Phần 3

Aleksandr Solzenisyn

Một ngày của Ivan Denisovich

Dịch giả:Đào Tuấn Ảnh

Phần 3

… Người ta la hét, chửi bới ông, thúc vào lưng ông đòi chỗ.
Pavlo nói:
– Trung tá! Trung tá!
Buinovski giật bắn mình, như bị đánh thức và quay lại.
Pavlo đưa bát cháo cho ông, không hỏi xem ông có muốn ăn hay không.
Cặp lông mày của Buinovski dựng ngược lên, hai mắt nhìn vào bát cháo như thể nhìn vào một vật lạ chưa từng thấy bao giờ.
– Cầm lấy, cầm lấy, – Pavlo nói cho ông yên tâm, rồi cầm lấy bát cháo cuối cùng cho đội trưởng, đứng dậy, bước ra ngoài.
Nụ cười ngượng ngập nở trên đôi môi nứt nẻ của viên trung tá, người đã từng bôn ba bốn biển, vòng quanh châu Âu và vùng cực Bắc mênh mông. Ông sung sướng cúi xuống bát cháo mạch đong vơi, loãng hoét, không một chút mỡ, chỉ có hạt mạch và nước.
… Fechiukov hậm hực nhìn Sukhov và trung tá rồi bỏ đi.
Theo Sukhov thì việc Pavlo cho ông trung tá bát cháo là đúng. Rồi sẽ đến lúc ông ta tự học được cách xoay xở, chứ như bây giờ ông còn ngu ngơ lắm. Sukhov còn có thêm một niềm hi vọng mỏng manh nữa: Sezar có thể sẽ cho anh bát cháo của hắn chăng?
Sau khi ăn xong xuất thứ hai, Sukhov lại lấy cùi bánh vét sạch lòng bát, vừa lau vừa liếm miếng bánh, cuối cùng thì anh ăn hết miếng bánh đó. Xong xuôi anh mới bưng bát cháo đã nguội của Sezar và đứng dậy đi ra ngoài.
– Mang lên văn phòng! – anh ẩy tên phạm canh bát đĩa ở cạnh cửa định không cho anh ra.
Văn phòng là một cái nhà gỗ thô mộc cạnh trạm gác. Vẫn như lúc sáng, khói cuồn cuộn tuồn từ trong ống khói ngôi nhà ra. Bếp lò lúc nào cũng được một tên cần vụ kiêm tuỳ phái trông nom. Hắn được trả lương khoán để làm những việc này. Đối với văn phòng người ta không tiếc củi.
Sukhov kẹt mở cửa ngoài, rồi đến một cửa nữa được nhồi kín chặt bằng những sợi đay. Anh bước lẹ vào mang theo một đám hơi nước băng giá, vội vàng sập cửa lại (kẻo lại bị la tướng lên: “Ê, đồ ngu, đóng cửa lại!”).
Anh thấy trong phòng nóng như nhà tắm hơi vậy. Qua lớp băng chảy trên mặt kính cửa sổ, mặt trời vui vẻ đùa nghịch, không giận dữ như ở phía trên nhà máy điện. Và khói từ trong chiếc tẩu của Sezar nhả ra cuồn cuộn như hương trầm trong nhà thờ. Còn lò thì cháy đỏ rực, các ngài ở đây xài củi khiếp thật. Đến cả ống dẫn khói cũng đỏ rực.
Nóng như thế này ngồi xuống một tí là ngủ ngay.
Văn phòng chia làm hai căn. Cửa phòng của ông giám công hé mở, tiếng ông oang oang vọng ra:
– Ta đã chi quá mức cho quỹ tiền lương và cho vật liệu xây dựng. Có những tấm gỗ rất quý, đây tôi còn chưa nói đến những bộ ván, tù nhân đem bổ ra chặt làm củi sưởi, thế mà các anh chẳng biết gì cả. Mấy ngày hôm nay trời gió to như vậy mà tù nhân bốc dỡ xi măng ở cạnh kho, lại còn lấy cáng mà khiêng xi măng đi đến cả chục mét. Xung quanh kho đâu cũng thấy xi măng ngập đến mắt cá chân, lúc ra về áo tù không phải màu đen nữa, mà là màu xám. Mất mát bao nhiêu các anh có biết không hả?
Chắc trưởng giám công đang họp với mấy tay quản công ở trong phòng.
Ở góc cửa ra vào, một tay cần vụ đang ngủ gật trên chiếc ghế dài. Cạnh hắn là Skuropachenko, B-219, cao như cây sào và cây sào này đang uốn cong bên cửa sổ nhìn chăm chú ra ngoài xem có ai có tha lôi gì ở nhà kho vật liệu ra không. Thế mà bọn này vừa nẫng được một cuộn giấy dầu ở đó đấy anh giai ạ.
Hai người kế toán – cũng là phạm, đang nướng bánh mì trên lò. Họ lấy giây thép đan thành cái vỉ để nướng bánh cho khỏi cháy.
Sezar đang ngồi ngả ngốn trên ghế, miệng hút thuốc. Anh ta ngồi quay lưng lại nên không trông thấy Sukhov.
Ngồi đối diện với anh ta là X-123, một lão già hom hem – tù nhân khổ sai mười hai năm. Lão đang ăn cháo.
– Không, bố già ơi, – Sezar cố nói giọng nhẹ nhàng, – khách quan mà nói Eizenstein là một thiên tài. Phim “Ivan Hung đế” chẳng lẽ không phải một tác phẩm thiên tài? Cảnh các lính thị vệ đeo mặt nạ nhảy múa, rồi cảnh trong nhà thờ nữa!
– Uốn éo làm bộ làm tịch! – Đưa thìa lên ngang miệng, X- 123 giận dữ nói. – Có quá nhiều nghệ thuật để cuối cùng chẳng có nghệ thuật gì cả. Cứ như ớt và hạt hướng dương thay cho bánh mì vậy! Lại còn cái tư tưởng chính trị của nó mới đê tiện làm sao chứ – bênh vực cho ách thống trị chuyên chế của một cá nhân. Một sự phỉ nhổ kí ức của cả ba thế hệ trí thức Nga (cháo mà ăn vào cái miệng chẳng phân biệt được ngon hay không của lão già, có phí không cơ chứ)
– Nhưng còn biết thể hiện đề tài như thế nào để người ta thông qua đây?…
– Ôi chao, thông qua?! Thế thì đừng có nói là thiên tài! Hãy nói đó là thằng bợ đít, thực hiện đơn đặt hàng chó má. Một thiên tài đâu có cái kiểu thể hiện đề tài của mình theo ý thích của quân bạo chúa!
– E hèm, e hèm, – Sukhov dặng hắng. Anh ngại không muốn phá ngang cuộc đàm thoại học thức cao siêu này. Nhưng chả lẽ cứ đứng ở đó mãi.
Sezar quay lại, giơ tay đón lấy bát cháo, cũng chẳng nhìn Sukhov, cứ như thể bát cháo tự nó bay đến, vẫn nói, khăng khăng bảo vệ ý kiến của mình:
– Nhưng ông hãy nghe đây, nghệ thuật không phải nói cái gì, mà nói bằng cách nào.
Chớp được ý, X-123 đập tay xuống bàn:
– Không! Quỷ tha cái “như thế nào” của cậu đi, nếu như nó không gợi lên trong tôi những tình cảm tốt đẹp!
Sau khi đưa bát cháo, Sukhov nán lại một chút theo đúng phép lịch sự đòi hỏi. Anh chờ xem Sezar có thết mình một điếu thuốc hay không, nhưng hắn đã quên hẳn sự có mặt của anh.
Thế là Sukhov đành quay lưng, lặng lẽ bước ra.
Bên ngoài không đến nỗi tệ lắm. Không lạnh quá. Hôm nay mà xây tường thì nhất rồi.
Sukhov bước trên con đường nhỏ và nhìn thấy một mảnh sắt nhỏ nằm lăn lóc trên tuyết. Miếng sắt gẫy ra từ một con dao nào đấy. Hiện tại anh không biết dùng nó vào việc gì, song biết đâu nay mai lại chẳng có lúc dùng đến. Anh nhặt miếng sắt lên, đút vào túi quần. Anh sẽ giấu nó vào một chỗ trong nhà máy điện. Năng nhặt, chặt bị.
Khi tới nhà máy điện, việc đầu tiên Sukhov đi lấy cái bay ở chỗ cất giấu và giắt nó vào giây thừng buộc bụng. Rồi anh khom người chui vào chỗ trộn vữa.
Vừa ở ngoài nắng vào Sukhov thấy ở đây tối hẳn và chẳng ấm gì hơn bên ngoài. Mà còn có vẻ ẩm hơn thì phải.
Tất cả các anh em trong đội xúm xít xung quanh cái lò tròn mà Sukhov đặt cạnh cái lò sấy cát đang bốc hơi nghi ngút. Ai không kiếm được chỗ cạnh lò thì ngồi lên thành cái thùng trộn vữa. Đội trưởng đang vét nốt bát cháo. Cháo được Pavlo hâm nóng trên lò sưởi.
Mọi người đang thì thào chuyện trò. Họ tươi tỉnh hẳn lên. Họ cho Sukhov biết đội trưởng đã khoá được phần trăm định mức tốt, hắn ở văn phòng về vui vẻ lắm.
Việc phịa ra thành tích của đội là công việc của hắn – một đội trưởng có đầu óc. Nhưng cả sáng nay đội anh đã làm được những gì? Đốt lò và làm chỗ trú là làm cho bản thân, chứ đâu phải là công việc sản xuất. Nhưng trong phiếu công tác cũng phải ghi đã làm được những việc gì đó vào. Trong chuyện này, có thể Sezar cũng có nhúng tay – đội trưởng vì nể hắn, hẳn là phải có lí do.
Khoá được phần trăm định mức tốt, có nghĩa đội anh sẽ nhận được những khẩu phần hời hơn trong năm ngày tới. Năm ngày, cũng có thể chỉ bốn ngày: các ông trên bớt xén của đội anh một ngày, nhưng đến khi nghỉ “bảo dưỡng” thì toàn trại như nhau tuốt, đội làm việc tốt, cũng như đội làm việc dở. Có vẻ như không làm mếch lòng ai, tất cả đều bình đẳng, nhưng kì thực người ta đã trấn của phạm những thứ đáng ra họ được nhét vào bụng. Thì có làm sao, bụng tù thì thế nào mà chả chịu được. Hôm nay gắng chịu, mai mốt rồi sẽ được ăn thoải mái. Mơ ước này anh em mang vào cả giấc ngủ trong những ngày nghỉ “bảo dưỡng”.
Nhưng nghĩ đi nghĩ lại vẫn thấy ấm ức: làm năm ngày, mà chỉ được ăn có bốn.
Cả đội yên lặng. Ai có thuốc thì lặng lẽ giở ra hút. Họ ngồi quây quần trong bóng tối và ngắm nhìn ngọn lửa. Giống như một gia đình. Mà đội của Sukhov đúng là một gia đình. Tất cả lắng nghe đội trưởng kể chuyện cho hai ba người ngồi cạnh lò sưởi. Hắn rất kiệm lời, bởi vậy khi nào hắn thao thao, có nghĩa lòng hắn đang vui.
Hắn, Andrei Prokofich, tới giờ cũng vẫn không học được cách đội mũ trong lúc ăn. Không đội mũ trông hắn già hẳn. Đầu hắn trọc như tất cả mọi người, ánh lửa hắt ra từ lò sưởi soi rõ vô số những sợi bạc lẫn trong đám tóc đã ngả sang màu xám.
– … Đứng trước tiểu đoàn trưởng mình đã run bỏ mẹ, đằng này lại là trung đoàn trưởng! “Chiến sỹ hồng quân Turin đã có mặt theo lệnh của thủ trưởng…”, mình báo cáo. Ông ta ngó mình trừng trừng, lông mày dữ phát khiếp. “Tên là gì, họ là gì?”. Mình nói. “Năm sinh?”. Mình nói tiếp. Khi ấy, năm ba mươi, mình mới hăm hai tuổi, một thằng oắt con. “Phục vụ thế nào, Turin? – “Phục vụ nhân dân lao động!”. Ông ta bỗng nổi sung lên, đập tay đánh bốp xuống bàn. “Phục vụ nhân dân lao động, mày là thằng nào hở quân lưu manh?!”. Mình đã sôi tiết lắm rồi, song vẫn cố nhịn: “Xạ thủ đại liên hạng nhất. Điểm cao nhất về quân sự và chính trị…” – “Hạng nhất cái gì hở đồ khốn nạn? Bố mày là culac! Đây này, có giấy từ Kameni gửi đến đây này! Bố mày là culac, còn mày thì bỏ trốn. Người ta truy nã mày hai năm nay”. Mặt mình tái dại, miệng câm như hến. Ròng rã một năm mình đâu dám biên thư về nhà, sợ để lộ tông tích. Chẳng biết người nhà còn sống hay đã chết. Họ cũng chẳng biết gì về mình. Lão trung đoàn trưởng lại gầm lên, cả bốn gạch trên cầu vai áo cùng rung lên: “Mày có lương tâm không đấy, hả thằng khốn? Dám lừa cả chính quyền Công – Nông?”. Lúc ấy cứ tưởng lão sẽ nện cho mình một trận. Nhưng lão không đánh. Lão ký lệnh trong vòng sáu tiếng đồng hồ tống mình ra khỏi cổng doanh trại. Lúc đó là tháng mười một. Chúng lột hết quân phục mùa đông của mình, chỉ để lại quân phục mùa hè, một đôi tất cũ nát và một chiếc áo khoác cũn cỡn. Lúc ấy mình ngu, chứ không nộp chúng cũng chẳng làm gì được mình. Và thế là chúng ấn cho mình một cái giấy giải ngũ khốn nạn thế này: “Bị sa thải khỏi quân ngũ vì là con phú nông”. Với cái giấy chứng nhận như thế có mà đi xin việc! Đi về nhà phải mất bốn ngày trên tầu hoả, chúng chẳng cho lấy một tấm vé, một ngày ăn đường, chỉ cho một bữa cuối cùng rồi a lê hấp, cuốn gói khỏi trại lính.
… Ấy thế mà hồi ba mươi tám mình lại gặp lại ông trung đoàn trưởng ở trại chuyển vận Kotlas, cũng bị mười năm tù. Qua trung đoàn trưởng mình mới biết tiểu đoàn trưởng và chính trị viên trung đoàn, cả hai đều đã bị xử bắn năm ba mươi bẩy. Vô sản hay phú nông, có lương tâm hay không có lương tâm, lúc ấy, nào có khác gì nhau… mình làm dấu thánh, nói: “Dù sao vẫn có Chúa trên trời, đấng sáng tạo muôn loài. Người chịu đựng biết bao đau khổ, nhưng khi người trừng phạt cũng rất đau”.
Ăn xong hai bát cháo, Sukhov thèm thuốc chết được. Anh nghĩ bụng phải vay tạm của ai đó, khi nào mua của thằng cha người Litva ở trại bẩy hai ca thuốc sợi, lúc đó sẽ trả sau. Anh khẽ nói thầm vào tai gã Estoni – thuyền chài:
– Nghe này, Eino, cho tớ vay một điếu, sáng mai sẽ trả. Tớ không qụyt đâu mà sợ.
Eino nhìn thẳng vào mắt Sukhov, rồi nhìn sang anh bạn đồng hương lúc nào cũng kè kè như hình với bóng. Hai tên này cái gì cũng chung, kể cả một sợi thuốc. Chúng nói nhỏ gì với nhau, và Einô rút cái bao đựng thuốc có giây buộc màu hồng. Hắn véo một nhúm thuốc lá sợi nhà máy, rồi bỏ vào lòng bàn tay Sukhov. Hắn nhìn nhúm thuốc, rồi rút thêm vài sợi nữa. Chỉ vừa đủ vấn một điếu thuốc, không hơn.
Sukhov có ít giấy báo. Anh xé ra một miếng, quấn điếu thuốc, rồi mồi bằng mẩu than hồng rơi giữa hai chân đội trưởng, – và rít một hơi dài! Một hơi thật dài! Toàn thân ngất ngây, thậm chí có cảm giác như say từ đỉnh đầu tới gót chân.
Chỉ vừa mới rít được vài hơi Sukhov đã thấy đôi mắt xanh lè nhìn mình xuyên xuốt gian trộn bê tông: Fechiukov. Kể cũng thương hại hắn, hay cho cái thằng mót rác này mẩu thuốc thừa, nhưng hôm nay anh đã nhìn thấy hắn liếm bát. Tốt nhất là để dành cho Senka Klevsin. Anh ta chẳng nghe thấy đội trưởng kể chuyện gì, ngồi ủ rũ trước lò sưởi, đầu ngoẹo sang một bên.
Lửa từ lò sưởi hắt ra soi sáng cái mặt rỗ của đội trưởng. Hắn kể về hắn một cách không thương tiếc, như thể kể về ai đó:
– Lúc ấy mình bán tất đồ đạc cho một gã buôn ở Barakhol với giá chỉ bằng một phần tư. Sau đó mua ở chợ đen được hai ổ bánh mì. Dạo đó đã có tem phiếu rồi. Mình tính nhẩy tầu hàng về nhà, nhưng luật mới đề ra rất nghiêm: bắn bỏ tất cả những ai nhẩy tầu hàng… Còn vé, ai chẳng nhớ, hồi ấy đến có tiền cũng không mua được, huống hồ không có. Trên quảng trường cạnh ga đầy những mũ đàn ông, rất nhiều người đã chết đói vì không đi khỏi đấy được. Còn vé là để giành cho các sếp, người có giấy công tác, cho quân đội. Muốn vào trong sân ga cũng khó: ở các cửa ra vào đều có dân quân, hai bên đường xe lửa đều có lính gác đi lại. Trời đã về chiều, mấy vũng nước đóng băng cả lại, – đêm nay ngủ ở đâu bây giờ? Mình bèn leo lên một bức tường đá nhẵn thín, ôm hai ổ bánh mì nhẩy đại vào bên trong rồi chạy vào nhà vệ sinh ở sân ga. Mình đứng ở đó một lúc, không có ai đuổi ra. Rồi mình đi ra như một hành khách, mặc đồ lính đàng hoàng. Mà tầu Vladivostok – Moscva lại đỗ ngay trên đường ray mới may chứ. Hành khách thì đang chen nhau lấy nước sôi, còn cầm cả ấm mà phạng vào mặt nhau. Có một em mặc áo xanh loanh quanh ở đấy, tay cầm cái ấm hai lít, không dám chen vào, sợ bị bỏng hay bị người ta dẵm lên đôi chân nhỏ xíu của mình. Mình bèn đưa hai ổ bánh cho cô nàng giữ hộ, bảo: “Này, cầm lấy cái này, để tôi lấy hộ cho”. Khi mình vừa lấy xong nước, thì đoàn tầu bắt đầu chuyển bánh. Cô nàng khóc thút thít, hai tay vẫn ôm hai ổ bánh của mình, không biết nên giữ hay nên quẳng đi – ngay đến cái ấm cô nàng cũng chẳng cần. “Chạy đi, mình gào lên, chạy đi, tôi sẽ đuổi theo”. Cô nàng chạy đằng trước, mình chạy đằng sau. Mình bắt kịp nàng, một tay đẩy nàng lên tầu. Tầu bắt đầu chạy, mình nhẩy lên theo. Người kiểm soát không đánh mình, cũng không đẩy xuống: trong toa có nhiều lính và hắn tưởng mình cũng ở trong đám này.
Sukhov lấy cùi chỏ huých vào mạng sườn Senka: này cầm lấy mà hút, ông thợ săn tồi. Anh đưa cho hắn cả cái tẩu thuốc, kệ, cho hắn mút, chẳng sao. Senka là một tay kì quái, hắn làm điệu bộ giống như nghệ sĩ, một tay ép vào tim, đầu cúi xuống. Ôi dào, cái nhà ông điếc này!…
Đội trưởng vẫn kể:
– Họ là sáu cô gái, những sinh viên ở Leningrad đi thực tập, ở cùng một cúp-pê khép kín. Trên chiếc bàn nhỏ bày nào bánh, nào bơ và các thức linh tinh khác. Áo khoác đung đưa trên mắc áo, những chiếc va li nhỏ được bọc vải. Họ đâu có biết cuộc đời thật là gì, mọi thứ đều đã bầy sẵn dưới chân…
Cả bọn làm quen, tán dóc, pha trò, uống trà cùng nhau. Rồi họ hỏi tớ ở toa nào vậy? Mình thở dài và thú nhận tất cả: tôi ở cái toa mà, các cô gái ơi, các cô thì sống, còn tôi thì chết.
Trong nhà im phăng phắc. Lò sưởi đỏ rực.
– Sau một hồi “ô, a”, các cô gái bàn nhau… họ giấu mình trên giường tầng ba, lấy áo khoác ngoài phủ lên, khi những người kiểm soát đi tới. Vấn đề không phải là vé, mà là mạng người. Các cô gái giấu mình tới tận Novosibir… à mà sau này mình đã có dịp trả ơn cho một trong những cô gái đó ở nhà tù Petchora: năm ba mươi nhăm cô ấy dính vào vụ Kirov(11), phải làm việc khổ sai, mình thu xếp cho cô ấy một chỗ ở xưởng may.
– Cho trộn vữa chứ? – Pavlo hỏi thầm đội trưởng.
Nhưng đội trưởng không nghe thấy.
– Mình về đến nhà vào đêm khuya. Lần vào theo lối vườn rau. Bố thì bị giải đi rồi, mẹ và các em thì đợi bị giải đi. Đã có điện gửi về địa phương, chính quyền xã đang lùng bắt mình. Cả nhà run như giẽ, phải tắt điện và ngồi trên sàn, nép sát vào tường, sợ những phần tử tích cực đi tuần trong thôn nhòm qua cửa sổ. Ngay đêm hôm đó mình mang theo thằng em chuồn xuống miền Nam ấm áp, tới Frunze. Mình chẳng kiếm được gì cho nó và cho mình ăn. Ở Frunze người ta đang nấu nhựa đường trong một cái chảo lớn, bọn trẻ con bụi đời vây xung quanh. Mình tới cạnh chúng, nói: “Nghe đây, các ngài quần thủng! Hãy nhận giúp thằng em tôi đây, hãy dậy dỗ nó nên người!”. Chúng nhận thằng bé… Tiếc là mình không nhập bọn với chúng.
– Thế anh chẳng bao giờ gặp lại thằng em nữa à? – Ông trung tá hỏi.
Turin ngáp.
– Chưa, chưa một lần gặp lại.- hắn lại ngáp và nói: – Thôi, đừng ủ rũ thế các cậu, ta lấy cái nhà máy điện này làm nhà vậy. Ai được phân công trộn vữa, làm quàng lên, đừng có đợi còi.
Đội trong trại là thế. Trưởng trại đố có bảo được tù rời khỏi chỗ, kể cả trong giờ làm việc, vậy mà tổ trưởng trong giờ nghỉ chỉ cần nói một tiếng là tất cả đều răm rắp đứng dậy đi làm. Với lại buộc mọi người làm việc không phải anh ta không có lý do.
Nếu không trộn bê tông trước khi còi huýt, thì đám thợ xây đứng chơi à?
Sukhov thở dài đứng dậy.
– Thôi, tôi đi cạo băng đây.
Anh cầm một cái rìu nhỏ và một cái bàn chải sắt để cạo băng đóng trên gạch. Và để xây, anh cầm một chiếc vồ, thước đo và giây dọi.
Kildigs mặt mũi hồng hào, nhìn theo Sukhov nhăn mặt – việc cái gì mà chưa hô đã xung phong thế nhỉ? Là bởi vì Kildigs không cần phải nghĩ cái ăn của đội từ đâu ra: hắn ta, đồ quỷ hói, có nhận ít hơn hai trăm gram cũng chẳng sao, hắn còn sống bằng đồ tiếp tế.
Nhưng Kildigs vẫn đứng dậy và leo lên tầng hai. Không nên vì mình mà cả đội bị chậm.
– Đợi tớ với, Vanhia, tớ đi đây! – Hắn gọi với theo.
Rõ đồ mặt mâm, giá mà làm cho hắn thì hắn đã chả chạy vội (Còn một lí do nữa khiến Sukhov đứng vội lên, anh muốn chiếm cái giây dọi trước Kildigs. Cái giây dọi này họ nhận được từ kho công cụ).
Pavlo hỏi đội trưởng:
– Có ba người xây tường à? Có nên cho thêm một người nữa không? Hay vữa trộn không kịp?
Đội trưởng chau mày nghĩ ngợi.
– Người thứ tư sẽ là tớ, Pavlo. Cậu nói cái gì? Trộn kịp vữa hay không á?! Cái thùng trộn to đùng thế kia, cắt sáu người trộn vữa. Làm như thế này này: lấy vữa đã trộn ở đầu này, còn đầu kia vẫn tiếp tục trộn vữa mới, làm thế nào để tớ không được nghỉ lấy một phút thì làm!
– Ê! – Pavlo bật dậy, hắn còn trẻ, máu còn nóng, đời sống trong trại chưa vò nhàu được hắn. Đôi má hắn vẫn còn phinh phính vì từng tọng lắm bánh trôi Ucraina. – Anh xây gạch, tôi trộn vữa, xem ai làm nhanh hơn ai! Cái xẻng to nhất ở đây biến đâu mất rồi?
