Tạ Phong Tần, Paulus Lê Sơn và những ai ai …

Lm. Vũ Khởi Phụng- DCCT

NGÀY MAI Ở JÊRUSALEM

Tôi được đọc lá thư rất hay của Tạ Ph T từ trong tù gửi tới ba bạn trẻ mới gia nhập gia đình của Chúa. Còn đang cảm động và tạ ơn Chúa vì những ơn Chúa ban cho Tạ Phong Tần giữa những thử thách đen tối, thì bất ngờ một cơn sóng thần đen tối khác lại ập xuống cuộc đời chị. Tin người mẹ của chị tự thiêu chỉ trong ít phút đã râm ran khắp nơi. Thật là bàng hoàng! Sự dữ, và kèm với nó sự đau khổ, là một mầu nhiệm. Nghĩa là một cái gì ta không thể lý giải, nhưng phải chao đảo lần mò bám víu tìm ra một con đường đi xuyên qua để nhìn thấy một điểm đến, một bến bờ. Ta có thể hiệp thông với người đau khổ, nhưng xét cho cùng đi qua đau khổ là một quá trình tâm linh mà chỉ một mình đương sự trải nghiệm trước khi có cái gì khả dĩ chia sẻ với cuộc đời.
Khi Tạ Phong Tần bị bắt giam, chị có thể dày dạn về nhiều mặt trong cuộc sống, nhưng chị là một người còn ít tuổi trong đức tin. Nhìn theo bóng chị chìm vào cõi vừa ngục tù, vừa bất công, ta đã cầu nguyện và hiệp thông với chị; nhưng một mình chị đi vào là một vùng tối, ta không thể suy đoán cụ thể những gì sẽ nảy nở trong tâm hồn chị. Thế rồi lá thư chị viết cho ba bạn trẻ là một khoảnh khắc chị từ khoảng tối đi ra, và gửi cho mọi người một tín hiệu, một thông tin quý giá.
Chị viết cho ba bạn trẻ những lời như: “Trong ngục tối mà lòng chị sáng rực, trong hoàn cảnh con người lanh lùng với nhau mà lòng chị ấm áp, trong nỗi cô đơn buồn phiền mà lòng chị hân hoan…. Mỗi người trong chúng ta được gặp Chúa bằng nhiều cách khác nhau…. Tất cả chúng ta đều được gặp Chúa trong hành trình tìm kiếm chân lý, sự thật và công bằng…. Chúa xuất hiện mang lại niềm vui cho chị em mình cho dù chúng ta đã và sẽ còn phải đánh đổi rất nhiều thứ để có niềm vui đó. Chúa củng cố niềm tin cho chị em mình, Chúa ban cho chúng mình sức mạnh để đi tới…. Ngục tù không làm chị nản lòng, khổ đau không làm các em chậm chân bước. Sức mạnh của chúng ta là sự thật, là tình thương, là công lý. Chưa bao giờ chị hoảng sợ khi đối diện với sự gian tà và giả dối, chị luôn nhìn thấy Chúa mỉm cười gọi chị bước đi. Chúng ta cùng nhau cám ơn Chúa, cám ơn Ðức Mẹ, cám ơn Giáo Hội đã cho chúng ta niềm tin và sự sống…. Bất cứ ai tha thiết với công lý, sự thật và tình thương, đều có thể gặp được Chúa, qua kinh nghiệm của chúng ta. Chị tin như thế.”
Ðọc những câu như vậy thấy cả một ánh sáng bừng lên. Ta hiểu rằng chị đã đi được một đoạn đường trong lộ trình tâm linh rất dài của đời người. Lời lẽ trong bức thư có những âm hưởng mà trước đây ta không thấy trong các bài viết của Tạ Phong Tần. Ðó là một khích lệ lớn cho chúng ta.
Nhưng liền sau đó cơn sóng dữ là cái chết đau đớn của người mẹ của chị khiến cho ta vui với ánh sáng chưa được bao lâu, thì lại phải đối mặt với tăm tối mịt mù. Ðã ở tù mà lại còn một thảm họa cỡ đó trong gia đình, theo cách nói thông thường, là “họa vô đơn chí”. Nhưng còn trong đức tin thì nói sao đây? Một lần nữa ta lại xin cầu nguyện và hiệp thông, nhưng không biết gì mà nói thay cho Tạ Phong Tần, bao lâu chị chưa gửi cho ta một tín hiệu khác. Khi biết tin dữ tâm hồn chị sẽ ra sao? Và khi nào biết? Paulus Lê Sơn đó, đến ngày nay vẫn chưa biết tin đã mất mẹ! Lại một bà mẹ nữa đã chết mà không thấy mặt đứa con có cái tâm trong sáng, nhưng cái thân tù đày!
Tôi còn nhớ hồi cuối tháng tư vừa qua, một việc cuối cùng tôi làm trước khi đi Jêrusalem là dâng một Thánh Lễ cầu cho linh hồn bà mẹ của Lê Sơn vừa qua đời. Hôm ấy nhóm Học Hỏi về Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội, nhóm No-U Sàigòn và Truyền Thông Chúa Cứu Thế VRNs xin lễ và dự lễ sốt sắng. Ðó là tình hiệp thông cầu nguyện của Dân Chúa vào lúc Lê Sơn vẫn không biết gì! Hôm sau tôi lên đường đi Jêrusalem, tâm trí còn mang nặng nỗi đau của gia đình Lê Sơn. Khi tới Jêrusalem lại biết tin về các vụ bạo động mà bà con Văn Giang là nạn nhân. Mẹ con Lê Sơn hay Văn Giang thì cũng là những góc cạnh của một hiện tượng bạo lực đang vây phủ rất nhiều cuộc đời. Tất nhiên khi ấy không thể biết trước tấn thảm kịch hôm nay đổ xuống trên gia đình Tạ Phong Tần.
Với cái biết chung chung đó về các nạn nhân của bạo lực, tôi đã tìm đến Ðền Thờ Mồ Thánh ở Jêrusalem, mong hứng được một điều gì thuộc về linh khí của Ðức Kitô cũng từng là nạn nhân của bạo lực ngay trên mảnh đất thiêng đó, để cho tôi nối tiếp những điều đã chia sẻ với các bạn ở Sàigòn. Trong Thánh Lễ kính nhớ bà Maria Ðỗ Thị Tần hôm đó, tôi đã chia sẻ với các bạn: “Thế gian này, tự bản chất của nó, nó có một cái gì ác lắm; hễ thấy cái gì tốt đẹp, thấy cái gì là sự sống, thì nó sẽ đập, nó sẽ phá.” Và trong bầu khí phụng vụ của Mùa Phục Sinh, tôi đã cố gắng liên hệ cái hiện tượng “ác” đó với mầu nhiệm Chúa Giêsu chết và phục sinh. Hình ảnh một dòng sông bên lở bên bồi dẫn tôi vào mầu nhiệm đó: “không phải thế gian mới có hiện tượng bên lở bên bồi, mà giòng sông tâm linh cũng có hiện tượng đó. Cái chết trên cây thập giá của Chúa Giêsu, đó là bên lở; sự Phục sinh của Chúa là bên bồi. Con người Giêsu cô đọng trong mình tất cả những gì là chân, thiện, mỹ. Những tà lực đen tối ở thế gian phải tận diệt cho bằng được con người đó. Cho nên đấy là lở tuyệt đối. Ở đâu đó bờ bên kia, có một cõi bồi mà chúng ta mừng kính hôm nay…..”
Vậy tôi lên đường đi Jêrusalem mong hiểu thêm chút gì về mầu nhiệm bên lở bên bồi đó. Nghe nói người Do Thái, trong nỗi đau lưu lạc mất quê hương, mỗi khi từ giã nhau thường có một lời hẹn hò: “Sang năm, ở Jêrusalem”, ý họ muốn hướng về một niềm hy vọng bất diệt, một ngày mai cứu độ, một ngày mai thánh hiến, Thiên Chúa sẽ hồi phục những gì đã lở, đã mất. Kết lễ cầu nguyện cho mẹ của Lê Sơn, tôi về phòng riêng đóng cửa. Một ngày đã qua, lúc này cũng chả có ai để từ giã. Tôi hãy tự chào tôi: “Ngày mai, ở Jêrusalem….”

**

Jêrusalem: Ngẫm nghĩ bên mồ Chúa

Kính Nhớ Bà Maria Ðỗ Thị Tần
và Bà Ðặng Thị Kim Liêng
Hiệp Thông Với Paulus Lê Sơn,
Tạ Phong Tần và Những Ai Ai Nữa

I

Tôi không hề nghĩ trước rằng cuối tháng tư năm 2012 này mình lại đi Jêrusalem. Bỗng nhiên một người bạn cũ xa cách đã hơn hai chục năm ngỏ ý mời tham gia chuyến đi này. Chúng tôi quen biết nhau đã trên ba chục năm, người thích nhiếp ảnh, mỹ thuật, người thích cổ văn, cổ sử và những di tích xưa, cả bọn đều thích du lịch. Bấy nhiêu đủ khiến cho Israel Palestine nói chung, Jêrusalem nói riêng, hứa hẹn nhiều điều kỳ thú. Nhưng trước nhất đây là một cuộc hành hương. Chúng tôi năm người, thì bốn người là tín hữu, và chỉ có tôi đạo dòng, ba người kia đều đến với Chúa khi đã lớn khôn, vào những năm tháng vật vã sau 1975. Từ đó mỗi người mỗi phương, miền Bắc, miền Nam, trong nước, ngoài nước, đường ai nấy đi. Chúng tôi không bàn tính gì nhiều, mà vẫn ngầm hiểu rằng Jêrusalem là một điểm hẹn mơ ước. Thế rồi cơ duyên đã đến…..
Và bây giờ Ðất Thánh là đây. Ðang Mùa Xuân, vài tháng ngắn ngủi cho vùng đất khô cháy này rực rỡ cỏ hoa. Mimosa nở vàng tươi dọc những đoạn đường dài nắng chói chang. Ðang ở Israel mà tôi lại nhớ câu hát của Trịnh Công Sơn:
Xin cho bốn mùa đất trời lặng gió
đường trần em đi hoa vàng mấy độ….

Không phải chỉ vì liên tưởng đến những độ hoa nở hoa tàn của từng người trong nhóm. Mảnh đất này có sức gợi cảm rất lớn vượt lên trên mọi thân phận cá nhân. Ðối với người tin, đọc Thánh Kinh, nó ẩn chứa một sức gắn kết mọi thân phận với một sự thật huyền bí ngay giữa lòng cuộc sống. Cùng về Jêrusalem với khách hành hương là tất cả những lao đao, bức xúc trong đời. Dọc những con đường hoa vàng đó, tôi lại nhớ đến mẹ con Paulus Lê Sơn, những khuôn mặt bạn bè ở Thái Hà, ở Kỳ Ðồng, những dân oan, những gì đã làm cho hàng ngàn người thắp nến cầu nguyện. Lại liên tưởng đến những lời thánh ca mà các bạn trẻ hay hát ở quê nhà:
Gặp anh em tôi bé nhỏ, xót thương thân bèo lênh đênh
Chợt nghe miên man tâm sự, những mối tình nước non quê mình …

II

Vậy là chỉ ngày hôm sau, chúng tôi đi vào thành cổ Jêrusalem, tìm đến một địa điểm giống như một khối nam châm thu hút khách hành hương từ khắp thế giới: Ðền Thờ Mồ Thánh. Ngày nay cả khu vực Thánh Ðịa này lọt thỏm giữa những đường phố nhỏ dọc ngang và tầng tầng lớp lớp nhà cửa bán buôn. Nếu khách lạ còn ngơ ngác tìm đường thì đã có mấy trẻ em Ả Rập Palestine sẳn sàng hướng dẫn để xin thưởng vài đồng tiền lẻ. Chỉ đi qua một cánh cổng nhỏ, sẽ vào khuôn viên và thấy Ðền Thánh hiện ra trước mặt.
Chả còn cách gì để nhìn thấy Núi Sọ, thấy Gò Ðồi Golgotha tử địa ngày xưa. Từ 18 thế kỷ nay người ta đã xây cất phủ kín cái gò đồi đó rồi. Ðền Thờ Mồ Thánh úp chụp lấy Gò Golgotha. Không sao nhìn được một tổng thể về kiến trúc hay mỹ thuật tôn giáo ở đây. Nó là sự hòa trộn của gần hai thiên niên kỷ đông tây kim cổ. Ðền Thánh với những sân thượng sân hạ, tầng trên tầng dưới, đường quanh lối co, nhiều ngóc ngách hầm động; nền móng này đã có từ thế kỷ thứ tư, khúc tường kia khoảng tám chín trăm năm, thời Thập Tự Chinh, nhà nguyện này là công trình tương đối mới của hai ba thế kỷ trước, góc này đậm nét Chính Thống Giáo và các Giáo Hội Kitô Trung Ðông, góc kia có tính cách Công Giáo Rôma. Các nghi lễ cũng vậy. Tự thân Ðền Thánh là một tư liệu khảo cổ và sử học sống. Nó phản ảnh các thời kỳ lịch sử, thời đế chế Rôma, thời Byzantine, thời Thập Tự Chinh, những thế kỷ dài Hồi Giáo thống trị, sự trở lại của quyền lực phương Tây trong thời cận đại. Nó phản ảnh cả những chia rẽ nội bộ Kitô giáo. Nó mang những chứng tích của đức tin sâu thẳm lẫn những dấu vết tội lỗi mù quáng nhỏ nhen của con người. Nếu kể chi tiết thì không sao nói hết.
Trong cái mớ bòng bong đó thấy có ba địa điểm thu hút khách hành hương. Trên cùng là Ðỉnh Golgotha, ta còn thấy được những phiến đá trắng nổi cộm lởm chởm sau lớp kính trong suốt. Nơi này do Chính Thống Giáo giữ gìn, sát bên cạnh có bàn thờ của Công Giáo. Từ đó đi xuống một quãng ngắn có một phiến đá cẩm thạch, tương truyền là nơi đặt Chúa khi hạ xác thánh (nghe đâu các nhà sử học cho biết người ta đã từng thay nhiều phiến đá qua các thế kỷ). Ðến gần cuối Ðền Thờ là Mồ Thánh. Nhưng không thể thấy cái mồ đá như Tin Mừng tường thuật, chỉ có một tòa kiến trúc bao kín của Chính Thống Giáo, một cánh cửa hẹp cho các giáo lữ xếp hàng vào viếng trong giây lát một phến đá trắng dài. Ðối diện với lối vào Mồ Thánh là bàn thờ của Công Giáo.
Ðền Thờ Mồ Thánh thường đông đúc khách hành hương. Mấy ai còn có dịp ôn lại những diễn biến nhiều phen rất kịch tính đã làm nên diện mạo nơi này. Tất cả những thứ đó đối với lòng tin trở nên phụ thuộc, thậm chí với thời gian còn trở nên phù phiếm. Dòng người tới đây để hiệp thông với Chúa, chẳng bận tâm ai Công Giáo, ai Chính Thống, ai Copte Ai Cập, ai Armenia, ai Ethiopia, ai Tin Lành, v..v… Có cái gì rất đa dạng của thế giới mà cũng rất đại đồng. Người ta ai cũng mang sẵn nơi mình những hạn chế của bản thân (tà tâm, ích kỷ, vô minh….) và của nền văn hóa hay thời đại lịch sử mình sống. Những hạn chế đó nhiều khi làm cho người ta mù quáng, chia rẽ, hận thù, kình chống nhau. Nhưng vì đó là hạn chế nên vẫn chỉ có một thời. Những mù quáng, hận thù rồi cũng qua đi. Bất chợt có lúc người ta tỉnh ngộ, thấy ở thâm tâm mình có cái gì xuyên qua hết mọi hạn chế….
Lúc đó người ta cảm nhận Chúa một cách khác với những lúc mình nhân danh Chúa để huyênh hoang đủ thứ đam mê trần tục. Hình như những khách hành hương từng hàng dài đi viếng nơi thánh này được hưởng một chút gì của sự tỉnh ngộ đó. Họ thuộc những cộng đoàn xưa kia đã từng, và đôi khi vẫn đang xâu xé nhau; vết tích của những xâu xé đó còn hằn lên trong từng góc cạnh của Ðền Thánh. Nhưng bây giờ mọi sự trở về yên lặng cho người ta gạn đục khơi trong. Gạn đục khơi trong rồi thì được chiêm ngưỡng cây thập giá của Chúa. Chúa chịu khổ hình và chịu chết cho con người được sống. Và đó là Thiên Chúa chúng ta tôn thờ.
Ðiều làm nên sự mầu nhiệm, ấy là cuộc khổ nạn của Chúa đã không dừng lại ở một điểm nhỏ trong không gian và thời gian lịch sử. Cây thập giá càng ngày càng vươn cao tỏa rộng đến mọi thời, mọi nơi. Nhìn lên đỉnh Golgotha ở đầu bên kia, và Mồ Thánh ở đầu bên này nghĩ như có thể hỏi: sao Chúa độc thế? Chúa chết thảm còn chưa đủ sao, Chúa còn cho cả các tông đồ của Chúa phải tử vì đạo nữa?
Ngày nay cây thập giá của Chúa Giêsu sừng sững trong các nhà thờ. Ta dễ có cảm tưởng cái chết đó là độc nhất vô nhị. Sự thật lịch sử là chết treo thập giá là án tử hình dành cho lớp người bị khinh miệt nhất trong xã hội. Ngày ấy chính quyền đế chế Rôma có lúc đóng đinh một lúc mấy nghìn “loạn quân”, mà “loạn quân” đây chắc cũng là những người nghèo khổ nổi lên chống bạo tàn mà thôi. Thì ra Chúa chen vào đứng chung hàng ngũ với “các nô lệ toàn thế gian”! Từ ngày đó tới giờ thập giá có thể thay hình đổi dạng, nhưng thế gian nay vẫn lầm lũi trong nhiều thứ gông xiềng, tù ngục. Chúa vẫn dựng cây thập giá ở giữa nhân loại lầm than. Bao nhiêu những nỗi khốn khổ câm nín của vô vàn vô số loại chúng sinh, những người chết nghèo, chết khổ, chết tuyệt vọng, chết oan, chết bờ, chết bụi, chết dưới chân kim tự tháp Ai Cập, hay Vạn Lý Trường Thành Trung Hoa, chết trên những chiến trường mênh mông vô tận trong lịch sử loài người. Trong đoàn người vô số đó thấy hiện lên những khuôn mặt đau khổ, những cảnh áp bức lầm than mà ta đã biết. Tôi mường tượng thấy trong đó có mẹ con Lê Sơn, bà con Văn Giang mới bị đánh đập hôm qua hôm kia (lúc ấy tôi không được ơn tiên tri để nghĩ đến bà Lài trần truồng ở Cần Thơ, ông Tư chồng bà tự tử không chết, hay bà Kim Liêng tự thiêu ở Bạc Liêu, nhưng chắc chắn là họ có mặt ở đâu đó trong cái đám đông vô số kia). Thế gian này cũng độc quá. Chúa chết cho cái gì vậy?

III

Còn đang hỏi: Chúa chết cho cái gì vậy? thì một đoàn các cha Dòng Phanxicô tiến ra dâng lễ đồng tế. Trong Ðền Thờ này, ở bàn thờ Công Giáo bên cạnh Ðỉnh Golgotha, ngày nào cũng cử hành lễ tôn vinh Thánh Giá. Còn ở bàn thờ trước cửa ngôi “ Mộ Trống”, ngày nào cũng cử hành lễ tôn vinh Chúa Phục Sinh.
Một giai điêụ dâng lên lâng lâng, tôi giật mình vì gặp lại một cái gì quen thuộc mà mình quên mất từ lâu. Có đến gần 50 năm rồi, bỗng nhiên hôm nay được nghe lại những cung giọng Bình Ca ( Grégorien ) ngân nga lời Kinh Nhập Lễ Phục Sinh bằng tiếng Latinh: “Resurrexi, et adhuc tecum sum, Alleluia. Posuisti super me manum tuam, Alleluia. Mirabilis facta est scientia tua, Alleluia, Alleluia, Alleluia”, (Kinh nhập lễ này, thầy tôi, cha Hoàng Diệp, CssR, chuyển dịch vào giai điệu và nhịp điệu bình ca riêng của cha, như sau): “Con đã sống lại và hằng ở cùng Cha, Alleluia! Cha đã đặt tay trên con, Alleluia! Thần trí Cha sâu nhiệm khôn ví, Alleluia, Alleluia, Alleluia!”

Tôi nhận ra tinh hoa của đức tin từ bao nhiêu đời vẫn cô đọng trong điệu cổ ca này. Một loại nhạc rất nội tâm, không sôi nổi mà rất bay bổng, cứ đều đều êm nhẹ mà toát ra một niềm vui vô cùng thanh thoát. Giữa những u ám của thế gian, mở ra một cõi ánh sáng trong trẻo không còn giới hạn nào. Các bạn sống ở miền Bắc đều có kinh nghiệm về những ngày mùa Ðông xám ngắt, có khi hàng tuần, hàng tháng không thấy một tia nắng. Chỉ cần một chuyến bay các bạn sẽ nhận ra những tầng mây mù dày đặc kia thấp lắm, chúng sà sà bám chặt vào mặt đất. Chỉ là mây mù thôi, có đấy và tan đấy, bên trên tầng tối ấy vẫn có một bầu trời xanh trong sáng mênh mông. Sự sống của Chúa cũng vậy đấy.
Không, Chúa không độc. Thế gian này độc thì có. Chúa đã dìm mình, đã đi đến tận cùng cái độc của thế gian. Thế gian này đã dốc toàn khối nọc độc của nó để hại Chúa. Nhưng đến tận cùng con đường thập giá, đến tận cùng cái khả năng gây ác của thế gian, thì thế gian này chạm vào một cái gì đó bất diệt, nó vô cùng lớn hơn mọi cái ác. Ðấy là thế giới của Chúa. Khi mấy người phụ nữ sáng sớm ra mồ khóc Chúa, họ gặp một người bảo họ rằng: “Tại sao đi tìm người sống giữa các kẻ chết? Người không còn đây nữa, đã vùng dậy rồi” (Lc 24, 5-6). Người đồ đệ thân tín của Chúa thì còn đang hoảng hốt vì tưởng bị quật mồ cướp xác chết, nhưng khi bước chân vào mồ đá trống rỗng, ánh sáng bỗng rực lên, ông ghi lại một lời ngắn ngủi: “Người đồ đệ bước vào, ông đã thấy (mồ trống) và ông đã tin. Thật vậy, trước đó họ chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh Ðức Giêsu phải vùng lên từ cõi chết” (Gi 20, 8-9). Rồi hai người đang tính bỏ cuộc dọc đường Emmau, thoáng một cử chỉ bẻ bánh, một vài lời chúc tụng, một bàn tay chia sẻ, “mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất” (Lc 24, 31). Hình như Người biến mất, vì Người chẳng giới hạn ở một nơi nào cả, Người đã trở nên “tất cả trong mọi người” (Col 3,11).

Ðấy là điểm “Trời cao đất thấp gặp nhau”. Tìm được điểm ấy rồi, có sự sống bất diệt, bất chấp những tang thương biến đổi và những mưu ma chước quỷ, Ngay khi ta đang chìm trong thế gian còn rất nhiều hắc ám này, vẫn luôn có những tín hiệu về “Sự Sống Ðời Ðời” mà Chúa Giêsu hay nói tới. Dù là bậc thánh nhân hay chỉ là tín hữu tầm thường, cảm nghiệm ấy, với những mức độ khác nhau, vẫn có lúc chói lòa trong tâm hồn. Ở đây không dám bàn đến thần thức của những đấng đi con đường cao siêu huyền nhiệm, chỉ xin nhắc lại một hiện tượng xã hội và lịch sử, đó là sức sống dai dẳng của đức tin giữa bao nhiêu cơn bách hại.
Thế kỷ hai mươi vừa qua là một thời kỳ rất tiềm năng minh họa cho hiện tượng đó. Có những lúc sức mạnh vô cùng to lớn của toàn xã hội như đổ sập xuống thân phận yếu hèn của các tín hữu. Những quần đảo Goulag, những cách mạng văn hóa long trời lở đất, khi hàng triệu hàng triệu con người nhất loạt hô hoán nhổ bật tất cả những giá trị cũ, dù là gia đình, văn hóa hay tôn giáo. Không còn thần, không còn Phật, không còn Chúa. Mấy tôn giáo làm sao mà kháng cự nổi với những cơn sóng khổng lồ đó. Vậy mà thời ấy qua đi, liền thấy lấm tấm xuất hiện, rồi lan tràn nhanh những yếu tố tâm linh như diều gặp gió. Sự sống của đức tin tôn giáo ẩn nấp không biết trong những hang hóc nào lại đâm chồi nảy lộc, lại trổ ngành xanh ngọn ngay lập tức. (Dù đang đứng trên quan điểm đức tin Kitô giáo, ở đây xin bao hàm cả các tôn giáo khác nữa theo tinh thần của Giáo Hội là tôn trọng tất cả những gì “thánh thiện” nơi các tôn giáo khác, x. văn kiện của Vatican II về các tôn giáo ngoài đạo Kitô”).

IV

Dĩ nhiên trong những cơn gian nan lịch sử, có một phần nào đó cũng do lỗi của chính các tôn giáo. Thánh Phaolô nói về một kho tàng vô giá nhưng đựng trong những bình sành lọ đất (2 Cor 5,7). Những thói quen, hạn chế, tổ chức của các cộng đồng tôn giáo nhiều khi thiếu sáng suốt, ọp ẹp đến độ trở nên vô hồn. Khi cơn thử thách đến, cái phần mù tối, ọp ẹp, vô hồn ấy có thể bị phá vỡ tan tành, rất đau đớn mà không sao chống đỡ được. Nhưng khi cái vỏ kém chất lượng ấy đã tan tành không còn gì, thì sẽ gặp cái kho báu vô giá ở bên trong (Ông cụ thân sinh tôi, khi xưa bị khốn khổ vì đức tin, đã làm một bài thơ có câu “Tang thương chạm phải vĩnh hằng….”). Thì bắt đầu từ đó sẽ thấy sự sống không bao giờ cạn và có thể thiên biến vạn hóa của tín lý. Trên kia tôi nói tới những thời kỳ “sức mạnh vô cùng to lớn của toàn xã hội đổ ập xuống thân phận yếu hèn của tín hữu”, nhưng đó chỉ là một lối nói. Thực tại bao giờ cũng lớn hơn cái gọi là “sức mạnh của toàn xã hội”. Chẳng có xã hội nào, theo nghĩa là thể chế, chính sách, chế độ có thể bao biện hết cuộc nhân sinh, cho nên chẳng có hoàn cảnh câu thúc hay bách hại nào mà đức tin lại không còn chỗ đậu và phát tác.
Một vị linh mục già gốc Huế dạy cho tôi một câu đối của linh mục nho sĩ Nguyễn Văn Thích ngày xưa, (cha Thích cũng là người phải khốn khổ để đi theo Chúa). Cha Thích viết:
“Hoàng điểu chỉ kỳ ngung, ngô nhân chỉ tín chỉ trung, chỉ ư sở chỉ
Ba tiêu khuynh diệp triển, học giả tân nhân tân đức, tân hựu nhật tân”

Vị linh mục già ấy diễn dịch cho tôi ý nghĩa câu đối ấy như sau:
Chim vàng đậu cành cây ngung, lũ chúng tôi đậu trên chữ tín chữ trung, ấy là đậu đúng chỗ đậu của mình,
Cây chuối trổ lá non xanh, học là học thành người mới, đức mới, mỗi ngày mới lại mới thêm”
Xét ra đó là sự sống, là biện chứng của đức tin, từ trong tàn tạ của đau khổ và sự chết vẫn trung tín gây mầm sự sống mới. Ðó cũng chính là một phần trong mầu nhiệm Phục Sinh của Ðức Kitô. Trong lịch sử đã vậy, hiện tại và tương lai cũng vậy. Cách đây vài năm, dư luận trong một số giới Công Giáo Việt Nam sôi nổi về một số điểm bị coi là những bất cập của Giáo Hội trong tình hình hiện tại. Ai đó đã đưa lên mạng danh ngôn của một vị giáo sĩ nói với một bạo chúa đang muốn phá Giáo Hội cho tan tành: “Xin ngài đừng làm thế, vì chính bọn chúng tôi đã phá Giáo Hội từ bên trong suốt mười tám thế kỷ nay mà còn chẳng phá nổi, nữa là….”
Người nói câu đó là Hồng Y Consalvi (1757-1824). Ngài nói như thế với Hoàng Ðế Napolêon I khi đó đang ở đỉnh cao của thiên tài chính trị và quân sự, khiến cho cả Châu Âu khiếp hãi. Napolêon đang lôi đình vì còn một người rất hiền lành mà không chịu khuất phục ông là Ðức Giáo Hoàng PiôVII. Ông ngăm đe sẽ xóa sổ đạo Công Giáo để tạo lập một đạo khác, (và quả nhiên ông đã cầm tù Ðức Giáo Hoàng nhiều năm). Ý Ðức Hồng Y Consalvi muốn nói: chúng tôi nhiều khi rất tồi tệ, đó là sự phá hoại Giáo Hội hiểm độc ghê gớm nhất, phá từ bên trong, từ tinh thần phá ra. Nhưng bất chấp những yếu đuối tội lỗi đó, Giáo Hội vẫn chứa đựng trong thâm tâm mình nguyên lý tinh ròng bất tử của đức tin. Cho nên cả bên trong lẫn bên ngoài phá gì thì phá, vẫn chỉ là đập vỡ đi cái bình sành; còn cái nguyên lý bất diệt ở bên trong thì không mất đi đâu được. Phá chỗ này nó lại xuất hiện ở chỗ kia, bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu.
Tôi may mắn còn giữ được một bản Hồi Ký của ngài Consalvi. Ngài tường thuật những giờ phút nghiệm trọng, những tâm trạng hồi hộp âu lo cực độ khi ngài phải đưa mình vào “hang cọp” đối đầu với một Napolêon đang hét ra lửa. Ngài đi tay không, chẳng có một sức mạnh nào khác ngoại trừ lòng tin câm nín trong lòng những tín hữu tầm thường, thấp cổ bé miệng đang cúi rạp trước cường quyền. Tôi mong muốn có lúc nào được trích dịch một số đoạn trong hồi ký này hầu bạn đọc.

V

Tôi biên soạn lại những hội tưởng này vào ngày 15 tháng 8, Lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Ðã cả gần chục năm nay, vì hoàn cảnh, tôi không được về Lavang vào ngày này. Năm nay nghe tin trên mạng nói có nghi lễ Ðặt Viên Ðá Ðầu Tiên cho ngôi thánh đường tương lai chắc chắn sẽ nguy nga. Nhưng thế hệ những người như chúng tôi đi hành hương Lavang trong những năm tháng khó khăn sẽ mãi mãi trân trọng kỷ niệm về những tấm bạt, những mảnh chiếu căng trải trên nền đất trơ trụi trong cái nóng hầm hập của tháng tám Quảng Trị; Sẽ nhớ mãi cái tháp chuông đổ nát mà vẫn đứng sững để làm chứng cho một sự sống kiên trung qua mọi thử thách sắt máu; Sẽ không quên những gương mặt của anh chị em từ miền Bắc, miền Nam, từ Cao Nguyên dân tộc, từ vùng sâu vùng xa, có khi cả năm, có khi cả ba năm mới thấy nhau một lần. Nhớ lại quang cảnh thật ấn tượng đoàn rước thật dài, hàng chục hàng trăm ngàn người đi theo lá cờ Ðức Mẹ, trong tâm tưởng của Dân Chúa còn vang vọng những lời Thánh Kinh đọc trong phụng vụ: “Một điềm lớn xuất hiện trên trời, một Phụ Nữ mình khoác mặt trời, chân đặt trên mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12) Người Phụ Nữ vinh quang ấy cũng là người phụ nữ sinh con. Mẹ và con lại đang đứng trước sự đe dọa của con mãng xà, con Rắn Thái Sơ. Nhưng Người Con ấy đã được đưa lên bên Thiên Chúa.

Hình ảnh người Phụ Nữ ấy là linh ảnh của Ðức Mẹ. Linh ảnh của Ðức Mẹ lại là linh ảnh Dân Chúa trong ánh sáng Phục Sinh của Ðức Kitô. Ở Lavang Dân Chúa cũng hướng về ba tầng linh ảnh ấy mà tiến bước, giữ lấy linh ảnh ấy như một bí quyết trong lòng mình. Nghe như có tiếng gọi đoàn dân Chúa ở Lavang cũng như ở khắp mọi nơi: “Dân ta ơi, dân khó nghèo, gian khổ, nhọc nhằn chúng ta ơi, hãy nhìn lên, trên đầu ta có mười hai sao sáng”.
Và trong ngày lễ ở xa hướng về Lavang, nghe như từ Jêrusalem và khắp nơi từ xa xưa và từ ngày nay vẫn cùng một bài ca nhập lễ sáng ngày Phục Sinh: Con đã sống lại, và hằng ở cùng Cha, Alleluia! Cha đã đặt tay trên con, Alleluia! Thần trí Cha sâu nhiệm khôn ví, Alleluia, Alleluia, Alleluia!……

(08/2012)

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: