tôi chiến đấu, anh không biết đến những dằn vặt của tôi với tư cách tu viện trưởng, những phấn đấu của tôi trong nhà nguyện. Thật tốt, anh đã không biết. Anh chỉ thấy tôi tự chủ hơn anh – và anh xem đó là sự bình an. Nhưng đời tôi là một chuỗi phấn đấu; phấn đấu và hy sinh giống như mọi cuộc đời đứng đắn, và cũng giống như đời anh.

– Thôi, chúng ta cũng không nên tranh cãi nhau về chuyện ấy nữa, Huyền Minh. Anh cũng không thấy những phấn đấu của tôi. Và tôi cũng không biết anh có thể hiểu được tôi, cảm thấy thế nào khi tôi nghĩ rằng công trình này sắp sửa hoàn tất, và được mang đi đặt vào vị trí của nó. Khi ấy tôi sẽ nghe vài lời ca tụng và trở về xưởng làm trơ trọi trống rỗng, buồn nản và những điều mà tôi đã không hoàn tất được trong tác phẩm kia, những điều mà người khác không thể thấy. Trong lòng tôi lúc đó cũng như vừa bị cướp đoạt, trống trải như xưởng điêu khắc trống trơn.

– Có lẽ vậy. Không ai trong chúng ta có thể hiểu nhau hoàn toàn về những điều như thế. Nhưng có một điều mà mọi người có thể cùng chia xẻ, đó là chung cuộc những tác phẩm của chúng ta làm cho chúng ta cảm thấy hổ thẹn, chúng ta phải bắt đầu trở lại, và mỗi lần như vậy lại phải hy sinh, lại phải dâng hiến trọn mình.

Vài tuần sau công trình của Đan Thanh đã hoàn tất, và tất cả được đặt vào vị trí. Như bao lần khác: công trình của chàng trở thành vật sở hữu của kẻ khác, được nhìn ngắm, phê phán, ca tụng, và chàng được tán dương, vinh hạnh, nhưng lòng chàng và cả xưởng điêu khắc đều trống không và chẳng bao lâu, chàng tự hỏi là công trình ấy có xứng đáng với bao hy sinh. Ngày cắt băng khánh thành chàng được mời dự tiệc tại bàn của các cha, thứ rượu cũ ngon nhất được lấy ra đãi khách. Đan Thanh thưởng thức món cá và thịt nai ngon tuyệt, và chàng cảm thấy ly rượu nồng đượm hẳn lên vì sự chú trọng và vui sướng của Huyền Minh. Huyền Minh đã khen ngợi và làm vẻ vang công trình của chàng.

Một công việc mới theo lời yêu cầu và mệnh lệnh của tu viện trưởng đã được phác họa, một điện thờ Đức Mẹ ở nhà thờ Thiên Phúc, nhà thờ này trực thuộc tu viện và là nơi mà một cha của Thánh Ân đến hành lễ. Đan Thanh muốn tạc một tượng Đức Mẹ cho điện thờ này để đưa vào vĩnh cữu những gương mặt không bao giờ quên trong tuổi thanh xuân của chàng, Liên Đài, cô con gái nhà quý tộc đẹp tuyệt. Ngoài nhiệm vụ này, chàng không chú trọng một việc gì khác, và có lẽ đó là cơ hội để đào tạo cậu Bảo Ân tập sự. Nếu Bảo Ân làm được chàng sẽ có một cộng sự viên thường trực có thể thay thế chàng để chàng tự do một mình làm những việc chàng ưa thích mà thôi. Chàng cùng với Bảo Ân chọn phiến gỗ cho bệ thờ và để cậu ta chuẩn bị lấy một mình. Chàng trở lại những chuyến đi dạo thơ thẩn rất lâu trong rừng. Có một lần chàng đã vắng mặt nhiều ngày, và Bảo Ân báo lên tu viện trưởng. Tu viện trưởng cũng lo sợ chàng bỏ đi luôn. Nhưng chàng trở về, tạc tượng Liên Đài trọn một tuần rồi lại bắt đầu đi.

Chàng lại ưu tư. Kể từ khi xong công trình lớn chàng lại sống vô trật tự. Chàng trốn Thánh lễ buổi sáng, chìm sâu trong nỗi băn khoăn và bất mãn. Bây giờ chàng thường nghĩ đến thầy Không Lộ và ngạc nhiên sao chính chàng không muốn mau chóng trở thành một người như thầy Không Lộ, một người làm việc nhiều và cai quản xưởng điêu khắc, nhưng phải hy sinh tự do và tuổi trẻ. Gần đây một chuyến phiêu lưu nhỏ đã làm chàng suy nghĩ: một hôm trong những ngày lang thang, chàng gặp một thôn nữ tên Phương mà chàng ưa thích. Chàng thử quyến rũ nàng, tận dụng tất cả nghệ thuật mê hoặc mà chàng đã biết. Cô gái sung sướng nghe chàng tán tỉnh, cười thích thú khi chàng nói tếu nhưng lại từ chối để chàng tiến tới, và lần đầu tiên mà chàng đã xử sự như một ông già đối với một thiếu phụ trẻ. Chàng không trở lại thăm nàng nhưng chàng không thể quên được. Phương có lý. Chàng già hơn nàng; chính chàng cũng cảm nhận điều ấy, và không phải vì vài lọn tóc hoa râm, vì vài vết nhăn viền quanh đôi mắt, nhưng chính là một cái gì khác trong con người chàng, trong tâm thức chàng. Chàng tự biết mình già, thấy mình giống như thầy Không Lộ. Chàng tự quan sát và nghi ngờ mình. Chàng sống thận trọng và thuần hóa; không còn hiếu động như diều hâu hoặc hấp tấp như thỏ rừng; chàng đã trở nên ngoan ngoãn như một con thú nhà. Chàng lại rời tu viện để tìm lại hương vị những ngày xa xưa, những kỷ niệm thuở lang thang hơn là tìm kiếm một sự tự do mới lạ. Như một con chó khao khát và nghi ngờ, chàng nghếch mũi đánh làn hơi đã mất. Và sau một hoặc hai ngày đi xa lêu lổng đôi chút hoặc say sưa, có một cái gì kéo chàng trở về mà chàng không sao cưỡng lại được. Lương tâm chàng không yên. Chàng cảm thấy xưởng làm đang trông đợi, chàng còn trách nhiệm về bệ thờ vừa khởi sự, còn phải chuẩn bị mẫu gỗ và hướng dẫn cho Bảo Ân. Chàng không còn được tự do nữa, không còn trẻ trung nữa. Chàng đi đến một quyết định cứng rắn: sau khi hoàn tất tượng Đức Mẹ- Liên Đài, chàng muốn du hành một chuyến và thử sống lang thang lần nữa. Sẽ không tốt nếu sống trong một tu viện quá lâu, chung quanh chỉ toàn là đàn ông. Có thể tốt cho các thầy tu, nhưng với chàng thì không. Ai cũng có thể nói chuyện một cách thông minh với các ông và họ sẽ hiểu rành các tác phẩm nghệ thuật, nhưng còn những việc khác – mê đắm, dịu dàng, vui chơi, ân ái, lạc thú không suy tư – đều không thể nảy sinh giữa đám đàn ông; phải cần đến đàn bà, cần đến lang thang, tự do và cả những cảm giác mới lạ. Mọi thứ chung quanh chàng đều nghiêm trang, trọng đại và nhiều nam tính và đã truyền nhiễm vào tận mạch máu của chàng.

Ý tưởng về một chuyến đi đã an ủi chàng. Chàng chuyên cần tiếp tục công việc để sớm được tự do. Khi hình dáng của Liên Đài hiện dần từ mẩu gỗ và khi tà áo trang trọng lượn sóng được chàng phủ lên đôi chân, nàng đã đến với chàng một niềm vui sâu kín, đau đớn đã thắng lướt chàng. Chàng rơi vào khung trời của tình yêu và thương nhớ biết bao hình ảnh, gương mặt cô gái diễm kiều, bẽn lẽn, mối tình ban sơ, những thời khắc đã ghi sâu vào ký ức, những chuyến du hành đầu tiên, đó là khung trời tuổi trẻ của chính mình. Chàng tạc khuôn mặt tinh tế này với tất cả lòng sùng kính, cảm nhận bằng những gì cao đẹp nhất trong chàng, với tất cả tinh hoa tươi trẻ cùng với những kỷ niệm nồng nàn nhất. Chàng vui sướng nắn tạo vòng cổ nghiêng nghiêng, chiếc miệng u ẩn mật thiết, đôi bàn tay thanh nhã với các ngón thon dài, những móng tay hình vòng cung tuyệt đẹp. Cả Bảo Ân cũng muốn ngắm mãi bức tượng mỗi lúc rảnh rang, với lòng kính yêu và ngợi khen không hết.

Khi tượng gần xong, Đan Thanh trình diện với tu viện trưởng. Huyền Minh nói:

– Thật là một công trình đẹp, bạn thân mến. Cả tu viện này không có gì để so sánh được. Tôi phải nói thực với anh là có nhiều việc trong tháng cuối này đã làm tôi rất bận tâm về anh. Tôi thấy anh bất an và bối rối, và khi anh biến mất, đi xa hơn một ngày, đôi lần tôi lo tiếc: có lẽ anh không bao giờ trở lại. Và bây giờ anh đã điêu khắc xong bức tượng trác tuyệt. Tôi mừng cho anh và hãnh diện vì anh.

– Vâng, Đan Thanh nói, bức tượng đẹp không ngờ. Bây giờ anh hãy nghe tôi nói, Huyền Minh. Để có thể tạc một bức tượng đẹp như vậy, tôi cần trọn cả một thời trẻ trung của tôi, đi lang thang, những chuyện tình ái, tán tỉnh phụ nữ. Đó là suối nguồn cảm hứng mà tôi đã uống. Chẳng bao lâu rồi sẽ cạn, lòng tôi lại khô khan. Xong tượng Đức Mẹ này, tôi sẽ nghỉ dài hạn, không biết đến chừng nào. Tôi sẽ điểm tô lại tuổi hoa niên của tôi và tất cả những gì tôi trìu mến. Anh có hiểu không?

-Vâng, tốt lắm. Anh biết tôi là khách của anh, và tôi chưa bao giờ nhận thù lao qua công trình của tôi nơi đây…

T- ôi vẫn thường đề nghị với anh, Huyền Minh ngắt

lời.

– Vâng, bây giờ tôi sẽ nhận. Tôi phải may áo mới, và khi xong hết, tôi sẽ xin anh một con ngựa và vài nén vàng, rồi tôi sẽ phóng ra ngoài với thế gian. Đừng nói gì Huyền Minh, và cũng đừng buồn. Không phải là tôi không thích ở đây nữa. Không chỗ nào khác tốt hơn nơi đây. Tôi ra đi chỉ vì một lý do khác. Anh có nhận lời cầu xin của tôi chăng?

Họ không nói gì thêm nữa. Đan Thanh đặt cho chàng một trang bị gọn gàng cho chuyến đi và đôi giày ống; khi hạ sắp về, chàng đã hoàn tất tượng Đức Mẹ như công việc cuối cùng của chàng. Chàng đã cho vào đôi tay, gương mặt, mái tóc, những nắn nót cuối cùng với lòng yêu thương cẩn trọng. Ai cũng tưởng là chàng kéo dài công việc, chàng rất vui mừng để triển hoãn lần nữa và lần nữa, vì những nắn nót tinh vi sau chót trên bức tượng. Ngày giờ trôi qua, và luôn luôn có gì mới lạ xảy đến để chàng tô chuốt thêm. Dù Huyền Minh thật buồn vì sắp đến lúc từ biệt, thỉnh thoảng vẫn mỉm cười với Đan Thanh vì Đan Thanh đang sống trong tình yêu, đang cố ngăn nước mắt trên tượng Đức Mẹ phải rời Xa.

Nhưng một hôm Đan Thanh đã làm Huyền Minh ngạc nhiên, vì đột ngột đến xin nghỉ. Ý nghĩ đã đến với chàng đêm qua. Trong bộ đồ mới, chàng đến chào từ giã Huyền Minh. Chàng đã làm xong lễ xưng tội và rước mình thánh trước đó. Bây giờ chàng đến từ biệt và xin chúc phúc để lên đường. Cả hai đều đau khổ phải xa nhau, Đan Thanh cư xử rất cương quyết và lãnh đạm chưa từng có.

– Rồi tôi có bao giờ gặp lại anh? Huyền Minh hỏi.

– Có chứ, nếu con ngựa xinh đẹp của anh không làm tôi gãy cổ, chắc chắn anh sẽ gặp lại tôi. Vả lại, trừ tôi ra, không ai được phép gọi anh là Huyền Minh và làm anh phiền muộn. Hãy tin tôi và đừng quên xem chừng Bảo Ân và đừng để ai đụng vào bức tượng của tôi! Bức tượng Đức Mẹ phải dược giữ nguyên trong phòng tôi, như tôi đã nói trước, và anh không được để lọt chìa khóa khỏi tay.

– Cuộc hành trình có làm anh vui thích không?

Đan Thanh nháy mắt:

– Ồ, có chứ, nhưng giờ đây gần lên yên, tôi lại cảm thấy ít vui thích hơn đã tưởng. Anh sẽ cười tôi, nhưng tồi không thích lúc phải từ biệt vì tôi không thích vướng bận.

– Như một chứng bệnh, mà một người thanh niên tráng kiện không nên có. Thầy Không Lộ cũng như thế. Thôi, chúng ta không nên kéo dài chuyện vô vị này! Hãy ban phước cho tôi, bạn thân mến, để tôi ra đi.

Rồi chàng phóng đi.

Trong thâm tâm, Huyền Minh rất lo ngại cho bạn chàng. Chàng âu sầu vì bạn và vì thương vắng bạn. Rồi bạn chàng có trở lại? Giờ đây con người lạ lùng đáng yêu ấy lại theo đuổi một con đường chông gai, buông trôi theo dòng đời, lang thang khắp thế gian với dục vọng và tò mò, chạy theo những săn đuổi tăm tối mãnh liệt sôi nổi, và không bao giờ thỏa mãn, y như một đứa trẻ mới lớn. Xin Chúa đến với y, xin y trở về an lành khỏe mạnh. Y lại muốn bay lượn đó đây như ong bướm, lại phạm những tội mới, mê hoặc đàn bà, chạy theo bản năng có thể lại sa vào tội sát nhân, hiểm nghèo, rồi tù tội và tự hủy diệt trên con đường ấy. Sao cậu bé tóc vàng ấy lại gây lắm phiên muộn! Y đã than vãn vì chóng già và muốn tìm lại ánh mắt thơ trẻ. Tại sao lại có người cảm thấy sợ hãi vì chính mình như thế? Cõi lòng Huyền Minh lắng sâu khi nghĩ đến Đan Thanh và chàng rất sung sướng vì bạn. Chàng thích thú thấy đứa trẻ bướng bỉnh rất khó thuần hóa ấy, với tâm tánh bất thường, giờ đây lại nổi máu giang hồ ra đi nữa.

Ngày nào tư tưởng của tu viện trưởng cũng quay về người bạn chàng, lòng thương yêu mong nhớ và ray rứt. Đôi khi chàng băn khoăn tự trách mình. Có phải chàng không dám bày tỏ nỗi lòng mình cho bạn hiểu, cho bạn biết rằng mình yêu thương bạn vô vàn và không muốn bạn chàng đổi khác hơn xưa, rằng nhờ nghệ thuật của bạn mà tâm hồn mình trở nên phong phú? Chàng đã nói với bạn quá ít về những điều ấy, có lẽ quá ít. Biết đâu chàng lại không thể giữ bạn chàng ở lại.

Nhờ Đan Thanh, tâm hồn chàng đã thêm dào dạt. Nhưng cũng vì Đan Thanh, chàng đã trở nên nghèo nàn, yếu đuối, và thật may chàng đã không tỏ lộ cho bạn chàng thấy như vậy. thế giới mà chàng sống và xem như nhà mình – thế giới của học giả, đời sống của tu sĩ, chức vụ giáo hội, lâu đài tư tưởng vững chắc – tất cả thế giới ấy đã bị bạn chàng làm cho lung lay tận nền móng, bây giờ chàng đầy dẫy những hoài nghi. Dĩ nhiên về phương diện lý trí đạo đức thì đời chàng tốt hơn, đúng hơn, vững vàng hơn, trật tự và gương mẫu hơn. Đó là một cuộc đời của trật tự, của phụng sự trung kiên, của dâng hiến không ngừng, luôn luôn nỗ lực cho ánh sáng và công bằng. Cuộc đời ấy trong sạch hơn đời một nghệ sĩ lang thang, một kẻ quyến rũ phụ nữ. Nhưng với cái nhìn của Thượng đế, thì cuộc đời gương mẫu này có gì tốt đẹp hơn cuộc đời Đan Thanh? Con người có thật sự được tạo dựng để sống một cuộc đời máy móc điều độ, với những giờ giấc, những phận sự được những hồi chuông báo hiệu? Con người có phải thật sự sinh ra để học Aristote và Thánh Thomas, biết tiếng Hy Lạp, dập tắt cảm giác, chạy trốn thế gian? Không phải Thượng đế cũng dựng nên con người với những giác quan và bản năng với những bóng đen đẫm máu, với khả năng gây tội ác, dục tính và thất vọng hay sao? Những câu hỏi ấy quay cuồng trong đầu tu viện trưởng mỗi khi nghĩ đến bạn.

Phải, có lẽ sống như Đan Thanh thật hồn nhiên hơn, người hơn, can đảm hơn và e còn cao quý hơn khi dấn mình vào trong dòng thực tại tàn bạo, trong mớ hỗn loạn, trong tội lỗi… để chấp nhận những hậu quả cay đắng; còn hơn là

Sống một đời thanh khiết với hai bàn tay rửa sạch và ở ngoài cuộc đời, bày ra một khu vườn lý tưởng hòa điệu mà cô độc. Có lẽ điều khó hơn, can đảm và cao cả hơn là lang thang qua rừng rú, trên đường thiên lý với đôi giày rách, chịu đựng nắng mưa đói khát, chơi đùa với cảm quan để trả giá bằng đau khổ.

Dù sao, Đan Thanh đã chỉ cho chàng thấy rằng một con người được dành cho những việc cao siêu cũng có thể rớt vào những hố sâu tột cùng của cuộc đời hỗn loạn đẫm máu, có thể làm mình đầy máu bụi, nhưng đồng thời vẫn không trở nên hèn hạ tầm thường, vẫn không chết mất trong mình đóm lửa thiêng. Con người ấy có thể lang thang qua những bóng tối dày đặc mà vẫn không tắt mất ánh sáng thiêng liêng và năng lực sáng tạo trong tâm hồn. Huyền Minh đã nhìn sâu cuộc đời thác loạn của bạn, mà vẫn không giảm bớt chút nào tình yêu mến kính trọng đối với chàng. Ồ không, từ khi Huyền Minh đã thấy những hình tượng do bàn tay vấy máu của Đan Thanh tạc nên chàng biết rõ trong trái tim bốc đồng của người nghệ sĩ, kẻ quyến rũ đàn bà ấy, có những phú bẩm của Thượng đế, tràn trề ánh sáng và tài hoa.

Há không phải mỗi đường nét trong những hình tượng kia, mỗi con mắt, làn môi, mỗi cành lá, mỗi nếp áo kia, thật là sống động, nồng nàn, không thể thay thế hơn bất cứ điều gì mà một nhà tư tưởng có thể hoàn thành? Há không phải người nghệ sĩ này, với trái tim đầy đau khổ, xung đột, đã nặn ra những hình tượng biểu trưng cho nỗ lực và thèm khát của vô số người hiện tại và mai sau, những hiện tượng mà muôn người sẽ chiêm ngưỡng vì tìm được trong đó nguồn an ủi và sức mạnh?

Hệt như ngày xưa, chàng đã có lần can dự vào tuổi thơ của Đan Thanh một cách tàn bạo, chuyển hướng đời cậu bé thì bây giờ kể từ khi trở về Đan Thanh cũng đã làm cho tâm chàng tán loạn, buộc chàng phải hoài nghi và tự xét lại mình. Chàng đã không cho Đan Thanh cái gì mà về sau không nhận lại gấp bội.

Người bạn chàng đã cất vó ra đi để chàng ở lại suy tư cả thời gian. Nhiều tuần đã trôi qua. Từ lâu cây dẻ gai đã rụng hết hoa, màu lá xanh non đã trở nên sẫm tối, dày và cứng, đàn cò đã ấp trứng xong trên ngọn tháp và đang tập bầy con mới nở bay cao. Đan Thanh càng rời xa, Huyền Minh càng thấy rõ mối quan hệ trọng đại giữa hai người. Trong tu viện, Huyền Minh có nhiều cha thông thái, một chuyên gia về Platon, một nhà ngữ pháp lỗi lạc, và một hai nhà thần học uyên bác. Nhiều người kính tín, trang nghiêm và đoan trực. Nhưng Huyền Minh không có ai đồng đắng với chàng, không có ai để chàng đo lường nghiêm túc với chính mình. Chỉ một mình Đan Thanh là mang lại cho chàng điều mà không gì có thể thay thế được. Chàng thật khổ sở khi phải từ bỏ điều ấy và cả người bạn tài hoa tương đồng. Chàng nhớ bạn vô cùng, mong mỏi trông đợi bạn.

Chàng thường đến xưởng điêu khắc khích lệ cậu Bảo Ân phụ tá đang tiếp tục làm việc cho điện thờ và nôn nóng mong đợi vị thầy trở về. Đôi khi tu viện trưởng mở khóa phòng Đan Thanh nơi tượng Đức Mẹ an vị, cẩn trọng dở tấm vải che và nhìn ngắm khá lâu. Chàng không biết gì về xuất xứ bức tượng; Đan Thanh chưa bao giờ kể chuyện Liên Đài. Nhưng chàng linh cảm được tất cả, chàng thấy dáng dấp của cô gái này đã sống thật lâu trong tâm hồn Đan Thanh. Có lẽ bạn chàng đã quyến rũ nàng, đã phụ tình và bỏ rơi nàng. Nhưng chân thật hơn bất cứ người chồng trung thành nào, y đã mang nàng theo vào tận trong lòng, duy trì đến tận cùng hình ảnh nàng, có thể sau nhiều năm y đã không thấy lại nàng. Bây giờ y đã điêu khắc vẻ đẹp xao xuyến của cô gái vào pho tượng, chiếm đoạt gương mặt nàng, dáng điệu của nàng, đôi bàn tay với tất cả dịu dàng, ngưỡng mộ và ham muốn ân ái. Chàng biết nhiều về câu chuyện của bạn chàng, qua các bức tượng nơi giảng đường trong nhà ăn. Đó là chuyện đời của một lữ khách, của con người sống theo bản năng, kẻ vô gia cư, vô tín ngưỡng, nhưng điểm còn lại trong y là tất cả những gì tốt đẹp, chí thành, tin yêu vào cuộc đời. Thật là một cuộc đời lạ kỳ, sôi nổi, nhiều sóng gió nhưng cuối cùng vẫn còn cao đẹp và thuần khiết.

Huyền Minh phải tự chiến đấu với mình, chàng phải thắng lấy mình. Chàng không thể phản bội tiếng gọi thiêng liêng từ nội tâm, không thể từ bỏ con đường mà chàng đã chọn, con đường phụng sự tâm linh. Nhưng chàng đau khổ vì đã mất một người bạn, vì đã nguyện dâng mình và phụng sự cho Thiên Chúa, nay lại vương vấn vào tình yêu bạn.

Chuyên mục:Uncategorized

Chương 18

Suốt những ngày đầu sống trong tu viện Đan Thanh ở trong gian phòng dành riêng cho khách, cạnh lò rèn, theo lời chàng yêu cầu trong dãy nhà phụ vây quanh khoảng sân lớn giống như một ngôi chợ.

Trở về mái nhà xưa, chàng như đi lạc vào một khung cảnh mê đắm mãnh liệt, đến nỗi chàng phải tự kinh ngạc. Ngoại trừ tu viện trưởng, không một ai biết chàng ở đây. Mọi người tu sĩ cũng như tân tòng, đang sống một cuộc đời kỷ luật, công việc của họ rất bề bộn nên chẳng ai buồn chú ý đến chàng. Tuy nhiên hàng cây trong sân, những vòm cổng và khung cửa sổ đều nhận biết chàng, cối xay với bánh xe nước và con đường lát đá ngoài hành lang đều thân thuộc với chàng, ân tình xa xưa bàng bạc trên khóm hồng tàn úa nơi ô cửa tò vò, trên tổ chim cò mái nhà ăn, vựa lúa… Tại mỗi nơi chốn, hương dĩ vãng, hình ảnh thiếu thời vụt đến nơi chàng, biết bao êm đềm và xao xuyến: lòng dào dạt yêu thương, chàng muốn nhìn lại tất cả, lắng nghe mọi âm điệu, từ tiếng chuông đổ hồi trong thánh lễ buổi chiều hoặc ngày chúa nhật, tiếng cối xay âm thầm quay đều dưới bờ tường rêu xanh, đến tiếng dép vang dội trên thềm đá và chùm chìa khóa leng keng trong ánh hoàng hôn theo bước chân cậu tân tòng đi khóa cửa. Gần cổng đá dẫn nước, nơi nước mưa từ nóc nhà ăn học trò tuôn xuống, cỏ vẫn mọc chi chít, cỏ phong thảo và mã đề và cây táo già cỗi nơi khu vườn lò rèn vẫn còn những nhánh cây cong queo chĩa ra xa. Nhưng xúc động nhất là hồi chuông trường học báo giờ ra chơi, tất cả học sinh trong tu viện đều túa xuống bực thang ra sân. Những gương mặt bé bỏng, trẻ thơ và khờ dại làm sao! Có phải chàng cũng đã khờ dại, từng ranh mãnh, vụng về và đĩnh ngộ như vậy chăng?

Ngoài những nét thân thuộc yêu dấu chàng còn tìm thấy trong tu viện một cái gì xa lạ đã làm chàng chú ý ngay những ngày đầu. Hình ảnh mới lạ ấy càng được chàng chú ý và từ từ tan lẫn vào những hình ảnh thân yêu xa xưa. Kể từ ngày chàng ra đi, tuy chưa có sự vật gì mới mẻ thêm vào, có lẽ tất cả vẫn giữ nguyên hàng trăm năm nay, nhưng ngày nay chàng nhìn cảnh trí cũ không còn với đôi mắt học trò nữa. Nhãn quan chàng đã cảm thức được kích thước các công thự, độ cong các vòm cửa nhà thờ, giá trị những bức họa cổ, những tượng đá và tượng gỗ trên điện thờ, trên hàng cổng; không có gì đổi khác, những vật ấy vốn có từ trước đến nay, trừ một điều là hiện giờ chàng biết nhận thức vẻ đẹp và giao cảm với tinh thần sáng tạo trong những công trình ấy. Chàng nhìn vào pho tượng Đức Mẹ bằng đá trong nhà nguyện. Lúc còn bé chàng đã yêu thích và sao vẽ lại, nhưng chỉ bây giờ chàng mới thấy rõ nét tuyệt diệu, mà tác phẩm thành công và đắc ý nhất của mình chưa thể vượt qua nổi. Có rất nhiều tuyệt phẩm như thế, không phải được bài trí một cách ngẫu nhiên mà mỗi nghệ phẩm đứng giữa hàng cột và vòm cửa cổ kính như thể đang ở trong ngôi nhà tự nhiên của nó. Mọi sự đều được tác sinh từ một tinh thần sáng tạo duy nhất. Và chính tinh thần duy nhất ấy đã tác động vào mọi công trình xây cất, chạm trổ, sơn phết, uốn nắn cho đến nếp sống, lối nghĩ nơi đây suốt trăm năm nay; tất cả đều hòa điệu và đồng nhất như các nhánh mọc trên một thân cây.

Đan Thanh cảm thấy quá nhỏ bé trong thế giới ấy, trong sự đồng nhất phi thường và lặng lẽ ấy; và càng nhỏ bé hơn nữa trước tu viện trưởng Huyền Minh, người bạn của chàng, đang điều khiển thế giới ấy trong một kỷ luật tuy đầy uy quyền nhưng vẫn thân mật. Tuy có những dị biệt lớn kio về cá tính giữa tu viện trưởng Huyền Minh thông thái, tao nhã và Từ Vân nhân hậu thật thà nhưng cả hai cũng đều phụng sự cho một tập thể, một tư tưởng, một lối sống; hy sinh bản thân cho lối sống ấy và cùng được kính trọng trong lối sống ấy. Chiếc áo dòng đã làm cho họ không khác nhau.

Giữa lòng tu viện của chàng, Huyền Minh cao vĩ hẳn lên một cách lạ lùng dưới mắt của Đan Thanh, dù chàng không có một thái độ nào khác hơn là thái độ của một người bạn, một người chủ tử tế. Chẳng bao lâu Đan Thanh không dám gọi chàng là Huyền Minh nữa.

Một hôm Đan Thanh bảo:

– Tu viện trưởng Gioan, tôi phải quen gọi tên mới này của anh. Tôi phải nói rằng tôi rất vừa lòng được ở nơi đây. Tôi suýt muốn xưng tội hết với anh và xin ở lại làm sư huynh thế tục sau một thời gian sám hối và được xá tội. Nhưng nếu thế thì tình bạn giữa hai ta sẽ chấm dứt, anh là linh mục viện trưởng, tôi là sư huynh thế tục. Tôi không thể kéo dài lối sống hiện tại; ở gần anh, nhìn công việc anh làm mà chính mình thì ngồi không làm gì cả. Tôi cũng muốn làm việc để tỏ cho anh thấy tôi là ai, tôi có thể làm được việc gì, và có bõ công anh cứu khỏi bị chết treo không.

-Tôi vui mừng nghe anh nói thế – Huyền Minh nói thật rõ từng chữ và khúc chiết hơn thường lệ – Anh có thể dựng xưởng điêu khắc bất cứ lúc nào anh muốn. Tôi để người thợ rèn và thợ mộc thuộc quyền anh sử dụng ngay bây giờ. Anh hãy lấy dùng vật liệu nào hiện có sẵn và lập một danh sách món nào cần mua ở ngoài. Và bấy giờ tôi sẽ nói anh nghe những gì tôi nghĩ về anh. Hãy để tôi có đủ thì giờ để diễn đạt: tôi là một trí giả và chỉ có thể trình bày vấn đề với anh từ thế giới tư tưởng của tôi. Tôi không biết một ngôn ngữ nào khác. Anh hãy kiên nhẫn nghe tôi nói như ngày xưa anh đã từng kiên nhẫn.

– Tôi sẽ cố lắng nghe. Anh hãy nói đi.

– Anh có nhớ, ngày mà chúng ta còn cắp sách, đôi khi tôi nói anh là một nghệ sĩ. Tôi đã nghĩ anh sẽ thành thi sĩ. Khi đọc và viết, anh chán ghét những gì trừu tượng, không xúc chạm được; anh đặc biệt ưa thích những chữ hoặc những âm thanh gợi cảm, thi vị và hàm súc hình ảnh.

Đan Thanh ngắt lời:

– Tôi xin lỗi, nhưng không phải những ý niệm trừu tượng mà anh thường dùng cũng là hình ảnh sao? Hay anh thực sự muốn suy tư bằng những danh từ mà từ đó ta không thể tưởng tượng ra cái gì cả? Và có thể nào chúng ta suy nghĩ mà không cần hình ảnh hay sao?

-Tôi rất sung sướng khi anh đặt câu hỏi đó. Vâng, dĩ nhiên ta có thể suy nghĩ mà tưởng tượng ra cái gì cả! Suy tư và tưởng tượng không có dính líu nhau. Suy tư được thể hiện không bằng hình ảnh mà bằng những khái niệm công thức. Ngay ở điểm hình ảnh chấm dứt thì triết lý bắt đầu. Đây chính là vấn đề hồi nhỏ chúng ta thường tranh luận; với anh thế giới được tạo thành bằng những hình ảnh, với tôi, bằng ý tưởng. Tôi luôn luôn bảo anh rằng anh không phải sinh ra để làm triết gia, và tôi cũng nói rằng chuyện ây không hề hấn gì, bởi vì bù lại, anh là một bậc thầy trong lãnh vực tưởng tượng. Xin hãy lắng nghe, tôi sẽ giải thích điều ấy. Nếu ngày xưa thay vì chìm đắm trong thế gian, anh lại trở thành một nhà tư tưởng, thì có lẽ anh đã tác yêu, tác quái. Bởi vì khi làm một nhà tư tưởng, chắc chắn anh sẽ trở thành một nhà thần bí. Nhà thần bí, nói trắng ra là người không thể tách khỏi hình ảnh, bởi thế không phải là người tư duy. Đó là một hạng nghệ sĩ bí mật: một nhà thơ không vần điệu, họa sĩ không sơn cọ, nhạc sĩ không âm thanh. Trong số ấy có người rất thông minh xuất chúng, song hầu hết đều là những kẻ bất hạnh. Anh cũng có thể đã thành ra một người như vậy. Nhưng lạy Chúa, anh đã không ra như vậy mà thành một nghệ sĩ, nắm vững thế giới cảm quan trong đó anh có thể làm một đấng tạo hóa, mọi ông chủ, thay vì làm một nhà tư duy phải nghẹn ngào trong bất mãn.

Đan Thanh:

– Tôi e rằng tôi không bao giờ nắm bắt được ý tưởng trong thế giới tư duy của anh, một thế giới trong đó có tư duy mà không có hình ảnh.

– Ồ được chứ, anh sẽ nắm được ngay bây giờ. Hãy nghe: nhà tư duy cố định đoán và trình bày bản chất của thế giới bằng lý luận. Ông ta biết lý trí và khí cụ của nó luận lý – đều bất toàn – cũng như một nghệ sĩ biết rõ cây cọ, dao khắc không bao giờ có thể diễn đạt hoàn toàn trung thực vẻ chói sáng của một thiên thần hay một vị thánh. Nhưng cả hai đều cố hết sức mình theo cách riêng của họ. Họ không thể làm gì khác. bởi vì khi một người cố gắng thể hiện bản thân bằng những năng khiếu đã được phú bẩm, thì anh ta chỉ còn nước nỗ lực làm cái điều duy nhất mà mình có thể làm. Đó là lý do tại sao ngày xưa tôi thường bảo anh đừng cố mô phỏng triết gia hay nhà khổ hạnh, mà hẫy trở thành chính anh, có thể hiện chính mình .

-Tôi hơi hiểu một vài điều anh nói. Nhưng thể hiện chính mình là cái gì vậy?

-Đó là một khái niệm triết học, tôi không thể diễn tả cách nào khác. Với chúng tôi, những môn đồ của Aristote và Thánh Thomas, đó là khái niệm cao cả nhất trong những ý tưởng: linh hồn toàn vẹn. Thượng Đế là linh hồn toàn vẹn. Mọi cái khác hiện hữu trên đời chỉ sống có một nữa, một phần, đang trở thành, đang lẫn lộn, dang hàm chứa nhiều tiềm năng chưa khai phá. Nhưng Thượng Đế thì không phải lẫn lộn. Ngài là Một, Ngài không có những tiềm năng, mà là cái Toàn Thể, Thực Thể tròn đầy. Trong khi chúng ta thì vô thường, đang trở thành, là những tiềm năng; không phải là linh hồn toàn vẹn. Nhưng mỗi khi ta đi từ tiềm năng đến hành động, từ khả tính đến thực hiện, là chúng ta đang tham dự vào linh hồn chân thật, trở thành mỗi lúc một giống với Toàn Thiện, Thánh Thể. Đó là ý nghĩa của sự thể hiện chính mình. Anh nên tìm hiểu điều đó bằng chính kinh nghiệm của anh vì anh là một nghệ sĩ đã tạo nhiều tượng. Ví dụ nếu một bức tượng là tốt đẹp thực sự, nếu anh đã thể hiện được hình ảnh một con người từ cái vô thường biến đổi, làm cho nó trở thành hình ảnh thuần túy, thế thì anh đã thể hiện được hình ảnh con người ấy, trên phương diện nghệ thuật.

-Tôi hiểu.

-Bạn Đan Thanh, anh thấy tôi ở trong một địa vị và nhiệm vụ trong đó tôi dễ dàng thể hiện con người của tôi hơn ở bất cứ đâu. Anh thấy tôi sống trong một cộng đồng và một truyền thống thích hợp với tôi, làm tôi thăng tiến. Một tu viện không phải là một thiên đàng. Nó đầy dẫy những khuyết điểm. Tuy vậy một đời sống tu sĩ trong một tu viện có quy cũ vẫn vô vàn tốt cho những người như tôi, hơn là đời sống thế tục. Với tôi, ở nơi đây, tôi sẽ dễ dàng thể hiện con người như tôi, với anh thì không. Anh phải trải qua bao nhiêu gian khổ để trở thành một nghệ sĩ; tôi rất cảm phục điều ấy. Đời anh cam go hơn tôi nhiều.

Lời ca ngợi làm cho Đan Thanh đỏ mặt lúng túng và cũng sung sướng. Muốn đổi đề tài, chàng ngắt lời bạn:

-Tôi hiểu được phần lớn những gì anh muốn nói. Nhưng có một điều vẫn chưa vào được trong đầu tôi, đó là cái mà anh gọi là tư duy thuần túy. Tôi muốn nói cái mà anh gọi là suy tưởng không có hình ảnh, và sự sử dụng những danh từ không chỉ đến một vật gì mà người ta có thể hình dung được.

Tôi sẽ lấy một ví dụ cho anh hiểu. Hãy nghĩ đến toán học. Những con số chứa đựng hình ảnh gì? Những dấu cộng trừ có hình ảnh gì? Một phương trình có hình ảnh gì? không có hình ảnh gì cả. Khi anh giải một bài số học hay đại số, không hình ảnh nào có thể giúp anh giải được, anh phải làm một công việc thuần bằng những ký hiệu tư duy mà anh đã học được.

-Đúng thế, Huyền Minh. Nếu anh đưa cho tôi một hàng con số và ký hiệu tôi có thể làm việc mà không sử dụng trí sử dụng, tôi có thể để cho những đấu cộng, trừ, bình phương v.v… điều khiển tôi và giải ra bài toán nghĩa là ngày xưa tôi có thể làm, bây giờ thì không. Tôi không thể tưởng tượng sự giải một bài toán ấy có giá trị gì khác hơn ngoài việc luyện tập trí não học trof. Tập đếm thì không sao. Nhưng tôi thấy thật vô nghĩa, ngớ ngẩn nếu một người dùng trọn cuộc đời chỉ để đếm và lấp đầy những trang giấy bằng những hàng con số.

-Anh nghĩ sai, Đan Thanh. Anh cho rằng người giải toán luôn luôn giải những bài toán ông thầy cho y. Nhưng ngoài ra y cũng có thể tự đặt cho y những câu hỏi, những vấn đề có thể khởi lên trong tâm trí y như những sức mạnh cưỡng bức. Một con người thường phải đo lường và băn khoăn về không gian thực và không gian tưởng tượng trong toán học trước khi nó có thể dấn liều đối diện với chính bài toán không gian.

-Được rồi. Nhưng bàn đến vấn đề không gian bằng tư tưởng thuần túy đối với tôi không đáng là một công việc cho người ta phí cả cuộc đời và năng lực của mình. Danh từ “không gian” với tôi không có nghĩa gì, không đáng nghĩ tới nếu tôi không thể tưởng tượng ra không gian thực sự, ví dụ như khoảng cách giữa những vì sao. Bây giờ, sự khảo sát và đo lường khoảng cách ấy đối với tôi dường như không phải là một việc không đáng làm.

Mỉm cười, Huyền Minh ngắt lời bạn:

-Kỳ thật bạn đang nói rằng bạn hơi coi thường sự suy tưởng, trừ phi sự suy tưởng ấy áp dụng vào thế giới thực tế hữu hình. Tôi có thể trả lời bạn: chúng ta không thiếu cơ hội để áp dụng tư duy của chúng ta, và chúng ta cũng không phải không muốn làm. Ví dụ con người suy tưởng Huyền Minh đã áp dụng những kết quả của tư duy mình hàng trăm bận cho bạn Đan Thanh của y cũng như cho mỗi tu sĩ trong tu viện, và y làm như vậy trong mỗi lúc. Nhưng làm sao y có thể áp dụng nếu y đã không học và thực tập trước? Và nghệ sĩ cũng luôn luôn luyện tập con mắt và trí tưởng tượng của mình, và chúng ta nhận ra sự luyện tập ấy, dù chỉ trong một số ít nghệ phẩm xứng đáng. Bạn không thể bác bỏ tư duy mà chỉ thừa nhận sự ứng dụng của nó, rõ ràng là một chuyện mâu thuẫn. Vậy tôi xin tiếp tục suy tưởng và phán đoán những tư tưởng của tôi do những hậu quả của chúng, cũng như phán đoán nghệ thuật của anh qua nghệ phẩm của anh. Bạn đã sốt ruột, bực mình vì còn có những chướng ngại giữa bạn và nghệ phẩm của bạn. Hãy dẹp những chướng ngại ấy đi. Hãy tự đi tìm hoặc dựng lên một xưởng vẽ cho bạn, và bắt đầu làm việc đi. Bằng cách đó nhiều vấn đề sẽ tự động giải quyết.

Đan Thanh không mong gì hơn. Kế bên cổng vào sân chàng đã làm được một cái chái trống thích hợp để mở xưởng. Chàng đặt thợ mộc làm một bản vẽ và các dụng cụ khác, tất cả được thực hiện theo họa đồ do chàng vẽ lấy. Chàng lập một danh sách vật liệu mà bác lái xe hàng cho tu viện phải chở về từ các thành phố chung quanh, một danh sách khá dài. Chàng xem xét tất cả thước gỗ đã đốn xuống trong xưởng mộc hoặc vào tận trong rừng, chọn lựa nhiều mẫu và mang về chất đống trên đám cỏ phía sau xưởng, nơi chàng phơi gỗ dưới mái che do chính tay chàng cất lên. Chàng cũng làm việc nhiều với bác thợ rèn, cùng đứa con của bác, một cậu thanh niên mơ mộng, đã chiếm được cảm tình của chàng. Họ làm việc bên nhau nửa ngày trời trong lò rèn, cạnh cái đe, máng nước lạnh và phiến đá mài. Họ rèn tất cả lưỡi dao cong và thẳng, dao khắc, lưỡi khoan, lưỡi bào cần thiết cho việc đẽo gỗ. Con của bác thợ rèn, cậu Bảo Ân, một cậu thiếu niên trạc hai mươi, đã trở thành bạn của Đan Thanh. Cậu ta giúp chàng mọi việc, luôn luôn vui vẻ vì thích việc và tò mò . Đan Than hứa sẽ dạy cậu ta đàn, môn cậu rất ham thích, và chàng cũng cho phép cậu thử điêu khắc. Nhiều lúc ở tu viện, Đan Thanh cảm thấy vô dụng và chán nản khi giáp mặt Huyền Minh, chàng có thể khỏa lấp phần nào khi có Bảo Ản bên cạnh. Bảo Ân thương chàng một cách rụt rè và ngưỡng mộ chàng vô hạn. Cậu ta thường bảo chàng kể chuyện về thầy Không Lộ và thành phố của vị giám mục. Đôi khi Đan Thanh cũng vui thích kể lại. Rồi chàng chợt kinh ngạc thấy mình ngồi như một ông già, thuật lại những chuyến phiêu lưu trong quá khứ, trong khi đời sống thực sự của chàng chỉ mới bắt đầu từ bây giờ.

Gần đây chàng đã biến đổi rõ rệt và già hẳn so với tuổi đời, nhưng không ai nhận ra, không ai biết chàng thuở trước. Những khó nhọc suốt đoạn đời lang thang; vô định đã làm hao mòn hết sức lực chàng, bệnh dịch khủng khiếp rồi cuối cùng bị giam cầm trong lâu đài của viên Bá tước, và đêm hãi hùng dưới hầm tối đã lay chuyển con người chàng tận cội rễ. Những kinh nghiệm trên đã để lại nhiều dấu vết: tóc đã hoa râm, râu đã mất màu vàng óng, nếp nhăn đã hằn trên mặt với những đêm thao thức. Hứng khởi và tò mò không còn nữa thay vào là cơn mệt mỏi ăn sâu vào tận tâm hồn. Tình cảm khô cạn vì chàng đã sống quá sung mãn, thừa mứa.

Trong khoảng thời gian chuẩn bị công việc, hoặc chuyện vãn với Bảo Ân cùng làm việc với bác thợ rèn, thợ mộc chàng trở nên hăng hái, lấy lại tuổi trẻ, mọi người đều ngưỡng mộ và yêu mến chàng; nhưng vào những lúc khác, chàng đã ngồi hằng giờ, dã dượi, khẽ mỉm cười và mơ mộng, lòng hờ hửng và lãnh đạm, buông trôi tất cả.

Vấn đề rất quan trọng đối với chàng là bắt đầu công việc như thế nào. Việc đầu tiên mà chàng muốn làm tại đây và cũng để trả ơn lòng đối đãi của tu viện trưởng, không phải là một tác phẩm tầm thường mà ai cũng có thể đặt được vào bất cứ vị trí nào để thỏa mãn tính hiếu kỳ của người đời. Công trình của chàng phải thầm nhập mật thiết vào cuộc sống của tu viện cùng với những nghệ phẩm có đã có và phải hài hòa với tổng thể kiến trúc cũ. Chàng muốn xây một bệ thờ hoặc một giảng đài nhưng không cần thiết và cũng không có chỗ trống. Chàng nghĩ ra một việc khác. Có một bục cao trong nhà ăn, nơi mà một sư huynh đọc lại truyện tích các Thánh trong giờ ăn. Bục cao ấy chưa được trang hoàng. Đan Thanh quyết định điêu khắc những bậc thang lên cao như một giảng đài với một bức chạm nổi chung quanh và một số tượng khác để đứng. Chàng giải thích đồ án này cho tu viện trưởng và được chấp thuận.

Khi khởi sự công việc, tuyết đã rơi, Giáng sinh đã qua -đời sống của Đan Thanh bước qua một sắc thái mới. Chàng như đã biến mất khỏi tu viện, không còn ai trông thấy chàng nữa. Chàng không còn thơ thẩn trong rừng hoặc bách bộ dưới các vòm cung. Chàng không còn chờ đợi giờ các học sinh tan học. Chàng dùng bữa trong nhà máy xay. Người chủ máy xay không phải là người ngày xưa khi chàng còn là học sinh đến thăm viếng. Và chàng không cho phép ai vào trong xưởng ngoại trừ Bảo Ân, và có nhiều ngày chính cậu ta cũng chẳng nghe chàng mở miệng.

Đối với công trình thứ nhất này, chàng đã nghĩ ra từ lâu một thiết kế như sau gồm có hai phần, một biểu thị cho thế gian, một cho lời của Chúa. Phần bên dưới, chung quanh các bực thang, để biểu thị cho tạo vật, những hình ảnh thiên nhiên, đời sống bình thường của chư tổ và các nhà tiên tri. Bên trên khung lan can là hình ảnh bốn vị thánh tông đồ. Một trong những trứ giả của Phúc âm sẽ có nét mặt của tu viện trưởng Từ Vân nhân hậu, một người khác là cha Lương, người kế vị, và pho tượng của thánh Luke sẽ làm hình ảnh thầy Không Lộ trở nên bất diệt.

Chàng đã gặp nhiều trở ngại lớn hơn chàng đã dự liệu. Và những trở ngại này đã mang đến nhiều phiền toái, nhưng là những phiền toái ngọt ngào. Hiện giờ chàng thích thú và đôi khi chàng lại thất vọng, chàng theo đuổi công việc của chàng như phải đối đầu với một người đàn bà miễn cưỡng, chàng chiến đấu với khó khăn một cách quả quyết và mềm dẻo như người đánh cá chiến đấu với con cá trắm to lớn, và mỗi kháng cự đều gợi cho chàng xúc cảm sâu xa. Chàng đã quên mọi việc khác. Chàng quên cả tu viện, gần như quên cả Huyền Minh. Huyền Minh có đến vài lần, nhưng chỉ để xem những bản vẽ.

Rồi một hôm Huyền Minh đã ngạc nhiên vì Đan Thanh yêu cầu được xưng tội với chàng.

-Trước đây, tôi không thể quyết định đến xưng tội, Đan Thanh thừa nhận. Tôi đã cảm thấy quá nhỏ bé, hoàn toàn nhỏ bé trước mặt anh. Bây giờ tôi cảm thấy lớn mạnh hơn, tôi hiện có công việc của tôi và sẽ không còn là một tên vô lại. Và kể từ bây giờ, tôi muốn đặt mình vào khuôn khổ của tu viện.

Bây giờ chàng cảm thấy đồng đẳng với Huyền Minh trong công việc và không muốn chờ đợi lâu hơn nữa. Những tuần đầu tiên trầm tư tại tu viện, sự thoải mái của cảnh trở lại mái nhà, những kỷ niệm thuở hoa niên, và những câu chuyện mà Bảo Ân đã hỏi chàng, tất cả điều đó mang lại cho chàng một ít say mê.

Huyền Minh đã nhận cho chàng xưng tội kéo dài khoảng hai giờ, không cần nghi thức. Với gương mặt bất động, tu viện trưởng lắng nghe những cuộc phiêu lưu thống khổ và tội lỗi của bạn mình, đặt nhiều câu hỏi, không bao giờ ngắt lời và lắng nghe một cách thụ động, kể cả đoạn Đan Thanh thú nhận chàng đã mất hết đức tin nơi Thượng đế, công bằng và toàn thiện. Huyền Minh phải dội người vì lời tự thú của kẻ xưng tội. Chàng không thể tưởng tượng được bạn chàng đã giao động và khủng khiếp đến mức độ nào, đôi khi đã tiến gần sát đến sự hủy diệt. Và rồi chàng lại mỉm cười xao xuyến xúc động khi thấy bạn chàng vẫn còn giữ được bản chất ngây thơ, vẫn lo sợ và hối hận vì những tư tưởng bất chính của mình, những điều khá vô hại so với vực thẳm hoài nghi đen tối nơi chính chàng.

Đan Thanh rất đỗi ngạc nhiên, gần như thất vọng vì cha xưng tội không xem tội lỗi của chàng là nghiêm trọng, mà lại hết lời khiển trách và quở phạt vì chuyện không cầu nguyện, không xưng tội, không rước mình thánh. Chàng bị bắt buộc phải chịu khổ hạnh sám tội như sau: sống tiết dục và trong sạch trong một tháng trước khi rước mình thánh, dự thánh lễ mỗi sáng, và cầu kinh Lạy Cha ba lần và một lần kinh “Kính mừng Maria Đức Mẹ Chúa Trời” mỗi chiều.

Sau đó Huyền Minh nói với chàng:

-Tôi dặn anh đừng xem nhẹ những khổ hạnh này. Tôi không hiểu là anh có còn thuộc kinh lễ hay không? Anh phải đọc theo từng chữ một và tự dâng mình cho mỗi ý nghĩa. Chính tôi sẽ cùng đọc kinh với anh hôm nay, giảng giải ý nghĩa lời kinh mà anh phải đặc biệt hướng sự chú trọng đến. Anh phải đọc và nghe những chữ thiêng liêng không phải như một người đọc và nghe những chữ thông thường. Anh phải tự nắm vững vừa đúng để khỏi quay cuồng bởi những từ ngữ, điều này sẽ xảy đến thường hơn anh tưởng, anh phải nhớ giờ khắc ấy và sự dặn dò của tôi, và anh phải khởi sự lại từ đầu và đọc lên từng chữ sao cho thấm nhập vào tận tim anh, như tôi sẽ chỉ cho anh.

Không biết do sự tình cờ hay do tài xét đóan của tu viện trưởng về tâm hồn người, mà Đan Thanh quả có được một giai đoạn an bình sung mãn sau kỳ xưng tội và hành sám ấy. Giữa bao mối căng thẳng, lo âu và thỏa mãn đối với công việc điêu khắc, mỗi sáng chiều chàng lại thấy mình được nhẹ nhõm nhờ những thời luyện tập tâm linh, đọc kinh, tuy dễ dàng nhưng cần chú ý ấy. Cả con người chàng phục tòng một trật tự cao cả mang chàng ra khỏi cảnh cô lập nguy hiểm của người sáng tạo, biến chàng thành một đứa trẻ trong nước Chúa.

Nhưng không luôn luôn được như vậy. Đôi khi chàng không an lòng và thoải mái lúc chiều về, sau những giờ làm việc hăng say. Thỉnh thoảng chàng quên đọc kinh, và nhiều lần trong lúc đọc; chàng bị dày vò bỡi ý nghĩ rằng chung quy những lời cầu nguyện chỉ là trò trẻ con trước một ông Thượng đế không có thật, hoặc dù có thật cũng không giúp được gì. Chàng thố lộ điều ấy với bạn. Huyền Minh bảo:

-Hãy cứ tiếp tục, anh đã hứa anh phải giữ lời. Anh không được nghĩ Chúa có nghe lời anh xin hay không, hoặc Ngài có hiện hữu hay không. Anh cũng không được nghĩ rằng mình đọc kinh như vậy có phải trẻ con không. Đối với Ngài, tất cả mọi việc làm chúng ta đều trẻ con. Anh phải tự cấm chế triệt để những tư tưởng điên rồ ấy trong lúc đọc kinh. Hãy dấn trọn mình cho những lời kinh như thể khi anh đàn hay hát. Anh không có những tư tưởng mơ mộng trong lúc đó, phải không? Không, anh chỉ nhấn nốt nhạc bằng những ngón tay một cách nhất tâm thuần thục càng nhiều càng hay. Khi anh hát cũng vậy anh không tự hỏi hát như thế nào, có ích lợi gì hay không. Anh chỉ có việc hát. Ấy, anh cũng phải cầu nguyện y như vậy.

Một lần nữa, lời khuyên ấy thành công; cái ngã tham lam bướng bỉnh của Đan Thanh tự dập tắt trong giáo đường. Một lần nữa những lời kinh khả kính lại bay lượn trên đầu chàng như những vì sao.

Tu viện trưởng rất bằng lòng thấy Đan Thanh vẫn tiếp tục khổ ta mỗi ngày, nhiều tuần và nhiều tháng sau khi thời kỳ sám tội đã chấm dứt, sau khi chàng đã nhận các phép bí tích.

Trong khi ấy, công việc của Đan Thanh vẫn tiếp tục tiến triển. Một thế giới nhỏ hiện lớn lên từ những bực thang hình trôn ốc dày đặc: sinh vật cây cỏ, muông thú và loài người. Ngay giữa là Noah đứng trong đám lá và chùm trái nho. Công trình giống như một tập tranh ảnh ca tụng sự sáng tạo một thế giới đẹp đẽ, chàng tự do diễn đạt nhưng vẫn chịu định hướng một trật tự và kỷ luật nội tâm. Suốt những tháng ấy, không ai ngoài Bảo Ân trông thấy được công trình, cậu ta được phép làm những việc nho nhỏ và không ước mơ gì hơn ngoài việc trở thành nghệ sĩ. Nhưng cũng có vài ngày nào đó, cả cậu ta cũng không được vào trong xưởng điêu khắc. Có những ngày Đan Thanh sống với cậu ta, chỉ bảo cậu ta vài việc và để cậu ta tập làm thử, chàng vui vì có được một người môn đệ tin tưởng mình. Nếu công việc thành công tốt đẹp, chàng sẽ xin cha của Bảo Ân để cậu đến tập sự hẳn như một người phụ tá thường trực.

Chàng đã tạc pho tượng các trứ giả trong những ngày tươi đẹp nhất đời chàng, tất cả cùng hòa điệu không một thoáng nghi ngờ. Chàng nghĩ là sẽ thành công hơn hết với bức tượng mang nét mặt của tu viện trưởng Từ Vân. Chàng thương yêu bức tượng ấy vô cùng, một gương mặt rạng rỡ ân cần và tinh khiết. Chàng không thỏa mãn lắm với pho tượng thầy Không Lộ, mà Bảo Ân ái mộ nhất. Pho tượng ấy hiển lộ một cái gì bất ổn, đau buồn, vừa tràn trề dự ước sáng tạo cao xa mà lại vừa mang nặng một cảm thức tuyệt vọng về sự vô ích của sáng tạo; vừa tiếc thương cho một hòa điệu và tính hồn nhiên đã mất.

Khi pho tượng tu viện trưởng Từ Vân đã xong, chàng nhờ Bảo Ân quét dọn xưởng. Chàng phủ kín các bức tượng dưới những tấm vải che và chỉ đặt một bức duy nhất ra ánh sáng. Rồi chàng đi tìm Huyền Minh, Huyền Minh mắc bận, chàng kiên nhẫn đợi đến ngày hôm sau. Vào giữa trưa chàng đã dẫn bạn đến xem bức tượng.

Huyền Minh đứng yên nhìn ngắm. Chàng đứng đó thật lâu, quan sát công trình với tất cả chú tâm và cẩn trọng của một nhà học giả. Đan Thanh đứng sau lưng chàng, im lặng, cố gắng chế ngự cơn bão trong lòng mình. Đan Thanh nghĩ: “Ôi! Nếu một trong nghệ phẩm của ta không qua nổi kỳ trắc nghiệm này, thì thật là hỏng. Nếu bức tượng của ta không thành công hoặc nếu Huyền Minh không thông hiểu, tất cả công trình của ta ở đây sẽ mất hết giá trị. Ta còn phải chờ đợi lâu hơn nữa!”

Đối với Đan Thanh một phút dài như cả giờ, và chàng nhớ đến lúc thầy Không Lộ cầm bản vẽ đầu tiên của chàng trong tay. Chàng nắm chặt lòng bàn tay nóng ướt.

– Huyền Minh quay sang chàng, và tức khắc, chàng cảm thấy mình như bừng sống lại. Trên gương mặt thon dài của bạn chàng, một cái gì như nụ hoa, đã lịm tắt từ những năm xưa còn bé, nay bỗng nhiên nở vội một nụ cười e ấp trên gương mặt thuộc về thế giới của tâm linh và ý chí, một nụ cười của tình yêu và đầu lụy, tươi sáng, xuyên thấu tất cả, một nụ cười của sự cô đơn và kiêu hãnh bừng chiếu trong một giây khắc để rồi đọng lại nhường chỗ cho một tấm lòng dâng trào vui sướng.

– Đan Thanh! Huyền Minh nói thật êm đềm, cân nhắc từng lời, anh không nên mong mỏi tôi biến thành một chuyên gia về nghệ thuật một cách đột ngột. Anh biết rằng tôi không thuộc loại người ấy. Tôi không có thể nói với anh một lời nào về nghệ thuật của anh mà anh sẽ không chế giễu tôi. Nhưng hãy để tôi nói với anh một điều: nhìn qua lần đầu, tôi nhận ra tu viện trưởng Từ Vân của chúng ta trong ảnh tượng vị trứ giả. Không hẳn thuần là chân dung của cha mà còn biểu thị tất cả những gì là phẩm hạnh, nhân hậu và bình dị, như chúng ta đã từng tôn kính cha lúc còn trẻ. Cha Từ Vân đang đứng trước mặt chúng ta và ban đến chúng ta tất cả những gì thiêng liêng, những gì mà chúng ta sẽ không bao giờ quên được trong khoảng đời hoa niên ấy. Bạn ơi! Anh đã dâng tôi một tặng phẩm về lòng bao đung quảng đại, vầ không những anh chỉ mang đến cho tôi con người của cha Từ Vân, mà lần đầu tiên anh còn hoàn toàn mở rộng tâm hồn anh cho tôi thấu hiểu. Bây giờ tôi biết anh là người thế nào. Ta sẽ nói về vấn đề này mai sau, hiện giờ tôi không thể. Đan Thanh ơi! Giờ phút sung sướng này là dành riêng cho chúng ta.

Căn phòng lớn thật yên lặng. Bạn chàng tu viện trưởng đang rung động tận đáy lòng. Đan Thanh đã nhìn thấy và chàng bối rối đến ngạt thở:

– Vâng, chàng nói gọn lỏn, tôi vui mừng. Nhưng đã đến giờ ta phải đi ăn.

Chuyên mục:Uncategorized

Chương 17

CHƯƠNG XVII

“Kính lạy Chúa tôi!” linh mục nói và đặt cây nến xuống bàn. Đan Thanh khẽ nhắc lại câu khấn, mắt nhìn thẳng xuống đất.

Linh mục đứng yên. Ông ta im lặng chờ đợi cho đến khi Đan Thanh nóng ruột đưa mắt nhìn vào người đối diện. Chàng bắt đầu bối rối khi nhận ra vị linh mục mặc áo dòng Thánh Ân và có cả huy hiệu tu viện trưởng. Chàng nhìn tận mặt tu viện trưởng. Một gương mặt gầy gò, cương nghị, trong sáng, đôi môi thật mỏng. Một gương mặt mà chàng đã từng quen biết. Như bị một bùa lực cuốn hút, chàng nhìn vào gương mặt hình như hoàn toàn do tâm linh và ý chí tạo nèn. Chàng với tay cầm ngọn nến, run rẩy đưa lên gần người khách lạ để nhìn rõ vào đôi mắt ông ta. Chàng đã nhận rõ và cây nến run lẩy bẩy trong tay khi chàng đặt xuống bàn.

– “Huyền Minh.” Chàng thì thầm gần như không ra tiếng. Đất với trời như ngả nghiêng quay cuồng.

– Phải, Đan Thanh, tôi đã từng là Huyền Minh. Nhưng từ lâu tôi không mang tên ấy nữa; có lẽ anh đã quên. Từ ngày tôi thụ phong linh mục và phát thệ chính thức, tôi là Gioan.

Đan Thanh xúc động đến tận cùng. Cả thế giới như đảo lộn. Chàng bỗng cảm thấy như ngạt thở, choáng váng, toàn thân run rẩy, đầu óc trống rỗng, bao tử co thắt. Đáy mắt cay sè nóng bỏng. Chàng khao khát được chìm sâu vào tận tâm hồn mình, tan loãng vào những giọt lệ để tất cả cùng nhạt nhòa.

Sự có mặt của Huyền Minh đã làm vang lên từ vực sâu ký ức của tuổi hoa niên một lời nhắn nhủ: khi xưa còn bé, một lần chàng đã khóc, đã để lòng mình buông thả trước khuôn mặt đẹp đẽ và nghiêm nghị ấy, trước đôi mắt sa sầm và thông thái kia. Chàng không thể nào buông thả như trước. Và trong giây phút thập tử nhất sinh này, Huyền Minh xuất hiện như một bóng ma, có lẽ là để cứu mạng chàng. Nhưng rồi người chàng gần như vở tung ra vì những giọt nước mắt một lần nữa lại nhạt nhòa trước mặt người thân cũ. Không, không, chàng phải tự kiềm chế, phải đè nén nguồn cảm xúc, phải đuổi cơn choáng váng ra khỏi đầu. Chàng không thể bộc lộ một yếu ớt nào.

Cố gắng bình tĩnh trong giọng nói chàng bảo bạn:

– Anh phải cho phép tôi được tiếp tục gọi anh là Huyền Minh.

– Hãy gọi thế, bạn thân. Và anh không muốn bắt tay tôi sao?

Một lần nữa, Đan Thanh cố chế ngự mình. Với giọng điệu trẻ con bướng bỉnh, hơi mỉa mai như thuở còn cắp sách, chàng trả lời:

– Tha lỗi cho tôi, Huyền Minh, chàng nói lạnh lùng, chán nản. Tôi biết là anh đã trở thành linh mục tu viện trưởng. Còn tôi vẫn là một gã lang thang. Nhưng tôi hằng mong ước, chúng ta lại được nói chuyện với nhau nhưng bất hạnh thay! Chẳng được bao lâu. Bởi vì Huyền Minh, tôi sẽ bị xử tử trong một giờ nữa hoặc sớm hơn. Người ta sắp treo cổ tôi. Tôi nói để anh biết rõ tình trạng của tôi.

Huyền Minh vẫn thản nhiên. Chàng thích thú và cảm động vì thái độ trẻ con của bạn chàng. Nhưng rồi chàng hiểu và ngầm khen vì lòng tự kiêu đã giữ Đan Thanh không sa vào lòng anh mà khóc. Tuy chàng đã tưởng tượng sẽ gặp Đan Thanh trong một tình cảnh khác hẳn nhưng chàng vẫn thích màn kịch nhỏ này. Đan Thanh chưa thể trở lại yêu mến anh ngay được.

Thật đúng vậy, Huyền Minh đáp, giả cách tự nhiên. Nhưng anh hãy yên tâm về vụ xử treo. Anh được ân xá. Tôi có sứ mạng đến báo tin cho anh và đón anh đi tức khắc. Vì anh không được phép ở lại thành phố này. Chúng ta sẽ có thì giờ dư giả để chuyện vãn với nhau. Bây giờ anh bắt tay tôi chứ?

Hai người bắt tay nhau, nắm chặt giây lát. Lòng xao xuyến nhưng lời lẽ của họ vẫn còn khách sáo.

– Tốt lắm, Huyền Minh hãy rời khỏi nơi trú ngụ không có gì vinh dự này, tôi sẽ đi theo phái đoàn của anh. Anh có về Thánh Ân không? Có à. Thật tuyệt. Sao? Đi ngựa? Càng tuyệt. Chỉ cần tìm cho tôi một con ngựa.

– Chúng tôi sẽ có ngựa cho anh, và trong hai giờ nữa, ta sẽ lên đường. Nhưng tay anh sao thế? Chúa ơi! Sưng húp và lại rướm máu! Đan Thanh, họ ngược đãi anh đến thế ư?

– Không sao, Huyền Minh. Tự tôi làm đấy. Họ đã trói tôi và tôi tự tháo dây ra. Không phải dễ gì. Còn anh, anh thật can đảm dám vào đây không có lính hộ vệ.

– Sao lại can đảm? Có gì nguy hiểm đâu?

– Chỉ hơi nguy hiểm thôi vì sắp bị tôi giết chết. Đó là mưu kế mà tôi định thực hiện. Họ bảo tôi là một linh mục sắp đến. Tôi định giết chết ông ấy và trốn thoát dưới lớp áo dòng. Kế ấy cũng không đến nỗi tệ.

– Anh không muốn chết phải không? Anh muốn chống cự?

– Đúng vậy. Nhưng tôi lại không ngờ vị linh mục ấy là anh.

Huyền Minh ngập ngừng nói:

– Mưu kế ấy ác độc thật. Anh có thể thực sự dám giết linh mục đến rửa tội cho anh sao?

– Dĩ nhiên không phải là anh, Huyền Minh. Và có lẽ tôi cũng không thể giết một linh mục nào khoác áo dòng của tu viện Thánh Ân. Nhưng nếu một người nào khác, chắc tôi sẽ hạ thủ.

Bỗng nhiên giọng nói Đan Thanh trở nên buồn bã:

– Không phải đây là lần đầu tiên tôi giết người.

Họ im lặng, lòng se thắt.

– Thôi, ta sẽ bàn lại vấn đề này vào lúc khác, Huyền Minh nói giọng lạnh lùng. Anh có thể xưng tội với tôi một ngày nào đó, nếu anh muốn. Hoặc kể cho tôi nghe về đoạn đời của anh. Và tôi cũng có nhiều chuyện để nói với anh. Thôi, ta đi chứ?

– Khoan đã, Huyền Minh! Tôi vừa nhớ ra một điều: tôi đã gọi anh là Gioan một lần trước đây.

– Tôi chưa hiểu.

– Không, dĩ nhiên là anh không hiểu. Làm sao anh hiểu được? Việc ấy xảy ra cách đây vài năm. Tôi đã đặt tên anh là Gioan và anh sẽ mãi mãi mang tên ấy. Đó là thời gian tôi tạc tượng và tôi nghĩ rằng tôi muốn sống với cái nghề cũ ấy. Pho tượng đầu tiên mà tôi đã tạc những ngày xa xưa ấy bằng gỗ, kích thước bằng người thật với khuôn mặt của anh, nhưng không mang tên là Huyền Minh, mà lại là Gioan, Thánh Gioan dưới thập tự giá.

Đan Thanh đứng dậy và bước đến cửa.

– Vậy là anh còn nghĩ đến tôi? Huyền Minh hỏi nhỏ.

Đan Thanh cũng khẽ đáp lại:

– Vâng, Huyền Minh, tôi đã nghĩ đến anh. Luôn luôn tôi nghĩ đến anh.

Đan Thanh đẩy mạnh cánh cửa nặng nề và ban mai ùa vào. Họ không nói nữa. Huyền Minh dẫn chàng về phòng riêng. Một thầy tu trẻ ở chung đang soạn hành lý. Đan Thanh dùng bữa xong tắm rửa và băng bó vết thương trên tay. Bầy ngựa được mang đến ngay.

Đan Thanh nói khi lên yên:

– Tôi chỉ còn xin một điều, chúng ta hãy đi qua khu chợ cá, tôi có việc cần ở đấy.

Họ phóng ngựa và Đan Thanh nhìn khắp mọi khung cửa sổ trong tòa lâu đài để tìm bóng dáng Ái Liên. Chàng đã không thấy nàng. Họ phi ngựa đến khu chợ cá. Mai đã lo lắng không yên vì chàng. Chàng gửi lời chào từ biệt đến nàng và cha mẹ nàng, cám ơn họ muôn ngàn lần, hứa hẹn sẽ trở lại một ngày. Mai đứng nhìn theo cho đến khi bóng họ mất hút rồi khập khễnh bước vào nhà.

Cả bốn người đều chạy ngang hàng: Huyền Minh, Đan Thanh, thầy tu trẻ và tên giữ ngựa có võ trang.

– Anh có còn nhớ con ngựa nhỏ Mây Mây của tôi trong tàu ngựa nơi tu viện? Đan Thanh hỏi.

– Nhớ chứ, nhưng anh không thể gặp lại nó nữa.

Chúng tôi đã cho giết nó bảy, tám năm nay.

-Anh cũng còn nhớ nó sao?

-Vâng, tôi còn nhớ.

Đan Thanh không buồn vì cái chết của Mây Mây. Chàng vui vì Huyền Minh tuy chẳng bao giờ để ý đến loài vật, lại biết nhiều về Mây Mây và có lẽ không còn một con ngựa nào khác trong tu viện khiến Huyền Minh nhớ đến tên. Điều này đã làm chàng sung sướng.

So với những người trong tu viện, chàng tiếp tục nói, chắc anh cười tôi vì đã hỏi thăm trước tiên một con ngựa đáng thương. Kể ra cũng hơi không phải. Bây giờ tôi muốn hỏi thăm tất cả mọi người, cha tu viện trưởng Từ Vân của chúng ta. Nhưng tôi đoán có lẽ cha đã qua đời, và anh đang kế vị. Trong lúc này, tôi không thích nói đến cái chết vì đêm kinh khủng vừa qua, và cũng vì bệnh dịch, tôi đã thấy cái chết quá nhiều. Tuy nhiên, anh hãy kể cho tôi nghe tu viện trưởng Từ Vân đã từ trần ra sao? Tôi rất tôn kính cha. Còn cha An, cha Lương, có còn sống chăng? Có lẽ tôi sẽ nhận được một tin buồn. Nhưng tôi vui mừng vì bệnh dịch đã buông tha anh. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng là chúng ta sẽ gặp lại nhau. Nhưng tin tưởng có thể biến thành thất vọng. Kinh nghiệm về thầy Không Lộ, một nhà điêu khắc đã dạy tôi về điềm bất hạnh này. Tôi không bao giờ nghĩ rằng thầy lại qua đời, tôi đã định gặp lại và làm việc với thầy. Nhưng thầy không còn nữa khi tôi đến đây.

-Tôi sẽ kể cho anh nghe một cách vắn tắt, Huyền Minh nói. Tu viện trưởng Từ Vân đã mất từ tám năm nay, không đau ốm gì cả. Tôi không phải là người kế vị cha; tôi mới thụ phong tu viện trưởng một năm nay. Người kế vị là cha Lương, trước kia là giám học của chúng ta. Cha đã mất năm ngoái, tuổi cũng gần bảy mươi. Rồi cha An cũng không ở lâu với chúng tôi. Cha rất mến anh, thường nhắc đến anh. Suốt những năm cuối cùng cha đã không thể đi đứng được, chỉ nằm liệt trên giường và cha đã chết vì bệnh phúc thống. Vâng, cả bệnh dịch cũng đến với chúng tôi, nhiều người bị chết. Thôi ta không nên nhắc lại. Anh có còn muốn hỏi gì khác?

-Chắc phải còn nhiều, nhưng quan trọng hơn hết là tại sao anh lại đến thành phố này và vào lâu đài của Bá tước để làm gì?

-Câu chuyện rất dài và chắc anh sẽ mệt, vì đó là một chuyện chính trị. Bá tước được Hoàng đế sủng ái và có nhiều uy quyền. Trong lúc này nhiều vấn đề khó khăn xảy ra giữa Hoàng đế và Giáo hội. Tôi là một đại biểu trong phái đoàn của Giáo hội đến thương thuyết với Bá tước. Chúng tôi không thành công bao nhiêu.

Huyền Minh lại im lặng và Đan Thanh cũng không hỏi gì thêm. Chàng cũng không cần biết trong đêm qua, khi Huyền Minh xin ân xá cho chàng phải chăng đã đánh đổi với một số nhượng bộ trước tính khắc nghiệt của viên Bá tước.

Họ tiếp tục phi ngựa; chẳng bao lâu Đan Thanh thấm mệt, cố ngồi trên yên một cách khó nhọc.

Sau một hồi lâu, Huyền Minh hỏi:

– Nhưng có phải thực sự là anh bị bắt về tội trộm? Bá tước nói anh đã lẻn vào đánh cắp tận trong tư thất lâu đài.

Đan Thanh bật cười:

– Quả tôi trông giống một kẻ trộm thật. Thật ra tôi đã hò hẹn với tình nhân của ông ta và chắc ông ấy cũng đoán biết. Tôi lấy làm lạ khi ông ta lại thả tôi ra.

– Phải rồi ông ta cũng chẳng đến nỗi vô lương tâm.

Họ không thể đi nốt đoạn đường đã dự tính cho hôm nay. Đan Thanh đã hết sức lực; tay chàng không thể nào cầm cương lâu hơn nữa. Họ lấy phòng trọ trong một ngôi làng để qua đêm. Đan Thanh chui vào giường với cơn sốt nhẹ, và họ đã để chàng nằm nghỉ cho đến ngày hôm sau. Chàng khỏe lại, đủ sức để lên yên. Tay chàng chóng lành, và chàng lại thích thú được phóng ngựa. Đã từ lâu chàng không cưỡi ngựa. Chàng đã trở lại với đời sống trẻ trung và sinh động hơn. Chàng chạy thi nhiều vòng đua với tên nài và đã nói chuyện hằng giờ cùng Huyền Minh, bao vây bạn với trăm câu hỏi nồng nhiệt. Huyền Minh bình thản và vui vẻ trả lời. Nét duyên dáng của Đan Thanh đã chinh phục chàng. Chàng yêu mến những câu hỏi thẳng thắn và trẻ con của bạn.

– Này, Huyền Minh, anh có từng thiêu bọn Do Thái?

– Hỏa thiêu người Do Thái? Tại sao chúng tôi phải làm như vậy? Nơi chúng tôi ở không có người Do Thái nào.

– Nhưng anh cho tôi biết: anh có thể nào đốt họ được không? Anh có tưởng tượng được là điều này đã xảy ra?

– Không, mà tại sao lại là tôi chứ? Anh cho tôi là một kẻ cuồng tín à?

– Huyền Minh, xin anh hiểu tôi. Tôi muốn nói rằng trong một vài hoàn cảnh nào đó, anh có thể ban lệnh giết người Do Thái hoặc đồng ý cho người ta giết họ. Đã có nhiều công tước, thị trưởng, giám mục và giới chức chánh phủ ban truyền lệnh ấy.

– Tôi không đồng ý ban hành lệnh ấy. Có thể có trường hợp là tôi băt buộc phải chứng kiến và chịu đựng tội ác ấy.

-Anh chịu đựng được sao?

-Tôi chịu đựng được, nếu tôi không có quyền để ngăn chặn; có lẽ anh đã trông thấy vài người Do Thái lên dàn hỏa, phải vậy không Đan Thanh?

– Tôi có thấy.

– Rồi anh có ngăn chặn không? Anh không ngăn chặn được? Anh chỉ nhìn?

Rồi Đan Thanh kể lại chuyện nàng Hương Vân đầy đủ chi tiết. Chàng nói say sưa và nổi tức theo câu chuyện và kết luận:

– Như thế đó, anh nghĩ sao? Ta đang sống trong một thế gian như vậy sao? Phải chăng đây là địa ngục? Luôn luôn biến động và nhờm gớm?

– Đúng thế, thế gian là như vậy.

– A, Đan Thanh kêu lên phẫn uất, nhưng tại sao ngày trước anh đã thường bênh vực thế gian này là thiêng liêng, có Thượng đế ngự trên ngôi báu và là một sự hòa điệu cao vĩ của những điều thiện. Anh đã bảo là Aristote và Thánh Thomas đã nói như thế. Tôi nóng lòng nghe anh giải thích điểm mâu thuẫn này.

Huyền Minh bật cười:

– Trí nhớ của anh rất tốt thật, nhưng anh lại quá tin vào nó. Tôi luôn luôn yêu kính đấng Tạo Hóa của chúng ta, bậc Toàn Năng, nhưng tôi không nói sinh vật do Ngài tạo dựng là Toàn Thiện. Tôi không bao giờ chối bỏ tội ác trong thế gian này. Không có một nhà tư duy chín chắn nào lại xáo nhận đời sống trên thế gian này là hòa điệu và công chính, là con người đều có thiện tánh; người bạn yêu quý của tôi ơi! Ngược lại, Thánh kinh có ghi lại rằng mơ ước và khát vọng của con người là ác xấu, chúng ta có thể tìm thấy chứng cớ mỗi ngày.

-Thật đúng. Giờ đây tôi hiểu là anh nhận xét về con người như thế nào. Vì con người ác độc và đời sống thế gian này ô ưược, điên đảo, và anh chấp nhận như thế. Nhưng qua tư tưởng của anh và trong sách vở, công lý và hoàn thiện vẫn có. Điều này có thể chứng nghiệm là có thực nhưng lại không bao giờ xảy đến.

Bạn thân mến! Anh đã nuôi dưỡng một lý tưởng căm hận các nhà thần học của chúng ta. Nhưng anh vẫn chưa thể trở thành một nhà tư duy. Tư tưởng của anh rất lộn xộn và sai lạc. Tại sao anh lại nghĩ rằng chúng tôi không sử dụng đến công lý? Điều mà chúng tôi thực hiện hàng ngày, hàng giờ. Như tôi chẳng hạn, tôi là tu viện trưởng, cai quản một tu viện và đời sống trong đó cũng bất toàn và tội lỗi như ngoài đời. Nhưng chúng tôi vẫn gắng giữ nguyên ý niệm về công lý để chuộc tội tổ tông; chính trong nhận thức về mức độ bất toàn của đời sống và nỗ lực tu sửa những tật xấu mà chúng tôi tự đặt mình truyền thông với Chúa.

-Được rồi, Huyền Minh. Tôi không chê trách anh, cũng không nghĩ rằng anh chưa làm tròn trách nhiệm của một tu viện trưởng. Nhưng tôi đang nghĩ đến Hương Vân, đến những người Do Thái chết thiêu, đến những mồ chôn tập thể họ đã chết hàng loạt, đến những đường phố, xóm nhà chất đầy xác chết hôi thối, đến cướp bóc ghê rợn, đến những đứa trẻ gầy gò bị bỏ rơi, những con chó chết gục ngay trên dây xích. Và khi tôi nghĩ đến tất cả những chuyện ấy, thấy những hình ảnh ấy trước mắt, tim tôi quặn thắt, hình như mẹ chúng ta sinh ra ta vào một thế giới tuyệt vọng, bạo tàn và ma quỷ; thà rằng Chúa đừng tạo dựng thế gian khủng khiếp này và đấng Cứu Thế đừng chịu đóng đinh lên thập tự giá cứu chuộc nhân loại.

Huyền Minh nhìn bạn thân thiết, khen ngợi, giọng trầm ấm:

– Anh rất có lý. Hãy nói hết, nói thật hết. Nhưng có một điều anh đã lầm lẫn: anh cho là điều anh vừa nói là tư tưởng, nhưng thật ra chỉ là cảm thọ. Những cảm thọ của một tâm thức ưu tư vì cuộc đời thống khổ và anh nên nhớ còn có những cảm thọ khác xung đột với những thương đau, chán chường trên. Khi anh sung sướng ngồi trên lưng ngựa, phi ngang qua phong cảnh ngoạn mục, hoặc khi anh liều lĩnh ban đêm lẻn vào trong lâu đài để ân ái với cô nhân tình viên Bá tước, lúc đó đối với anh, thế giới mang một sắc thái hoàn toàn khác hẳn, anh không còn thấy có nhà nào mắc bệnh dịch và những người Do Thái cháy thiêu cũng không thể ngăn anh thỏa mãn dục vọng của mình. Có phải vậy không?

– Thật đúng như vậy. Bởi vì khủng khiếp và chết chóc bao trùm thế giới này, nên tôi phải để lòng mình tìm một an ủi xoa dịu, tôi phải hái vội những đóa hoa hé nụ giữa lòng địa ngục. Tôi đi tìm hạnh phúc và trong một giờ tôi đã tạm quên đi hãi hùng. Nhưng điều ấy không có nghĩa là hãi hùng không còn hiện hữu nữa.

Anh đã có một phương thức sống rất hay. Vậy là anh tự thấy bị chết chóc khủng khiếp bao vây trong thế giới này, và anh tìm cách trốn thoát trong dục lạc. Nhưng dục lạc không thể kéo dài lâu bền và nó sẽ bỏ anh lại giữa vũng sa mạc âu sầu.

-Vâng, anh nói đúng.

-Hầu hết mọi người đều cảm thấy như thế nhưng rất ít người cảm thấy một cách sắc bén và mãnh liệt như anh. Một số ít người khác ý thức cần phải tỉnh giác trong những cảm thọ này. Nhưng anh hãy cho tôi biết: ngoài tâm trạng bấp bênh giữa dục lạc và thống khổ, ngoài cơn đu đưa giữa khát sống và sợ chết, anh đã thử tìm một đường hướng nào khác chưa?

– Ồ có chứ. Dĩ nhiên phải có. Tôi đã hướng về nghệ thuật. Tôi đã kể với anh là ngoài những việc khác, tôi còn là một nghệ sĩ. Một hôm, sau khi tôi đã phiêu bạt khắp nơi, có lẽ trong ba năm, hầu như lang thang suốt ngày tháng, tôi đã trông thấy tượng Đức Mẹ bằng gỗ trong một tu viện. Một bức tượng trác tuyệt đã làm tôi xao xuyến đến tận cùng. Tôi hỏi tên nhà điêu khắc và tìm đến ông ta. Tôi đã gặp, ông ta là một bậc thầy danh tiếng, tôi tập sự và làm việc với ông ta được vài năm.

– Anh sẽ kể tôi nghe tỉ mỉ hơn, sau này. Bây giờ tôi muốn biết nghệ thuật có ý nghĩa với anh như thế nào, và đã mang đến cho anh được những gì?

Nghệ thuật khắc phục tính biến hoại của kiếp người. Trong trò chơi ngu xuẩn của cuộc đời quỷ quái này, tôi thấy một cái gì tồn tại: đó là sáng tác của nghệ thuật. Rồi một ngày nào đó, sáng tác nghệ thuật cũng sụp đổ nốt, chúng bị đốt cháy, nát vụn hoặc tan biến, sở dĩ chúng tồn tại là vì chúng lâu bền hơn đời sống của con người; chúng tạo thành một cảnh giới thầm lặng gồm những hình ảnh và di tích vượt ngoài thời khắc thoi đưa. Sáng tác nghệ thuật đã vỗ về tôi, tôi cảm thấy khoan khoái, gần như điều ấy đã tạo cho sự vật mong manh một tính chất trường cửu.

-Tôi rất thích, Đan Thanh. Tôi hy vọng anh sẽ tạc thêm nhiều pho tượng đẹp; tôi tin tưởng vào tài năng của anh. Tôi mong rằng anh sẽ là thượng khách của Thánh Ân một thời gian dài và cho phép tôi được dựng cho anh một xưởng điêu khắc, đã từ lâu Thánh Ân thiếu một nghệ sĩ. Nhưng tôi nghĩ rằng anh chưa diễn đạt hết tính chất tuyệt diệu của nghệ thuật. Tôi tin rằng nghệ thuật còn có sứ mạng cao cả hơn là dùng đá gỗ, màu sắc để cứu rỗi một sinh vật khỏi bị hoại diệt hoặc để duy trì kiếp sống lâu dài hơn. Tôi đã thấy nhiều công trình nghệ thuật, nhiều tượng các Thánh và Đức Mẹ; có một điều gì vượt cao hơn việc sao lại y khuôn một nhân dáng nào đó đã từng sống trên đời; không phải chỉ riêng có sự kiện người nghệ sĩ muốn duy trì những hình thể và màu sắc khỏi sự tàn phá của thời gian.

Đan Thanh hăng say nói lớn:

– Anh đã nói đúng. Tôi không ngờ anh biết về nghệ thuật tường tận như vậy! Hình ảnh căn để của một nghệ phẩm đẹp không phải là nét mặt hoặc dáng dấp của một con người đã thực sống, đó mới chỉ là nguồn cảm hứng để sáng tác. Hình ảnh căn để không phải là phần máu thịt mà là phần tâm linh. Đó là hình ảnh đã cư trú vĩnh viễn trong tâm hồn người nghệ sĩ. Tôi cũng vậy, Huyền Minh, những hình ảnh căn để ấy đang sống động trong tôi và tôi hy vọng một ngày gần đây sẽ biểu lộ để anh nhìn thấy.

-Hay lắm! Và hiện giờ, Đan Thanh yêu mến! Anh đã bước vào lãnh vực triết học mà anh không ngờ đến, và anh đã diễn đạt một trong những bí nhiệm nhiệm mầu của triết học.

-Anh đang chế nhạo tôi chăng?

-Ồ! Không. Anh đã nói về “hình ảnh căn để,” một hình ảnh tuy chỉ hiện hữu trong tâm ý sáng tạo nhưng có thể hiện thực cụ thể để người khác nhìn thấy được. Và trước khi trở thành hình ảnh ấy đã xuất hiện và tiềm ẩn từ lâu trong tâm hồn người nghệ sĩ. “Hình ảnh căn để” ấy, quả đúng như các triết gia đã gọi, đó là “ý niệm.”

-Huyền Minh! Thật tôi không ngờ.

-Anh đã hiểu biết về “ý niệm” và hình ảnh căn bản, tức là anh đang ở trong môi trường của tâm linh, trong thế giới của các triết gia và các nhà thần học, và anh đã chấp nhận rằng trong đời sống hỗn tạp, đấu tranh và đau khổ này, trong vũ khúc bất tận và vô nghĩa của tử thần, trên xác thân này đã hiện hữu một tâm thức sáng tạo. Anh có biết là tôi luôn luôn hướng chính tôi về tâm thức ấy và đánh thức nó dậy trong con người anh khi anh chỉ mới là một cậu bé. Nơi con người anh, tâm thức sáng tạo ấy không phải là của nhà tư duy mà là của người nghệ sĩ và chính tâm thức ấy sẽ mở cho anh con đường thoát khỏi sự hỗn độn ô nhiễm của thế giới giác quan; thoát khỏi cơn đu đưa không ngừng giữa nhục cảm và tuyệt vọng. A! Bạn thân yêu! Tôi vui mừng được nghe anh bộc lộ những điều trên. Tôi đã chờ đợi từ lâu, kể từ ngày anh rời xa thầy giáo Huyền Minh của anh, ra đi để can đảm sống trở về với chính mình. Bây giờ chúng ta lại có thể kết bạn với nhau.

Cuộc đời bắt đầu có ý nghĩa đối với Đan Thanh. Như từ đỉnh cao, chàng nhìn xuống dòng đời và phân biệt rõ rệt ba đoạn đời trọng đại: ban đầu chàng sống nương tựa vào Huyền Minh và buông phóng đi lang thang; rồi đến trở về với chính mình sống trong sự phản tỉnh; bây giờ chàng đang bắt đầu trưởng thành chín chắn và thu hái kết quả những đoạn đường đã trải qua.

Ảo giác trên mờ dần và chàng đã tìm được mối quan hệ thích nghi với Huyền Minh, một mối quan hệ đồng đẳng và hỗ tương. Chàng có thể là khách của một bề trên mà không cảm thấy xấu hổ vì chính anh ấy đã công nhận khả năng sáng tạo của chàng. Suốt cuộc hành trình, chàng nôn nóng muốn thố lộ với bạn con người thật của mình, hiển hiện cho bạn thấy thế giới nội tâm của mình qua những hình ảnh. Nhưng đôi khi chàng cũng e ngại.

-Huyền Minh – chàng báo trước với bạn – tôi sợ là anh đang mang vào tu viện một con người mà anh chưa hiểu rõ. Tôi không phải là một tu sĩ và cũng không muốn trở thành tu sĩ. Tôi biết rõ ba điều hoài bão của anh. Tôi chấp nhận một cách vui vẻ sự thiếu thốn, nhưng tôi chẳng thích sống thanh tịnh hoặc tuân phục, những đức tính ấy không thích hợp đối với tôi. Tôi đã rời bỏ tất cả những gì thuộc về kính tín, tôi đã không xưng tội, cầu nguyện hay rước mình Thánh Chúa từ mấy năm nay.

Huyền Minh im lặng một lúc rồi nói:

– Hình như anh đã bỏ đạo. Nhưng chúng tôi không lo sợ điều ấy. Anh không cần phải tự phụ lâu hơn nữa trên bao nhiêu tội lỗi của anh. Anh đã sống một đời tầm thường thế tục. Như một đứa con phá của, anh đã bất cần luật pháp và trật tự. Chắc chắn anh là một thầy tu xấu. Nhưng tôi không mời anh vào hàng giáo phẩm, tôi chỉ mời anh đến ở như một người khách và dựng cho anh xưởng điêu khắc trong tu viện của chúng tôi. Và còn điều này nữa: anh chớ quên rằng, suốt thuở niên thiếu, tôi là người đã thức tỉnh anh và đã để anh đi vào cuộc sống thế tục. Dù anh có trở nên như thế nào đi nữa, xấu hoặc tốt, tôi cũng như anh đều có trách nhiệm. Tôi muốn biết anh đã thành người như thế nào, anh sẽ thố lộ cho tôi thấy qua ngôn ngữ, trong lối sống và chính tác phẩm của anh. Và sau khi anh hoàn tất, nếu tôi nhận thấy là tu viện không phải chỗ của anh, tôi sẽ là người đầu tiên mời anh đi chỗ khác.

Đan Thanh rất cảm phục khi bạn hành xử quyền tu viện trưởng. Quả quyết và điềm tĩnh, pha lẫn một chút chế nhạo con người với cuộc sống phàm tục, Huyền Minh đã trưởng thành đúng ý nghĩa một con người thật sự. Quả vậy, đó là một con người của tâm linh và giáo đường, với đôi tay tinh tế và gương mặt thông thái nhưng đoan quyết và can đảm, một nhà lãnh đạo, một người biết nhạn chịu trách nhiệm. Con người Huyền Minh này không còn là cậu thanh niên thuở xưa yếu mềm, mà là vị Thánh Gioan tận tụy, chàng muốn tạc tượng con người Huyền Minh mới mẻ ấy, con người oai dũng và tài trí. Nhiều bức tượng đang chờ đợi chàng! Huyền Minh, tu viện trưởng Từ Vân, cha An, thầy Không Lộ, người đẹp Hương Vân, Ái Liên, và còn nữa, những bạn hữu và kẻ thù, còn sống hoặc đã chết. Không, chàng không muốn trở thành một thầy dòng trong hàng giáo phẩm, hoặc một tín đồ ngoan đạo hoặc là nhà học giả, chàng chỉ muốn tạc tượng, muốn làm tròn trách nhiệm sáng tác, vũ trụ của chàng phải là vũ trụ của tuổi trẻ ngày xưa ấy, là vũ trụ nghệ thuật hiện giờ.

Họ đã phi ngựa vào cuối thu lạnh lẽo, và mờ sáng sớm, khi màn sương dày còn đan kín hàng cây trụi lá, họ đã phóng ngang vùng đất rộng lớn, một cánh đồng hoang bụi đỏ vắng ngắt, tiếp lẫn từng dãy đồi trùng điệp thân thuộc lạ lùng. Họ đến khu rừng cây du bên dòng suối nhỏ và tàu ngựa cũ hiện ra, cảnh trí đã làm Đan Thanh tê tái trong nỗi thống khổ pha lẫn sung sướng. Chàng đã nhận ra dãy đồi mà ngày nào chàng đã cưỡi ngựa với Liên Đài, cô con gái nhà quý tộc và truông đất hoang nơi chàng đã từng in gót dưới cơn mưa tuyết mỏng manh, một nỗi buồn sâu thẳm dâng lên trong tâm hồn kẻ lưu đày. Những cụm du nhô lên, cùng với nhà máy xay và tòa lâu đài. Chàng đã nhận ra khung cửa phòng làm việc nơi chàng đã sinh sống suốt thời hoa niên hoang đường, chữa lỗi tiếng La Tinh cho nhà quý tộc và nghe ông ta kể chuyện hành hương. Họ tiến sâu vào trong sân, đây là một chỗ nghỉ chân thông thường trong cuộc hành trình. Chàng yêu cầu tu viện trưởng không nói cho ai biết tên chàng để chàng ăn chung với đám gia nhân và tên nài ngựa. Mọi việc đều ổn thỏa. Nhà quý tộc già và cả Liên Đài đều qua đời. Vài người thợ săn già và tôi tớ vẫn còn ở đấy với chủ nhân tòa lâu đài bây giờ là Liên Kiều, một thiếu phụ kiêu sa, hách dịch đang sống bên ông chồng. Nàng vẫn đẹp tuyệt trần và có vẻ ác hiểm. Cả nàng và đám tôi tớ đều không nhận ra Đan Thanh. Sau bữa ăn, chàng phóng mắt ra ngoài vườn trong ánh sáng buổi chiều tàn mờ nhạt, nhìn qua hàng rào nơi các luống hoa đã úa màu vì sắp trở đông. Chàng đến cửa chuồng và nhìn bầy ngựa, rồi nằm ngủ trên ổ rơm với tên nài. Bao kỷ niệm đè nặng cõi lòng trong những lần thức giấc. Chàng đã để lại phía sau một khoảng đời buông phóng và vô ích, tuy phong phú với bao hình ảnh diễm kiều, nhưng đã vỡ vụn, giá trị ít ỏi, tình yêu khô đắng. Họ lại ra đi vào sáng sớm, chàng băn khoăn nhìn lên khung cửa sổ, không biết có Liên Kiều ở đấy không, cũng như ngày trước chàng đã thẫn thờ tìm kiếm Ái Liên bên khung cửa tòa lâu đài của Bá tước. Cả Ái Liên và Liên Kiều đều vắng bóng. Cả đời chàng đều như vậy và chỉ có vậy. Lúc nào cũng là giã biệt, trốn chạy, đi tìm quên lãng, để rồi lại thấy mình cô đơn với đôi tay trống rỗng và quả tim buốt giá. Suốt cả ngày, chàng ngồi trên yên ngựa, buồn áo não, không hé môi. Huyền Minh để yên chàng trầm tư.

Bây giờ họ đã gần đến đích, vài ngày sau họ đã đến. Tháp và mái tu viện đã hiện ra, họ chạy qua khu đất hoang đá sỏi mà, ôi! biết bao kỷ niệm của những ngày xa xưa, ngày chàng đã hái cỏ Saint- Jean cho cha An, nơi cô gái giang hồ Li Liên đã biến đổi cậu bé trong người chàng thành một gã đàn ông. Giờ đây họ chạy dưới cổng rào Thánh Ân và xuống yên nơi cây dẻ mang về từ nước Ý. Đan Thanh dịu dàng sờ vào thân cây và dừng lại để nhặt một mảnh vỏ cây từ đường nứt rơi ra trên mặt đất, mảnh vỏ màu nâu và khô héo.

Chuyên mục:Uncategorized