Đấy, đội trong trại là thế đấy! Đối với anh chàng Pavlo đã từng vác súng vào rừng, đôi khi còn tập kích các làng nữa, thì việc gì hắn phải làm sụm lưng ở đây nhỉ. Nhưng với đội trưởng – đó lại là chuyện khác!
Sukhov cùng Kildigs leo lên tầng hai. Họ nghe thấy tiếng khò khè của Senka ở sau lưng. Ông bạn điếc chừng cũng hiểu là đã tới lúc làm việc.
Ở tầng hai tường nhà mới bắt đầu được xây: phần lớn mới chỉ xây được ba hàng gạch, đôi chỗ cao hơn một chút. Đây là phần việc nhẹ nhất – xây từ đầu gối đến ngực, không cần dàn giáo. Mấy cái dàn giáo không biết bị chở đi đâu – chở sang khu xây dựng khác, hay phạm đã đốt mất rồi – chỉ là để các đội khác không mó tới được. Bây giờ, nếu muốn làm cho ra làm, thì sáng mai phải đóng dàn giáo mới, không thì chịu chết.
Trên tầng hai cái nhà máy điện không mái này, có thể nhìn rất xa: cả một khu công trường mênh mông tuyết phủ trắng xoá trông như sa mạc (các phạm đã tìm chỗ sưởi ấm trước lúc còi rúc), các tháp canh đen ngòm và những hàng cột căng giây thép gai. Nếu nhìn theo hướng nắng, những gai thép rõ mồn một, nhưng nhìn ngược hướng nắng, sẽ chẳng thấy gì. Mặt trời chói loà khiến mắt không mở ra được.
Không xa lắm là một toa xe đặt máy phát điện chạy bằng hơi nước. Nó nhả khói mù mịt, che lấp cả một vùng trời. Nó thở dốc. Bao giờ trước khi rúc lên, nó cũng khò khè như người bị bệnh. Đấy, nó đang rúc lên đấy.
– Ê, lao động tiền tiến(12)! Căng nhanh cái dọi lên! – Kildigs thúc Sukhov.
– Cậu nhìn xem gạch chỗ cậu có bao nhiêu băng bám vào kìa, chắc đến tối mới cạo xong? Vác bay lên đây cũng bằng thừa, – Sukhov chọc lại hắn.
Hai người định xây bức tường mà hồi sáng họ đã chọn, nhưng đội trưởng ở dưới gọi vọng lên:
– Này, mấy tướng, hai cậu xây chung một bức tường đi, để vữa khỏi bị đóng cứng lại. Sukhov lấy Senka phụ vữa, còn Kildigs thì để tớ phụ cho. Nhưng trước đó Gopchik thay tớ cạo băng chỗ tường của Kildigs đã.
Sukhov và Kildigs liếc nhau. Ừ, phải đấy. Làm như vậy sẽ dễ hơn. Họ cầm lấy rìu.
Và Sukhov không còn nhìn thấy cái hồ phía xa, nơi ánh nắng chói loà trên tuyết, không nhìn thấy đám tù nhân tản ra khỏi những nơi sưởi ấm, kẻ thì đào nốt những cái hố đang đào dở buổi sáng, người thì đi dựng các đòn tay trên mái công xưởng. Bây giờ anh chỉ thấy bức tường đằng trước mặt – từ góc trái tường xây thành các bậc cao ngang thắt lưng, và đến tận góc bên phải, nơi nối với tường của Kildigs. Anh chỉ cho Senka chỗ phải băm, chặt lớp băng bám vào gạch, bản thân cũng hùng hục chặt cả bằng đầu rìu lẫn lưỡi rìu, khiến những mảnh băng văng tung toé, bắn cả vào mặt. Anh làm phăng phăng, song đầu óc anh không để vào công việc này. Toàn bộ ý nghĩ của anh dồn vào bức tường mà anh đang xăm soi trước mặt dưới lớp băng bám vào – bức tường ngoài của nhà máy điện dầy hai lớp gạch. Anh không biết trước đây ai đã xây bức tường chỗ anh đang làm, song tên thợ nề này hoặc là kẻ không thạo việc, hoặc là kẻ ẩu tả. Sukhov quen dần với bức tường như chính tường nhà anh. Kia có một hòn gạch bị tụt hẳn vào bên trong, để làm phẳng bức tường xây, xây lại một hàng không được, anh phải xây lại đến ba hàng, và cũng phải trát vữa dầy hơn. Còn chỗ này tường xây bị lồi hẳn ra – lại phải làm phẳng bằng cách xây lại hai hàng. Và anh chia bức tường bằng mắt – phần anh sẽ xây từ chỗ góc trái, phần Senka đảm nhiệm, hắn sẽ xây tiếp đến chỗ Kildigs. Anh đoán là ở đầu đằng kia Kildigs, theo quán tính, sẽ không ngừng tay, xây lấn sang phần của Senka, và như vậy ông điếc này sẽ rảnh tay hơn. Trong khi họ loay hoay bận bịu ở góc đó thì anh sẽ xây lên quá nửa bức tường để họ khỏi bị tụt lại đằng sau. Đồng thời anh tính xem cần bao nhiêu gạch để xây. Và khi những người khênh gạch vừa mới leo lên tầng hai, anh tóm vội lấy Aliosa:
– Mang đến đây cho tôi! Đây, đổ xuống chỗ này, cả chỗ này nữa.
Senka băm nốt chỗ băng bám cuối cùng, lập tức Sukhov lấy chiếc chổi sắt, dùng cả hai tay cạo khắp nơi, cho tới khi lớp gạch ngoài hiện lên màu xám nhạt giống như màu tuyết bẩn, tuy không thật sạch, song vữa có thể bám tốt, nhất là ở các khe, rãnh. Trong khi Sukhov hì hục chải chải, cạo cạo, thì đội trưởng cũng đã leo lên tới nơi, dựng chiếc thước vào góc. Thước của Sukhov và Kildigs đã dựng ở đó từ lúc nãy.
– Ê! – Pavlo hét vọng lên, – trên đó có ai còn sống không? Nhận vữa đi!
Sukhov phát hoảng: giây dọi chưa căng được vữa thì sắp ùn ùn kéo tới. Anh quyết định: giây dọi căng không cho từng hàng một, mà cho luôn ba hàng, để dự phòng. Và để Senka đỡ vất vả, anh giành xây phần tường mé ngoài, cho hắn xây một ít bên trong.
Trong lúc căng dọi, anh giải thích cho Senka cả bằng lời lẫn bằng cử chỉ chỗ tường hắn sẽ xây. Gã điếc đã thủng. Hắn cắn môi, liếc mắt, đầu hất về phía tường của đội trưởng, ra điều: ta cho chúng biết tay? Không chịu thua chứ? Rồi hắn toét miệng cười.
Vữa đã được chuyển lên thang. Bốn cặp khiêng bằng cáng gỗ. Và đội trưởng quyết định, để không bị đông nhanh, vữa sẽ để nguyên trong máng, thợ xây sẽ lấy vữa trực tiếp từ máng để xây. Còn những người khiêng vữa, để không bị chết cóng trên cao, sẽ chuyển gạch cho mấy người xây. Khi nào hết vữa thì ngay lập tức, không để phí thời gian, cặp khác lại khênh lên, còn cặp kia xuống dưới nhà. Ở đó, cạnh lò họ gỡ chỗ vữa đã đông bám chặt vào máng, còn mình thì tranh thủ sưởi lấy một chút.
Họ khênh liền một lúc hai máng vữa cho Sukhov, hai máng cho Kildigs. Vữa bốc hơi nghi ngút, song nó cũng chẳng cho được một chút hơi ấm nào trong cái lạnh ghê người này. Lúc ném vữa lên tường phải lấy bay miết cho thật nhanh kẻo nó đông lại ngay. Nếu mà để cho nó đông lại, thì lúc đó có mà lấy bay hay vồ nậy cũng chẳng được. Và nếu đặt trật một viên gạch, thì vữa đông lại bám chịt lấy chỗ đó. Lúc ấy chỉ có cách lấy cuốc chim mà nậy ra, hay lấy rìu mà chặt cho vữa rụng ra.
Nhưng Sukhov không mắc lỗi trong khi xây. Gạch thì chả viên nào giống viên nào. Viên thì vỡ góc, viên thì sứt mép, viên bị vữa bám vào. Sukhov ngay lập tức tia ngay được những khuyết tật đó và tìm được chỗ trên tường cho từng viên. Anh lấy bay xúc ít vữa bốc hơi, rải nó xuống hàng gạch và nhớ rãnh gạch chạy thế nào để đặt viên sau lên chính giữa. Bao giờ anh cũng trát vừa đủ vữa cho mỗi viên gạch. Rồi anh nhặt một viên từ đống gạch (sao cho găng tay khỏi bị rách, giống gạch sứt này là sắc lắm), lấy bay san đều lại hàng vữa và đặt gạch lên đó. Và ngay lập tức anh lấy cạnh bay gõ gõ viên gạch sao cho mé tường ngoài thẳng theo giây dọi, và hàng dọc cũng như hàng ngang những viên gạch nằm đều chằn chặn như những con xúc xắc. Và viên gạch đóng cứng ngay tức thì.
Sau đó, nếu vữa thừa lòi dưới viên gạch sang hai bên, thì phải bấy bay hất nó đi tức thì (mùa hè còn dùng cho viên gạch khác, chứ bây giờ đừng có mà tiếc) và lại phải nhìn những rãnh nối phía dưới, ở chỗ có những viên gạch sứt ở đầu, phải trát vữa dầy thêm một chút, và khi đẩy sát những viên gạch vào nhau, y như rằng vữa bị lòi ra. Sukhov càng làm, càng hăng tiết. Công việc đã cuốn hút anh. Vữa đâu, cho tiếp!
Công việc đã vào guồng. Ta đã xây được thêm hai hàng, những chỗ lồi lõm, xiên xẹo trước đó đã được chỉnh sửa, nhìn chung là trôi chảy. Nhưng bây giờ lại càng phải tinh mắt hơn!
Anh phải nhanh tay bắt kịp Senka ở hàng gạch ngoài. Còn Senka từ chỗ của đội trưởng cũng đang tiến lại phía anh.
Sukhov giục giã mấy người khênh vữa – nhẩu lên, mấy bố, mang vữa tới ngay cho con nhờ! – Anh làm như điên, nước mũi chảy ròng ròng cũng chẳng kịp vắt.
Khi anh gặp Senka thì hai người phải dùng chung một máng vữa. Chẳng còn mấy tí.
– Vữa! – Sukhov gào lên sau bức tường.
– Có ngay đây! – Pavlo ở dưới cũng hét tướng lên.
Một máng nữa được khiêng tới nơi. Hai người vét nốt chỗ vữa đang còn mềm, còn vữa xung quanh máng đã đông cứng – kìa cạo ngay đi chứ mấy bố, định khuân cả xuống dưới hay sao. Đổ xuống đất! Đưa máng mới vào!
Sukhov và mấy người thợ xây khác đã không còn thấy lạnh nữa. Công việc khẩn trương và cuốn hút khiến cơ thể họ bắt đầu nóng lên. Cái nóng đầu tiên làm cho mồ hồi toát ra dưới các lớp sống áo. Song họ không nghỉ, cứ thế tiếp tục xây lên cao mãi. Một giờ trôi qua, tiếp đến cái nóng thứ hai – cái nóng này làm mồ hôi khô ráo. Băng giá không bò được vào chân họ, đó là điều chủ yếu, những cái còn lại chẳng đáng gì, cả ngọn gió nhẹ buốt – đều không thể làm cho họ sao nhãng việc đang làm. Chỉ có Klevsin cứ đập chân nọ vào chân kia – hắn mang cỡ giầy số 46, nhưng kiếm đâu ra ủng cỡ đó cơ chứ, thành thử con nhà giời phải đi hai chiếc ủng đã không cùng kích cỡ, lại chật ních.
Đội trưởng chốc chốc lại gọi tướng lên: ‘V- ư-ã!”. Sukhov cũng : “V- ư-ã!”. Người nào làm việc bền bỉ, năng xuất hơn, thì người đó trở thành đội trưởng chốc lát trong con mắt của những người bên cạnh. Sukhov cố không để tụt hậu, giá có thằng em ruột ở đây, anh cũng bắt nó khiêng vữa trên cái thang làm tạm, trơn tuột kia.
Sau bữa trưa, Buinovski cùng khiêng vữa với Fechiukov. Nhưng thang dốc và trơn, nên trung tá lúc đầu ì ạch lắm. Sukhov khẽ giục ông:
– Trung tá, nhanh lên! Trung tá, cho vữa đây!
Khi quen việc, mỗi lúc trung tá một nhanh nhẹn hơn lên, nhưng Fechiukov thì càng lười hơn: lúc khiêng vữa hắn làm cho cái máng nghiêng đi, cố tình làm đổ vữa cho nhẹ bớt.
Có lúc Sukhov phải huých vào lưng hắn:
– Đồ chó đẻ! Khi làm giám đốc chắc mày hành công nhân lắm thì phải?
– Đội trưởng! – trung tá gọi toáng lên, – cho tôi làm với người khác, tôi không khiêng với thằng đụt này!
Đội trưởng sắp xếp lại công việc: Fechiukov chuyển gạch từ dưới lên bệ, và hắn phải làm một mình để còn tiện đếm xem hắn xếp được bao nhiêu viên, còn Aliosa – Tẩy lễ khiêng vữa với trung tá. Aliosa là người hiền lành, ai muốn ra lệnh với hắn cũng được.
– Nào thuỷ thủ, cho tàu chạy hết tốc lực! – trung tá đe hắn. – Nhìn xem người ta xây kia kìa!
Aliosa cười nhường nhịn:
– Cần nhanh – sẽ có nhanh. Thế nào cũng được.
Rồi hai người rậm rịch xuống cầu thang.
Ở trong đội, người hiền lành dễ bảo như thế quả là của hiếm.
Đội trưởng đang la hét ai đó ở phía dưới. Hình như có một xe chở gạch nữa mới tới. Chả bù cho nửa năm nay không có lấy một viên, bây giờ thì ào ào chở đến. Có gạch thì mới làm được việc. Hôm nay là ngày đầu tiên. Sau mà bị kẹt, lại không có gạch nữa, thì lúc ấy có mà lấy lại cái đà này được khối.
Dưới nhà, đội trưởng vẫn tiếp tục chửi bới. Hình như về cái máy nâng thì phải. Sukhov muốn ngó xuống xem chuyện gì, song chẳng còn lúc nào: phải nắn cái tường cho thẳng. Những người khiêng vữa tới nơi, họ kể lại có một phạm làm nghề thợ điện tới sửa động cơ của cái máy nâng. Đi cùng anh ta là tay quản công phụ trách về điện. Tay này là công nhân tự do và hắn chỉ khoanh tay đứng xem anh thợ điện sửa.
Đời là vậy: một thằng làm, một thằng đứng ngó.
Giá mà họ sửa nhanh nhanh được cái máy nâng thì đỡ biết bao, vừa chuyển nhanh được vữa, vừa chuyển được gạch lên cho họ.
Khi Sukhov đang xây hàng thứ ba (Kildigs cũng bắt đầu hàng thứ ba), thì một vị thủ trưởng nữa leo thang để lên tầng trên. Đó là quản công phụ trách xây dựng. Tên hắn là Der, người Moscva, nghe đâu ngày trước từng làm ở bộ.
Sukhov đã đứng gần Kildigs, chỉ cho hắn thấy Der.
– À-à! – Kildigs phẩy tay. – Tớ chẳng dính dáng tới thủ trưởng, nhưng nếu ông ta mà ngã cầu thang thì hãy gọi tớ.
Chắc lại tới đứng đằng sau nhìn đám thợ xây làm đây mà. Sukhov khó chịu nhất là hạng chống nạnh quan sát người khác làm. Cũng kĩ sư cơ đấy, đồ mặt lợn! Có lần hắn dạy anh em cách xây gạch làm cho Sukhov cười muốn vỡ bụng. Theo như lề lối của dân ta, phải xây cho xong một ngôi nhà bằng chính bàn tay mình, lúc ấy hãy nói đến chuyện kĩ sư. Ở quê anh không xây nhà gạch, chỉ có nhà gỗ ghép. Trường học cũng được làm bằng gỗ đẽo, người ta thuê chặt gỗ và chở từ rừng về những cây gỗ dài sáu xa-gien(13). Ở trong trại anh phải làm thợ nề, và thế là anh trở thành thợ nề. Ai học được hai nghề, thì cả mười nghề cũng học được.
Không, Der không bị ngã, hắn chỉ vấp có một lần, leo gần hết thang hắn chạy vọt lên.
– Tu-r-in! – Hắn hét lên, mắt lồi ra. – Tu-rin!
Pavlo chạy lên thang theo hắn, tay cầm chiếc xẻng.
Áo bông của Der cũng là áo tù, nhưng còn mới và sạch sẽ. Đầu hắn đội chiếc mũ da tốt. Nhưng trên đó cũng có số hiệu, như tất cả mọi người: B-737.
– Gì đấy? Turin tay cầm bay bước ra, chiếc mũ trên đầu lệch sang một bên, che mất một mắt.
Xẩy ra chuyện gì rồi đây. Nhưng không thể ngừng tay được, vữa sẽ bị đông lại mất. Sukhov vẫn tiếp tục xây. Vừa xây, vừa dỏng tai nghe.
– Mày làm gì thế hở?! – Der gầm lên sùi cả bọt mép.- Đây không phải tội nằm nhà đá nữa, mà là tội hình sự, Turin. Mày sẽ phải lãnh thêm hạn tù thứ ba!
Bấy giờ Sukhov mới thủng chuyện. Anh nhìn Kildigs và thấy hắn cũng đã hiểu ra. Giấy dầu, giấy dầu, nó đã nhìn thấy giấy dầu trên cửa sổ.
Sukhov không sợ cho bản thân, vì anh biết đội trưởng chẳng bao giờ bán rẻ anh em. Anh lo cho đội trưởng. Đối với anh em đội trưởng là cha, còn đối với họ, chẳng là cái thá gì. Chắc cũng vì những tội tương tự như thế này mà đội trưởng đã được “gia hạn” tù ở miền Bắc này.
Ôi cái mặt của đội trưởng lúc này trông mới khiếp làm sao! hắn vứt đến toạch cái bay xuống dưới chân, tiến một bước về phía Der. Der ngoái nhìn lại phía sau – Pavlo đứng đó, tay giơ cái xẻng lên.
Cái xẻng! cái xẻng! không dưng nó mang theo cái xẻng…
Và Senka, tuy nghễnh ngàng, song cũng đã hiểu: hai tay chống nạnh, hắn lừng lững đi tới. Mà hắn mới to con làm sao, thằng quỷ hói này. Der chớp mắt lia lịa, ngó quanh tìm chỗ thoát thân. Đội trưởng ngó sát mặt Der, nói khẽ nhưng rõ từng từ một, đủ cho anh em tầng trên nghe thấy:
– Thời của chúng mày qua rồi, đồ sâu bọ! Lãnh thêm án cơ đấy! Nếu mày chỉ cần hở một lời, là đời mày tàn luôn, sẽ là ngày cuối cùng của mày đấy, rõ chưa!
Đội trưởng tức run lên bần bật. Nỗi tức giận không thể kìm nén.
– Từ từ thôi các cậu! – Mặt mũi tái mét, Der đứng nhích xa cái thang.
Đội trưởng không nói thêm một lời, cúi xuống nhặt chiếc bay và đi về chỗ tường của mình.
Còn Pavlo thì xách xẻng chậm chạp đi xuống dưới nhà.
Thật chậm.
Phải. Máu của ba thằng tù vẫn như đang còn trước mắt… Ba thằng bị cắt cổ, mà trong trại chẳng một ai hay biết.
Der ở cũng dở mà xuống cũng dở. Hắn đứng nấp sau lưng Kildigs. Còn Kildigs thì vẫn cứ xây – bản mặt hắn giống như người bán thuốc đang đếm thuốc trong hiệu: tiếng tăm của ông bác sĩ cũng chẳng làm cho hắn phải vội vàng. Hắn đứng quay lưng lại Der, làm ra vẻ không thấy hắn.
Der rón rén lại gần đội trưởng. Bây giờ hắn giở giọng khác:
– Tôi phải nói thế nào với ông giám đốc đây, Turin?
Đội trưởng tay vẫn xây, đầu không ngoái lại.
– Cứ nói là nó đã có ở đấy từ trước, trước khi bọn này tới.
Der đứng thêm một lát. Hắn hiểu mọi người sẽ không giết hắn. Hắn khẽ đi đi lại lại, tay đút túi.
– Ê, S-854, – Hắn nói với Sukhov, giọng gầm gừ, – sao vữa lại trát mỏng thế hở?
Cũng phải xả cái tức lên đầu ai chứ. Không bắt được lỗi Sukhov về điểm gì, hắn bèn vặc đến chuyện vữa mỏng vậy.
– Bẩm, xin được báo cáo ạ, – Sukhov lào thào qua mấy cái lỗ răng hổng, anh nói kháy Đê. – Nếu trát dầy thì cái nhà máy điện này đến mùa xuân chỗ nào cũng sẽ chảy nước ạ.
– Anh là thợ, anh phải nghe theo lời quản công, – Der cau có, hai má phồng lên, hắn có cái thói quen như vậy.
Ừ thì trên tường cũng có chỗ dầy hơn, chỗ mỏng hơn thật, nhưng đó là họ không bắt xây vào mùa đông lạnh đến như thế này. Đáng ra phải có chút tình người, đằng này lúc nào cũng chỉ nghĩ tới công việc.
Nhưng nói với hạng này, thà vạch đầu gối mà nói.
Der lặng lẽ đi xuống dưới thang.
– Ông sửa hộ cái máy nâng cho tôi! – Đội trưởng nói với theo hắn. – Ông tưởng chúng tôi là lừa cả hay sao mà kéo gạch lên đây bằng tay như thế này.
– Kéo thì hưởng thêm xuất kéo, – Der trả lời ở dưới thang, giọng dịu hẳn.
– Ý ông muốn nói mấy thứ vớ vẩn trả cho việc chuyên chở bằng xe cút kít? Ông thử đẩy một xe lên cái cầu thang đó cho tôi coi. Ông hãy trả phần “khiêng bằng cáng” đi hãng!
– Tôi tiếc anh làm gì. Bên kế toán người ta không duyệt khoản “khiêng bằng cáng”.
– Kế mới lại chả toán! Cả đội của tôi phục vụ cho bốn người thợ xây đây này. Vậy tôi nhận được bao nhiêu?
Đội trưởng miệng thì kêu, nhưng hai tay vẫn xây thoăn thoắt.
– Vữa! – anh hét xuống phía dưới.
– Vữa! – Sukhov cũng hô liền ngay sau đội trưởng.
Họ đã xong hàng thứ ba, bắt đầu xây hàng thứ tư. Anh định căng giây dọi, song lại tiếc thời giờ. Thôi, hàng sau xây chả cần dọi.
Der băng qua khoảng đất trống trở về văn phòng của mình, người co rúm lại. Phải về ngay để sưởi. Đứng trên cao hắn rét run cầm cập. Lẽ ra hắn phải nghĩ một chút trước khi đụng với loại cứng đầu cứng cổ như Turin. Lẽ ra hắn phải giữ quan hệ hoà hảo với mấy cha đội trưởng như thế, bởi hắn đâu có phải lo lắng điều gì: chẳng phải làm lụng vất vả, lại được khẩu phần hơn, lại còn một cái buồng riêng nữa – còn muốn gì hơn? Chỉ thích ra vẻ ông tướng!
Mọi người từ dưới nhà lên nói rằng cha thợ điện cùng thằng quản công đã tếch rồi và vẫn chưa sửa được cái động cơ.
Nghĩa là anh em vẫn phải tiếp tục làm công việc của bầy lừa!
Sukhov đã làm nhiều công việc khác nhau và bao giờ cũng thấy cùng một chuyện: hoặc máy móc tự dưng hỏng, hoặc do phạm phá hoại. Anh nhớ lần trong trại đốn gỗ, phạm làm đứt giây chuyền. Muốn nghỉ, họ bèn đút luôn cái đòn vào máy và đè lên nó. Nhưng nào người ta có cho nghỉ, máy hỏng, họ phải chất gỗ bằng tay.
– Gạch đâu! gạch đâu! – đội trưởng gào lên như hoá dại. Hắn chửi tiên sư nhà chúng nó, cả lò mấy thằng bê gạch, lẫn mấy thằng khiêng vữa.
– Pavlo hỏi trên ấy vữa ra sao, còn đủ không? – Mấy người ở dưới quát vọng lên.
– Trộn thêm ít nữa!
– Dưới này còn nửa thùng!
– Thế thì trộn thêm thùng nữa!
Bây giờ mới thật sự máu! Họ đã xây đến hàng gạch thứ năm! Mới đầu còn phải gập người xuống để xây hàng thứ nhất, bây giờ tường đã cao đến ngực, nhìn mà xem! Gì mà chả nhanh, không cửa sổ, không cửa ra vào, chỉ trần có hai bức tường nối với nhau và thoải mái gạch. Đáng lí phải căng thêm dọi, nhưng đã muộn rồi.
– Đội 82 hai đã đi trả dụng cụ – Gopchik thông báo.
Đội trưởng quắc mắt lên với nó:
– Hãng lo lấy việc của mình, thằng ôn con. Đi khuân gạch!
Sukhov ngoái lại nhìn. Ờ đúng thật, mặt trời đang lặn. Bị sương mù che phủ, màu đỏ mặt trời chuyển dần sang màu xám. Tốt nhất không nên xây tiếp nữa. Đã bắt đầu hàng thứ năm thì cũng nên kết thúc ở hàng này. Còn phải chỉnh sửa nữa chứ.
Mấy cha khiêng vữa thở phì phò như ngựa. Ông trung tá thậm chí tái xanh tái xám. Dù sao thì ông ta cũng đã trên dưới bốn mươi rồi.
Trời lạnh mỗi lúc một dữ dội. Tay vẫn làm việc mà mấy ngón tay đã tê cóng trong đôi bao tay cà tàng. Và cái lạnh đã luồn được vào bốt bên trái rồi. Thịch-thịch – Sukhov dậm nó xuống sàn, thịch – thịch.
Anh không phải cúi xuống để xây nữa, song vẫn cứ phải cúi sụn cả lưng để nhặt từng viên gạch và xúc từng bay vữa.
– Các cậu ơi, các cậu ơi,- anh gọi mấy người khiêng vữa. – Các cậu đặt giúp gạch lên tường hộ tôi với
Ông trung tá sẵn lòng làm việc đó, song không còn sức. Ông chưa quen với loại công việc này. Aliosa đồng ý:
– Được rồi, Ivan Denisovich, đặt ở đâu, chỉ cho tôi.
Aliosa không biết từ chối bất cứ lời yêu cầu giúp đỡ nào. Giá mọi người trên đời này đều như thế nhỉ, và cả Sukhov nữa, cũng như thế. Nếu có ai cầu xin giúp đỡ, tại sao lại không giúp anh ta? Mấy anh chàng Tẩy lễ này nói cũng phải.
Khắp công trường, cho tới tận nhà máy điện, tiếng còi báo nghỉ vọng tới rõ mồn một. Trộn nhiều vữa mất rồi. Đấy, cố lắm vào!…
– Chuyển vữa lên đây, chuyển nhanh lên! – Đội trưởng la lên.
Ở dưới lại vừa mới trộn thêm một thùng vữa mới! bây giờ thì chỉ còn nước xây thôi, chả còn cách nào khác. Nếu không vét cho sạch thì ngày mai vữa sẽ đóng lại trong thùng cứng như sắt, có lấy cuốc chim bổ cũng chẳng ra.
– Nào anh em, làm tiếp đi, cố lên! – Sukhov hò hét.
Kildigs bắt đầu bực mình. Hắn không thích kiểu làm ồ ạt. Ở Litva, nghe nói, người ta làm việc từ tốn lắm, nhưng mà ai cũng giàu. Bây giờ anh cũng phải rán sức, còn biết làm sao được.
Pavlo từ dưới chạy lên, bắt tay khiêng vữa và cầm theo bay. Hắn lên giúp mọi người xây cho nhanh. Thế là có năm tay bay.
Bây giờ vấn đề là phải xây cho kịp những chỗ tiếp giáp! Sukhov trước đó đã tia những viên gạch vừa với những chỗ nối đó. Anh quẳng cái búa cho Aliosa:
– Này, đập hộ tôi! Đập đi!
Làm vội thì chẳng bao giờ có thể tốt được. Bây giờ, khi mọi người xây vội xây vàng, thì Sukhov làm chậm lại và ngắm kĩ bức tường. Anh đẩy Senka sang bên trái, bản thân đứng vào chỗ góc chính. Lúc này, nếu như bỏ qua, hay làm hỏng cái góc tường, thì ngày mai sẽ mất cả buổi để mà sửa.
– Hượm đã! – Anh giật vội viên gạch từ tay Pavlo, tự mình sửa lại cho nó ngay ngắn. Từ chỗ góc tường anh nhìn thấy chỗ Senka xây bị võng xuống. Anh chạy vội tới sửa lại hai viên gạch.
Ông trung tá ì ạch khiêng vữa như một con ngựa thồ già chăm chỉ.
– Còn hai máng nữa! – ông hô lên.
Trung tá hầu như không còn đứng vững, song vẫn gắng sức. Sukhov đã từng có một con ngựa già như thế trước khi gia nhập nông trang. Anh chăm sóc nó kĩ lắm, nhưng khi rơi vào tay những người khác nó đã chết rất nhanh và người ta lột lấy da nó.
Mặt trời đã lặn xuống mặt đất chỉ còn chút đỉnh phía trên. Bây giờ thì không cần Gopchik thông báo mọi người đều đã nhìn thấy, chẳng những tất cả các đội đã trả dụng cụ, mà phạm còn đang xô đẩy nhau đến chỗ trạm gác. (Sau kẻng báo nghỉ chẳng có ma nào ra bên ngoài ngay, hoạ có điên mà đứng lởn vởn chết rét ở đó. Họ ngồi lại trong nhà cho ấm. Các đội trưởng đã thoả thuận với nhau vào đúng một lúc tất cả các đội cùng ùa ra. Nếu không thoả thuận như vậy, thì tù nhân là loại người chây lì, chúng ngồi đợi nhau trong nhà có mà đến đêm).
Lúc ấy Turin mới tỉnh ra. Hắn thấy đội mình bị chậm mất rồi. Thằng cha giữ kho dụng cụ chắc lúc này đang réo ông bà ông vải hắn ra mà chửi.
– Ê! – hắn hô to, – không tiếc đống cứt nhão đó nữa – đem đến chỗ cái hố kia kìa, đổ xuống đó rồi lấp tuyết lên trên để không ai nhìn thấy! Còn Pavlo thu tất cả dụng cụ lại đem trả nhà kho. Tôi sẽ bảo Gopchik đem ba cái bay tới sau, bây giờ còn phải xây nốt hai máng vữa này đã.
Mấy người nhẩy xổ tới giật lấy cái búa ở tay Sukhov, tháo giây dọi. Đám khiêng vữa, đám khuân gạch chạy sạch xuống chỗ nhào vữa ở phía dưới, ở trên này chẳng còn việc gì cho họ làm. Chỉ còn lại có ba tay thợ nề – Kildigs, Klevsin và Sukhov. Đội trưởng đi quanh ngắm nghía chỗ tường đã xây. Hắn hài lòng ra mặt.
– Làm tốt đấy chứ, hả? Có mỗi một buổi chiều. Mà không có trục kéo với máy nâng đấy nhá.
Sukhov nhìn thấy trong máng của Kildigs còn ít vữa. Anh lo Turin sẽ bị lôi thôi to ở kho trả dụng cụ nếu không trả kịp mấy cái bay này.
– Nghe này, mấy cậu, – Sukhov nói, – các cậu đưa bay cho Gopchik để nó mang trả, còn cái của tớ thuổng được không cần phải trả, tớ sẽ xây nốt cho.
Đội trưởng cười phá lên:
– Làm sao có thể thả cậu ra được đây? Không có cậu nhà tù phát khóc lên mất!
Sukhov cũng cười và tiếp tục xây.
Kildigs đi trả bay. Senka thì đưa gạch cho Sukhov, những người khác trút nốt chỗ vữa trong máng của Kildigs vào máng của anh.
Gopchik chạy băng qua công trường tới kho dụng cụ, bắt kịp Pavlo. Đội 104 cũng tự mình băng qua công trường, tiến tới trạm gác cổng không cần đội trưởng đi cùng. Đội trưởng to thật đấy, song lính áp tải còn to hơn. Chúng mà ghi anh tới trễ thì dám được vào nhà đá lắm. Phạm đứng đông đặc ở cạnh trạm gác. Tất cả đã tập hợp. Chắc lính áp tải bắt đầu đếm tù rồi.
Khi tù ra về họ đếm hai lần. Lần đầu đếm khi các cổng còn đóng để xem đã có thể mở cổng được chưa. Lần thứ hai đếm khi tù đi qua cổng. Nếu có vấn đề gì thì họ lại đếm lại ở bên ngoài cổng.
– Thôi vứt mẹ chỗ vữa ấy đi! – Đội trưởng phẩy tay, – hất qua tường ấy!
– Đi đi, đội trưởng, đi đi, ở đó cần cậu hơn! (Lúc bình thường Sukhov luôn gọi đội trưởng một cách kính trọng, bằng họ tên cẩn thận – Andrei Prokofievich, nhưng bây giờ, trong công việc, anh cảm thấy mình bình đẳng với đội trưởng. Anh không nghĩ cụ thể: “Xem đấy, tớ đâu có thua kém gì cậu”, mà chỉ cảm nhận vậy thôi). Và anh nói với theo người đội trưởng đang sải những bước chân vội vã xuống cầu thang, giọng đùa cợt: – Chó má thế chứ, ngày làm việc sao lại ngắn tun tủn vậy? Vừa mới vác mặt đến đã bị lôi ngay về!
Chỉ còn lại anh với gã điếc. Với thằng cha này chẳng thể nói nhiều được. Vả lại, cần gì phải nói, hắn tinh hơn tất cả mọi người, chả cần nói cũng hiểu.
Vỗ vữa vào! Ấn gạch xuống! Áp mạnh vào! Kiểm tra lại đi. Vữa. Gạch. Vữa. Gạch…
Hình như đội trưởng ra lệnh không cần tiếc, hất vữa qua tường rồi phắn cho nhanh. Nhưng con người Sukhov, về mặt này, có hơi bị lẩn thẩn. Không thể nào bắt anh chừa được cái thói tiếc công, tiếc của, nhìn thấy sự phí phạm là anh chịu không được.
Vữa! Gạch! Vữa! Gạch!
– Xong! Mẹ cha nó, chân với chả cẳng! – Senka reo lên. – Chuồn thôi!
Hắn vớ lấy cái máng vữa rồi chạy thẳng xuống cầu thang.
Còn Sukhov, dù bây giờ lính canh có suỵt chó cắn, cũng mặc. Anh chạy lùi ra xa ngắm nghía bức tường. Đâu có dở. Lại chạy tới gần nhìn suốt bức tường từ trái sang phải. Ê, mắt mình như cái ống thuỷ chuẩn! Rõ phẳng lì! Tay mình còn xài được!
Rồi anh chạy xuống thang.
Senka đã nhào ra khỏi chỗ trộn vữa. Ra đến ngoài còn ngoái lại cổ lại gọi:
– Nhanh lên! Nhanh lên!
– Đi trước đi, tớ ra ngay bây giờ đây. – Sukhov giơ tay xua hắn.
Rồi anh đi vào trong chỗ trộn vữa. Đâu có thể vứt bừa cái bay như thế được. Có thể ngày mai anh không làm việc này nữa. Hoặc cũng có thể người ta sẽ phân đội 104 sẽ đến Khu Dịch Xã trong sáu tháng tới. Chả nhẽ để mất chiếc bay? Muộn thì cũng đã muộn mẹ nó rồi!
Trong khoang trộn tất cả các lò đều đã tắt. Tối om. Sợ thật. Sợ không phải vì tối, mà vì tất cả đều đã đi hết, chỉ còn thiếu mỗi mình anh, lính canh sẽ tẩn cho mà xem.
Nhưng gì thì gì anh vẫn cứ sờ soạng cho tới khi bắt gặp một tảng đá to ở một góc, anh liền lật nó lên, để cái bay xuống dưới và đậy nó lại. Thế là xong!
Bây giờ thì phải đuổi cho kịp Senka. Nhưng Senka mới đi được trăm bước. Hắn đã đứng lại đợi anh. Không bao giờ Klevsin bỏ anh em trong cơn hoạn nạn. Có tội thì cùng chịu.
Cả hai cùng chạy, một to, một nhỏ. Senka cao hơn Sukhov nửa cái đầu, mà cái đầu thằng cha này mới to kì quặc làm sao.
Có những hạng người vô công rồi nghề thế chứ, chả ai bắt cũng lôi nhau ra sân vận động huỳnh huỵch chạy đua với nhau. Cứ thử cho mấy thằng quỷ đó chạy như thế này sau một ngày làm việc tối mắt tối mũi, không có lúc nào mà vặn cái lưng, găng thì ướt sũng, ủng thì tã nát – lại còn cái lạnh chó má này nữa.
Họ chạy như điên, thở hồng hộc.
Không sao, đội trưởng đang ở trạm gác, chắc hắn đang tìm cách giải thích.
Hai người chạy thẳng tới chỗ đám đông, hoảng hốt. Cả trăm giọng đồng thanh nhao nhao, thôi thì đủ cả: đ… con mẹ mày, thằng bố mày, đ… vào mồm, vào mũi, vào mép. Thật khủng khiếp khi cả năm trăm con người cùng hét vào mặt anh. Song còn khủng khiếp hơn khi không biết bọn lính canh sẽ làm gì anh đây.
Nhưng bọn lính chẳng làm gì cả. Đội trưởng ở đây, đứng ở hàng cuối, có nghĩa hắn đã giải thích với bọn lính và đã nhận lỗi về mình.
Còn anh em thì vẫn la hét, anh em vẫn cứ nhao nhao! Họ la hét đến nỗi điếc như Senka cũng nghe thấy. Và hắn nổi sùng, nhảy dựng lên, chửi bới lại. Cả đời im lặng, bây giờ nổi đoá lên, giơ nắm đấm, nhảy bổ vào tay bo. Đám đông im bặt. Có vài người cười.
– Ê, một lẻ bốn! Cánh tớ lại tưởng cha này của các cậu điếc chứ lại. – Họ la lên, – cánh tớ kiểm tra thử hắn đấy.
Tất cả cười hô hố. Cả bọn lính canh cũng cười.
– Xếp thành hàng năm!
Họ chưa mở cổng vội. Còn chưa được tự tin. Họ xô đám đông lùi lại. (Tất cả cùng bám vào cổng, ngu thế chứ, cứ tưởng làm thế sẽ được ra sớm hơn)
– Xế-p h-à-n-g n-ă-m! Một! Hai! Ba!…
Khi nhận được lệnh, tù nhân rục rịch xếp hàng năm, mỗi lượt nhích lên được vài mét.
Sukhov đã lấy lại hơi, ngửng mặt nhìn trời. Cha mẹ ơi, trăng kìa, trăng đã lên cao, cái mặt đỏ bầm cau có. Hình như đã vào hạ tuần. Hôm qua, bằng tầm này, nó còn ở cao hơn.
Sukhov mừng húm vì mọi chuyện đã chót lọt, anh huých vào mạng sườn ông trung tá, trêu chọc:
– Nghe này, trung tá, theo khoa học nhà các anh, trăng già rồi nó sẽ đi đâu?
– Đi đâu là thế nào? Rõ đồ ngu! Đơn giản là nó không hiện rõ nữa!
Sukhov lắc đầu, cười:
– Nếu không rõ thì tại sao anh lại biết nó đang có?
– Thế theo anh, – trung tá ngạc nhiên, – cứ mỗi tháng lại có một trăng mới?
– Ơ kìa, có gì là lạ nào? Ngày nào cũng có người sinh ra, thì tại sao bốn tuần lại không có một ông trăng mới?
– Phù! – trung tá nhổ toẹt một cái. – Tôi chưa từng gặp một thằng lính thuỷ nào ngu như thế này. Thế theo anh, mấy ông trăng già đi đâu?
– Thì đó là cái tôi muốn hỏi anh đấy – trăng biến đi đâu? – Sukhov cười hở mấy chiếc răng, – nào, biến đi đâu, hả?
Sukhov thở dài và thều thào bằng cái giọng tức cười của anh:
– Chỗ chúng tôi người ta thường bảo: Chúa trời đập vỡ trăng già thành nhiều ngôi sao.
– Rõ đồ mông muội! – trung tá bật cười. – Tôi chưa nghe ai nói thế bao giờ. Thế anh tin có Chúa trời chứ, Sukhov?
– Sao lại không? – Sukhov ngạc nhiên. – Một khi sấm nổ đùng đùng, có mà không tin được khối!
– Thế Chúa trời làm thế để làm gì?
– Làm cái gì?
– Thì đập vỡ trăng để làm những ngôi sao ấy – để làm gì?
– Có gì mà không hiểu nhỉ, – Sukhov nhún vai. – Các ngôi sao cứ rụng luôn luôn, phải có sao mới để mà bổ sung chứ.
– Quay lại, mẹ chúng mày… – Lính canh gào lên. – Sắp hàng lại!
Chúng đã đếm đến họ. Trước đấy toán năm người thứ mười hai vừa mới đi qua, cuối hàng còn lại có hai mống, Sukhov và trung tá.
Đám lính canh lo lắng ngó vào tấm bảng ghi danh sách tù. Không đủ! Lại thiếu mất rồi! Đến đếm chúng còn không biết nữa, lũ chó!
Chúng đếm được bốn trăm sáu mươi hai, phải là bốn trăm sáu mươi ba mới đúng.
Lại một lần nữa đoàn người bị đẩy ngược trở lại (họ lại bám vào cổng) – Và lại bắt đầu từ đầu:
– X-ế -p h-à-n-g n-ă-m! Một! Hai!
Cái khốn nạn nhất của việc đếm lại như thế này là thời giờ của anh em, chứ không phải của chúng, bị mất.
Đây vẫn là thảo nguyên, từ đây lần được về đến trại lại còn bị chúng bắt xếp hàng để lục soát trước khi cho vào nữa chứ. Từ tất cả các công trường anh em thi nhau chạy, cố gắng vượt lên trước để cho chúng khám xét sớm mà vào trại. Đội nào vào được trước tiên, thì đội ấy là bố tướng: nhà ăn đợi anh, anh sẽ là người đầu tiên được lĩnh đồ tiếp tế, là người đầu tiên ở chỗ gửi đồ, vào nhà bếp trước để lấy đồ ăn đã nhờ nấu từ sáng, lên Ban Văn Hoá Giáo Dục để lấy thư nhà hay đến chỗ mấy ông kiểm duyệt thư từ để nộp thư gửi về nhà, tạt vào trạm xá hay đến chỗ hớt tóc, đi nhà tắm, có nghĩa ở đâu anh cũng là người đến trước tiên.
Cũng có khi bọn lính áp tải muốn nộp tù cho nhanh để còn về trại của mình. Lính tráng đâu có được chơi bời gì, công việc thì nhiều mà thời giờ lại ít.
Chúng lại đếm nhầm rồi.
Nhóm năm người cuối cùng vừa đi qua, theo như Sukhov tính thì hàng còn lại phải có ba người, đằng này không, vẫn chỉ có hai. Mấy tên đếm vội cầm bảng danh sách chạy tới chỗ viên trưởng toán áp tải.
Viên trưởng toán hô:
– Đội trưởng đội 104!
Turin bước ra khỏi hàng:
– Có.
– Đội của anh có còn ai ở lại nhà máy điện không? Nghĩ đi.
– Không.
– Nghĩ kĩ xem, không tôi bửa đầu ra đấy.
– Không còn ai, thưa chính xác ạ.
Nói thế nhưng hắn vẫn đưa mắt nhìn Pavlo – liệu có thằng cha nào ngủ quên ở chỗ trộn vữa không nhỉ?
– X-ế-p h-à-n-g theo đội! – Viên trưởng toán hô.
Nếu xếp hàng theo nhóm năm thì bạ với ai xếp cùng cũng được. Bây giờ, thôi thì xô đẩy, chen lấn và la hét. Chỗ thì : “Đội 76 đâu, theo tôi’, chỗ thì: “Đội 13! lại đây!”, chỗ thì: “32 đâu, ra đằng này!”.
Đội 104 đến sau cùng phải tập hợp ở đằng sau. Và Sukhov nhìn thấy anh em trong đội mình đều tay không. Mải làm quá họ chẳng nhặt nhạnh được tí củi nào. Chỉ có hai người được vài bó nhỏ.
Ngày nào cũng vẫn trò đó: trước khi có hiệu còi nghỉ, anh em phạm tranh thủ nhặt các mẩu gỗ vụn, que hoặc nẹp gẫy, lấy giẻ rách hoặc thừng cũ buộc lại mang về trại. Mất mát đầu tiên ở chỗ trạm gác, nếu có viên giám công hay tên quản công nào đó đứng đấy, chúng bắt anh em ném hết xuống đất (hàng triệu rúp đã bị tiêu tan trong các ống khói và bây giờ chúng cho rằng có thể tịch thu những mẩu gỗ vụn này để bù vào đó). Còn anh em thì lại có cách tính toán của mình: mỗi người trong đội mang về được dù chỉ một cái que nhỏ thì phòng của mình sẽ được ấm hơn một chút. Chứ không bọn cần vụ chỉ cho lĩnh có năm ki lô than cám cho mỗi một lò sưởi, ấm thế chó nào được. Chính vì thế anh em mới nghĩ ra cách bẻ ngắn, cưa vụn gỗ ra, đút vào túi và qua mặt được giám công.
Ở đây lính áp tải không bao giờ bắt anh em ném củi xuống đất, là vì họ cũng cần củi, song lại không được mang theo. Phần vì mặc quân phục không được phép vác củi, phần tay còn bận ôm tiểu liên bắn tù nhân nếu cần. Nhưng khi đưa tù về tới trại, lập tức họ ra lệnh: “từ hàng này đến hàng này vứt củi ra chỗ này!”. Nhưng họ vặt của tù một cách cao thượng: cũng còn phải chừa lại một ít cho giám thị, một ít cho tù nhân, chứ không sẽ chẳng còn mống nào kiếm củi mang về nữa.
Cho nên mới xảy ra cái tình huống: ngày nào người tù cũng lượm củi, nhưng chẳng ai biết khi nào thì mang được về trót lọt, khi nào bị trấn.
Trong khi Sukhov ngó nghiêng xem có gì để nhặt nhạnh hay không, thì đội trưởng đã kiểm xong quân số đội mình và hô lớn:
– Một trăm linh bốn, đủ!
Cả Sezar cũng đã tách khỏi đám người văn phòng có mặt ở đội. Đốm lửa trên tẩu thuốc của hắn lập loè cháy đỏ, còn bộ ria hắn trắng xoá sương chiều. Hắn hỏi:
– Công việc thế nào, ông trung tá?
Kẻ được sưởi ấm hiểu sao được người đang chết rét. Một câu hỏi đãi bôi – công việc thế nào?
– Thế nào á? – Trung tá nhún vai. – Thì đấy, tôi làm sụm cả lưng, đến đứng thẳng lên còn khó đây này.
Nói thế, song ý ông muốn bảo: mày cũng phải đoán ra là bố mày đang thèm thuốc mà cho bố mày một điếu chứ.
Sezar biếu ông một điếu. Trong đội chỉ ông trung tá là người mà Sezar muốn kết thân, còn thì chả có người nào để hắn có thể dốc bầu tâm sự.
– Đội 32 thiếu một người! Đội 32! – Tất cả ầm ầm lên.
Đội phó đội 32 cùng một thanh niên nữa phóng tới xưởng sửa chữa ô tô để tìm. Còn trong các hàng tù những câu hỏi vang lên: ai thế nhỉ? Xẩy ra chuyện gì vậy? Và rồi đến tai Sukhov: thiếu mất một thằng cha người Mondavi nhỏ con, đen đúa. Thằng Mondavi nào nhỉ? Chẳng lẽ là cái thằng mà người ta bảo là gián điệp cho bọn Rumani, gián điệp thật?
Gián điệp thì đội nào chả có năm sáu mống, song toàn gián điệp đểu. Hồ sơ thì ghi là gián điệp, nhưng trên thực tế đó chỉ là những tù binh bình thường. Sukhov cũng thuộc loại gián điệp này.
Nhưng tên Mondavi nghe nói gián điệp thật.
Viên trường toán nhìn vào bảng danh sách, mặt xám xịt. Nếu một tên gián điệp mà trốn thoát, thì hắn – trưởng toán, sẽ ra sao đây?
Còn đám đông và cả Sukhov thì nổi điên lên. Nó là cái thá gì cơ chứ, đồ chó đẻ, quân sâu bọ, đồ mạt hạng, nó rúc vào cái mả mẹ nào để cho các bố nó phải chờ thế này? Trời tối rồi, trăng lên rồi, sao mọc rồi, còn thằng chó này vẫn không có mặt. Mẹ nó chứ, chắc nó thấy làm chưa đã? Ngày làm việc quá ngắn, có mỗi mười một tiếng đồng hồ, từ lúc nhá nhem sáng tới lúc xâm xẩm tối? Cứ đợi đấy, ông toà án ông ấy lại bồi thêm một hạn nữa để được làm khổ sai cho sướng.
Cả Sukhov cũng thấy lạ, chẳng hiểu sao lại có giống người cứ cắm đầu mà làm không biết gì đến kẻng đến còi nghỉ nhỉ. Anh quên mất rằng chỉ vừa mới rồi anh cũng làm việc như thế, và còn thấy bực mình vì người ta tập hợp ở trạm gác để ra về sớm quá. Bây giờ anh đứng chết cóng ở ngoài trời cùng mọi người, cùng chửi bới với họ và có cảm giác, nếu thằng Mondavi bắt họ chờ thêm một tiếng nữa, và nếu lính áp tải trả nó cho họ, thì lập tức họ sẽ xé xác thằng này, như chó sói xé xác cừu non cho coi!
Mọi người đã thấm lạnh, không một ai có thể đứng yên, người thì dậm chân tại chỗ, kẻ thì bước lên hai bước rồi lại lùi xuống hai bước.
Mọi người bàn tán – liệu thằng Mondavi ấy có chạy trốn không nhỉ? Nếu ban ngày mà trốn may còn không sao, chứ mà đợi cho bọn lính rời tháp canh thì còn lâu con ạ. Họ sẽ tìm, không thấy vết chân để lại ở chỗ rào kẽm gai chứng tỏ có người trốn ở đó, thì họ sẽ sới tung toàn khu lên trong ba ngày và ba ngày lính canh không được rời chỗ. Thậm chí cả tuần. Lệnh ấy đã ban bố, ai tù lâu, kẻ ấy biết. Mà nói chung, tù chạy thoát thì lính áp tải cũng rồi đời, cho nên họ sẽ truy lùng đến cùng, bỏ ăn, bỏ ngủ. Đôi khi việc tìm kiếm kéo dài làm họ cáu tiết, và kẻ mà họ tóm được cũng chẳng thể sống sót mà trở về. Họ bắn bỏ ngay tại chỗ.
Sezar đang thuyết phục ông trung tá:
– Chẳng hạn, anh còn nhớ cảnh những cặp mắt kính treo trên cột buồm chứ?(14)
– Ờ… – ông trung tá đang hút điếu thuốc của Sezar cho.
– Hay cảnh cái xe nôi trẻ con lăn trên bậc thang, lăn từ từ, từ từ.
– Ờ… nhưng đời sống hải quân trong phim cứ như thể trên sân khấu rối ấy.
– Ông cũng thấy đấy, chúng ta hư hỏng vì các kĩ xảo quay hiện đại…
– Đám sỹ quan mười người như một, rặt tuồng hư hỏng…
– Thì hoàn cảnh lịch sử nó thế mà!
– Thế thì ai là người dẫn dắt họ tới cuộc chiến đấu?… Với lại cảnh những con giòi trong những miếng thịt nom kinh chết đi được. Giòi gì mà to như giun đất lúc trời mưa. Chẳng nhẽ tất cả những cái đó đều có thật?
– Nhưng các phương tiện điện ảnh làm sao quay được những vật nhỏ hơn thế được.
– Tôi lại nghĩ, giá mang cái thứ thịt ấy vào trong trại, bỏ vào nồi thay cho món cá thối nhỉ, có khi chúng mình…
– A a a! – đoàn tù gầm lên. – U u u!
Họ nhìn thấy từ trong xưởng sửa chữa ô tô có ba người bước ra, có nghĩa đã tìm được tên Mondavi.
– Ê ê ê! – đám đông đứng gần cổng la ó, chửi bới.
Khi ba người này chạy tới gần, thì:
– Đồ mắc dịch! Đồ súc vật! Đồ chó đẻ! Đồ cứt đái, đồ ăn hại, đái nát!
Sukhov cũng hùa vào, hét tướng lên:
– Đồ thổ tả!
Lấy mất hơn nửa giờ đồng hồ của năm trăm con người, đâu phải chuyện đùa!
Tên Modavi chạy tới, mặt cúi gằm, người trông như con chuột nhắt.
– Đứng lại! – tên lính áp tải hô to. Và hắn ghi lại: – K-460. Anh đi đâu nãy giờ?
Và hắn tiến lại gần, quay báng súng về phía tên Mondavi.
Từ đám đông một số người vẫn chửi tiếp:
– Đồ vô lại, thằng con hoang, quân khốn kiếp!
Những người khác trông thấy tên trung sĩ quay báng súng, thì vội im bặt.
Thằng Mondavi cúi gằm mặt, không nói năng gì và bước lùi lại trước mặt tên trung sĩ. Đội phó đội 32 tiến lên trước nó, nói:
– Thằng khốn nạn leo lên cái giá trát trần nhà để trốn tôi, thấy ấm quá lăn ra ngủ!
Nói rồi táng luôn một quả vào gáy thằng Mondavi.
Bằng quả đấm ấy hắn ẩy được tên Mondavi ra khỏi viên trung sĩ.
Tên Mondavi đang lảo đảo thì một phạm người Hung xông lên cũng từ đội 32, lấy chân đá vào đít hắn (người Hung không khoái dân Rumani lắm).
Việc này còn khổ nhục hơn làm gián điệp nhiều con ạ. Gián điệp thì thằng óc bã đậu nào chẳng làm được. Đời gián điệp sạch sẽ, vui vẻ, chứ cứ thử mươi năm trong trại tù khổ sai này xem!
Tên lính áp tải hạ súng xuống, viên trưởng toán gào lên:
– Lùi khỏi cổng! X-ế-p h-à-ng năm!
Bọn chó, lại đếm! Còn đếm gì nữa nhỉ? Không đếm cũng đã rõ rồi còn gì. Đoàn tù làm ầm lên. Bây giờ họ đã quên hẳn tên Mondavi, mọi tức giận trút hết lên đầu lính áp tải. Họ cũng chẳng thèm lùi ra khỏi cổng nữa.
– Thế là thế nào?! – Trưởng toán áp tải gào lên. – Muốn ngồi xuống tuyết hả? Tôi sẽ cho các anh ngồi và ngồi đến sáng.
Thằng cha này nói là làm. Đã bao lần chúng bắt anh em ngồi rồi. Thậm chí chúng còn bắt nằm xuống và chĩa súng vào mặt. Tất cả những chuyện đó anh em đều biết cả. Bởi thế họ bước nhích ra khỏi cổng một chút.
– Lùi xa ra! Lùi ra! – Tên lính áp tải giục giã.
– Ừ mà bám vào cổng để làm chó gì nhỉ, mấy thằng đầu đất? – Phạm ở các hàng cuối bắt đầu cáu phạm ở phía trên.
Bị lính canh và đám tù phía dưới làm găng, cuối cùng những người này đành phải giạt ra khỏi cổng.
– X-ế-p h-à-n-g n-ă-m! Một! hai! ba!
Trăng bây giờ mới thật tỏ. Nó toả sáng và không còn tím đỏ. Nó đang ở chót vót trên cao. Thế là mất mẹ nó buổi tối!… thằng Mondavi khốn nạn. Lính áp tải khốn nạn. Cuộc đời khốn nạn…
Những người ở phía trên sau khi đã được đếm, kiễng chân nhìn xuống hàng chót xem có ba người cuối cùng không. Cả cuộc đời của họ lúc này phụ thuộc vào điều đó.
Và Sukhov nhìn thấy, ở hàng chót không phải ba, mà là bốn người! Anh kinh hãi bủn rủn chân tay: dư ra một thằng! bây giờ chúng nó lại bắt xếp hàng đếm lại từ đầu! Hoá ra là thằng mót rác Fechiukov bỏ hàng của mình chạy tới chỗ ông trung tá để mót mẩu thuốc lá. Hắn không kịp chạy về chỗ, nên đành đứng đại vào hàng chót, cho nên mới có một người thừa ra.
Viên trưởng toán áp tải tức giận cho hắn một cái bạt tai.
Thế mới đúng!
Hàng chót có ba người. Mọi chuyện đã ổn thoả, lạy Chúa lòng lành!
– Lùi khỏi cổng! – Lính áp tải lại ra lệnh.
Song lần này đám tù nhân không làm ầm lên nữa, họ đã trông thấy lính ra khỏi trạm gác và đang bọc lấy khu vực ngoài cổng.
Như vậy là chúng sắp cho ra.
Chả thấy bóng dáng bọn lãnh công đâu, cả viên giám công nữa, chỉ thấy mấy đứa trẻ đang khuân củi.
Cổng bật mở, ở phía ngoài, cạnh các rào gỗ chắn ngang, viên trưởng toán áp tải cùng với tên kiểm soát viên làm nhiệm vụ đếm lại một lần nữa. Hắn gào to:
– Hàng một! hàng hai! hàng ba!
Lần này mà đếm đủ thì hắn sẽ cho bọn lính ở trên các tháp canh xuống.
Từ mấy cái tháp canh này lần về đến trại xa thấy mẹ! Ấy thế mà chúng cứ chờ cho tên tù cuối cùng ra khỏi cổng mới gọi dây nói cho bọn lính canh xuống. Gặp tên trưởng toán sáng dạ một tí thì hắn giải anh em về ngay, vì biết rằng họ có trốn đằng trời, còn bọn lính canh thể nào chẳng đuổi kịp. Nhưng nếu gặp phải thẳng đầu đất, thì hắn bắt cả đoàn phải chờ đến cùng, vì hắn sợ có ít lính để đối phó với tù. Hôm nay gặp phải một thằng như vậy. Thế là phải chờ.
Suốt ngày ở ngoài trời băng giá, những người tù chỉ còn nước chết vì lạnh. Chờ cho mọi chuyện được giải quyết, họ đã phải đứng chịu trận cả một tiếng đồng hồ. Song điều làm họ bực mình chẳng phải vì cái lạnh, mà vì buổi tối với bao nhiêu việc định làm, đã bị mất mất rồi.
– Trung tá, sao ông biết nhiều thế về đời sống của hải quân Anh? – Những người đứng trong nhóm năm người bên cạnh hỏi Buinovski.
– À, chả là tôi tôi đã sống gần cả tháng trời trên một tuần dương hạm của Anh quốc, có riêng một phòng ở đó. Khi ấy tôi là sĩ quan liên lạc trong đoàn hộ tống.
– Ra thế! Thế cũng đủ để họ táng cho anh hai mươi nhăm năm tù.
– Không phải, các anh không biết đấy thôi, tôi đâu có theo thuyết tự do phê phán tư tưởng của họ. Đấy là do tôi đưa ra những ý kiến xác đáng về luật pháp nước ta.
(Rõ đồ ngu, Sukhov nghĩ bụng, nhưng không nói ra lời. Thằng Senka Klevsin kia sống với người Mỹ có hai ngày mà họ còn ấn cho những bốn năm, lão sống cả tháng trời trên tầu của họ, thì không biết sẽ phải ở trong trại bao nhiêu năm đây?).
– Thế rồi sau chiến tranh có một ông đô đốc hải quân Anh ma xui quỷ khiến thế nào lại gửi cho tôi một món quà nhỏ làm kỉ niệm, đề dòng chữ “Để tỏ lòng biết ơn”. Tôi hoảng hồn, chửi um lên…
Thật lạ lùng, thật lạ lùng khi ngắm nhìn cảnh tượng: một vùng thảo nguyên mênh mông trần trụi, cả một khu vực bị bỏ hoang, tuyết lấp lánh dưới ánh trăng. Đám lính áp tải đã đứng vào vị trí – mỗi tên cách nhau mười bước. Đứng kia là một bầy tù đen ngòm, và cũng mặc áo bông đen như những tù nhân khác là S – 311, cái con người trước đây đã từng mặc lễ phục trắng có gù vai kim tuyến và từng giao du với một ông đô đốc hải quân Ăng lê. Thế mà bây giờ ông ta phải khiêng vữa với Fechiukov.
Mới biết, con người ta, lúc lên voi, lúc xuống chó…
Đoàn áp tải đã sẵn sàng. Không cần giáo đầu, trưởng toán lính áp tải cứ thế hô luôn:
– Bước đều, bước! Rảo chân lên!
Bây giờ thì kệ mẹ chúng mày – rảo chân! Đứng bét tĩ thế này các bố đây đếch cần phải vội nữa. Đám tù, chẳng cần nói cũng hiểu nhau: tụi bay bắt chúng tao chờ, bây giờ đến lượt bọn tao bắt chúng bay phải chờ. Bọn bay chắc cũng cần sưởi ấm lắm chứ.
– Dồn bước lên! – Viên trưởng toán quát to. – Dồn bước, hàng đầu dồn bước lên!
Mẹ mày, đợi đấy mà “dồn bước”! Đoàn tù đi chậm chạp, đầu gục xuống như đi đưa đám. Bọn ta bây giờ chẳng còn gì để mà mất, đằng nào thì cũng về trại sau cùng. Chúng bay đã không chơi đẹp với tụi tao, thì bây giờ tha hồ rát cổ bỏng họng.
Viên trưởng toán tiếp tục hò hét, nhưng hắn cũng biết là vô ích: bọn tù không chịu đi nhanh. Mà bắn chúng cũng không được, là vì chúng vẫn giữ đúng luật, đi theo hàng. Lại chẳng có cái luật nào bắt tù phải đi nhanh cả. (Buổi sáng điều giúp tù nhân sống được, ấy là trên đường tới chỗ làm họ đi rất chậm. Tên nào đi nhanh thì khó mà sống nổi cho tới lúc mãn hạn. Đi nhanh người sẽ nóng lên quá mức và như thế sẽ chẳng thọ được bao lâu).
Và thế là họ cứ chậm rãi bước đều. Tiếng ủng dẵm tuyết nghe rào rạo. Người thì khẽ nói chuyện, kẻ im lặng. Sukhov cố nghĩ xem buổi sáng mình còn chưa kịp làm việc gì ở trại. Cuối cùng anh nghĩ ra – trạm xá. Thật buồn cười, trong khi làm việc anh hoàn toàn chẳng còn nhớ tới nó nữa. Giờ này trạm xá bắt đầu khám bệnh. Mình sẽ kịp, nếu bỏ bữa tối. Nhưng bây giờ có vẻ như không còn nhức mỏi nữa. Và nhiệt độ xem ra cũng không cao… đến trạm xá chỉ tổ phí thời gian. Chả cần tới lũ lang băm ấy bệnh cũng tự khỏi. Loại ấy mà chữa chỉ tổ mặc áo sáu tấm sớm.
Trạm xá bây giờ không lôi cuốn anh nữa. Điều anh quan tâm là kiếm thêm cái gì cho bữa tối. Toàn bộ hi vọng của anh đặt vào gói đồ tiếp tế mà Sezar nhận tối nay. Đã lâu hắn chưa nhận được gói nào.
Hàng lối của đoàn tù bất thình lình thay đổi. Như một đợt sóng ập tới làm loạn hết nhịp bước, đoàn người chồm về phía trước và tất cả cùng la hét, kêu gào ầm ĩ. Cái đuôi của nó – hàng chót năm người, trong đó có Sukhov, không đi bình thường được nữa, mà phải chạy gằn mới kịp những người đi trước. Đi được vài bước, lại chạy. Mãi tới khi đoàn người vượt qua khỏi quả đồi Sukhov mới vỡ lẽ: bên trái họ, ở mãi tít trong thảo nguyên, một đoàn người làm thành một dòng đen sẫm đang tiến tới cắt ngang đoàn của anh. Nghe chừng họ cũng nhìn thấy đoàn anh nên cũng rảo cẳng chạy.
Chắc là bọn bên xưởng cơ khí. Ở đó có khoảng ba trăm phạm. Hoá ra chúng cũng bị giữ lại. Nhưng bị giữ lại vì chuyện gì nhỉ? Đôi khi vì phải làm cho xong cái máy này, máy nọ. Nhưng cánh bên ấy vẫn còn xôm chán, chúng làm việc trong nhà nên được ấm cả ngày.
Nào, bây giờ thì ai thắng ai đây! Anh em bắt đầu chạy, cố gắng guồng cho nhanh. Bọn lính áp tải cũng chạy theo. Viên trưởng toán gào lên:
– Đừng có bỏ hàng ! Đằng sau chạy lên cho kịp! Nhập vào đoàn đi!
Ơ cái thằng này, không thấy người ta đang chạy hộc tiết ra đây à. Có im cái mồm đi không, chẳng lại cho một nhát vào mặt bây giờ, cạc cạc gì thế không biết? Tất cả mọi người lúc này đều đã quên mình nói gì, nghĩ gì, họ chỉ chú tâm tới mỗi một việc: phải vượt được bọn kia và về đến trại trước!
Mọi cái lộn tùng phèo hết cả lên, lúc này lính áp tải cùng về phe với phạm. Còn phe kia là cái đoàn tù đang rắp tâm vượt trước họ.
Mọi người lập tức trở nên vui vẻ, chan hoà. Những nỗi bực dọc, uất ức nguôi dần.
– Guồng lên, guồng lên! – cuối hàng giục đầu hàng.
Đoàn của ta đã tới được đầu phố, còn đoàn xưởng cơ khí khuất sau dãy nhà ở. Tuy không nhìn thấy nhau, song hai đối thủ vẫn tiếp tục cuộc đua. Chạy giữa phố đoàn ta có lợi thế hơn đối thủ. Đường bằng phẳng lính áp tải ở hai bên cũng đỡ bị vấp. Nhất định ta phải tới trước chúng!
Một lí do nữa khiến quân ta phải về trại sớm hơn bọn cơ khí, bởi vì bọn này bị khám đặc biệt kĩ. Kể từ cái vụ cắt đầu nhau trong trại, trại trưởng cho rằng chính bọn ở xưởng cơ khí đánh dao rồi tuồn vào trại. Bởi vậy lính canh khám rất kĩ rồi mới cho chúng vào trại. Cuối thu vừa rồi lạnh như thế, đất cứng cả lại, vậy mà họ vẫn quát chúng:
– Toán cơ khí, cởi ủng ra! Cầm ủng vào tay!
Thế là đám tù phải đứng chân trần cho họ khám xét. Bây giờ thời tiết băng giá, tụi lính khám theo xác suất:
– Nào, cởi chân phải ra! Còn anh kia – chân trái!
Tên tù cởi một bên ủng và cứ thế nhẩy lò cò một chân, dốc ngược chiếc ủng kia lên, tháo tung cả giẻ quấn chân cho bọn lính thấy là không có dao.
Sukhov nghe đồn, không biết có đúng hay không, rằng tù nhân bên xưởng cơ khí đã giấu dao trong cái hai cột bóng chuyền mà chúng khuân vào trại từ dạo hè – mỗi cột mười con. Cho đến giờ thỉnh thoảng người ta vẫn tìm thấy dao ở chỗ này chỗ nọ trong trại.
Họ rảo bước qua câu lạc bộ mới xây, dãy nhà ở, xưởng thợ mộc và xưởng chế biến gỗ, rẽ sang đường dẫn thẳng tới trạm gác của trại giam.
– Hu- gu -u! – cả đoàn tù nhất loạt hô vang.
Quân ta đã tới đích trước – đó là chỗ cắt nhau của hai con đường. Đám cơ khí bị tụt hậu mất khoảng trăm rưởi mét trên con đường mé phải.
Bây giờ anh em có thể đi thong thả. Ai cũng phấn khởi, hể hả. Sự hể hả của bầy thỏ: hoá ra vẫn còn có những con vật khác sợ ta.
Đến trại rồi. Buổi sáng như thế nào thì bây giờ vẫn như thế, vẫn trời tối đen, những ngọn đèn xung quanh hàng rào trại, đặc biệt ở chỗ trạm gác thì dầy đặc. Chỗ lục soát tù sáng trưng như ban ngày.
Nhưng anh em còn chưa đến được chỗ đó…
– Đứng lại! – Viên trưởng toán áp tải hô lên. Và sau khi đưa tiểu liên cho một tên lính, hắn chạy lại gần đoàn tù (có lệnh cấm không được mang súng lại gần tù). – Những ai mang củi đứng bên phải, vất ra đây!
Những người đứng phía ngoài chả muốn giấu làm gì, một bó, hai bó rồi ba bó bay trên không. Có vài người muốn tuồn bó của mình vào phía trong, song những người bên cạnh ngăn lại:
– Làm như thế nó lại lấy hết củi của mọi người bây giờ! Vất cho lẹ đi!
Kẻ thù chính của phạm là ai? Là phạm khác. Nếu các phạm không cạnh cựa lẫn nhau, thì các sếp trên khó có thể làm gì được họ.
– Đằng trước bước! – Viên trưởng toán hô to.
Đoàn tù bước về phía trạm gác.
Trạm gác nằm ở chỗ cắt nhau của năm con đường. Một tiếng trước ở đây đông nghẹt người của các đội tù khác từ chỗ làm việc trở về. Nếu những con đường này xây xong và trở thành phố, thì chỗ trạm gác và nơi khám xét tù sẽ trở thành quảng trường chính của thành phố. Bây giờ các đoàn tù đổ về giống khi ấy các đoàn diễu hành tiến tới quảng trường trong những ngày lễ hội.
Bọn giám thị đã có mặt ở trạm gác và đang sưởi. Họ bước ra và dừng lại, dàn hàng ngang trên đường.
– Mở áo bông ra! Mở áo trấn thủ ra!
Và những đôi tay bắt đầu làm việc. Trong khi lục soát, trông như giám thị đang ôm lấy tù, vỗ vỗ hai bên sườn họ. Giống y như cuộc khám xét ban sáng.
Bây giờ có cởi áo ra cũng cóc sợ, sắp về tới nhà rồi!
Tất cả mọi tù nhân đều nói như vậy – “về nhà”.
Cả ngày làm việc ngoài công trường làm gì có thời gian để mà nghĩ tới nhà khác.
Họ đang khám những người ở hàng đầu, Sukhov vội đi tới chỗ Sezar và nói với hắn:
– Sezar Markovich, khi nào khám xong tôi sẽ chạy ngay tới phòng nhận đồ để giữ chỗ cho anh nhé?
Sezar quay lại. Bộ ria đen rậm được cắt tỉa gọn của hắn trắng xoá phía dưới:
– Giữ chỗ làm gì hở Ivan Denisovich? Sợ hôm nay tôi không nhận được đồ.
– Không sao, cũng chẳng mất gì. Tôi sẽ đợi mười phút, nếu anh không tới thì tôi sẽ về phòng.
(Thực ra thì Sukhov nghĩ, cho dù Sezar không nhận được đồ, anh vẫn có thể bán chỗ cho người khác).
Rõ ràng Sezar cũng mệt mỏi vì ngóng đồ tiếp tế, hắn nói:
– Thôi được, Ivan Denisovich, anh chạy đi giữ chỗ. Anh cứ đợi mười phút, đừng lâu hơn.
Họ sắp soát tới nơi rồi. Hôm nay Sukhov không giấu gì trong người, nên anh chả có gì phải lo lắng. Anh ung dung cởi cúc áo bông, rồi áo trấn thủ, tháo chiếc thắt lưng bằng vải bạt. Mặc dù anh không giấu cái gì bị cấm trong người, song tám năm tù đã cho anh một thói quen cẩn trọng. Anh thọc tay vào cái túi ở đầu gối quần để biết chắc chắn là không có gì trong đó.
Song trong đó lại có mảnh dao anh nhặt được ở công trường. Cũng là tiếc của thì nhặt vậy thôi, chứ cũng chẳng có ý định mang về trại.
Anh không định mang nó về. Song bây giờ đã trót mang về, vất đi thì tiếc. Là vì có thể mài nó thành một con dao nhỏ dùng vào việc vá giầy hay cắt quần áo đều được.
Gía như anh chủ định mang nó về trại, thì anh đã cất giấu cẩn thận. Bây giờ, chỉ còn có hai hàng nữa, và hàng năm người đầu đã tách ra, bước tới chỗ khám xét.
Cần phải quyết định chớp nhoáng: hoặc là nấp sau toàn năm người đằng trước, ném mẹ mảnh dao xuống tuyết (tất nhiên chúng sẽ tìm thấy vì dấu vết in rõ trên tuyết, song sẽ không biết là của ai), hoặc là cứ liều mang theo người! Vì miếng sắt mẻ này có thể bị mười ngày trong nhà đá, nếu như chúng cứ nhất định bảo đó là dao.
Nhưng có một con dao nhỏ cắt quần áo anh có thể làm thuê, kiếm cho mình thêm chút bánh mì.
Vứt đi tiếc đứt ruột, Sukhov bèn nhét nó vào một chiếc bao tay bông.
Đúng lúc đó hàng năm người đứng trước anh được lệnh bước lên để khám xét. Dưới ánh đèn sáng trưng chỉ còn lại ba người: Senka, Sukhov và chàng trai ở đội 32 lúc nãy đi lùng tên Mondavi.
Chỉ còn ba người mà những năm tên giám thị, nên có thể giở trò láu cá: chọn một trong hai tên đứng ở bên phải. Sukhov không chọn thằng cha còn trẻ, mặt mũi hồng hào, mà chọn lão già có bộ ria muối tiêu. Tất nhiên lão già có kinh nghiệm hơn và dễ dàng tìm ra miếng thép, nếu lão muốn. Nhưng cũng chính vì già, làm cái nghề khám xét lâu năm, nên có thể lão đã chán ngấy.
Lúc đó Sukhov cởi cả hai bao tay, một bao giấu miếng thép, một bao không, nắm cả vào một tay (anh cố tình để chiếc bao không thò ra hơn một chút), tay kia anh cởi sợi giây thừng buộc áo, phanh rộng áo trấn thủ, vén vạt áo bông và áo trấn thủ lên cao (anh chưa bao giờ làm cái việc hạ mình như thế ở chỗ lục soát, song bây giờ anh muốn cho chúng thấy là anh chả có giấu cái gì trong người cả – này, nhìn đi!). Theo lệnh, anh bước tới chỗ lão già có bộ ria muối tiêu.
Lão giám thị ria muối tiêu vỗ khắp hai bên và lưng, nắn cái túi nơi đầu gối – không có gì, lần hai vạt áo bông và áo trấn thủ – cũng không có gì. Cho chắc hơn lão nắn cái bao tay mà Sukhov cố tình để chìa ra hơn – bao tay không. Trong khi lão giám thị nắn bao tay, thì Sukhov sợ thắt cả ruột cả gan. Chỉ cần lão nắn nốt cái bao thứ hai thì chỉ còn nước nằm nhà đá với ba trăm gam bánh mì một ngày và chỉ được ăn một bữa nóng vào ngày thứ ba. Ngay lập tức anh hình dung mình sẽ mình sẽ bị đói lả, bị kiệt sức như thế nào ở đó, sẽ khó khăn như thế nào để có thể trở về với cái trạng thái không đói, không no như hiện tại. Anh thầm cầu nguyện dồn dập, lộn xộn: “Lạy chúa, hãy cứu lấy con! Đừng để con phải vào nhà đá!”.
Tất cả những ý nghĩ vụt qua đầu Sukhov, trong khi lão giám thị đã nắn xong chiếc bao thứ nhất, đổi tay để nắn cái thứ hai (nếu Sukhov giữ mỗi bên tay một chiếc bao, thì chắc chắn lão sẽ nắn cả hai chiếc cùng lúc rồi). Nhưng ngay lúc đó viên trưởng giám thị – vì muốn cho chóng xong việc, hướng về phía bọn lính áp tải, hô to:
– Nào, cho bọn xưởng cơ khí lên!
Và thế là, thay vì nắn chiếc bao tay thứ hai, lão giám thị ria muối tiêu phẩy tay cho Sukhov đi qua.
Sukhov chạy vội để bắt kịp người trong đội. Họ đã đứng thành hàng năm giữa hai hàng tay vịn bằng gỗ dài trông như chỗ buộc ngựa ở ngoài chợ, được dựng lên để lùa đoàn tù vào trại. Sukhov chạy nhẹ bâng, không cảm thấy đất dưới chân mình nữa. Anh chẳng kịp khấn tạ ơn, chả còn lúc nào, bây giờ thì không phải lúc nữa rồi.
Toán lính canh áp tải đoàn của anh lúc này đứng dạt về một phía, nhường chỗ cho bọn lính áp tải đoàn tù của xưởng cơ khí, và chờ viên trưởng toán. Những bó củi mà họ vất xuống trước lúc khám xét được lính áp tải thu về cho mình, còn những bó bị bọn giám thị tước ngay trong lúc khám thì làm thành một đống ngay cạnh trạm gác.
Trăng mỗi lúc một lên cao, trong những đêm trăng sáng như thế này, băng giá càng dữ dằn hơn.
Viên trưởng toán áp tải đi vào trong trạm gác để kí bàn giao bốn trăm sáu mươi ba phạm, hắn nói gì đó với Priakha – phụ tá của Volkovyi. Tên này quát tướng lên:
– K – 460!
Anh chàng Mondavi nãy giờ đứng lủi vào giữa đoàn, thở dài đánh sượt và bước ra khỏi hàng gỗ chắn phía bên phái. Đầu hắn vẫn cúi gằm, hai vai so lại.
– Lại đây! – Priakha chỉ cho hắn vòng qua chỗ buộc ngựa.
Tên Modavi đi vòng trở lại. Priakha ra lệnh cho hắn để hai tay sau lưng và đứng chờ đó. Có nghĩa hắn đã bị buộc tội toan đào tẩu. Họ sẽ cho hắn vào nhà đá. Trước cổng trại, bên trái và bên phải, có hai tên lính gác. Cổng cao gấp ba lần chiều cao của người thường mở ra một cách chậm chạp và có tiếng hô:
– Xếp hàng năm! (ở đây không cần phải hò hét “lùi khỏi cổng”, bởi vì cổng vào trại bao giờ cũng mở vào trong, như thế để tù khỏi xô đổ). Một! Hai! Ba!…
Vào lúc điểm danh buổi chiều này, lúc phải chờ để qua cổng trại, lúc trở về sau cả một ngày trời hứng gió, lạnh cóng và đói khát, thì cái món cháo rau loãng hoét, nhưng còn nóng, đối với phạm chẳng khác nào đất hạn gặp mưa rào. Chỉ húp đánh xoạt một cái là sạch nhẵn. Cái thứ nước lõng bõng ấy giờ đây đối với họ còn quý hơn tự do, quý hơn cả cuộc đời đã qua và sắp tới của họ. Sau khi đã qua được hết các lần cửa, họ sải những bước dài, ồn ào, phách lối – như những người lính từ mặt trận trở về – tốt nhất nên tránh xa họ!
Tên cần vụ trên trại chỉ huy nhìn thấy làn sóng tù đổ vào trại cũng phải phát khiếp. Từ sáu rưỡi sáng, lúc điểm danh lần đầu, cho tới lúc này – sau khi đã điểm danh lại, phạm mới được trở về với bản thân, anh ta thành người tự do. Họ đi qua cái cổng lớn bên ngoài, cổng nhỏ bên trong, băng qua sân, qua hai hàng tay vịn bằng gỗ, rồi ùa vào những nơi mà họ cần.
Tất cả mọi người đi tới chỗ họ cần, trừ các đội trưởng. Họ bị tay trực ban giữ lại:
– Các đội trưởng lên Ban Kế hoạch Sản xuất!
Tức là họ phải lên để nhận phần việc cho ngày hôm sau.
Sukhov chạy qua khu nhà đá, giữa các dãy phòng giam, đến bộ phận phát đồ tiếp tế. Còn Sezar đủng đỉnh đi về phía khác, nơi có rất nhiều người bu quanh một cái cột, trên đó có đóng một tấm bảng bằng ván ép. Tên tất cả những người có đồ tiếp tế được ghi bằng bút chì trên tấm bảng này.
Trong trại giấy ít khi được dùng đến. Người ta hay dùng ván ép hơn. Phần vì viết trên đó chữ nghĩa nom cứng cáp và đúng hơn. Những tên kiểm công và cai ngục kiểm đầu tù cũng viết trên ván ép. Phần làm như vậy tiết kiệm hơn, ngày hôm sau bảng được lau sạch và người ta lại tiếp tục viết lên đó.
Những phạm nào không phải làm việc ở bên ngoài có thể kiếm chác chút đỉnh xung quanh cái cột này. Họ đọc danh sách xem ai có đồ tiếp tế, rồi chạy ra sân trại đón và thông báo ngay cho anh ta số của gói đồ. Kiếm được cũng chẳng nhiều nhặn gì, mỗi lần cũng được đôi ba điếu thuốc.
Sukhov tới phòng nhận đồ. Đó là chái nhà một mái xây gắn vào trại, hành lang có vách ngăn. Hành lang phía ngoài không có cửa, gió lạnh cứ thế thốc thẳng vào, song đứng ở đây cũng không đến nỗi nào, vì có mái che ở trên. Mọi người đã đứng xếp hàng và ai cũng nép vào tường. Sukhov đứng vào hàng. Có mười lăm người đứng trước anh, như vậy đến được lượt mình cũng phải mất hơn một tiếng, vừa vặn tới giờ nghỉ. Nếu ai trong đoàn của Sukhov mà có đồ, thì chắc chắn họ phải đi xem danh sách trước đã, như vậy họ phải đứng sau anh. Còn đám xưởng cơ khí đứng sau anh là đương nhiên rồi. Hội này có thể phải xếp hàng tới lần thứ hai vào sáng sớm mai thì mới nhận được đồ.
Những người đứng xếp hàng tay cầm nào bao, nào túi. Phía trong, đằng sau cửa (bản thân Sukhov ở trong trại này chưa một lần nhận được đồ tiếp tế, nhưng anh nghe thấy người ta nói lại) có một tên giám thị nậy hòm đựng đồ tiếp tế bằng một cái rìu nhỏ, rồi lấy hết đồ ra xem xét từng món một. Thứ thì hắn cắt, thứ thì bẻ, thứ nắn, thứ đổ ra. Nếu là đồ nước đựng trong chai lọ thuỷ tinh hay hộp sắt tây thì hắn cứ thế đổ, mặc anh lúc ấy vội khum hai tay hay giơ túi ra mà hứng. Họ không đưa chai lọ nguyên cho người nhận, chẳng biết sợ cái gì. Nếu có bánh kẹo, giò, hay cá khô, thì thể nào bọn giám thị cũng cấu véo (cứ thử kêu ca, phàn nàn xem, chúng sẽ bảo đồ của anh bị cấm, không được phép nhận và không đưa cho anh nữa). Người nào nhận được đồ tiếp tế cũng phải biếu xén từ trên xuống dưới, bắt đầu từ bọn giám thị. Sau khi lục soát kĩ gói đồ, nào chúng có đưa cái thùng gỗ cho ta đâu, mà ta phải chất các thức vào trong bao, hay đựng bằng vạt áo khoác bông rồi phắn ngay để người tiếp theo còn vào nhận. Lắm lúc vì họ giục ghê quá có người còn bỏ sót thứ gì đó trên quầy, lúc ấy thì đừng có mất công trở lại mà tìm. Làm gì còn ở đấy nữa.
Hồi còn ở Ust – Izima, Sukhov có nhận được đồ tiếp tế đôi ba lần. Sau anh phải biên thư nói vợ đừng gửi nữa, vì đến được tay anh còn lại cũng chẳng là bao, thà để ở nhà cho con nó ăn còn hơn. Mặc dù hồi còn ở nhà anh nuôi cả gia đình dễ hơn là bây giờ ở đây anh tự nuôi thân một mình, song anh cũng hiểu là những gói đồ đó đáng giá như thế nào, không thể suốt mười năm ăn bớt phần của vợ con như thế. Thà anh chịu nhịn còn hơn.
Nghĩ là thế, nhưng cứ mỗi lần trong đội hay trong trại giam của anh có ai nhận được đồ tiếp tế – mà hầu như ngày nào cũng có – anh vẫn cảm thấy tủi tủi vì người ấy không phải là anh. Mặc dù nghiêm cấm vợ gửi đồ cho mình, thậm chí cả vào dịp lễ Giáng sinh, và không bao giờ bén mảng tới cây cột có treo cái bảng danh sách đó, trừ phi đi xem hộ cho những phạm khá giả hơn, – không hiểu sao anh vẫn cứ ngóng chờ ai đó chạy tới bảo anh:
– Sukhov! Sao không đi nhận? Anh có một gói đồ đấy!
Song chẳng có ai chạy tìm anh cả…
Chính vì thế anh càng ít lí do hơn mà nghĩ về cái làng Temgenyvo và cái nhà gỗ của mình. Sống trong trại đầu tắt mặt tối suốt từ lúc kẻng báo thức cho tới lúc tắt đèn đi ngủ, anh làm gì còn thời gian, sức lực để mà nhớ tới những kỉ niệm ngọt ngào. Lúc này anh đang đứng giữa những người đang trấn an cái bụng của mình bằng niềm hi vọng họ sắp được ngoạm những miếng mỡ lợn muối, phết bơ lên những lát bánh mì hay uống cốc trà tướng pha đường. Còn Sukhov thì chỉ có một mong muốn duy nhất: kịp về nhà ăn với đội của mình để kịp húp bát súp loãng còn nóng, chứ để nó nguội thì thật uổng. Súp mà nguội thì chỉ còn phân nửa so với súp nóng.
Anh tính toán, nếu Sezar không tìm thấy tên mình trong bảng danh sách những người có đồ, thì anh ta đã về trại từ lâu rồi và đang rửa ráy. Còn tìm thấy, thì chắc anh ta đang nhặt nhạnh bao, túi, ca nhựa, chậu nhựa. Sukhov hứa đợi anh ta mười phút, đủ thời gian để anh ta làm những việc đó.
Đứng ở trong hàng, Sukhov nghe được một tin mới rằng chủ nhật này toàn trại không được nghỉ. Thế là họ lại chiếm dụng một ngày chủ nhật nữa của phạm. Việc này chả có gì lạ, ai cũng biết tháng nào có năm chủ nhật thì họ chỉ cho nghỉ ba, còn hai ngày xua tù nhân đi làm. Vẫn biết là như vậy, nhưng nghe được tin này anh vẫn thấy nôn nao, choáng váng: mất mất ngày chủ nhật của mình ai mà chẳng thấy tiếc? Dù rằng, như mấy người trong hàng nói đúng, dù rằng có được nghỉ, thì họ vẫn cứ nghĩ được ra việc cho phạm làm ngay ở trong trại, như cất một cái nhà tắm mới, hay xây một bức tường để chắn không cho phạm đi qua chỗ nào đó, hoặc quét dọn sân trại. Không thì lột đệm đem ra ngoài trời mà rũ cho lũ rận chết rét. Hoặc để cho người ta kiểm tra, nhận diện mình xem có khớp với hồ sơ tài liệu hay không. Hoặc họ bày ra cái trò kiểm điểm đồ dùng của phạm. Thôi thì chổi cùn rế rách phải lôi ra sân tuốt tuột mất đến cả nửa ngày trời.
Có lẽ điều làm các ông cấp trên khó chịu nhất, đó là việc tù nhân ăn sáng xong lại tiếp tục ngủ vùi.
Hàng người dù chậm chạp, song vẫn di chuyển. Có ba tên vừa tới, chả hỏi han ai, chen ngay lên hàng đầu. Một tên là thợ cắt tóc trong trại, một tên là kế toán, còn tên thứ ba làm ở Ban Văn hoá Giáo dục của trại. Đó không phải là loại phạm khố rách áo ôm, mà là loại phạm có máu mặt, và cũng là những kẻ khốn nạn nhất hạng có mặt trong trại. Anh em coi bọn này còn bẩn hơn cứt (chúng cũng coi anh em như vậy). Song cãi cọ với bọn này chỉ vô ích: chúng cấu kết với nhau và ăn cánh với đám giám thị.
Đằng trước Sukhov còn mười người nữa, sau anh có bẩy người. Bây giờ Sezar mới tới, cúi người bước vào, đầu đội chiếc mũ lông mới của nhà gửi cho. (Lại nói chuyện mũ. Sezar đã đút lót cho kẻ nào đó nên được đội chiếc mũ kiểu thành phố sạch sẽ, mới toanh của mình. Chứ còn những tù nhân khác, thậm chí những người bị đưa thẳng từ mặt trận tới, cũng bị lột mất mũ, thay vào là loại mũ da lợn bẩn thỉu, tồi tàn).
Sezar mỉm cười với Sukhov và ngay lập tức bắt chuyện với một gã gàn dở đứng trong hàng và đọc báo suốt:
– A, a! Petr Mikhailych!
Tay bắt mặt mừng, họ cười tươi như hoa. Gã gàn dở khoe:
– Xem đi, tôi có Tin tức buổi chiều mới đây! Vừa nhận được bưu phẩm xong.
– Thế á!? – Lập tức Sezar chúi mũi ngay vào tờ báo. Đèn trần thì lờ mà lờ mờ, họ đọc thế quái nào được những chữ nhỏ li ti như thế kia nhỉ?
– Ở đây có một bài nhận xét hết sức thú vị về buổi công diễn của Zavadski(15)…
Mấy cha người Moscva này, từ đằng xa đã đánh hơi thấy nhau, giống in bọn chó. Và khi tới gần thì cứ xán vào nhau mà ngửi lấy ngửi để theo kiểu của mình. Rồi anh nào anh ấy liến thoắng như thể thi xem ai nói được nhiều hơn. Suốt cả câu chuyện chỉ có được vài từ tiếng Nga, nghe họ cứ như dân Letoni hay dân Rumani nói chuyện vậy.
Tuy nhiên, Sezar không quên mang theo bao và túi.
– Sezar Marcovich… thế tôi đi nhé – Sukhov nói giọng đơn đớt. – Tôi đã đi được chưa, hở anh?
– Tất nhiên rồi, tất nhiên rồi, – Sezar vểnh bộ ria đen khỏi tờ báo. – Có điều tôi đứng sau ai? Ai đằng sau tôi?
Sukhov chỉ cho hắn đứng sau ai và trước ai, rồi không đợi Sezar nhớ tới bữa tối, anh hỏi luôn:
– Có mang bữa tối về cho anh không?
(Tức là bữa tối đựng trong một cái hộp được mang thẳng từ nhà ăn về trại xá. Thực ra việc làm này bị nghiêm cấm và xung quanh nó hết luật nọ đến luật kia được ban ra. Nếu họ bắt được anh mang thức ăn về phòng, lập tức họ sẽ đổ xuống đất, còn anh sẽ bị phạt nhốt nhà đá. Cấm như vậy song anh em vẫn cứ lén mang bữa tối về, bởi nhiều khi có ai đó bị kẹt công chuyện sẽ chả có cách nào kịp về ăn với đội của mình).
Sukhov hỏi Sezar, song trong bụng lại nghĩ: “chả nhẽ ông lại bần tiện tới mức không biếu lại cho tôi xuất tối được sao? Bữa tối nào có cái gì, cháo không, chỉ rặt canh rau loãng hoét!…”.
– Không, không, – Sezar mỉm cười, – anh cứ giữ lấy xuất của tôi mà ăn, Ivan Denisych!
Sukhov chỉ chờ có thế! Bây giờ anh như con chim tự do lao vụt khỏi mái hiên nhà – và bay khắp khu trại.
Anh em phạm tản mát khắp mọi nơi trong trại. Có một dạo trại trưởng ra một cái lệnh nghiêm cấm phạm đi lại một mình trong trại, đi đâu cả đội phải xếp hàng cùng đi, trừ nhà xí và trạm xá là những nơi toàn đội không thể vào cùng lúc được, thì có thể đi thành từng tốp bốn năm người một. Mỗi tốp phải cử ra một toán trưởng, người này có trách nhiệm đưa anh em đến nơi nào cần đến, đợi họ và lúc về cũng phải xếp hàng mà về.
Lão trại trưởng bắt mọi người tuân theo cái luật kì cục này rất nghiêm nghặt, không một ai dám làm trái ý lão. Anh nào lớ ngớ đi một mình để giám thị vồ được, thì nhà đá chờ anh ta là cái chắc. Nhưng rồi lệnh đó bị cũng bị bãi bỏ. Không bị bỏ ngay lập tức, mà dần dần, như tất cả những cái lệnh đao to búa lớn và thậm vô lí khác. Chẳng hạn, khi chúng gọi một ai đó lên, chẳng nhẽ lại phải lôi cả đội lên theo, hay ai đó đi lĩnh đồ tiếp tế cũng lại bắt cả đội đi cùng với mình. Hoặc người này muốn tới Ban Văn hoá Giáo dục để đọc báo, song ai là người đi theo anh ta tới đó? Còn người kia lại muốn đi chữa đôi ủng hay phơi quần áo. Rồi lại còn có những tay chỉ muốn sang các trại khác để tán gẫu (việc này nghiêm cấm hơn cả), ai mà quản cho được.
Bằng cái lệnh ấy viên trại trưởng muốn cướp đi cái tự do cuối cùng, song hắn, cái lão bụng phệ ấy, đã không đạt được.
Trên đường về, Sukhov chạm trán một tên giám thị, anh vội bỏ mũ chào hắn rồi chuồn lẹ vào trại mình. Trong trại hệt như đang họp chợ: kẻ kêu trong khi đi làm bị mất mất phần bánh mì và chửi bới bọn cần vụ om sòm. Bọn này cũng chửi trả lại ác liệt. Cái góc của đội 104 không có ai.
Đối với Sukhov buổi tối nào đi làm về mà cái nệm giường của mình không bị lật tung lên, ấy là một buổi tối may mắn – chỗ của mình đã không bị lục soát.
Sukhov chạy về giường, vừa chạy vừa cởi áo bông. Anh ném chiếc áo và bao tay có giấu miếng sắt rồi lần tay vào bên trong nệm. Miếng bánh vẫn còn. May mà buổi sáng anh đã kịp khâu lại.
Bây giờ thì yên trí mà chạy ra ngoài, tới nhà ăn ngay!
Anh chạy ngang qua sân trại, không đụng một tên giám thị nào. Chỉ gặp anh em phạm đi ngược chiều đang cãi vã nhau về khẩu phần.
Trên trời, trăng mỗi lúc một tỏ. Những ngọn đèn mờ đi và bóng các trại đổ dài xuống sân. Lối dẫn vào nhà ăn dưới một mái che lớn, có bốn bậc thềm cũng nằm trong bóng tối. Nhưng phía trên có một chiếc đèn chiếu sáng đung đưa trong giá lạnh. Xung quanh bóng đèn có những quầng sáng trông như tán cầu vồng, không hiểu do khí trời lạnh hay do bóng đèn bẩn.
Viên trại trưởng còn ban bố một cái lệnh khắc nghiệt nữa: tất cả các đội phải xếp hàng hai để đến nhà ăn, và khi tới bậc thềm, trước cửa nhà ăn, các đội chuyển thành hàng năm đứng đó đợi cho tới khi tên cần vụ nhà ăn cho vào bên trong. Bám chặt lấy công việc này là tên Thọt. Cũng chẳng biết hắn chạy chọt như thế nào để được xếp vào loại phạm tàn tật, chứ thực ra hắn đâu có đến nỗi nào. Hắn có một cái roi làm bằng cành bạch dương và đứng trên bậc thềm nhà ăn vụt vào những ai không nghe lời hắn. Song không phải ai hắn cũng đánh. Mắt tên Thọt này rất tinh, hắn có thể nhận ra trong bóng tối, đằng sau lưng, những ai cần phải tránh. Đó là những người sẵn sàng cho hắn một quả vào mõm. Hắn chỉ đánh những kẻ hèn yếu. Sukhov cũng đã bị hắn phang cho một lần rồi.
Gọi là “cần vụ”, song xét cho cùng hắn là bố tướng! – hắn bắt thân với bọn đầu bếp!
Bữa tối nay có nhiều đội đến cùng lúc, mãi mà bọn chúng không ổn định được trật tự. Phạm đứng đầy chật ở ngoài hiên. Không có giám thị, chỉ có bọn đầu cứt là tên Thọt, tên tù giúp việc cho hắn và tên quản lí nhà ăn đang hò hét hướng dẫn anh em.
Tên quản lí nhà ăn là một thằng khốn, to như hộ pháp. Đầu hắn như quả bí ngô, vai ngang một thước. Hắn nhiều sức lực tới mức không đi như người bình thường mà cứ nhún nhẩy như thể chân tay hắn được gắn lò so. Hắn đội một chiếc mũ lông trắng không đánh số. Dân “bên ngoài” cũng chằng có mấy người có được cái mũ như thế. Hắn còn mặc một chiếc áo khoác lông cừu, số tù đính ở trên ngực nhỏ bằng con tem, – đây là sự nhượng bộ đối với Volkov, – đằng sau lưng áo hoàn toàn không số. Tên quản lí nhà ăn chẳng bao giờ chào hỏi một ai và tất cả các phạm đều sợ hắn. Cả ngàn sinh mạng nằm trong một tay hắn. Có lần anh em tính cho hắn ăn trận đòn hội chợ, nhưng cả bọn đầu bếp ùa ra cứu hắn, cái bọn mặt thịt nung núc ấy.
Bây giờ mà đội 104 đã vào nhà ăn rồi thì gay to. Thằng Thọt này thuộc mặt cả trại, và chừng nào có mặt tên quản lí nhà ăn, thì dù có trà trộn vào đội khác cũng đừng hòng lọt khỏi mắt hắn. Hắn loại anh ra ngay. Cũng có người trèo qua hàng tay gỗ vịn đằng sau lưng tên Thọt để lọt vào nhà ăn, song có tên quản lí ở đấy thì đừng có hòng thoát, hắn còn tống cho anh một quả bắn sang tận trạm xá trại như chơi.
Phải chạy cho thật nhanh, thật nhanh tới cái hiên kia, chen vào đám đông đen ngòm áo khoác bông, người nào cũng giống như người nào, để xem xem đội 104 có còn đó không. Nhưng người các đội đang đứng chật cứng (không chen vào đâu được, thì sắp hết giờ rồi còn gì!), thật chẳng khác gì một trận công đồn, tiến lên được một bậc, hai bậc, ba bậc, rồi bốn bậc, lên tới hàng hiên rồi!
– Dừng lại, mấy thằng chó! – Thằng Thọt gào lên, tay vung roi trên đầu những người đứng ở phía trên. – Có lùi lại không, tao cho một nhát nát đầu bây giờ!
– Chúng tôi làm gì nào? – Những người phía trên cũng gào lên. – Đằng sau họ chen lên đấy chứ!
Thì ai chẳng biết là đằng sau chen lên, nhưng mấy cha ở trên nào có chống trả gì đâu, cũng muốn được chen bật vào bên trong chết cha đi. Khi đó thằng Thọt cầm ngang cây gậy đưa lên ngực như một thứ rào cản và dùng hết sức đẩy những người phía trên lùi lại. Tên giúp việc cũng nắm lấy cây gậy đẩy giúp hắn, và tên quản lí nhà ăn không ngại bẩn tay cũng nắm lấy cây gậy và không ngại bẩn mồm, chửi bới loạn xị ngậu.
Ba tên ra sức đẩy, sức lực chúng có thừa, thì có bao nhiêu thịt chúng đớp hết cả, làm gì chẳng thừa sức. Những người phía trên bị xô vào những người đằng sau, cả bọn cũng ngã xuống như những con quay.
– Mẹ cha thằng Thọt! – Một vài người trong đám đông chửi hắn, nhưng không dám chường mặt ra. Những người khác im lặng ngã, im lặng đứng dậy, cố gắng cho thật nhanh để khỏi bị giẫm lên.
Các bậc thềm quang hẳn. Viên quản lí quay vào bên trong nhà ăn, còn thằng Thọt thì đứng trên thềm gào thét:
– Xếp hàng năm, đồ con lừa, đã bao nhiêu lần nói với chúng mày rồi hả!? Khi nào được thì người ta khắc cho vào!
Sukhov nhìn thấy ở tận trên cùng hình như là cái đầu của Senka Klevsin. Anh mừng quá, vội vàng chen vai, huých cánh, cố len lên trên, nhưng chỉ thấy toàn những lưng là lưng đang chuyển động phía trước. Chẳng còn hơi sức đâu mà chen lên được.
– Đội hai mươi bẩy! – Thằng Thọt hét, – đi vào!
Đội 27 chạy vọt qua các bậc thềm, xô nhau tiến gần tới cửa nhà ăn. Những người đằng sau lại tiếp tục xô lên, những người ở đằng sau nữa ra sức đẩy. Sukhov cũng lấy hết sức mà đẩy. Bậc thềm rung chuyển, bóng đèn mắc trên mái hiên đung đưa.
– Lại đẩy nhau, bọn khốn kiếp này!
Thằng Thọt nổi cơn điên, thế là cây gậy cứ thế phang xuống, kẻ trúng vai, người trúng lưng, lại ngã rạp xuống.
Lại quang quẻ.
Từ phía dưới Sukhov nhìn thấy Pavlo đã tiến tới bên tên Thọt. Pavlo đảm nhiệm việc đưa đội vào nhà ăn. Turin không thích dây vào những chỗ lộn xộn như thế này.
– Đội một lẻ bốn, xếp thành hàng năm!- Pavlo đứng trên hét xuống. – Các bạn, tránh ra một chút để anh em đi qua!
Bạn bè cái củ chuối, đợi đấy!
– Ê, tránh cái lưng ra, cho qua nào! Đội của tôi đấy! – Sukhov giật người đằng trước. Người này sẵn lòng cho anh đi qua, song anh ta cũng bị kẹt cứng tứ phía.
Đám đông nghiêng ngả, bóp cổ nhau để giành cho được bát súp rau loãng. Bát súp hợp pháp.
Khi đó Sukhov bèn xoay cách khác: anh bám chặt lấy cầu tay vịn mé trái bậc thềm, đu người lên rồi chuyền bổng sang phía bên kia. Chân anh đập phải đầu gối ai đó, họ đạp lại anh cùng với những tiếng chửi rủa, nhưng anh đã lên được phía trên, đứng một chân trên cái bậc trên cùng và đợi. Anh em trong đội nhìn thấy anh liền chìa tay ra đón.
Tên quản lí ngó ra ngoài cửa:
– Ê, Thọt, cho thêm hai đội vào!
– Đội một lẻ bốn! – Tên Thọt hô to. – Còn mày, thằng khốn nạn kia, định lẻn đi đâu thế hả?! Và ngọn roi lại vút trên cổ một người đội khác.
– Một lẻ bốn! – Pavlo gào lên và cho những người đội mình đi qua cửa.
– Ph-ù! – Sukhov đã lọt được vào nhà ăn. Và không đợi Pavlo bảo, anh vội đi kiếm những chiếc khay không. Bên trong nhà ăn, như mọi khi, khói bốc từng đám ở phía cửa ra vào, xung quanh bàn ăn phạm ngồi chật cứng, như thể hạt hướng dương xếp trên đài hoa, còn ở lối đi giữa các bàn người đi lại, tay bê những khay đầy chặt bát, chen lấn, xô đẩy lẫn nhau.. Nhưng Sukhov, với ngần ấy năm tù đày, đã quen với cảnh đó. Mắt tinh như mắt cú, ngay lập tức anh nhìn thấy S-208 bưng cái khay trên đó chỉ có năm bát, có nghĩa đó là khay cuối cùng của đội hắn, nếu không thì tại sao khay lại không đầy?
Sukhov chạy lại phía hắn và ghé vào tai hắn nói:
– Anh bạn! Xong cho tớ cái khay nhé, tớ xếp hàng sau cậu đấy!
– Nhưng có người đứng ở cạnh cửa tò vò xí phần rồi, tôi đã hứa…
– Tọng giầy vào mồm nó thì có. Cho nó chờ, đứng đấy mà ngáp!
Sukhov đã dàn xếp xong.
Tay này bê khay tới bàn của đội mình, bày bát lên, Sukhov giật vội lấy chiếc khay không. Nhưng ngay lúc ấy tên xí trước chiếc khay chạy tới, chộp lấy đầu kia của chiếc khay, giằng lại. Song hắn nhỏ con và ốm yếu hơn Sukhov. Sukhov dùng chiếc khay đẩy mạnh về phía hắn khiến hắn bắn văng vào cột nhà, tay rời khỏi chiếc khay. Sukhov cắp khay vào nách chạy vù ra phía cửa sổ phát đồ ăn.
Pavlo đã đứng xếp hàng và đang bực mình vì chưa kiếm được khay. Hắn mừng rơn khi nhìn thấy Sukhov mang khay tới:
– Ivan Denisovich! – Hắn gọi và đẩy đội phó đội 27. – Cho lên cái nào! Không có khay thì đứng ở đây làm gì? Tôi có khay đây này!
Thằng lỏi con Gopchik cũng vác về thêm một khay nữa, miệng cười toét:
– Các chú ấy không để ý, thế là cháu chớp luôn!
Thằng Gopchik này sẽ trở thành một phạm chân chính đây. Chỉ cần ba năm nữa thôi, đợi lớn thêm một chút, học đủ được các mánh khoé, xảo thuật trong tù, thì bét nhất hắn cũng giành được cái chân chia bánh mì, có khi còn hơn thế.
Chiếc khay thứ hai Pavlo bảo đưa cho Ermolaiev – một phạm người Siberi to lớn (cũng bị tù vì tội bị quân Đức bắt làm tù binh). Còn Gopchik được phái đi kiếm lấy cái bàn nào đã “dùng bữa” xong. Sukhov đẩy chiếc khay qua lỗ cửa tò vò và đứng đơi.
– Một lẻ bốn! – Pavlo nói chõ vào phía trong cửa.
Có tất cả năm lỗ cửa tò vò: ba cửa phát đồ ăn chung, một cửa giành phát thức ăn cho những người ốm (có mười tên đau dạ dày thực sự được phát đồ ăn đặc biệt, bọn trên bộ phận tài vụ thì do chạy chọt mà lọt được vào danh sách này), còn một cửa để trả lại bát đĩa đã dùng (ở cửa này chen chúc những kẻ mót thức ăn thừa, bọn liếm đĩa). Những lỗ cửa tò vò không cao lắm, chỉ nhỉnh hơn thắt lưng một chút, nên mặt bọn đầu bếp không nhìn rõ, chỉ thấy những cái tay cầm môi.
Một tên đầu bếp có bàn tay trắng muốt, mềm mại, nhưng đầy lông và to tướng. Một võ sĩ quyền anh đúng hơn là một đầu bếp. Hắn cầm lấy bút chì đánh dấu danh sách treo trên tường:
– Một lẻ bốn – hai mươi tư bát!
Thằng Panteliev cũng có mặt ở trong nhà ăn. Hắn có đau ốm gì đâu, đồ chó đẻ.
Tên bếp cầm một cái môi to tướng áng chừng múc được ba lít, khuấy đi khuấy lại vạc súp (chiếc vạc trước mặt hắn còn mới, súp vừa đổ vào đầy gần tới miệng, hơi bốc nghi ngút). Sau khi đổi sang chiếc môi múc được 750 gram, hắn bắt đầu múc súp, nhưng không ấn môi sâu xuống dưới.
– Một, hai, ba, bốn…
Sukhov để ý ngó xem tô nào múc trước khi cái kịp lắng xuống đáy vạc, tô nào lèo tèo tí cái, còn lại toàn nước. Anh đặt mười bát lên khay và bê đi. Gopchik vẫy anh từ chiếc bàn cạnh dãy cột thứ hai:
– Lại đây, chú Ivan Denisovich! Lại đằng này!
Bê mấy bát súp tay không được run. Sukhov tay bưng khay, bước như lướt, cố không va vào ai và cố không để súp sánh ra ngoài:
– Ê, K- 902! Cẩn thận tí ông bác!… Nhường đường nào, chàng trai!
Trong đám đông bưng một bát không làm sánh, làm đổ đã là khó, đằng này những mười bát. Cuối cùng khay súp cũng hạ cánh an toàn xuống cuối chiếc bàn đã được Gopchik dọn sẵn, không rớt ra ngoài lấy một giọt. Thêm nữa, Sukhov cũng đã chọn được cái góc để đặt khay, sao cho hai bát súp có nhiều cái nhất ở ngay chỗ anh sẽ ngồi.
Và Ermolaev cũng mang tới mười bát nữa. Gopchik chạy tới lỗ cửa tò vò, cùng Pavlo mỗi người bưng nốt hai bát. Còn Kildigs bê một khay bánh mì tới. Hôm nay bánh được phát theo năng xuất – người được hai trăm gram, người ba trăm, còn Sukhov được bốn trăm. Anh nhận lấy phần của mình, chỗ bánh có nhiều cùi ngon, còn hai trăm gram của Sezar anh chọn phần giữa bánh.
Bây giờ anh em trong đội từ khắp các bàn chạy tới lĩnh xuất tối của mình, rồi ai kiếm được chỗ ở đâu thì ngồi đấy mà ăn. Sukhov chia súp cho anh em, để ý xem ai đã nhận phần rồi và canh chừng cái bát đã chọn sẵn cho mình. Anh cắm chiếc thìa vào một bát có nhiều cái, coi như đã xí phần. Fechiukov là một trong những người đầu tiên tới nhận phần rồi đi luôn: hắn biết chẳng hòng mong được thêm miếng thừa nào ở cái đội này cả, tốt nhất lượn khắp nhà ăn, may ra còn kiếm được của bỏ mứa của ai đó – của này lắm lúc bị vài người chạy tới giành giật chẳng khác gì lũ diều hâu.
Sukhov tính toán các xuất chia với Pavlo. Nghe chừng ổn thoả cả. Anh chọn một bát có nhiều cái cho đội trưởng Turin. Pavlo đổ bát súp vào một cái cà mèn dẹt của quân đội Đức – thứ này nhét vào phía trong áo khoác, sát chỗ ngực, dễ mang đi hơn.
Khay đựng đồ ăn được chuyển cho đội khác. Pavlo ngồi xuống ăn khẩu phần đúp của mình. Sukhov cũng có hai xuất. Họ không nói thêm một lời nào với nhau nữa. Giây phút thiêng liêng đã tới.
Sukhov cởi mũ, kẹp vào giữa hai đầu gối. Anh lấy thìa ngoáy thử một bát, rồi bát kia. Không đến nỗi nào, còn nhìn thấy thấp thoáng vài mẩu cá. Nhìn chung súp bữa tối bao giờ cũng loãng hơn bữa sáng: bữa sáng phải cho phạm ăn no để mà làm việc, chứ bữa tối thì làm cái quái gì, chỉ có việc lăn ra mà ngủ như chết, ăn thế nào chẳng được.
Sukhov bắt đầu ăn. Thoạt đầu anh húp thứ nước lõng bõng ở trên, húp cho cạn. Hơi ấm lan khắp cơ thể anh – toàn thể lục phủ ngũ tạng của anh run rẩy đón chờ cái thứ nước súp này. Ôi chà, mới ngon làm sao! Nó đấy, cái khoảnh khắc ngắn ngủi ấy đấy, tù nhân chỉ vì nó mà sống thôi đấy! Lúc này Sukhov không còn thấy oán hận gì cả: cả cái thời hạn lê thê, cả cái ngày dài đằng đẵng, cả cái chủ nhật không được nghỉ. Lúc này trong đầu anh chỉ một ý nghĩ: sẽ qua được! Rồi ta sẽ qua được hết, Chúa trời mà thương rồi cũng sẽ tới ngày mãn hạn!
Sau khi húp hết nước ở bát thứ nhất, anh húp luôn bát thứ hai, sau đó trút hết chỗ cái của bát này sang bát kia, dùng thìa vét cho sạch nhẵn. Như thế yên tâm hơn, khỏi phải canh chừng cái bát thứ hai, khỏi phải giữ nó bằng tay, bằng mắt.
Rảnh mắt Sukhov ngó sang bát súp của những người bên cạnh. Người ngồi bên trái anh nhận được một bát tinh những nước là nước. Bọn khốn kiếp, chúng đối đãi với anh em cùng cảnh tù với mình như thế đấy!
Sukhov bắt đầu ăn những miếng bắp cải cùng những thứ còn lại trong bát. Anh còn được cả một củ khoai tây trong cái bát mà Sezar cho anh. Một củ khoai tây không to lắm, loại khoai chết rét, sường sượng, đã mất vị ngọt. Và chả có miếng cá nào, chỉ loáng thoáng vài cái xương không dính thịt. Nhưng dù là một cái xương nhỏ, cái vây nhỏ, cũng cố mà nhai, mà hít lấy chút nước ngọt – bổ lắm đấy. Tất nhiên, làm tất cả những thứ đó mất thời gian thật, nhưng bây giờ Sukhov đâu có vội. Hôm nay là một ngày lễ đối với anh: bữa trưa anh xoay được thêm một xuất, bữa tối anh cũng lại kiếm được thêm một xuất nữa. Làm được việc này thì các việc còn lại đều có thể dẹp đi được. Có điều phải tới chỗ thằng cha Latvi để mua lấy ít thuốc lá. Đến sáng chắc sẽ chẳng còn sợi nào.
Sukhov ăn bữa tối không đụng đến khẩu phần bánh mì: đã được hai xuất súp, lại còn ăn thêm bánh mì thì bổ quá. Bánh mì để dành cho sáng mai. Cái bụng là một kẻ vô ơn, rất mau quên việc thiện ta làm cho nó, sáng mai lại nheo nhéo đòi ăn ngay cho mà xem.
Sukhov ăn sắp hết hai xuất súp của mình và chẳng buồn nhìn những người xung quanh, bởi chẳng còn cần thiết nữa: anh không kiếm cách để săn lùng xuất mới, chỉ ăn cái phần mình được hưởng.
Nhưng anh vẫn nhìn thấy ngay trước mặt mình, cách một bàn, có một chỗ trống và ông già đeo biển số U-81 ngồi xuống đó. Sukhov biết ông già này ở đội 64, và khi đứng xếp hàng cho Sezar ở chỗ nhận đồ tiếp tế, anh được biết đội 64 hôm nay phải làm ở Khu Dịch Xá thay cho đội 104 và suốt cả ngày họ phải làm ngoài trời không có chỗ sưởi, để chăng giây thép gai giam giữ chính mình.
Người ta nói với Sukhov rằng ông già này đã ngồi ở các trại giam, nhà tù không biết bao lâu rồi, chính quyền Xô Viết đã có bao nhiêu năm nay, song chưa bao giờ ông được xét ân xá, cứ hết mười năm, người ta lại bồi cho ông thêm mười năm nữa.
Bây giờ thì anh ngắm ông già kĩ hơn. Khác với tất cả những ông già lưng gù trong trại, lưng của ông già này rất thẳng, và khi ngồi ở bàn ăn trông ông như thể ngồi trên một cái ghế được lót thêm cái gì đó cho cao thêm. Đã lâu rồi, trên cái đầu trọc của ông chả còn gì để mà cạo – tóc tai rụng sạch vì cuộc sống quá sung sướng. Cặp mắt ông già không đảo quanh nhà ăn để xem những việc đang xảy ra, mà nhìn đăm đăm vào một cái gì đó ở phía trên đầu Sukhov, cái mà không một ai nhìn thấy. Ông từ tốn ăn tô súp loãng bằng chiếc thìa gỗ đã mòn vẹt, song không gục mặt xuống bát như những người khác, mà đưa thìa súp lên miệng mình. Răng của ông không còn lấy một chiếc, cả hàm trên, lẫn hàm dưới, ông dùng hai hàm lợi cứng như xương để nhai bánh mì thay cho răng. Khuôn mặt ông mòn mỏi, song không đến nỗi yếu ớt, thiểu não như bọn người tàn tật mất hết sức sống, mà đen xạm, trông như tạc bằng đá. Và nhìn đôi tay to tướng, méo mó sần sùi, cũng có thể thấy được rằng ngần ấy năm rất hiếm khi ông được làm công việc nhẹ. Song trong ông hằn rõ ý chí không chịu khuất phục: ba trăm gram bánh mì ông không để xuống mặt bàn nhơ nhớp như mọi người, mà đặt lên một miếng giẻ nhỏ được giặt sạch sẽ.
Nhưng Sukhov không có thời gian để ngắm nghía ông già. Ăn xong anh liếm sạch thìa rồi nhét lại nó vào ống giầy ủng, chụp mũ lên đầu, đứng dậy, cầm lấy khẩu phần bánh mì của mình và của Sezar. Anh đi khỏi nhà ăn bằng một cửa khác. Ở đây cũng có hai tên cần vụ, chúng đứng đó chỉ để làm mỗi một việc, mở chốt cửa cho anh em ra, rồi lại đóng chốt cửa lại.
Sukhov ra khỏi nhà ăn với cái bụng no và tự hài lòng về bản thân. Anh quyết định, dù sắp sửa tới giờ tắt đèn, vẫn cứ phải tới chỗ thằng cha Latvi. Anh chạy thẳng tới trại số bảy, không rẽ qua trại mình để cất bánh mì.
Trăng đã lên cao, trắng ngần, trong trẻo như thể được cắt ra từ bầu trời. Và bầu trời cũng trong veo. Những ngôi sao đó đây lấp lánh, sáng rỡ. Nhưng Sukhov lại càng ít thời gian để nhìn lên trời mà ngắm trăng sao. Anh chỉ cảm thấy rõ một điều: băng giá không hề giảm bớt. Có ai đó nghe được từ những người ở bên ngoài nói rằng ban đêm sẽ xuống tới âm ba mươi độ, còn đến sáng – âm bốn mươi.
Từ rất xa trong thôn vẳng lại tiếng máy cày, còn mé bên đường chiếc máy xúc rít lên. Từng bước chân người đi trên sân trại đều để lại tiếng ủng nghiến tuyết răng rắc.
Trời lặng gió.
Thuốc lá sợi mà Sukhov mua, cũng như mọi lần trước đây, – một rúp một cốc, mặc dù một cốc như vậy ở bên ngoài phải tới ba rúp, có khi đắt hơn, nếu là thuốc ngon. Ở trong trại khổ sai mọi thứ đều có giá riêng, không giống bất cứ ở đâu, là vì tiền không được phép giữ ở trong trại, ít người có, nên chúng rất có giá. Anh em làm việc trong trại nhưng không được trả lấy một xu (hồi ở trại Ust-Izma Sukhov cũng còn được lĩnh ba mươi rúp một tháng). Còn anh nào được gia đình gửi tiền qua bưu điện, thì người ta cũng không cho nhận mà giữ lại cho vào trương mục cá nhân. Tiền đó có thể rút tháng một lần để mua xà phòng giặt, bánh mốc, thuốc lá “Prima” trong kho của trại. Nhưng mỗi lần mua đều phải làm đơn lên trại trưởng và chỉ được mua đúng số hàng đã ghi trong đơn. Hàng mua rồi, thích hay không thích vẫn cứ phải dùng, vì nếu không mua thì đằng nào tiền cũng mất, họ sẽ lấy ra khỏi trương mục.
Sukhov kiếm được tiền bằng những công việc vặt vãnh: khâu một đôi dép từ giẻ rách giá hai rúp, vá áo trấn thủ giá cả thoả thuận.
Trại 7 không giống trại 9 của anh, không ngăn thành hai phòng lớn. Ở trại này có một hành lang dài, dọc theo đó trổ ra mười cái cửa của mười phòng riêng. Mỗi đội ở trong một phòng và mỗi phòng kê bẩy cái giường tầng, có cầu tiêu riêng. Đội trưởng được một phòng nhỏ. Đám mấy ông hoạ sĩ ở đây, sống trong một cái phòng như thế.
Sukhov bước vào phòng nơi có anh chàng người Latvi. Anh chàng này nằm ở giường tầng dưới, hai chân ghếch lên thành giường, đang thao thao nói chuyện bằng tiếng Latvi với tay đồng hương bên cạnh.
Sukhov tiến tới cạnh hắn. Xin chào. Chào – tên Latvi đáp lại, nhưng không bỏ chân xuống. Gian phòng nhỏ, vì thế, hễ có ai vào là lập tức thiên hạ vểnh tai lên nghe ngóng: ai tới, tới để làm gì. Cả hai người đều biết như vậy, nên Sukhov thong thả ngồi xuống giường, bắt đầu con cà, con kê: sống ra sao, khoẻ chứ? Vẫn thường. Hôm nay lạnh gớm nhỉ. Ừ.
Sukhov chờ cho mọi người tiếp tục câu chuyện bỏ dở của mình (họ đang nói về chiến tranh ở Triều Tiên và cãi nhau: không biết Trung Quốc nhẩy vào rồi, liệu chiến tranh thế giới có nổ ra hay không).
Sukhov cúi xuống ghé vào tai tên Latvi, hỏi:
– Có thuốc không?
– Có.
– Cho xem nào.
Tên Latvi nhấc chân khỏi thành giường, hạ xuống sàn nhà và ngồi dậy. Tên này chúa keo kiệt. Hắn lúc nào cũng sợ đổ thuốc vào cốc quá tay, dù số thuốc ấy chỉ cuộn được một điếu.
Hắn cho Sukhov xem cái túi thuốc, rồi mở ra.
Sukhov bốc ra một ít sợi thuốc, bỏ vào lòng bàn tay và thấy vẫn là thứ thuốc như lần trước, cũng mầu nâu vàng và sợi cũng tơi như vậy. Anh đưa lên mũi ngửi – đúng là thứ thuốc ấy, nhưng anh vẫn nói với tên Latvi:
– Có vẻ như không phải thuốc lần trước.
– Vẫn thuốc ấy! Vẫn thuốc ấy! – Tên Latvi cáu, – tôi chẳng có loại nào khác, lúc nào cũng chỉ một loại ấy thôi.
– Thôi, được rồi, được rồi, – Sukhov chấp nhận, – cậu nhồi cho tớ một cốc, tớ hút thử, có thể sẽ lấy thêm cốc nữa.
Anh nói “nhồi”, là vì tên này chuyên có cái lối đổ sợi thuốc vào cốc, không chịu ấn xuống, cứ để lồng phồng như vậy. Tên Latvi lôi từ dưới gối một túi thuốc khác to hơn gói ban đầu và mở cái tủ nhỏ đầu giường, rút ra cái cốc nhựa. Cốc là cốc nhựa, nhưng Sukhov đã đọ rồi, đựng đúng bằng cốc thuỷ tinh. Tên Latvi rũ thuốc bỏ vào cốc.
– Ấn xuống, cậu phải ấn nó xuống chứ! – Sukhov nói với hắn và tự lấy tay ấn thuốc trong cốc xuống.
– Biết rồi! – Tên Latvi đổ quạu, giằng lấy chiếc cốc, tự ấn thuốc xuống, nhưng nhẹ tay hơn, và lại đổ thuốc vào.
Trong khi đó Sukhov mở khuy áo trấn thủ, lần tay vào bên trong lần lót chỗ để tờ giấy bạc. Anh lấy ngón tay khẽ đẩy tờ giấy bạc qua lần bông, tới cái lỗ nhỏ mà anh đã khoét và khâu lược lại vài mũi. Khi tờ giấy bạc chạm vào cái lỗ nhỏ, anh lấy móng tay khẽ kéo chỉ, nới rộng ra, gấp tờ giấy bạc nhỏ lại theo chiều dài, rồi rút nó ra khỏi lỗ. Hai rúp. Tờ giấy bạc đã cũ, không còn kêu sột soạt.
Trong phòng lúc đó có tiếng người kêu lên:
– Anh tưởng thằng già râu khốn nạn thương anh lắm hả! Đến em ruột nó mà nó còn không tin, nữa là cái đồ quê mùa dốt nát như anh!
Ở trong trại khổ sai được cái sướng là tha hồ tự do phát ngôn. Chứ ở trại Uct-Izma, chỉ cần thầm thì với nhau rằng ở bên ngài đến diêm cũng không có bán, lập tức sẽ được nghỉ trong nhà đá và lĩnh thêm một hạn mười năm nữa. Còn đây, có gào toáng lên về bất cứ điều gì cũng chẳng có ma “ăng ten” nào đi bẩm báo, bọn an ninh cũng phẩy tay.
Có điều, làm quái gì có thời gian mà nói về điều nọ, điều kia.
– Ê, sao đong lỏng thế hả, – Sukhov càu nhàu.
– Được rồi, được rồi, thêm cho đây này! – Tên Latvi bỏ thêm mấy sợi lên phía trên.
Sukhov rút cái túi đựng thuốc để bên trong cái túi nhỏ anh khâu thêm vào bên trong áo khoác, đổ thuốc vào.
– Thôi được, cho một cốc nữa – Sukhov quyết định, anh không hút thử nữa, vì không muốn hút điếu thuốc đậm đà đầu tiên trong khi chạy hộc tốc về đội mình.
Anh tiếp tục cò kè với tên Latvi, rồi đổ nốt cốc thứ hai vào túi, trả hai rúp, gật đầu chào hắn rồi đi ra. Vừa bước ra tới sân anh co cẳng chạy về trại của mình để bắt kịp lúc Sezar mang gói đồ tiếp tế về.
Nhưng lúc đó Sezar đã ngồi trên giường tầng một của mình và ngó chăm chăm vào đống đồ. Hắn bầy tất cả các thứ vừa nhận được ra giường và trên nóc cái tủ con đầu giường. Chỉ có điều chỗ đó hơi bị tối vì ánh sáng đèn trần đã bị giường của Sukhov cản lại. Sukhov khom mình lách vào giữa giường của Sezar và giường của ông trung tá. Anh chìa xuất bánh mì bữa tối cho Sezar:
– Bánh của anh đây, Sezar Markovich.
Anh không nói: “Sao, nhận được rồi à?”, là bởi vì câu đó ngụ ý rằng anh đã xếp hàng hộ và bây giờ anh có quyền nhận phần của mình. Anh hiểu mình có quyền, song anh không phải hạng bòn mót, dù đã ở tù tới tám năm – và càng ở trong tù lâu anh càng cố giữ bằng được nguyên tắc của mình.
Tuy nhiên, anh chẳng thể nào ra lệnh cho đôi mắt của mình. Mắt anh, mắt người tù khổ sai, nhanh như mắt diều, loáng một cái đã nhìn thấy hết những thứ mà Sezar bầy la liệt trên giường, trên nóc tủ. Và mặc dù có những gói giấy mới mở nửa chừng, những cái bao chưa rạch, nhưng thoáng nhìn và đánh hơi, Sukhov biết liền Sezar đã nhận được giò, sữa hộp, cá xông khói, mỡ lợn muối, bánh mì sấy để dành được, bích quy có mùi vị khác, hai kilô đường viên, có gói gì đó trông giống như gói bơ tươi, rồi thuốc lá và ống tẩu, còn nữa, còn nữa.
Anh đã trông thấy tất cả ngần ấy thứ chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi khi anh nói câu: “Bánh mì của anh đây, Sezar Markovich”.
Sezar thì cứ mê mẩn, mụ mẫm cả người, hệt như kẻ say (ai nhận được thực phẩm tiếp tế cũng đều rơi vào tâm trạng tương tự). Hắn phẩy tay về phía mấy miếng bánh mà Sukhov chìa ra:
– Cứ giữ lấy, Ivan Denhisych!
Một bát súp với hai trăm gram bánh – cả một bữa tối đầy đủ. Đối với Sukhov đó là phần thưởng lớn cho cái công xếp hàng của anh rồi. Ngay lập tức Sukhov gạt phăng cái ý nghĩ rằng anh có thể được một chút gì đó trong cái đống đồ của Sezar. Không gì tệ hơn là hành hạ cái dạ dầy vì những chuyện chả ra đâu vào đâu.
Mình còn có bốn trăm gram bánh, cộng với hai trăm gram của Sezar, lại còn gần hai trăm gram nữa giấu trong đệm – thế đủ rồi. Hai trăm gram mình sẽ gặm bây giờ, sáng mai được nhận năm trăm năm mươi gram nữa, bốn trăm gram này mình mang đi làm – sống thế mới là sống chứ! Còn chỗ giấu ở trong đệm hãng cứ để đấy. Cũng may mà mình kịp khâu nó vào, chứ như thằng cha ở đội 75 đấy, để ở trong tủ, khoá hẳn hoi, bây giờ có mà kiện lên Xô Viết Tối Cao!
Có nhiều người tưởng rằng người nhận được đồ tiếp tế như một cái túi thắt miệng, cứ việc mở ra là xin được. Nhưng xét cho cùng, thì đồ đến rồi đồ lại đi. Đôi khi, trước khi nhận được đồ tiếp tế, một số người đã chẳng mừng húm khi mót được chút cháo thừa, hoặc có bị bắn bỏ cũng cố mà hút cho bằng hết mẩu thuốc nhặt được. Vậy mà khi nhận được đồ chẳng lẽ lại không biếu ông giám thị, anh đội trưởng, cả tay làm trực tiếp ở chỗ cấp phát? Mà tên này, nếu không được gì, thì lần sau cứ đợi đấy, đồ gửi đến nhưng cả tuần sau cũng không có tên trong danh sách. Khi mang đồ đến nhà kho để gửi (phần khỏi mất cắp, phần khỏi bị trấn và phần vì thủ trưởng đã ra lệnh) – sáng mai, trước giờ điểm danh, Sezar cũng phải mang tới đó để gửi – cũng lại phải cúng cho thằng cha phụ trách ở đấy một phần khá, bằng không hắn gậm dần gậm mòn của mình cũng chết. Cả ngày hắn ngồi ở đó, giống như con chuột gặm nhấm thực phẩm của người khác, có mà tin hắn được khối! Rồi còn phải thưởng công cho những người, như Sukhov chẳng hạn, và nếu muốn nhận được mấy thứ quần áo mà ta giặt ở nhà tắm công cộng được sạch sẽ, tinh tươm, xếp gọn gàng, thì cũng phải dúi cho bọn người ở đó chút đỉnh. Cũng còn phải biếu mấy cha hớt tóc nữa chứ, bằng không hắn sẽ không chùi con dao cạo lên miếng vải giấy của hắn, mà chùi thẳng vào đầu gối để trần của ta, nhiều thì không có, nhưng cũng phải vài ba điếu thuốc. Rồi còn Ban Văn hoá Giáo dục, cũng phải tính đến để thư của ta chúng để riêng ra, không làm mất. Còn nếu muốn được một ngày nằm khểnh trên giường mà nghỉ ngơi thì phải mang biếu ông đốc tờ thứ gì đó. Rồi còn cả tay hàng xóm dùng chung với ta cái tủ nhỏ đầu giường, như ông trung tá với Sezar chẳng hạn, làm sao lại không cho được, là vì hắn sẽ đếm từng miếng ta bỏ vào miệng, cho nên, đến một kẻ bần tiện nhất cũng không thoát được, vẫn phải bấm bụng mà cho hắn.
Vì thế cứ kệ cho mọi người ghen ghét, tị nạnh, những kẻ đứng núi này trông núi nọ, chứ Sukhov thì trải đời quá rồi, anh hiểu rằng tuyệt không được ăn không của ai cái gì.
Anh tháo ủng và leo lên giường của mình, rút từ trong bao tay miếng sắt, ngắm nghía nó. Anh tính ngày mai sẽ cố kiếm một hòn đá mài thật tốt và sẽ mài miếng sắt này thành một con dao nhỏ dùng cho việc sửa chữa giầy dép. Mất khoảng ba bốn ngày gì đó, chịu khó mài vào sáng sớm và buổi tối, anh sẽ có một con dao nhỏ có lưỡi sắc và cong. Nhưng từ giờ cho đến mai anh phải giấu miếng sắt mẻ này đi đã. Anh sẽ nhét nó vào giữa thanh đòn ngang và tấm gỗ giường. Và trong lúc ông trung tá chưa đi nằm (anh không muốn bụi rơi xuống mặt ông), anh kéo tấm nệm nhồi không phải phoi bào, mà là mùn cưa nặng chình chịch lên và giấu miếng sắt.
Những người hàng xóm của anh nằm phía trên: anh chàng Tẩy lễ Aliosa và cặp Estoni nằm trên giường kế bên. Song Sukhov không ngại họ.
Fechiukov đi ngang qua phòng, khóc rưng rức. Vai hắn so lại, môi chảy máu. Chắc hắn lại bị tẩn ở trong nhà ăn vì tội giành nhau bát để liếm. Không nhìn ai và cũng chẳng cần giấu những giọt nước mắt, hắn đi ngang qua đội, leo lên giường của mình, vùi mặt xuống đệm. Xét cho cùng, hắn cũng thật đáng thương. Chắc hắn không sống nổi cho tới khi mãn hạn. Hắn không biết cách sống.
Vừa lúc ông trung tá xuất hiện, phấn khởi, tay xách một cà mèn trà hãm đặc biệt. Trong trại có đặt hai thùng gỗ đựng nước trà, song đó là thứ trà gì vậy? Nó âm ấm và cũng có màu của nước trà, song nhạt thếch, lại bốc mùi gỗ mục do cái thùng đã tã thôi ra. Chứ thứ trà mà Buinovski vừa pha, là trà xin được của Sezar, trà thứ thiệt, ông bỏ vào cà mèn và chạy đi đổ nước sôi. Ông trung tá phởn ra mặt, thu xếp mặt tủ và đặt cà mèn trà quý giá lên đó.
– Tí nữa thì bỏng tay vì cái vòi nước sôi! – ông khoái trá khoe khoang.
Ở phía dưới Sezar bày các thức ăn của hắn lên những tờ giấy trải ra trên giường. Sukhov đặt tấm nệm xuống để khỏi phải nhìn thấy những thứ đó mà thêm não ruột.
Song một lần nữa không có Sukhov là không xong việc. Sezar đứng dậy giữa hai bên giường, nhìn chằm chằm Sukhov, mắt nháy nháy:
– Ivan Denhisych! cho tôi mượn Cái mười ngày của anh với!
Cái mười ngày đây là con dao díp nhỏ của Sukhov. Anh cũng lại giấu nó ở khe ván giường dưới tấm nệm. Trông chả nhỉnh hơn ngón tay út mấy tí, nhưng cắt được cả miếng ba dọi dầy cỡ năm đốt ngón tay. Chính Sukhov làm con dao này và luôn mài nó sắc bén.
Anh lại mò tay xuống phía dưới đệm, rút con dao ra rồi đưa cho Sezar. Sezar gật đầu và ngồi khuất xuống phía dưới.
Có một con dao như thế cũng kiếm chác được chút đỉnh. Nhưng nó cũng có giá của mình. Chỉ cần lộ ra là mười ngày nằm nhà đá như bỡn. Chính vì vậy phải là kẻ không còn tính người mới có thể: cho bọn này mượn con dao để bọn này cắt giò, còn đẳng ấy hả, đút phân vào mồm đằng ấy nhé.
Thế là bây giờ Sezar lại nợ anh nữa rồi.
Xong xuôi các khoản bánh biếc, dao diếc, lúc này Sukhov mới lôi cái túi đựng thuốc lá ra. Việc đầu tiên anh nhón lấy ít sợi thuốc vừa đủ một điếu mà anh đã vay buổi sáng, đưa trả cho tên Etoni phía giường bên, nói: “Cám ơn”.
Tên Estoni nhành môi ra, trông như cười. Hắn lẩm bẩm cái gì đó với tay đồng hương thân tín và hai người quấn một điếu hút thử xem thuốc của Sukhov ra làm sao.
Cứ thử thoải mái, thuốc của mỗ đây chất lượng đâu kém thuốc các người. Sukhov cũng tính hút thử một điếu, song cái đồng hồ bên trong anh nó báo với anh rằng chỉ tí nữa thôi là tới giờ điểm danh ban đêm. Đây chính là thời điểm bọn giám thị đi rình mò khắp các trại xá. Nếu muốn hút thuốc, thì ra ngoài hành lang mà hút, nhưng Sukhov lại không muốn ra, ở trên giường tầng trên của mình anh cảm thấy ấm hơn. Trong trại xá vẫn chẳng hề ấm hơn chút nào, vẫn những đám băng trông như màng nhện bám trên trần. Nhưng lúc này xem ra vẫn còn chịu được, chứ đến đêm cứ gọi là run bần bật vì lạnh.
Sukhov lấy khoanh bánh mì hai trăm gram bắt đầu bẻ từng miếng nhỏ bỏ vào miệng và lắng nghe cuộc trà đàm ở phía dưới giữa ông trung tá và Sezar.
– Ăn đi, trung tá, ăn đi, cứ tự nhiên! Cầm lấy miếng cá hun khói này, cả giò nữa này.
– Cám ơn, tôi đang ăn đây.
– Lấy bơ mà phết bánh mì. Bánh mì gối Moscva chính hiệu đấy!
– Ái chà chà, không thể tin được ở một nơi nào đó người ta vẫn làm bánh mì gối. Anh biết không, bữa tiệc ê hề bất ngờ này làm tôi nhớ tới một chuyện. Lần ấy tôi tới Arkhanghelsk…
Tiếng ồn ở nửa bên kia trại xá có tới cả trăm giọng, nhưng Sukhov Sukhov vẫn nghe được tiếng kẻng ở bên ngoài. Chưa một ai nghe thấy cả. Và Sukhov còn nhìn thấy Kurnosenski, một tay giám thị trẻ măng, người nhỏ thó, có bộ mặt hồng hào. Hắn nắm trong tay một tờ giấy, và cứ nhìn cái cách hắn đi vào rõ ràng hắn tới trại không phải để bắt những người hút thuốc trộm trong phòng hay đuổi phạm ra ngoài để kiểm tra, mà là tìm ai đó.
Kurnosenski rà soát lại trên tờ giấy và hỏi:
– Một lẻ bốn ở đâu?
– Ở đây, – mọi người đáp lại.
Cặp Estoni vội dụi điếu thuốc, giấu đi và lấy tay xua khói.
– Còn đội trưởng đâu?
– Anh cần gì? – Turin nằm trên giường, chỉ đặt một chân xuống sàn.
– Mấy người trong đội anh đã viết tường trình chưa?
– Họ đang viết! – Turin khẳng định một cách chắc chắn.
– Đáng ra phải nộp rồi chứ.
– Khốn nhưng họ ít học, nên viết cũng khó khăn lắm. (Đó là đội trưởng nói về Sezar và ông trung tá. Đội trưởng cừ ra phết, bất cứ lúc nào cũng đối đáp đâu ra đấy). Với lại làm gì có bút, mực cũng chả có.
– Phải có chứ.
– Nhưng bị tước mất rồi!
– Liệu cái mồm, đội trưởng, ông mà nói lắm, tôi cho ông ngồi nhà đá đấy! – Kurnosenki doạ nạt, song không tỏ ra tức giận. – Làm thế nào thì làm, sao cho sáng mai, trước giờ điểm danh, mấy tờ trình phải nằm trên phòng giám thị rồi! Và phải viết rằng mấy cái đồ không được phép dùng ấy đã đem nộp vào kho đồ cá nhân rồi, rõ chưa?
– Rõ.
(“Lão trung tá thoát rồi” – Sukhov nghĩ bụng. Còn bản thân trung tá thì chẳng nghe thấy gì, còn mải ăn giò và đấu hót).
– Còn một việc nữa, – tên giám thị nói tiếp, – Đội anh có ai là S-311 không?
– Còn phải xem danh sách đã, – đội trưởng đáp, cố ý lần chần. – Ai mà nhớ hết nổi mấy cái con số chó đẻ ấy (đội trưởng vờ vịt cốt cứu Buinovski không phải vào nhà đá đêm nay, kéo dài thời gian cho tới sáng mai, trước giờ điểm danh).
– Buinovski có đây không?
– Gì vậy? Tôi đây! – trung tá lên tiếng từ phía dưới giường của Sukhov. Có những loại người nhanh nhẩu đoảng như thế đấy!
– Anh phải không? Ờ, đúng rồi, S-311. Đi!
– Đi đâu?
– Tự anh biết.
Ông trung ta thở dài đánh thượt, miệng làu bàu. Lúc này, đối với ông dong một chiến hạm chạy trên biển vào đêm giông bão chắc còn dễ hơn là dứt ra khỏi cuộc chuyện trò với bè bạn để vào nằm một mình trong cái xà lim lạnh buốt đó.
– Bao nhiêu ngày vậy? – Ông trung tá hỏi, giọng đã hạ.
– Mười. Nhanh lên nào!
Cùng lúc đó bọn cần vụ réo lên:
– Kiểm tra! kiểm tra! tất cả ra ngoài!
Như thế có nghĩa viên giám thị được cử xuống để kiểm tra phạm đã có mặt ở trại rồi.
Ông trung tá ngoái lại – mang áo bông đi chăng? Nhưng chắc chúng sẽ lột ngay, chỉ để lại áo trấn thủ thôi. Đành mặc như thế này mà đi vậy. Ông trung tá những tưởng Volkovoi đã quên (Volkovoi chẳng quên ai và cái gì bao giờ) và tha cho mình, nên ông cũng chẳng chuẩn bị giấu thuốc lá cho mình nữa. Bây giờ mà cầm ở tay sẽ bị tịch thu tức khắc lúc họ khám xét trước khi quẳng ông vào nhà đá.
Tuy nhiên, trong lúc ông đội mũ, Sezar đã kịp dúi cho ông vài điếu.
– Thôi, tạm biệt anh em, – trung tá buồn rầu gật đầu chào anh em trong đội và đi theo viên giám thị.
Mấy người gọi với theo ông, người thì bảo hãy giữ vững tinh thần, kẻ bảo đừng thối chí, – thì còn biết nói gì hơn nữa? Chính anh em đội 104 đã xây khu xà lim đó, nên họ thông thuộc lắm: bốn bức tường đá, sàn xi măng, không có lấy một lỗ cửa sổ, có lò sưởi đấy, song cũng chỉ đủ làm tan lớp băng đóng trên trần nhà khiến cho nước chảy thành vũng đọng ở sàn. Ngủ trên tấm phản trần, không chăn mềm, đệm gối, răng đánh cầm cập suốt đêm. Bánh mì một trăm bẩy mươi lăm gram mỗi ngày và súp nóng chỉ ngày thứ ba, ngày thứ sáu và ngày thứ chín mới được húp.
Mười ngày đêm! Mười ngày đêm ngồi từ đầu đến cuối trong xà lim đá cũng có nghĩa cả cuộc đời còn lại sẽ phải lê lết với bệnh tật. Mà nếu sống sót, thì bệnh ho lao cũng vĩnh viễn cột chặt ta vào giường bệnh viện.
Còn người nào bị cầm cố trong xà lim mười lăm ngày thì coi như rồi đời – chỉ còn biết ngậm cười dưới ba thước đất.
Khi còn sống trong trại hãy mau mắn cầu nguyện sao cho không rơi vào cái địa ngục trần gian ấy.
– Có định ra không thì bảo, tôi đếm đến ba! – Tên trưởng trại xá gầm lên. – Sau ba tiếng ai không ra, tôi sẽ ghi tên báo cáo lên công dân giám thị!
Trưởng trại là kẻ khốn nạn nhất hạng. Cùng bị giam giữ với anh em tù mà lúc nào hắn cũng lên mặt thủ trưởng, chẳng kiêng nể một ai. Ngược lại, ai cũng sợ hắn. Nếu không mách với giám thị, thì hắn cũng thụi ta vào mặt. Hắn được coi là tàn phế vì mất một ngón tay trong cuộc ẩu đả, còn nhìn bản mặt hắn – rõ là giống côn đồ. Mà hắn đúng là côn đồ thứ thiệt, mang án hình sự, nhưng không hiểu sao người ta lại xử hắn theo luật 58/14, chính vì thế mà hắn rơi vào trại khổ sai này.
Hắn không nói rỡn, bây giờ hắn sẽ ghi tên ta vào giấy, báo cáo lên giám thị, ta sẽ lĩnh đủ hai ngày theo chế độ: ban ngày làm việc khổ sai, đêm vào nằm nhà đá.
Chỉ tới lúc này anh em mới lục tục chậm chạp lê bước ra cửa, chỗ đứng túm tụm lại, chỗ nhảy từ các giường tầng xuống trông như bầy gấu và ai cũng nhao ra phía cửa hẹp.
Sukhov tay cầm điếu thuốc đã cuộn từ lâu, điếu thuốc anh thèm muốn chết, khéo léo nhảy xuống đất, xỏ hai chân vào ủng và định đi ra, song lại thấy tội nghiệp cho Sezar. Anh đâu muốn kiếm chác gì ở hắn, mà lúc này chỉ thấy thương hắn thực sự: thằng cha này quá chăm lo cho bản thân. Hắn chả hiểu đời gì cả – nhận được đồ tiếp tế thì chớ nên bầy hết cả ra đấy mà ngắm. Tốt nhất nên gửi vào kho trước giờ kiểm soát ban đêm. Ăn thì lúc nào chả được. Bây giờ hắn làm thế nào với đống đồ bầy la liệt ra như thế? Cho tất cả vào một chiếc bao rồi mang ra chỗ xếp hàng – chỉ tổ làm trò cười cho năm trăm con người trong trại. Nhưng nếu để lại, thì chưa đầy một giờ đồng hồ kiểm tra con số, kẻ nào chạy về chỗ trước, kẻ ấy sẽ nẫng cái bao ngay. (Ở trại Ust-Izma còn tệ hại hơn. Bọn lưu manh bao giờ cũng đi làm về trước và khi anh em mò được tới phòng thì đồ đạc đã bị chúng dọn sạch sẽ rồi).
Sukhov nhìn thấy Sezar lúng ta lúng túng với các gói thức ăn, song đã muộn mất rồi. Hắn đang nhét giò và mỡ muối vào trong áo, cố cứu vãn được cái gì hay cái ấy.
Sukhov thấy thương hại, bèn bày cách cho hắn:
– Cứ ngồi tại chỗ, Sezar Markovich, chờ cho tới người cuối cùng, ngồi vào chỗ tối ấy và chờ cho người sau cùng đi ra. Khi bọn giám thị sục sạo các giường thì hãy đi ra. Nếu chúng nhìn thấy, nhớ bảo là bị ốm. Còn tôi sẽ chạy ra trước tiên và quay trở vào trước tiên. Cứ thế…
Nói rồi anh co cẳng chạy ra ngoài.
Thoạt đầu Sukhov phải khó nhọc lắm mới chen qua được đám đông (tay lại còn phải giữ cho điếu thuốc không bị bẹp). Trong hành lang chung cho cả hai khối của trại xá và trước cửa ra vào, không ai muốn là người đầu tiên bước ra cả, một lũ ma lanh, mà cứ bám riết lấy hai bên tường, chỉ chừa lại một lối nhỏ vừa một người đi: muốn thì cứ việc ra ngoài trời lạnh, các bố cứ đứng ở đây cho ấm cái đã. Cả ngày phơi mặt ra băng giá, bây giờ lại đứng thêm mười phút nữa cho chết rét chắc? Chả dại. Thằng nào muốn chết, cho chết. Cánh tớ chờ thêm ít lâu nữa!
Giá phải lần khác thì Sukhov cũng cố bám lấy tường đấy, nhưng lần này anh vọt ngay ra ngoài cửa, lại còn réo lên ầm ĩ:
– Sợ gì chứ lũ ngốc? Chả lẽ chưa thấy cái lạnh Siberi bao giờ chắc. Ra ngoài này mà sưởi mặt trời của sói! Ông anh, cho xin tí lửa!
Anh châm thuốc ở trước cửa ra vào rồi bước xuống bậc thềm trại. “Mặt trời của sói” – ở quê Sukhov người ta gọi đùa như vậy để ám chỉ mặt trăng.
Trăng đã lên thật cao! chỉ chút nữa thôi là tới đỉnh điểm, bầu trời bàng bạc phớt màu lá cây, những ngôi sao thật tỏ, nhưng thưa thớt. Tuyết lấp lánh, những bức tường của trại xá cũng trắng xoá, vì thế nên ánh sáng của những ngọn đèn chiếu trong trại không còn chói gắt nữa.
Ở trại đằng kia, phía trước cửa, đem sậm một dòng người đang xếp hàng. Cả trại khác nữa, cũng thế. Từ trại này tới trại kia tiếng chuyện trò thưa thớt, chỉ thấy tiếng những bước chân dẫm tuyết lạo xạo.
Trước cửa bậc thềm, mặt hướng vào cửa trại xá, đã có năm người xếp thành hàng. Phía sau có ba người, Sukhov nhập vào đội năm người thứ hai này. Đã có mấy lát bánh mì vào bụng, miệng lại phì phèo điếu thuốc, đứng ở ngoài này cũng không đến nỗi nào. Thuốc hút được. Tên Latvi không bịp mình, vừa đậm lại vừa thơm.
Mọi người bước dần ra ngoài, bây giờ đã có hai, ba hàng năm người rồi. Những ai ra xếp hàng trước, lúc này nổi cáu: bọn khốn còn đứng bám tường làm cái gì chứ, định cho bố chúng nó chết rét ngoài này chắc.
Không một ai trong đám phạm nhìn thấy đồng hồ trong thời gian ở tù. Mà họ cần quái gì đồng hồ. Phạm chỉ cần biết đã sắp tới hiệu lệnh báo thức chưa? Còn bao lâu nữa thì tới giờ điểm danh? Sắp ăn trưa, ăn tối chưa? Sắp tới giờ tắt đèn chưa?
Họ bảo giờ điểm danh ban đêm vào lúc chín giờ. Ấy là nói thế, chứ không bao giờ nó kết thúc vào lúc chín giờ, thường chúng kiểm tra tới lần thứ hai, thứ ba và trước mười giờ đừng hòng mà được ngủ. Còn kẻng báo thức họ bảo vào năm giờ sáng, thì cũng chỉ biết thế. Chả trách cái tên người Monđavi đã lăn ra ngủ quên trước giờ nghỉ. Nơi nào có chỗ sưởi ấm là phạm ta lăn ra mà ngủ ngay được. Trong tuần được ngủ quá ít, thế cho nên vào ngày chủ nhật không phải đi làm toàn trại xá lăn ra ngủ như chết cả lượt.
Mọi người đang đổ xuống bậc thềm. Bọn giám thị cùng thằng trưởng trại, rặt một lũ súc vật, đang đá đít họ.
– Sao nào? – Những người xếp hàng đầu la ó chửi bới. – Chúng bay tưởng chúng bay khôn lắm hả, lũ khốn nạn? Tưởng lấy cứt mà đánh thành bơ được đấy hả? Ra ngoài này ngay từ đầu, thì có phải xong rồi không.
Toàn trại đã ra hết bên ngoài. Bốn trăm con người – tám mươi hàng năm người đứng nối đuôi nhau. Nhưng cũng chỉ ở phía trên hàng ngũ còn tề chỉnh, phía dưới đuôi mọi người đứng túm tụm, chả ra hàng ra lối.
– Ở dưới kia, xếp hàng vào! – tên trưởng trại gào lên từ trên bậc thềm.
Nhưng còn lâu chúng mới nghe, lũ quỷ sứ, đồ củ chuối!
Sezar bước ra khỏi cửa, so vai rụt cổ, cố làm ra vẻ đau yếu. Đằng sau hắn là hai tên cần vụ ở nửa bên kia của trại chín, và hai tên ở nửa trại bên này, cùng với một tên thọt nữa. Chúng làm thành hàng năm người đầu tiên, chính vì thế Sukhov thành ra đứng ở hàng năm người thứ ba. Chúng đuổi Sezar xuống phía cuối.
Tên giám thị bước ra ngoài hiên.
– X ế p h à n g n ă m! – Hắn gào những người ở dưới đuôi, giọng hắn khoẻ thật.
– X ế p h à n g n ă m! – Trưởng trại gào theo, giọng còn khoẻ hơn.
Nhưng bọn dưới đó vẫn không chịu hiểu, đồ củ chuối!
Tên trưởng trại tức điên người, vọt xuống phía dưới, chửi bới om xòm, đánh đấm túi bụi.
Nhưng xem hắn đánh những ai, rặt bọn thỏ đế.
Cuối cùng đâu cũng vào đấy. Hắn quay trở lại bắt đầu đếm cùng bọn giám thị:
– Một! hai! ba!
Hàng nào điểm xong, lập tức mọi người ba chân bốn cẳng chạy vội vào trong trại xá. Thế là xong một ngày với các sếp!
Xong có nghĩa là không phải đếm lại lần thứ hai. Bọn óc bã đậu này, trán thì trông rõ rộng mà còn ngu hơn bất cứ thằng chăn cừu nào. Thằng chăn cừu tuy thất học, chỉ biết chăn cừu thôi, song trên đường về cũng còn biết thiếu đủ ra sao. Mấy tên khốn này có mà nhồi vào đầu cũng chỉ đến thế.
Mùa đông năm ngoái trong trại lại còn không có lấy nổi một cái lò sấy giầy nào, cho nên phạm phải để lại ủng của mình trong phòng cả đêm. Đã thế còn bị đuổi ra ngoài kiểm tra tới ba bốn bận. Chính vì vậy họ chả thèm mặc quần áo cho tử tế, cứ thế quấn chăn vào người rồi ra xếp hàng. Tới năm nay người ta cho xây vài cái lò. Không phải cho tất cả các đội một lúc, song cứ đôi ba ngày các đội lần lượt thay nhau sấy. Bởi thế, nên hồi này, khi nào phải đếm lại, chúng để anh em ở bên trong trại, chỉ xua từ nửa trại này sang nửa trại kia thôi.
Sukhov chạy vào bên trong, tuy không phải người đầu tiên, nhưng mắt anh không rời tên phạm chạy vào trước. Chạy tới giường của Sezar anh ngồi xuống, cởi ủng ra, leo lên một chiếc giường gần lò sưởi, đặt đôi ủng của mình lên đó. Ở đây ai đến trước thì hưởng trước. Sau đó anh quay lại giường Sezar, ngồi xếp chân bằng tròn trên đó, một mắt để ý không cho tên nào ở phía dưới thò tay lên thó đồ của hắn, một mắt canh chừng không cho tên nào đẩy đôi ủng của anh ra để chiếm chỗ.
– Này! – Anh buộc phải hét toáng lên, – mày, thằng tóc đỏ kia! Muốn được nện ủng vào mặt hả? Cứ việc đặt ủng của mình vào, nhưng đừng có động đến của người khác!
Phạm lũ lượt đổ trở lại trại xá. Ở đội 20 mọi người hò nhau:
– Đem ủng đi sấy!
Bây giờ người ta thả họ ra để đi sấy ủng, rồi khoá cửa lại. Một lát sau những người này chạy về, đấm cửa thình thình:
– Công dân giám thị ơi, mở cửa cho chúng tôi với!
Nhưng bọn giám thị đã đi lên trung tâm để đọ sổ sách với phòng tài vụ xem có thằng tù nào chạy trốn hay không.
Hôm nay Sukhov cóc thèm để ý đến mấy việc này. Kìa Sezar đang đi về giữa hai hàng giường, miệng suýt xoa:
– Cám ơn anh, Ivan Denhisych!
Sukhov gật đầu và nhanh như sóc, anh leo lên giường của mình ở phía trên. Bây giờ có thể ăn nốt hai trăm gram bánh, hoặc hút điếu thứ hai, hoặc lăn ra mà ngủ.
Nhưng Sukhov đâu muốn ngủ ngay, bởi vì anh đã có được một ngày thật đẹp, nó khiến anh thấy vui vẻ quá.
Sắp giường chiếu – chuyện nhỏ: chỉ việc kéo cái chăn đen đã bạc màu, rồi nằm lên đệm (lâu lắm rồi, có lẽ từ năm bốn mốt, sau khi đi khỏi nhà tới giờ, anh chưa nằm ngủ trên vải trải giường bao giờ. Và anh lấy làm lạ tại sao đàn bà lại cứ phải phiền phức vì khăn trải giường thế nhỉ. Chỉ tổ mất công giặt), đặt đầu lên cái cái gói nhồi phoi bào, hai chân đút vào áo trấn thủ, đắp chăn lên, phía trên đắp thêm chiếc áo bông nữa, và thế là cám ơn Chúa, một ngày nữa lại qua rồi!
Cám ơn Chúa, vì không phải ngủ ở xà lim, nằm ở đây cũng không đến nỗi nào.
Sukhov nằm, đầu hướng ra cửa sổ, còn Aliosa nằm ở giường bên kia, cạnh anh, trở ngược đầu đuôi để hứng lấy ánh sáng đèn. Anh ta lại đang đọc Phúc Âm.
Ngọn đèn điện cách chỗ họ không xa, có thể đọc sách, thậm chí khâu vá quần áo cũng được.
Aliosa nghe thấy Sukhov thầm thì cảm ơn Chúa, bèn quay lại.
– Ivan Denhisovich, tâm hồn anh muốn cầu nguyện Chúa, tại sao anh không để cho nó làm việc đó nhỉ?
Sukhov liếc nhìn Aliosa, hai mắt anh ta giống như hai ngọn nến, ấm áp. Anh thở dài:
– À, bởi vì những lời cầu nguyện cũng giống như mấy cái đơn khiếu nại, cũng có thể đến được tay cấp trên, cũng có thể chả bao giờ tới được, hoặc quay trở về với một chữ bên cạnh: “Bác đơn”.
Trước cửa văn phòng trụ sở trại có đặt bốn chiếc hộp nhỏ màu đen niêm phong cẩn thận và hàng tháng có một người được họ uỷ quyền tới mở các hòm lấy thư ra. Nhiều đơn từ ở trong mấy cái hòm đó bị quẳng đi. Còn phạm ta thì cứ đợi, tính từng ngày, ngóng tin phản hồi. Nhưng nào có thấy. Hoặc chỉ nhận được mỗi chữ: “Bác đơn!”.
– Ivan Denisovich ạ, chính vì anh cầu nguyện ít quá, lại không thành tâm, nhẫn nại, hoá cho nên những lời cầu nguyện của anh chả bao giờ thành hiện thực được cả. Cầu nguyện phải thường xuyên cơ. Ví như có đức tin, thì anh bảo núi chuyển, nó cũng phải chuyển.
Sukhov cười khẩy và cuốn thêm một điếu thuốc nữa. Anh châm lửa nhờ ở cặp Estoni.
– Thôi đi Aliosa, đừng huyên thuyên. Tớ chưa từng thấy núi chuyển, vả cả cả đời tớ đã nhìn thấy núi bao giờ đâu. Còn các cậu ở Kavkaz, cả hội Tẩy lễ nhà các cậu cùng cầu nguyện, thế các cậu đã nhìn thấy quả núi nào chuyển động chưa?
Mấy người Tẩy lễ này kể cũng khổ: cầu nguyện Chúa thì có hại đến ai, ấy thế mà cả bọn đều bị lãnh hai mươi lăm năm tù. Thì bây giờ nó là vậy, ai cũng hai mươi lăm năm tuốt tuột.
– Nhưng chúng tôi đâu có cầu nguyện điều đó, Ivan Denhisych, – Aliosa khơi gợi. Hắn cầm cuốn sổ chép Phúc Âm xán tới gần Sukhov, ngó sát mặt anh, – Trong tất cả mọi thứ trần tục, phù du, chúng tôi chỉ cầu xin Thượng đế có được miếng ăn hàng ngày mà thôi: “Xin cho chúng con đồ ăn ngày nào đủ ngày nấy!”
– Tức là khẩu phần hàng ngày, đúng không? – Sukhov hỏi.
Nhưng Aliosa vẫn nói tiếp, ánh mắt hắn thuyết phục nhiều hơn lời hắn nói, hắn đặt tay lên tay Sukhov, khẽ vuốt:
– Ivan Denicych! không nên cầu nguyện vì một gói đồ tiếp tế hay một xuất cháo thừa. Những gì ta coi là quý giá lại thấp hèn trước Chúa! Cần cầu nguyện những gì thuộc tâm linh: sao cho Đức Chúa Lời lấy hết những cái ác trong tâm chúng ta…
– Nghe tớ nói chuyện này còn hay hơn. Ở nhà thờ Polomensk chỗ chúng tớ có một cha cố…
– Đừng nói về ông cha đạo của anh nữa! – Aliosa nài nỉ, thậm chí trán hắn nhăn lại vì đau đớn.
– Không, cậu hãng cứ nghe đã. – Sukhov chống khuỷu tay nhỏm dậy. Cả vùng Polomensk chúng tớ không có ai giàu bằng lão cha cố. Tiền công sửa cái mái nhà bình thường ra là ba mươi rúp một ngày, riêng cha cố người ta phải lấy tới trăm rúp. Mặc dù người ngợm ục à ục ịch, lão đi lại với ba mụ đàn bà ở ba thành phố khác nhau, hàng tháng trợ cấp tiền cho họ, còn với người thứ tư thì lão sống như vợ chồng hẳn hoi. Lão nắm thóp ông tổng giám mục, biếu xén ghê lắm, chẳng thế mà tất cả các ông cha cố mà người ta cử đến địa phận đều bị lão đẩy đi hết, lão chẳng muốn chia chác với ai…
– Anh nói về cha cố làm gì? Nhà thờ Chính thống đã xa lìa Phúc Âm. Người ta đâu có bắt giam họ, tống họ vào tù, ấy là vì người ta biết rằng họ đâu có đức tin thực sự.
Sukhov hút thuốc, bình thản nhìn Aliosa đang bị kích động.
– Aliosa, – anh đẩy nhẹ tay hắn ra, khói thuốc lá của anh bay vào mặt hắn. – Tớ đâu có chống lại Chúa, cậu hiểu chứ. Tớ sẵn lòng tin vào Chúa. Có điều tớ không tin có thiên đàng và địa ngục. Các người coi bọn này là lũ ngốc hay sao mà cứ hứa hiêu hứa vượn mãi về thiên đường với chả địa ngục? Đó là cái tớ ghét nhất.
Sukhov nằm trở lại, cẩn thận vẩy tàn thuốc sau đầu, chỗ giữa đầu giường anh và cửa sổ, tránh không làm cháy đồ của ông trung tá. Mải nghĩ, anh không nghe thấy Aliosa thì thầm gì nữa.
– Với lại, dù mình có cầu nguyện bao nhiêu chăng nữa, cái hạn tù của mình đâu có ngắn bớt đi. Cứ phải lê cho hết, từng ngày, từng ngày một, từ kẻng báo thức tới kẻng ngủ.
– Ấy, anh đừng nên cầu nguyện điều đó! – Aliosa hoảng sợ. – Anh cần tự do để làm gì? Có tự do thì đức tin cuối cùng còn sót lại trong anh, giống như chút hạt giống, sẽ mắc kẹt trong bụi mận gai! Anh phải lấy làm mừng vì ở trong trại tù! Ở đây anh còn có thời gian mà nghĩ đến linh hồn! Sứ đồ Palo từng nói: “Các người khóc lóc gì vậy, muốn làm nát lòng ta chăng? Ta chẳng những chịu trói, mà còn sẵn sàng chịu chết vì danh Chúa Jesu”.
Sukhov im lặng nhìn trần nhà. Chính anh cũng không còn biết mình có cần tự do hay không. Lúc mới vào tù anh thèm được tự do lắm, mỗi tối nằm tính xem mình đã ở tù được bao nhiêu lâu, thời hạn còn lại bao lâu. Sau đó phát chán. Sau đó hiểu ra rằng những người như anh họ không thả cho về nhà, mà bắt đi đầy. Vậy thì ở đây hay ở nơi đầy ải, chỗ nào khá hơn, cũng chẳng rõ nữa.
Anh chỉ cầu xin Chúa trời có mỗi một điều – được về nhà.
Nhưng mà họ không thả…
Aliosa không nói dối anh. Qua ánh mắt, lời nói của hắn cũng đủ biết hắn mừng vì được ở tù.
– Nghe này, Aliosa, – Sukhov giải thích cho hắn, – với anh thì được, Đấng Kitô bảo anh vào tù và anh ở tù là vì Ngài. Chứ còn tôi, tôi ngồi tù vì lẽ gì? Vì việc năm một chín bốn mốt người ta không chuẩn bị cho cuộc chiến tranh? Vì lẽ đó? Nhưng đấy có phải lỗi của tôi đâu.
– Xem ra họ không kiểm tra lần thứ hai…- Kildigs nằm trên giường nói xen vào.
– Ờ, ờ! – Sukhov hưởng ứng. – Phải ghi lên cái ống ở đằng góc nhà: ngày này, tháng này trại không bị kiểm tra lần thứ hai. – Anh ngáp và nói: – ngủ thôi.
Nhưng ngay lúc đó, trong trại giam tĩnh mịch, an phận, bỗng vang lên tiếng động đằng sau cửa ra vào. Có hai tên vừa nãy mang ủng đi sấy chạy vào hành lang hô hoán ầm ĩ:
– Kiểm tra lần hai!
Theo sát họ là viên giám thị:
– Tất cả sang phía bên kia!
Nhiều người đã ngủ. Họ càu nhàu, lồm cồm ngồi dậy, xỏ chân vào ủng (họ vẫn đánh cả quần bông đi ngủ. Mặc quần thường nằm trong chăn không chịu được, người cứ run cầm cập).
– Phù! Quân khốn nạn! – Sukhov chửi, song anh cũng không bực mình cho lắm, vì chưa ngủ.
Sezar từ giường dưới đưa lên anh hai chiếc bánh bích quy, hai cục đường và một lát giò tròn.
– Cám ơn, Sezar Markovich! – Sukhov cúi xuống dưới, lối đi giữa hai dãy giường. – Anh đưa tôi cái bao tôi cất dưới gối tôi cho. Cất trên trên này cho chắc. (Giường tầng trên không thể với tay lên mà thuổng nhanh các thứ được, với lại giường của Sukhov ai mà thèm nhòm ngó).
Sezar đưa lên phía trên cho Sukhov cái bao màu trắng đan lưới của hắn. Sukhov nhét nó xuống dưới đệm và chờ cho gần hết mọi người ra hành lang, vì như vậy anh đỡ phải dẫm chân trần lâu dưới đất.
Nhưng tên giám thị đã gầm lên:
– Ê, người góc đằng kia!
Sukhov nhẹ nhàng nhảy chân trần xuống sàn (là vì đôi ủng của anh cùng với vải quấn chân đang sấy trên lò sưởi, lấy xuống tiếc lắm). Anh đã khâu biết bao đôi dép đi trong nhà, song toàn là cho người khác, bản thân chẳng có lấy một đôi. Với lại anh cũng đã quen, việc này cũng chóng thôi mà.
Vả chúng cũng sẽ bắt tuốt cả dép, nếu ban ngày chúng mò thấy được.
Những người trong đội đến phiên được sấy giầy, người đi dép, người để nguyên cả vải quấn chân, người dẫm chân không.
– Nhanh chân lên! nhanh lên! – tên giám thị quát tháo.
– Bọn bay muốn ăn gậy lắm hả, đồ mắc dịch! – tên trưởng trại có mặt tức thì.
Tất cả bị dồn sang nửa kia của trại và những người ra cuối cùng phải đứng ở ngài hành lang. Sukhov đứng ở ngoài đó, áp người sát vào tường gần nhà vệ sinh. Sàn nhà ướt át dưới chân anh, một ngọn gió buốt lạnh luồn vào từ chỗ cửa ra vào.
Mọi người đã bị đuổi hết sang nửa bên kia nhà và tên giám thị cùng với tên trưởng trại xá lại đi lục soát xem còn ai ở lại nấp trong bóng tối. Bởi vì đếm không đủ tù – khốn nạn, đếm thừa tù – cũng khốn nạn. Thế là lại phải kiểm lại từ đầu.
Hai tên sục sạo, sục sạo chán rồi quay trở lại chỗ cửa.
– Một, hai, ba, bốn… – Bây giờ thì chúng nhanh chóng cho từng hàng năm người vào một. Sukhov là người thứ mười tám qua vòng kiểm soát, anh phóng vội về giường. Đặt một chân lên mép giường tầng dưới, anh tung người và đánh soạt một cái đã ở trên chỗ của mình.
Tốt rồi. Hai chân lại đút vào hai tay áo bông, đắp chăn lên người và trên cùng là áo trấn thủ. Ngủ thôi! Bây giờ anh em phạm ở nửa nhà bên sẽ bị lùa sang bên này. Họ cứ việc kiểm, chả động dạng gì đến mình.
Sezar trở về giường. Sukhov đưa xuống trả hắn cái bao đựng đồ ăn.
Aliosa cũng đã quay về. Hắn chẳng khôn gì cả. Có cái gì cũng cho mọi người, mà bản thân nào có kiếm được gì.
– Cầm lấy, Aliosa! Anh đưa hắn một chiếc bánh bích quy.
Aliosa nhoẻn miệng cười:
– Cám ơn anh. Anh đã chẳng có…
– Ăn đi!
Tớ chẳng có, nhưng tớ còn kiếm được.
Và anh bỏ miếng giò vào miệng. Răng anh nhai miếng giò! Răng đang nhai. Ôi chao cái vị của thịt. Nước của thịt. Thịt chính hiệu. Nó đang trôi xuống bụng.
Nhoằng một cái, miếng giò đã biến mất.
Những thứ còn lại, Sukhov nghĩ bụng, mình sẽ ăn trước giờ điểm danh buổi sáng.
Và anh kéo tấm chăn mỏng, đã lâu không giặt, trùm đầu. Lúc này anh đã không còn nghe thấy ở các lối đi giữa các dãy giường mỗi lúc một chật cứng tù nhân của nửa trại bên: họ chờ người ta đang lục soát chỗ của họ.
Sukhov nhắm mắt ngủ và anh thấy thật hài lòng. Ngày hôm nay thật may mắn: không phải vào nhà đá, đội của anh không bị lùa đi làm ở Khu Dịch Xá, bữa trưa anh gặt hái được thêm một bát cháo, đội trưởng nâng được năng xuất cho anh em, xây tường thật vui vẻ, qua mặt được bọn kiểm soát miếng sắt mẻ, kiếm được tí chút của Sezar, lại còn mua được cả thuốc lá. Và không bị bệnh. Cơn đau buổi sáng đã qua khỏi.
Một ngày đã qua gần như không một điều phiền muộn. Có thể coi là một ngày hạnh phúc.
Trong hạn tù của anh, từ tiếng kẻng này tới tiếng kẻng khác, có ba nghìn sáu trăm năm mươi ba ngày như thế.
Vì vướng mấy năm nhuận, nên bị dôi thêm ba ngày…
* Bap-tit – một giáo phái thuộc Cơ đốc Tân giáo (Tin Lành) xuất hiện đầu thế kỷ XVII (hiện truyền bá rộng rãi ở Mỹ). Giáo phải này giản lược sự sùng bái và tổ chức nhà thờ; Lễ rửa tội tiến hành cho người lớn vì cho rằng rửa tội cho con trẻ chưa có ý thức là sự lừa dối và nhạo báng đức tin. (ND)
** Viatich – dân tộc thiểu số Đông Slavơ sinh sống ở thượng lưu và trung lưu sông Oka.
Chú thích:
1.Barak – nhà ghép bằng gỗ trong khu trại giam. Tuỳ theo diện tích và sự phân chia của cấp trên, mỗi nhà có từ một vài tới nhiều đội tù ở. Ở đây chúng tôi dùng từ “trại” chỉ nhà giam đó. Trại số chín, nơi Sukhov ở, chia làm hai ngăn và có tới hơn 400 người (khoảng 20 đội).
2.Buslat – áo khoác bông không tay, chúng tôi dịch là áo trấn thủ
3.Osobyi lager – Trại giam đặc biệt , tức trại có quy chế đặc biệt hà khắc.
4.Volkov – t. Nga có nghĩa là chó sói.
5. Điều 58 – một điều khoản nổi tiếng trong bộ Luật hình sự Xô Viết, bao trùm một phạm vi rất rộng những tội danh được gọi là “chống Xô Viết”: gián điệp, phá hoại, tuyên truyền chống chế độ… và được giải thích để bao quát toàn bộ những hành động của “bất cử phần tử nguy hiểm nào về mặt xã hội”. Dưới thời Stalin điều khoản này được áp dụng rộng rãi và bừa bãi cho cả những ai bị tình nghi là bất mãn xã hội.
6. “Công nhân tự do” – volnye – chỉ những người ở “bên ngoài” (na vole), mà hầu hết là cựu tù nhân mãn hạn, nhưng bị tước quyền trở về quê quán. Họ ở lại sinh sống trong các vùng gần các khu trại giam và làm việc trên các công trường xây dựng.
7. Tên Ivan gọi thân mật.
8. Cựu giáo – giáo phái li khai khỏi Giáo hội Chính thống Nga, không chấp nhận một số cải cách do Giáo trưởng Nikon đề ra ở thế kỷ XVII. Những tín đồ cựu giáo bị ngược đãi cả ở thời kỳ Xô Viết.
9. Tướng Bendera – Stepan Bendera, người lãnh đạo cuộc nổi dậy của binh lính ở Tây Ukrain. Thời kì đầu chiến tranh Bendera hợp tác với quân Đức chống lại Liên Xô, song sau đó ông không còn ảo tưởng về nước Đức Quốc xã nữa và tiến hành chiến tranh du kích trên lãnh thổ Liên Xô. Năm 1959 bị ám sát tại Đức..
10. Trên các công trường xây dựng ở Nga, người ta không xách vữa bằng sô, mà dùng một cái máng gỗ (hoặc sắt tây, có tay cầm ở hai đầu để khiêng, trông giống như một chiếc cáng. Ở đây chúng tôi dịch là cáng, hoặc máng.
11. Sergei Kirov – uỷ viên Bộ chính trị và là Bí thư Thành Uỷ Leningrad. Ông bị ám sát năm 1934. Cái chết của ông tạo cớ cho những vụ bắt bớ, đàn áp tập thể, mở đầu cho chiến dịch đại thanh trừng năm 1936-1938 ở Liên Xô.
12. Nguyên văn : “Ê, Stakhanovich!” – Stankhnovich là tên một công nhân đạt danh hiệu anh hùng lao động toàn Liên Bang năm 1935,trở thành điển hình cho toàn quốc học tập. Phong trào Stankhanovich được nhân rộng rãi trong nhiều thập niên tại Liên Xô.
13. Mỗi Xa-gien bằng 2,134m
14.Hai người đang nói về phim Chiến hạm Potemkin của đạo diễn điện ảnh Xô Viết nổi tiếng Eizenstein thực hiện năm 1925. Phim nói về cuộc nổi loạn của thuỷ thủ trên chiến hạm Potemkin trong phong trào nổi dậy chống Nga Hoàng bất thành tại Nga năm 1905. Tác phẩm điện ảnh này đã trở thành cổ điển trong làng điện ảnh thế giới, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới trường phái điện ảnh hiện thực. Đây cũng là một trong những cuốn phim đầu tiên sử dụng kĩ xảo montage (cắt dán).
15.Iuri Zavadski (…) – nhà hoạt động sân khấu nổi tiếng của Liên Xô.
Đào Tuấn Ảnh dịch

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: