Đường Hội Thánh Đi

Tác giả: Lm. Matthêu Vũ Khởi Phụng, CSsR

Nhân vụ Đức Giáo Hoàng từ chức, vài suy nghĩ về đường Hội Thánh đi (1)

2

Giáo hội nói chung, Đức Giáo Hoàng nói riêng, không cần phải có ai khen lấy được, cũng không cần phải có ai chê lấy được. Giáo Hội và các Đức Giáo hoàng vẫn đi con đường của mình, con đường có sáng có tối, có thăng có trầm, và bên trong những sáng tối thăng trầm ấy, có cái mà thế gian khó nhận biết là Đức Tin vẫn nhất mực tìm đường xuyên qua mọi trở ngại nội sinh hay ngoại sinh. Không ai có thể mô tả hoàn toàn chính xác Giáo Hội tương lai cụ thể sẽ thế nào, hoặc Đấng kế vị Đức Benedict XVI sẽ thế nào. Nhưng sức sống, sức thu hút của Giáo Hội chỉ có thể phát xuất từ con đường đức tin đó.

1. Sét đánh giữa trời quang

Mồng hai tết Quí Tị, chúng ta đang sống trong bầu khí hiệp thông linh thiêng của những ngày Nguyên Đán, các gia đình đang đến nhà thờ thắp hương và nhận lộc Lời Chúa, ở Kỳ Đồng một cộng đoàn lớn đang cầu nguyện tạ ơn chung quanh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, thì ở Roma sấm sét vang rền giữa trời thanh. Lúc ấy là 11g53 phút giờ Roma, xế chiều ở Việt Nam, Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI, giữa công nghị hồng y, bất ngờ tuyên bố từ chức vì lí do tuổi cao sức yếu:

“Sau khi đã tự vấn lương tâm nhiều lần trước mặt Chúa, nay tôi chắc chắn rằng tôi tuổi cao sức yếu, không thể thi hành sứ vụ của Thánh Phêrô một cách thích hợp nữa.
Thế giới ngày nay thay đổi mau chóng, đặt ra nhiều vấn đề rất quan trọng cho đời sống đức tin, cho nên để điều khiển con thuyền của thánh Phêrô và loan báo Tin Mừng, thì cũng cần mạnh khỏe cả thể xác lẫn tinh thần, mà những tháng gần đây, sức khỏe của tôi đã suy giảm đến độ phải nhìn nhận là tôi không còn khả năng để chu tòan sứ vụ đã được trao phó cho tôi.

Vì thế, ý thức được hành động nghiêm trọng của mình, và hoàn toàn tự do, tôi tuyên bố từ nhiệm giám mục Roma… Ngày 28/2/2013, từ 20 giờ, Tòa Roma… sẽ trống ngôi…”.

Đã 600 năm nay, không thấy một biến cố như vậy, nên chẳng ai chờ đợi. Đến cả phát ngôn viên của Tòa Thánh, cha Federico Lombardi, cũng chỉ “mới biết tin sáng nay thôi, khi theo dõi công nghị hồng y”. Cho nên một người có địa vị quan trọng ởVaticanlà Đức hồng y Angelo Sodano, đã phải thốt lên: “Sấm nổ giữa trời quang”. Tưởng là Đức hồng y dùng lối nói tượng hình thế thôi, nào ngờ vài tiếng đồng hồ sau, sét đánh xuống đỉnh vòm đền thờ Thánh Phêrô thật, tấm hình rất ngoạn mục loan đi, lại càng thêm hương vị cho những lời bình luận vốn đã râm ran của truyền thông thế giới.

Người ta liên tưởng đến một vụ sét đánh khác ở đền Thánh Phêrô. Đó là ngày 20/10/1870, Công ĐồngVaticanI kết thúc với một thành quả chính là công bố tín điều về ơn vô ngộ của Đức Giáo Hoàng khi ngài định tín. Đúng vào lúc công bố tín điều và kết thúc công đồng thì một cơn giông tố với sấm sét khủng khiếp nổ ra, át cả những tiếng nói trong đền thánh. Những người bực dọc với công đồngVaticanI thì bảo đó lòng trời nổi giận với Giáo Hội Công Giáo. Những người cổ võ cho công đồng và Đức chân phước giáo hoàng Piô IX lại gợi lên hình ảnh Thiên Chúa uy nghi ngự xuống núi Sinai trong Cựu Ước, giữa lửa cháy và sấm sét rền vang.

Những chuyện bình tán như vậy, nói ngược nói xuôi thế nào cũng được. Không chỉ những người sính điềm thiêng dấu lạ, mà cả những nhà quan sát tự cho mình là rất thành thạo tình hình, cũng nói ngược nói xuôi đủ kiểu. Đúng là sau công đồngVaticanI cùng với tín điều mới, Giáo Hội đã trải qua rất nhiều gian nan khốn khó. Công đồng kết thúc vào lúc bầu trời Châu âu tối sầm vì cuộc chiến tranh tàn khốc giữa Pháp và Đức, mà một hậu quả là Toà Thánh “mất nước” trước phong trào thống nhất nước Ý của triều đại Savoie. Đức Giáo Hoàng Pio IX từ đó cấm cung, tự cho mình là tù nhân trong điệnVatican. Thế giới Công Giáo coi đây là một thảm họa, Giáo Hội đã mất tự do, mà nếu không khôi phục nước cũ của Tòa Thánh thì vết thương sẽ không bao giờ nguôi ngoai.

Các nước châu Âu lần lượt chèn ép Giáo Hội về mọi mặt. Đầu tiên là ở Đức, cường quốc số một của Châu Âu, với thủ tướng Bismarck, được coi là người hùng số một mà cũng là gian hùng số một của thời đại, phát động cuộc chiến văn hóa (Kulturkampf) chống lại Giáo Hội Công Giáo. Nguyên nhân sâu xa là vì ông cho rằng tín điều Đức Giáo Hoàng vô ngộ tạo điều kiện cho Giáo Hoàng can thiệp vào việc chính trị của các nước. Chiến dịch chống Công Giáo củaBismarcktừ Đức lan sang Thụy Sĩ, khiến cho giáo hội ở hai nước này chịu nhiều phen điêu đứng. Nước công giáo lớn nhất châu Âu là nước Pháp thì chính quyền dần dần rơi hết vào tay của phe chống Giáo Hội. Trong một nửa thế kỷ từ đó mà đi, những vụ tấn công liên tiếp và hiểm độc vào Giáo Hội, khiến giáo hội vỡ thành từng mảng lớn. Nước Ý cứ tưởng là toàn tòng thì với phong trào thống nhất đã trở nên một sức mạnh gay gắt bài xích Giáo Hội, nhất là Toà Thánh lại phản ứng bằng cách kêu gọi người Công Giáo tẩy chay mọi sinh hoạt chính trị, không tham gia bầu cử, không ứng cử và tất nhiên không đắc cử. Đa số các giới văn hóa, khoa học tỏ vẻ coi thường tôn giáo và Giáo Hội, như những tàn dư cũ của một quá khứ còn ngắc ngoải. Nếu bảo Trời giận Giáo Hội Công Giáo thì Trời giận đấy!

Nhưng tại sao Trời giận mà Trời vẫn tặng nhiều quà lạ? Giáo Hội phát triển ở nhiều miền đất mới. Châu Á, Châu Phi, Châu Đại Dương, Bắc Mỹ… đã tạo ra tính cách toàn cầu cho Giáo Hội ngày nay. Ở thế giới Âu Mỹ được coi là đầu tầu văn minh hiện đại, thì từ 1878, với Đức Giáo Hoàng Leo XIII, Giáo Hội bắt đầu phục hồi vị thế, đôi lúc có thể nói là rực rỡ. Đức Leo XIII với sự mẫn cảm phi thường lại chỉ là người mở đầu một kỷ nguyên mới của chức vụ Giáo Hoàng. Vụ tòa thánh mất nước, mà tuyệt đại đa số người công giáo coi là thảm họa, hóa ra lại là một sự giải thoát. Từ ngày không còn nhiều vướng bận quanh co với những ràng buộc chính trị, Tòa Thánh trở về gần với thực chất là một trung tâm tinh thần và tâm linh. Xuất hiện một loạt các vị Giáo Hoàng tuy khác nhau, thậm chí bề ngoài đôi khi đến mức tương phản, nhưng đều là những lãnh tụ tinh thần, những bậc tôn sư rất lớn, tạo ra sức lan tỏa của Giáo Hội và Tòa Thánh cho đến ngày nay. Dù thế kỷ XX đã có hai cuộc thế chiến, đã có những ý thức hệ tàn khốc đối với Giáo Hội trong thời gian lâu dài và trên những vùng đất rộng lớn của thế giới, Giáo Hội cũng không vì thế mà suy tàn.
Ôn lại cả những điều gian nan mất mát, lẫn những thành tựu như vậy, ta có thể nhận ra: Giáo Hội, về mọi mặt giống như cuốn Kinh thánh, vừa là một sự mầu nhiệm Chúa làm, lại vừa là một công trình của con người với tất cả những nỗ lực, trí tuệ, tâm hồn, mồ hôi nước mắt, với tất cả những ưu khuyết điểm của con người. Có lẽ nên nghĩ đến cái tổng hợp Nhân Thần đó trong những ngày này, khi sự từ chức của Đức Benedicto XVI, đang làm dấy lên đủ thứ bình luận. Có những bình luận nhìn Giáo Hội theo một quan điểm hoàn toàn trần thế, do đó mất hút cái thực tại tâm linh của Giáo Hội. Nhìn kiểu này sẽ đưa ra những dự đoán lung tung mà tương lai sẽ chứng minh là thiếu thực chất. Nhưng cũng có nhiều người Công Giáo quan niệm quá giản đơn về mối tương quan giữa siêu nhiên và tự nhiên, giữa siêu việt và nhập thể, để rồi ngạc nhiên, hoang mang, hoặc là có thái độ nặng về tình cảm, mà không đếm xỉa thực tại. Giáo hội nói chung, Đức Giáo Hoàng nói riêng, không cần phải có ai khen lấy được, cũng không cần phải có ai chê lấy được. Giáo Hội và các Đức Giáo hoàng vẫn đi con đường của mình, con đường có sáng có tối, có thăng có trầm, và bên trong những sáng tối thăng trầm ấy, có cái mà thế gian khó nhận biết là Đức Tin vẫn nhất mực tìm đường xuyên qua mọi trở ngại nội sinh hay ngoại sinh. Không ai có thể mô tả hoàn toàn chính xác Giáo Hội tương lai cụ thể sẽ thế nào, hoặc Đấng kế vị Đức Benedict XVI sẽ thế nào. Nhưng sức sống, sức thu hút của Giáo Hội chỉ có thể phát xuất từ con đường đức tin đó.

Nay xin trở về vụ việc Đức Benedict XVI từ chức…

***

Đức Benedictô XVI, những chặng đường kế vị Phêrô (2)

1

Năm 2005, khi Đức Hồng Y Ratzinger lên ngôi thánh Phêrô với danh hiệu Benedictô XVI, thì tiếng tăm (-hay tai tiếng ?-) về sự “bảo thủ” của tân giáo hoàng đã lan xa, đã đi trước con người. Một số giới nào đó, có cả những nhà thần học, đã hằn học dành cho ngài những mỹ từ làm biệt hiệu- Rottweiler của Chúa, hồng y Panzer ( Rottweiler là một loài chó Đức chuyên giúp việc chăn giữ các đàn chiên cừu, còn Panzer là xe thiết giáp của quân đội Đức hồi thế chiến thứ 2). Đó là vì trong những năm dài sát cánh với Đức Gioan Phao-lô II trong nhiệm vụ bộ trưởng giáo lý đức tin; ngài đã phê bình, kiểm duyệt, thậm chí thanh trừng những tư tưởng mà ngài cảm thấy có hàm lượng vi trùng lệch lạc. Cách Ngài khẳng định tín lý bị nhiều người coi là quá cứng nhắc, quá hẹp nghĩa.

Nếu chỉ nghe những biệt hiệu Rottweiler, Panzer, ta dễ hình dung một nhân vật mặt sắt đen sì, hét ra lửa. Từ ngày nhân vật ấy trở nên Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI, hằng ngày xuất hiện trước trăm nghìn cặp mắt, ta lại được làm quen với một con người khác. Một cụ già nhân dáng mong manh, phong thái rất mực hiền hòa, nói năng nhỏ nhẹ, ôn tồn, mái tóc bồng bềnh bạc phơ. Cụ nói về Thiên Chúa là tình yêu mến, về người ta đuợc cứu thoát nhờ hi vọng cậy trông, về nói sự thật trong lòng mến ( nhan đề của ba thông điệp lớn: Deus caritas est, Spe salvi, Caritas in veritate ). Cụ nói về những giá trị nhân bản, về hòa bình, đối thoại, về vấn đề sinh thái, môi trường, v..vv… Tư tưởng rất khúc chiết. Trong khi tư duy của Đấng tiền nhiệm Gioan Phaolô II có vẻ trùng trùng điệp điệp, vời vợi cao sâu, thì ý và lời và ngữ nghĩa của Đức Benedictô XVI lại cứ trong suốt như nước từ nguồn chảy ra, hồn nhiên róc rách.

Tất nhiên những sự ấy chẳng có gì mâu thuẫn với một lập trường dứt khoát. Nhưng ta chợt chột dạ, thế những cái gọi là Rottweiler, là Panzer đâu rồi? Có lẽ ở vào thời đại các phương tiện truyền thông tranh đua phát triển vũ bão này, người ta thích những công thức “chém gió”, gói gọn những điều uyên áo vào một vài khẩu hiệu bắt mắt, sướng tai, tuy rằng sự thật thì bao giờ cũng đa dạng, và tổng hợp.

Xem ra Đức Benedictô đúng là một người nặng lòng với di sản quá khứ. Nhưng đâu có phải cứ quá khứ là vô giá trị? Bởi vì có những giá trị vĩnh hằng; chẳng lệ thuộc vào thời gian quá khứ, hiện tại hay tương lại. Người ta có thể bảo thủ chỉ vì tâm trí không theo kịp những biến đổi của thời đại, trở nên dị ứng với những cái mới. Nhưng người ta cũng có thể yêu quá khứ, vì đã cảm được cái tâm, cái tinh hoa anh linh, cái vi diệu dưới một bộ áo cổ xưa nào đó. Ngay từ những ngày còn là một thần học gia trẻ, làm cố vấn cho Đức Hồng y Frings ở Công đồng Vatican II, cha Ratzinger đã chủ trương phải về nguồn Thánh Kinh, về nguồn giáo phụ. Ở cái nguồn ấy, có kho báu của đức tin, có dòng chảy của Mạc Khải, có những đỉnh cao của tâm linh nhân loại. Trong trường hợp này thì không còn là sự bảo thủ hẹp hòi. Trong “ôn cố” có “tri tân”. Thì cũng như Đức Chân Phước Gioan XXIII với Công Đồng Vatican II, “về nguồn” để đi vào “hôm nay” (Aggiornamento).

Trong nhiệm vụ là người đứng đầu bộ giáo lý Đức Tin, Đức Ratzinger đã từng mang tiếng là mạnh tay trong phê phán và kiểm duyệt. Đó là nhiệm vụ của Ngài , và cũng là một nhiệm vụ thích hợp với trí tuệ sắc sảo rất ưa chính xác của Ngài. Cho nên đừng thấy tăm tiếng là Rottweiler hay Panzer mà tưởng tượng ra một ông chuyên chính, công an tư tưởng hay một ông thông tin tuyên truyền một chiều. Lấy ví dụ như trong vụ nhà thần học Jacques Dupuis với vấn đề các tôn giáo ngòai Kitô giáo chẳng hạn. Nhận định của Bộ giáo lý Đức Tin, mang chữ ký của hồng y Ratzinger phân biệt rõ cách hiểu đúng và hiểu không đúng về những điểm tín lý quan trọng “khả dĩ đưa người đọc vào những quan điểm sai lầm hoặc nguy hiểm”. Tuy rằng đó là “ngoài ý của tác giả”. Sau đó là những minh định về tín lý: “Khẳng định rằng trong các tôn giáo có những hạt mầm chân thiện; một cách nào đó đã thuộc về chân thiện hàm chứa nơi Đức Giêsu Kitô, thì đó là hợp với đạo lý Công giáo. Trái lại, nếu coi tất cả hoặc phần nào những yếu tố chân thiện đó mà không phát xuất uyên nguyên từ nguồn suối trung gian Giêsu Kitô thì là một quan điểm sai lầm”.

Dựa vào những nhận xét như thế để cho rằng Đức Ratzinger muốn quay về với những cung cách của Pháp đình tôn giáo truy tà thời Trung cổ xa xưa thì thật là cố tình vu khống. Hóa ra đằng sau cái tinh thần rạch ròi, thích chính xác, thích những phân tích tế vi đó không phải là một pháp quan cau có, mọi sự cau có hình như nằm cả bên những người cau có với Đức Ratzinger. Nếu khi gặp ngài Ratzinger bằng xương bằng thịt, ta ngạc nhiên thấy một người hòa nhã, thanh thoát, một tâm hồn vui với đạo, vui vì ở trong ánh sáng. Từ ngày kế vị Phêrô, Đức Benedictô XVI đã biết bao lần nói về niềm vui của đức tin, nhất là những khi tiếp xúc với người trẻ, thậm chí ngài đã viết cả một cuốn sách về niềm vui ấy. Niềm vui là một nét nổi bật trong linh đạo của ngài. Có phải vì thế mà con người mang tiếng khó tính này lại hay ngồi vào piano để thả hồn theo những giai điệu rực sáng hân hoan, thoăn thoắt tung tăng của Mozart? Hóa ra không phải khó tính, mà là một sự tinh tế cao độ.

Dư luận cho rằng sau khi Đức Gioan Phaolô II qua đời, sở dĩ trong Hồng y đòan đã nhanh chóng thành hình đa số hai phần ba để suy tôn Đức Ratzinger lên ngôi giáo hoàng, phần lớn là vì các hồng y đã có ấn tượng sâu sắc về Đức Ratzinger trong những ngày Tòa Thánh trống ngôi. Lúc đó ngày nào cũng hội họp hồng y. Và Đức Ratzinger do nhiệm vụ đòan trưởng hồng y đoàn, phải điều hành các cuộc họp. Đấy là cơ hội để hồng y đòan thế giới phát hiện một ngài Ratzinger rất mau nắm bắt các ý kiến, biết lắng nghe sâu sắc, có lối ứng xử thông minh mà đằm thắm trong rất nhiều tình huống khác nhau.

Có một vị hồng y Việt Namkhi ấy đã qua đời, nhưng đã để lại một vài kỷ niệm có ý nghĩa. Năm Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã được mời giảng tĩnh tâm ở Vatican, chủ đề “Năm chiếc bánh và hai con cá”. Ít lâu sau, Đức Hồng y Ratzinger cho thư ký riêng đến gặp vị giảng thuyết. Đức Hồng Y Thuận kể lại với đôi chút hóm hỉnh rằng: lúc đầu ngài chột dạ, hay là vì bộ trưởng giáo lý đức tin có điều gì phê phán mấy bài giảng? Không phải. Hồng y Ratzinger chỉ muốn xin bản văn mấy bài giảng để chia sẻ với anh em giáo sĩ bên Đức. Ngài cho rằng anh em ở Đức cần nghe những kinh nghiệm đó. Văn phong của Đức Hồng Y Thuận thì khác với Đức Ratzinger; ở đây thần học hay linh đạo nhè nhẹ tỏa ra từ một giọng nói rỉ rả kể lể những cảm nghiệm của một người lâu năm ở tù với Chúa, điểm thêm những nụ cười ý nhị. Sau này, trong thông điệp Spe salvi về niềm hi vọng cậy trông, Đức Giáo Hoàng Benendictô XVI sẽ nhắc đến Đức Hồng Y Thuận một cách trìu mến . Nghĩa là Ngài không chỉ ở trong những nguyên lý thần học để phán xét, mà còn thu lượm những kinh nghiệm sống để cảm thông.

Ngày 19/04/2005, sau một mật nghị ngắn ngủi Đức Hồng Y Ratzinger đã được bầu làm Giáo Hoàng kế vị Đức Gioan Phaolô II dưới danh hiệu Benedictô XVI. Tiếng Latinh có một từ thừa hưởng của ngoại đạo, để gọi các giám mục, nhất là vị thủ lãnh các giám mục là Đức Giáo Hoàng. Đó là từ Pontifex. Pontifex có nghĩa là người bắc cầu. Riêng đối với Đức Giáo Hoàng, người ta thêm từ “tối cao” (Summus Pontifex). Người Pháp nói: Souverain pontife: “Vua bắc cầu”, nếu dịch theo từ nguyên.

Đức Giáo Hoàng là người bắc cầu giữa Thiên Chúa với lòai người. Với bí tích giám mục, người là Đấng chủ tế trong phụng tự. Với sứ mạng giảng dạy và hướng dẫn đức tin, người lắng nghe tiếng Chúa, bắt mạch thời đại (“điềm thời đại”, “dấu chỉ thời đại” của Đức Chân Phước Gioan XXIII), để diễn dịch tiếng Chúa, ý Chúa cho người đương thời. Người đi trong mạch đức tin truyền thống của Hội Thánh, người cũng lắng nghe tâm tư lành mạnh hay bệnh hoạn của xã hội bao quanh, đâu là những giá trị thật, đâu là những lệch lạc ngoan cố. Nghe tiếng Chúa làm sao cho rõ, bắt mạch thời đại làm sao cho trúng. Thế cũng là bắc cầu.

Từ ngày đó, Đức Benedictô XVI chăm lo bắc cầu giữa bến bờ của Thiên Chúa với bến bờ của lòai người …

***

Người bắc cầu, người phá cầu (3)

3

Tám năm về trước, chuông các nhà thờ Roma đã ngân vang chúc mừng Tân Giáo Hoàng Benedicto XVI. Từ ngày đó, nhà thần học suốt bao nhiêu năm chỉ được biết trong các giới chuyên môn, phải đứng ra làm nhiệm vụ bắc cầu đến với thế giới rộng lớn. Hôm vừa rồi, chuông các nhà thờ Roma lại đồng ngân vang để tiễn đưa Ngài. Không phải là tiếng chuông trầm buồn, tưởng niệm như đối với các vị tiền nhiệm quá cố. Vẫn cứ là tiếng chuông vui của lòng tin, trong lúc chiếc trực thăng lượn vòng trên bầu trời Roma, để vào những giờ phút cuối trong sứ vụ Giám mục Thành Đô, Ngài nhìn lại một lần Giáo phận của mình. Những phản ứng cuồng nhiệt của các tín hữu từ hôm Ngài tuyên bố từ nhiệm, hơn 150.000 người tập họp tung hô khi lần cuối cùng Ngài có cuộc gặp gỡ thường lệ hàng tuần với cộng đồng dân Chúa, nét mặt chìm sâu trong cầu nguyện của các nam nữ tu sĩ và tín hữu, giọt nước mắt trên mặt các vị hồng y già như ta thấy trên các phương tiện truyền thông, cũng như vô vàn vô số các buổi cầu nguyện trong khắp Hội Thánh, đó là lúc những cây cầu vô hình Ngài đã bắc trong tám năm hiện hình.

I

Chính vì vậy, đứng trước đám đông nồng nhiệt, ở quảng trường Thánh Phêrô, Ngài đã nói: “Tôi thật cảm động vì tôi thấy Hội Thánh đang sống dạt dào”. Như thế, không có nghĩa là công việc bắc cầu của Ngài lúc nào cũng xuôi thuận. Trái lại, trong tám năm Ngài ở trên ngôi Giáo Tông, mỗi khi Ngài muốn bắc một nhịp cầu thì hầu như bao giờ cũng có ngay một phản lực nào đó rất mạnh xuất hiện. Ngài muốn tạo dựng sự hiệp thông hòa giải với nhóm siêu bảo thủ ly khai Tòa Thánh theo giám mục Lefebvre chăng? Vừa có mấy giám mục tấn phong trái phép trở về quy thuận Tòa Thánh, thì một ông trong số đó lên tiếng phủ nhận các tội ác diệt chủng của nước Đức – Hitler hồi thế chiến thứ hai, trắng trợn phủ nhận cả lịch sử bi đát một thời của thế kỷ XX. Thế là một sự việc tự bản chất chỉ thuộc lĩnh vực phụng vụ và quyền bính thuần túy tôn giáo, bị dư luận Tây Phương và Israel ồn ào đổ vấy cho các tội gian dối phản bội chân lý.

Ngài lại muốn đi đến với thế giới Hồi Giáo với tâm tình hòa bình, thì chỉ cần một câu nói trong một bài diễn thuyết có tính cách tư tưởng hàn lâm, trích dẫn một ý tưởng của một ông Hoàng đế Byzantio thế kỷ 14, chứ không phải ý tưởng và mục đích của Ngài, thế là cả thế giới Hồi Giáo ầm ầm nổi giận, giết thừa sai và tín hữu. Xem ra thế giới nghiên cứu, học thuật, lý thuyết, biện chứng của các nhà học giả thật khác xa với những hỷ nộ ái ố của thế giới đam mê. Đến nỗi một con người như Đức Hồng Y Lustiger của Paris phải nhận định rằng: “Chúng ta đang đối mặt với một hiện tượng do giới truyền thông khua khoắng đến độ phi lý… Nếu thủ thuật là khuấy động hận thù của đám đông với những lời nói mà họ không hiểu, thì không còn hội đủ những điều kiện để đối thoại với Hồi Giáo”. Phải mấy tuần lễ sự sách động mới bắt đầu nguôi ngoai. Thật đáng tiếc trong thế giới hiện tại đầy những chia rẽ hận thù, một sự cảm thông sâu sắc giữa Kitô Giáo và Hồi giáo có thể làm thay đổi bộ mặt thế giới, nhưng có một sự cản phá nào đó khiến cho nỗ lực hòa bình bị đảo ngược.

Đối với tệ nạn giáo sĩ lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên cũng thế. Ngay từ trước khi lên ngôi, Đức Benedicto XVI là người đầu tiên ở Tòa Thánh nhận thức rõ là không thể bao che thủ phạm. Lên ngôi rồi, Ngài thẳng tay áp dụng chính sách không khoan dung, Tolerance Zéro! Thế nhưng chuyện gì xảy ra? Người ta đào xới được một chuyện cũ trong giáo phận của Ngài ngày xưa, dù Ngài không phải là người thụ lý, rồi kêu ầm ỹ là Ngài bao che! Có cả những anh ở nơi xa tít tắp đòi kiện Ngài ra tòa. Bao nhiêu sự bao che mới cũ đổ lên đầu Ngài, làm như thể Ngài là thủ phạm không bằng! Khó lòng mà phân biệt rõ được trong những sự ầm ỹ đó đâu là nỗi đau thật, uất ức thật của các nạn nhân, và đâu là ác ý của những ai đó được dịp tốt thì nhảy vào đánh hôi! Dù Ngài đã tỏ thái độ dứt khoát, đã đích thân gặp gỡ các nạn nhân, nói lời xin lỗi, bày tỏ sự hổ thẹn, người ta vẫn cứ nặng lời tố cáo Tòa Thánh bao che. Thôi thì như Việt Nam ta nói: con dại cái mang… Một lần nữa, người vô tội nhất trong vụ này lại làm con chiên gánh tội trần gian.
Thế rồi, đến chuyện tiền bạc, tài chính của Giáo Hội. Giáo hội tất nhiên là có tiền (mặc dù có nhiều năm bội chi). Tiền đó là của thập phương bá tánh tự nguyện đóng góp và Tòa Thánh phải quản lý, đầu tư… để dùng chủ yếu vào việc tông đồ bác ái. Dần dần tình hình tài chính quốc tế phát triển thì sự quản lý càng lắm ngõ ngách phức tạp, càng có nguy cơ tiền bạc bị lạm dụng sai mục đích, trở nên cám dỗ cho ai đó… Đức Thánh Cha Benedicto XVI lại cũng là người dứt khoát đòi hỏi tài chính Vatican phải tuân thủ mọi tiêu chuẩn quốc tế về sự công khai, trong sáng. Lại một lần nữa cái gì xảy ra? Cái xảy ra nằm ngay trong nội bộ Giáo triều, trong những người làm việc ở Tòa Thánh. Có những quyền lợi nào đó bị đe dọa, có những mâu thuẫn do đó nảy sinh, có những đấu tranh ngấm ngầm. Rất nhiều khó khăn rắc rối, người ngoài cuộc chẳng ai nắm rõ thực chất và chi tiết thế nào. Chỉ biết rằng vết tích lộ ra trong những vụ tài liệu mật của Đức Giáo Hoàng bị rò rỉ. Những thư đệ trình cho một mình Ngài bị lấy cắp và phơi bày trên mặt báo. Rồi những thay đổi nhân sự gay gắt ở Ngân hàng Vatican! Thế là những cố gắng của Đức Giáo Hoàng để đưa hoạt động kinh tài của Tòa Thánh vào nề nếp chuẩn mực bị lãng quên, người ta chỉ thích ồn ào về những giao dịch gọi là đen tối hắc ám nào đó mà chẳng ai nắm rõ đầu dây mối nhợ.

II

Xin được suy nghĩ đặc biệt về một vụ phá hoại nữa đối với Đức Benedicto XVI: vụ Trung Quốc.

Năm 2007, Đức Benedicto viết bức thư về Giáo hội tại Trung Quốc. Mục đích là để giải quyết một tình trạng ngang trái đã kéo dài hơn nửa thế kỷ. Từ 1949, Mao Trạch Đông đã làm bá chủ toàn cõi Trung Quốc. Với kiểu làm cách mạng cực đoan của Mao, đáng lẽ tiêu hủy hoàn toàn Giáo hội tại Trung Quốc mới phải. Nhưng đó là điều không thể. Nên một mặt Mao cho lập ra giáo hội tự trị, không nhận quyền Tòa Thánh, mặt khác đàn áp tàn bạo những ai không chấp nhận giáo hội tự trị. Từ đó giáo hội ở Trung Quốc chia đôi. Những người Công giáo toàn vẹn bắt đầu một kiếp sống “hầm trú”. Những ai chấp nhận giáo hội tự trị thì có một chỗ đứng công khai vừa đủ để thoi thóp.

Phải công nhận một điều: trong số những người lãnh đạo giáo hội tự trị, không phải chỉ toàn những người tình nguyện làm tay sai. Có những người đứng trước áp lực quá sức to lớn của cả lục địa Trung hoa trên cộng đồng Công giáo quá thiểu số, đã nghĩ là đành phải chấp nhận tình trạng ấy để Giáo hội khỏi bị tiêu diệt. Nhiều người khác thì tham sống sợ chết nên đành theo giáo hội tự trị, nhưng trong lòng vẫn ý thức sự sai trái của mình, khắc khoải muốn trở về hiệp nhất nhưng không dám. Chính trong bối cảnh ấy mà đã có một vài giám mục đành lòng đứng ra phong chức cho các giám mục mới của giáo hội Nhà nước. Nhu cầu tâm linh đã chứng minh sức sống của mình khi mà cả cuộc Cách mạng Văn hóa khủng khiếp (1966-1976) chẳng những đã không quét sạch được Tôn giáo theo ý muốn điên khùng của Mao mà còn làm cho nhu cầu tôn giáo tăng lên. Cách mạng Văn hóa vừa tàn phai, các Tôn giáo liền có đất nảy nở.

Tình hình có hai giáo hội Công giáo song song: giáo hội quốc doanh và giáo hội “hầm trú”, vào lúc Trung Quốc không còn là một chốn kín bưng với thế giới bên ngoài, càng ngày càng lộ rõ tính cách bất bình thường. Những ai có dịp tiếp xúc với các tín hữu Trung Quốc đều nhận thấy rất nhiều giáo sĩ, tu sĩ của giáo hội tự trị vẫn mong chờ được trở về hợp nhất, còn đông đảo giáo dân của họ thì chỉ chân thành tìm một chốn để cầu nguyện và sống lòng tin vào Chúa mà thôi. Đồng thời Cách mạng Văn hóa đã tạo nên trong lòng nhiều người trước đó vô Tôn giáo một cơn khao khát tâm linh làm xuất hiện những tông đồ mới. Có những doanh nhân Trung Quốc tự nguyện tổ chức rao giảng Tin Mừng và phượng tự cho các công nhân của mình…

Tòa Thánh, từ thời Đức Gioan XXIII, đã có nhiều động thái kêu gọi nhóm ly khai trở về. Bức tông thư công bố vào thời điểm 2007 bày tỏ sự quý trọng của Hội thánh với Trung Quốc, và kêu gọi dân Chúa thống nhất trong đức tin và đức mến. Kết quả bước đầu thấy rõ, mặc dù chính quyền Trung Quốc phản đối, một số giám mục “quốc doanh” đã quy thuận Tòa Thánh. Nhiều linh mục, mặc dù được giáo hội quốc doanh đề nghị lên chức giám mục, chỉ nhận lời thụ phong sau khi được Đức Giáo Hoàng cho phép. Nếu tình hình này tiếp diễn, có thể nói trong khoảng từ 10 đến 15 năm sẽ không còn tình trạng hai Giáo hội tương phản, một Giáo hội Trung Quốc thống nhất sẽ hồi sinh và hoàn toàn hòa nhập với Hội Thánh Hoàn Vũ. Đó sẽ là một biến cố rất lớn cho Giáo hội toàn vùng Á Đông, và có thể tạo ra một tình hình mới cho Giáo hội toàn cầu.

Một dự phóng lớn đến như vậy tất yếu sẽ có người cản phá. Và những người quyền thế chủ trương phá vỡ sự hiệp thông của Công Giáo Trung Quốc với Tòa thánh Phêrô đã tung ra những đòn ác liệt. Họ liên tiếp tấn phong những giám mục mới không cần Tòa Thánh cho phép, họ cưỡng bức nhiều giám mục mới về quy thuận Tòa Thánh phải tham gia vào hiệp thông trong lễ phong chức các giám mục ly khai; họ giam cầm, sách nhiễu tàn bạo những người khẳng khái nói lên lòng trung thành với Đức Thánh Cha là trung tâm hiệp nhất. Tóm lại, càng xuất hiện những khả năng đưa đến hiệp nhất thì càng phải tạo thêm nhiều nguyên cớ để chia rẽ. Đường đến hiệp nhất bây giờ không ngắn nữa mà đã trải dài không biết đến tận đâu. Nhưng một điều chắc chắn là dù ngắn hay dài thì đối với người Công giáo chỉ có một đường, một hướng để đi đến hiệp nhất. Đó là đường Đức Benedicto XVI đã chỉ ra. Những sự chống đối cản phá là cho con đường thêm phần lên thác xuống ghềnh, thêm phần hiểm nghèo chông gai, nhưng không thể thay đổi được hướng đi tất yếu.

Nếu ta nhìn xa một chút vào lịch sử Giáo Hội, thì thấy những gì Đức Benedicto XVI làm cho Trung Quốc không phải là không có tiền lệ. Đầu thế kỷ thứ XIX Đức Giáo Hoàng Piô VII cũng làm một điều tương tự đối với Giáo Hội Pháp. Cuộc cách mạng Pháp 1789 đã phá tan tành một Giáo Hội công giáo hàng đầu. Từ đó cũng có một giáo hội nhà nước và một giáo hội hầm trú. Đến khi xã hội Pháp đã đi tới tận cùng của sự bát nháo phải trả giá bằng rất nhiều máu và nước mắt, và người ta thèm muốn tìm kiếm sự ổn định vật chất và tinh thần với người hùng Napoléon Bonaparte, Đức Giáo Hoàng Pio VII với sự phụ tá tuyệt vời của Đức Hồng Y Consalvi đã táo bạo nhúng tay giải quyết các vấn đề tồn tại phức tạp ở Pháp. Kết quả là một Giáo hội lớn đã phục hưng. Mặc dù đó là một quá trình dài đầy gian nan khổ ải, Đức Piô VII và các Hồng Y Roma có lúc bị Hoàng Đế Napoléon giam giữ, bắt đi lưu vong ở Pháp mất gần chục năm, nhưng cuối cùng đã thành công rực rỡ.

Cũng lại ở Pháp cuối thế kỷ XIX có một tiền lệ về việc người ta cản phá Giáo Hội, góp phần làm thất bại đường lối sáng suốt của Tòa Thánh. Từ năm 1878, chính quyền của Cộng hòa Pháp đã rơi vào tay của những người muốn bài trừ Hội Thánh. Đa số trong giáo phẩm và giáo dân Pháp lại chủ trương bảo hoàng, để chống lại phe cộng hòa kia. Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã thấy rõ nền quân chủ ở Pháp đã thuộc về quá khứ, không thể phục hưng được. Do đó Đức Thánh Cha yêu cầu Công giáo Pháp đừng bám lấy ngôi vua một cách vô vọng, nhưng hãy chấp nhận những quy luật của chế độ cộng hòa đại nghị, tranh đấu một cách dân chủ để bảo vệ Giáo Hội. Phe chống đạo thấy ngay nếu Công giáo Pháp đi theo khuyến dụ của Đức Giáo Hoàng Leo XIII thì họ có khả năng giành được đa số trên nghị trường. Để ngăn ngừa sự thể đó, phe chống Công giáo càng gia tăng những biện pháp gay gắt chống phá Giáo Hội, để tạo ra sự chống đối quyết liệt giữa Công giáo và chính thể Cộng Hòa. Những biện pháp đàn áp Công giáo một cách khốc liệt được ban hành. Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã qua đời mà không nhìn thấy ước mơ của Ngài về một Giáo Hội Pháp hòa nhập được với kỷ nguyên dân chủ. Phải hơn nửa thế kỷ và hai cuộc thế chiến đẫm máu Công giáo Pháp mới đạt được tư thế như Đức Leo XIII mong ước.

Xem ra Đức Benedicto XVI, cũng như Đức Leo XIII, sẽ không được thấy ước mơ của Ngài về Giáo hội Trung Quốc trở thành hiện thực trong thời gian Ngài tại thế. Tôi có dài dòng hơn về vấn đề Trung Quốc, vì đó là vấn đề sát sườn với Việt Nam và Đông Á nói chung. Lẽ ra đây là một vùng với những truyền thống tâm linh và văn hóa thâm hậu. có thể góp phần quý giá cho Hội Thánh trước những vấn đề khó khăn của thời đại. Tiếc thay, hoàn cảnh trong ngoài về chính trị, xã hội, tâm lý chưa cho phép được sự phát triển đó. Cũng như trong các vấn đề khác đã nêu trên kia, trong vấn đề Giáo Hội tại Trung Quốc, Đức Benedicto XVI đã muốn bắc một cây cầu lớn, và đã có những người ra sức phá cầu.

Sau khi Đức Thánh Cha thoái vị, Đức Hồng Y Trần Nhật Quân, Nguyên Giám Mục Hồng Kong, đã nhận xét: “Đức Benedicto XVI là một vị Đại Giáo Hoàng, một người yêu chân lý. Thiên Chúa là chân lý và con người không thể sống mà không có chân lý. Bất hạnh thay, ngày nay chân lý không phải là cái “hợp thời trang”; cái đang thực sự chế ngự ngày nay, là cái mà Đức Benedicto XVI đã gọi là “nền chuyên chính của chủ nghĩa tương đối…” Ngài đã luôn vững tay lái hướng Giáo Hội theo chân lý… Đó là phần đóng góp của Ngài cho văn hóa thế giới và cũng cho Trung Quốc nữa” và ở đây, Đức Hồng Y nhắc đến bức thư Ngài gửi Giáo Hội Trung Quốc năm 2007.

Tóm lại, từ chuyện nội bộ Giáo Hội cho đến tín hiệu gửi bên ngoài, trong tám năm ở ngôi, Đức Benedicto XVI kiên trì bắc những cây cầu tìm đến những bến bờ trong sáng, hiệp thông, hòa bình. Và thế gian cũng kiên trì không kém, bằng đủ kiểu đủ cách, mỗi lần lại ra sức phá cây cầu. Không biết trong lòng Ngài cảm thấy thế nào, chỉ biết cụ già ấy vẫn một giọng nói ôn tồn, nhỏ nhẹ đều đều, cứ nhất mực bình tĩnh đi về hướng mơ ước. Hình như trong sứ mệnh của Ngài có cả nhiệm vụ minh họa một dụ ngôn của Chúa Giêsu “Ta phải ví thế hệ này với ai? họ như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau nói rằng; tụi này thổi sáo sao đằng ấy không nhẩy múa; tụi này hát bài đưa đám, sao đằng ấy không khóc than” (Lc.7,31-32).

Đức Benedicto XVI là người gieo mầm cho ai khác gặt.

Nguyên nhân sâu xa của sự trạng ấy là vì Ngài sống trong cõi thanh sáng của Thiên Chúa là tình yêu và niềm vui của đức tin, còn thế gian thì còn mải mê những chuyện ăn thua đủ về tình, tiền, quyền lực. Cùng nói những âm thanh giống nhau, mà thực ra ngôn ngữ và ý nghĩa lại khác nhau. Nhưng Ngài không nản lòng, vì Ngài thấy rõ sớm hay muộn rồi người ta cũng phải tìm đến và đối diện với sứ điệp của Ngài. “Nước Thiên Chúa giống như chuyện một người gieo hạt giống vào lòng đất. Đêm ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào người ấy không biết. Đất tự động sinh ra hoa mầu, cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt vàng” (Mc.4,28-28)

***

Khi người Bắc cầu đã qua bờ bên kia (4)

benedict1

Từ nay khi nói đến những gì diễn ra ở Vatican, ta có thể gọi đó là “tiền triều”. Mật nghị bầu Tân Giáo hoàng đã khai mạc. Vài hôm nữa sẽ bắt đầu một triều đại mới. Dư luận thế gian bàn tán khá nhiều, nhiều đến độ nhàm chán, về những gì sẽ thay đổi trong Giáo hội. Việc Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI từ nhiệm, rồi Hội thánh đi tìm vị Giáo Hoàng mới, là một cơ hội để cho các nhà truyền thông, báo viết, báo mạng, truyền thanh, truyền hình, mạng xã hội v.v… đào xới đủ kiểu những vấn đề Hội thánh phải đối mặt.

Không ai phủ nhận đó là những vấn đề rất gây nhức đầu. Đa số là những vấn đề không lấy gì làm đẹp đẽ. Người ta được dịp tung đi tung lại nạn lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên và những vụ bao che tội lỗi. Người ta úp mở về những vụ mờ ám liên quan đến ngân hàng Vatican, và những “đấu đá” nội bộ. Người ta phê bình nghiêm khắc về cách thức quản trị của Tòa thánh. Người ta nói ngày nay Vatican quá lạc điệu so với sự biến chuyền của xã hội và ngày càng trở nên cổ hủ, lỗi thời. Châu Âu, xét về mặt lịch sử, là vùng đất đã được Giáo hội nhào nặn, đã là căn cứ địa vững chắc của “nền văn minh Kitô Giáo” qua bao thế kỷ, thì nay đang thế tục hóa tràn cung mây, các nhà thờ vắng vẻ, người ta thờ ơ với Chúa. Châu Mỹ La Tinh, nơi tập trung gần một nửa tín đồ Công giáo thế giới, thì đang chịu sự cạnh tranh ráo riết của các nhánh Tin lành (kiểu các nhóm Ngũ tuần) linh động hơn, năng nổ hơn so với một Công giáo có phần lề mề hình thức, khiến cho tỷ lệ giáo dân Công giáo giảm đi trông thấy. Người ta lại bảo Giáo hội lo mà đi với thời đại, phải cho phép phá thai, phải chấp nhận hôn nhân đồng tính, v.v… Nếu không thì chỉ có lụi tàn, đừng mong ngóc đầu dậy. Có người làm nhà “tiên tri báo họa” đã thấy ngày tận số của Giáo hội trong tương lai không xa. Nghe dễ sợ thật, chỉ trừ một điều là những lời tiên tri như thế, trước đây cũng đã nghe dăm ba lần là ít, chờ mãi không thấy thành sự thực.

Nói thẳng ra, những vấn đề khó khăn là có thực. Có thực nên mới thành vấn đề. Chẳng thể quay mặt nhìn đi chỗ khác, làm như không có. Thái độ như thế sẽ là đại họa. Hôm mới đây có một bài báo ở Châu Âu kê khai đủ loại tệ nạn và tiêu cực đang gặm nhấm Giáo hội và nhận định Giáo hội ngày nay như một căn nhà rệu rạo ọp ẹp. Có một độc giả đã phản hồi ngộ nghĩnh rằng căn nhà vốn đã rệu rào ọp ẹp hai ngàn năm nay rồi! Ý bạn đó muốn nói rằng thời nào, đời nào, mà Giáo hội chẳng phải vướng bận lao đao vì những vấn đề khó khăn, đôi khi là những khủng hoảng chết người! Chúa đền để kêu gọi những người tội lỗi, Dân Chúa là tập thể những người tội lỗi nghe lời Chúa gọi mà dẫn nhau lôi thôi lếch thếch cùng đi theo. Đã vậy lại còn bị những thế lực thù nghịch từ bên ngoài đánh cho tơi tả! Nhưng mầu nhiệm là ở chỗ đã đi như thế hai ngàn năm rồi mà không chết, không tan đàn. Ăn uống cái gì, thở khí trời nào mà sống lâu thế, dai thế!

Đúng là ở giữa loài người có cái gì đó mà người đời không thấy. Phần lớn những phân tích tình hình Giáo hội trên các phương tiện truyền thông quốc tế trong những ngày này thường suy nghĩ dựa theo những mô hình mượn của sinh hoạt chính trị, hoặc những thẩm định có tính cách xã hội, tâm lý thường tình, hoặc những nếp văn hóa thời nay mới sáng tạo. Dựa theo những quan điểm đó cho ta nắm bắt một vài mẩu sự thật về Giáo hội. Nhưng chỉ là vài mẩu thôi. Cái toàn cảnh, và nhất là cái gốc rễ, cái căn nguyên làm nên Hội thánh thì chưa nắm được đâu.

Hãy nhìn 115 vị Hồng Y xếp hàng bước vào Mật nghị! Từ khung cảnh, trang phục, có vẻ cổ xưa quá, đa số lại là các cụ già, giá trẻ hơn tí nữa sẽ tạo nên một hình ảnh năng động hơn hẳn. Nếu cao tuổi thì nên có phong thái tiên phong đạo cốt hơn chút nữa được không? Có thể trong số đó không phải toàn những trí tuệ siêu việt, nói gì làm gì cũng sáng suốt! Thậm chí có vị bước chân vào mật nghị mà sau lưng dư luận gán cho những tai tiếng nọ kia lỉnh kỉnh. Xét ra đó là những con người, không phải siêu nhân! Cho nên người đời cũng coi mặt mà bắt hình dong, cũng phân chia các vị ra phe này phe nọ. Thôi được! Nhưng còn một điều dư luận ít có khả năng phân tích: Các vị đi vào Mật nghị mà cùng nhau hát trầm trầm: Veni, Sancte Spiritus! Thánh thần, xin hãy đến! Và không chỉ hát vì đó là nghi thức, các vị hát với tất cả lòng tin. Những tính toán, so sánh của dư luận về ứng cử viên này hay ứng cử viên khác là có thật, nhưng bên trên đó, và quan trọng hơn nhiều, là cái đức tin chung, lớn hơn mỗi người về nối kết không chỉ mọi người ấy với nhau, mà với chính Chúa Kitô mà mình tôn thờ và hướng tâm đối diện trong những ngày này.

Điều đó tạo nên một yếu tố vô hình mà thế gian không thấy, nó giải thích vì sao khá nhiều lần trong quá khứ, các mật nghị đã đưa đến kết quả ngoài dự đoán của nhiều người. Tại sao hồi 1958 cụ Roncalli lại được tôn phong để thành Chân phước Gioan XXIII của Công Đồng Vatican II năm nay ta mừng Kim khánh? Tại sao hồi 1978 một Giám mục Ba Lan lại được tôn phong để Hội thánh có Chân Phước Gioan Phaolô II? Taị sao đến 2013, v.v…

Và vị nào sắp đắc cử cũng thế. Dư luận phân tích rồi dự đoán vị Hồng y này ở Italia, vị kia đến từ Canada, vị khác từ Brazil (đối với nhiều người Việt Nam, nói đến Brazil chỉ nghĩ đến bóng đá!). Vị người Ghana kia có thể làm nên lịch sử vì là người da đen đầu tiên kế vị thánh Phêrô, hay vị Hồng Y rất hấp dẫn của láng giềng Philipine sẽ là người Á Đông da vàng đầu tiên, mắt xích thứ 266 trong triều đại những mục tử của Hội thánh lữ hành?

Bất luận người đó là ai, bất luận người ta phân tích những tương quan địa lý chính trị, những chiến lược, sách lược tôn giáo như thế nào, vị nào đắc cử thì cũng sống trong một thực tại vô hình với thế gian: đó là một con người đã được đức tin vào Chúa Kitô xâm chiếm, và đức tin ấy sẽ quyết định hướng đi dân Chúa trong thời gian sắp tới, chứ không phải là vô số những bình luận và đồn đoán của chợ đời! Nói cách khác, người đời, hoặc nói như đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn là “thói đời” thường hay nhìn những nét tương phản của hai triều đại Giáo hoàng kế tiếp. Nhưng một chân lý sâu xa hơn trong Hội Thánh lại cho ta nhìn ra sự liên tục truyền từ đời này sang đời kia trong suốt hành trình của Dân Chúa. Điều này đưa ta trở về với đức Benedicto XVI.

Trong buổi gặp gỡ để từ biệt cộng đồng dân Chúa ngày 27.02.2013, trước 150.000 người, Ngài đã hồi tưởng lại 8 năm trong sứ mệnh mục tử tối cao “có những lúc rất vui mừng sáng lạng, nhưng cũng có những lúc không dễ dàng gì, sóng to gió ngược như vẫn có trong suốt lịch sử Hội thánh, và Chúa thì như ngủ say, nhưng lúc nào tôi cũng biết rằng con thuyền Hội thánh không phải là của tôi, không phải là của chúng ta, nhưng là con thuyền của Chúa và Chúa không để cho thuyền đắm.

Thế đấy, có một sự liên tục giữa những người đồ đệ trên con thuyền năm xưa chao đảo giữa biển hồ Galilê với vị Giáo hoàng 20 thế kỷ sau. Cái liên tục trong thâm tâm các đồ đệ ấy giải thích ở tầng sâu nhất về những khó khăn, thử thách mà Hội thánh phải chấp nhận ở thế gian này. Không phải là không có những khuyết điểm, thiếu sót, mù tối trong lòng dân Chúa, và nhiều khi cả nơi các đấng bậc trong Hội thánh. Nhưng sau khi đã trừ hao các nhân tố tiêu cực ấy, rồi đi đến cùng kỳ lý, thì vẫn còn cái niềm tin vô hình khiến cho Hội thánh tất yếu gặp các trở ngại. Thánh Phêrô thì bị giam cầm, đòn vọt bên Do thái, rồi bị hoàng đế Nero giết chết ở Rôma. Đức Benedicto XVI thì bị người của thế kỷ 21 chống bang, đả kích, thậm chí bôi nhọ. Chính cái niềm tin ấy giải thích con thuyền của Hội thánh có thể tơi tả, nhưng không thể chìm. Nói đúng hơn, khi nó bị tơi tả là lúc những gì trên thuyền có thể chìm được, (cũng khá nhiều thứ) thì cho chìm luôn, để chỉ còn lại cái không thể chìm. Nếu không ngại đưa tình cảm của con người vào cõi huyền nhiệm, có thể áp dụng cho đức tin và Hội thánh ý thơ của Xuân Quỳnh trong “Thuyền và biển”:

Chỉ có thuyền mới hiểu

Biển mênh mông dường nào

Chỉ có biển mới biết

Thuyền đi đâu về đâu.

pope-piano

Nhìn lại thời gian ở ngôi khó nhọc của Đức Benedicto XVI, ta cảm nhận ra vì sao một con người, sống bằng nội tâm, bằng trí huệ, một con người không thích những sự ồn ào của thế gian, lại cứ hiền hòa đứng mũi chịu sào trong suốt tám năm làm đèn thắp trên giá, làm thành xây trên núi, giữa những tấn công bão táp của thế gian. Ngay từ ngày đầu đã thế. Theo lời ngài kể với tác giả Peter Seewald, trong tác phẩm “Ánh sáng thế gian”, thì trong mật nghị năm 2005 bầu người kế vị Đức Gioan Phaolô II, “đột nhiên tôi giáp mặt với một nhiệm vụ lớn quá thể. Đối với tôi đó là một cơn chấn động… Tôi đã liên tưởng đến chiếc máy chém; bây giờ lưỡi máy chém đang phập xuống, chém đúng cổ mình… Tôi cứ tưởng chức vụ đó không dành cho tôi. Thật ra tôi nghĩ thiên bẩm của tôi là làm giáo sư thần học. Nhưng, như tôi đã nói, trong lời “ xin vâng” căn bản (khi thụ phong linh mục) đã tiềm tang ý hướng là sẵn sang tuân theo ý Chúa điều động, vậy thì biết đâu có ngày tôi sẽ phải làm những điều mà niềm riêng tôi không muốn làm. Còn vì lí do gì mà Chúa lại khiến tôi làm như vậy, thì chỉ có phó thác cho Chúa mà thôi!

Từ đó Ngài phải giáp mặt với thế gian nhũng nhiễu này. Ngài làm đủ cách để thế gian hiểu rằng Thiên Chúa là lòng yêu mến, rằng chúng ta được cứu thoát trong niềm hi vọng cậy trông, Ngài muốn bày tỏ lòng yêu mến trong chân lý với hết mọi người. Dù người thế gian có la hét bai biếm thế nào thì vẫn một nội dung ấy đầy hồn. Cứ an bình mà thổ lộ tâm can của người đã sống chìm ngập trong đức tin. Peter Seewald nhận xét “Ngài là hiện thân của một trí huệ mới trong cách tế nhận và bày tỏ các mầu nhiệm đức tin, Ngài là một nhà thần học, nhưng Ngài bênh vực đức tin của kẻ bình dân, đối diện với tôn giáo của những bậc giáo sư vốn lạnh tanh như tro nguội. Với sự thanh thoát, thanh nhã đặc biệt, với những khả năng nhập vào uyên thâm, khiến cho những điều nghiêm cẩn trở nên nhẹ bổng, mà vẫn không mất phần mầu nhiệm, không tầm thường hóa sự thánh thiêng. Ngài là một nhà tư tưởng biết cầu nguyện, đối với Ngài mầu nhiệm Chúa Kitô định hình cho cả đất trời vũ trụ và lịch sử nhân sinh. Ngài là một người yêu mến con người. Hỏi Ngài rằng: “Có bao nhiêu con đường đưa đến Thiên Chúa?”, thì Ngài không cần suy nghĩ nhiều mà trả lời ngay: “Có bao nhiêu người thì bấy nhiêu đường”.

“Có bao nhiêu người thì bấy nhiêu đường”. Nỗi khổ của Ngài là có quá nhiều người đi ngược đường. Niềm vui của Ngài là có rất đông người đã bắt được tần số độc đáo này, để cùng Ngài chung đường. Họ tề tựu đông đảo để nghe Ngài giáo huấn, họ tìm đọc các tác phẩm của Ngài khiến sách Ngài viết trở thành “Best Sellers”, họ vui niềm vui âm thầm của Ngài. Hoặc như những ngày cuối Ngài ở ngôi Giáo Hoàng, họ bừng dậy thành ngọn sóng thần mến yêu nồng ấm. Đối với vô số người như vậy, Ngài đã bắc cầu thành công. Ngài có thể hát những lời như Phạm Duy (nhưng với Ngài đó là trên giai điệu của Mozart):

Đường đi đã tới

Lòng dân đã nối

Người tạm dừng bước chân vui, người ơi!

book

Cho nên giữa bao song gió của tám năm trên ngôi vị Giáo Hoàng, Ngài vẫn tìm được thì giờ viết bộ sách “Giêsu Nazareth”, tác giả ký cả tông hiệu lẫn thế danh: “Joseph Ratzinger, Benedicto XVI”. Đó là đức tin truyền đời của Hội Thánh mà cũng là hành trình của một đời người đi tìm “tôn nhan Chúa”. Thời gian chảy như thác lũ, chẳng bao lâu mà đã tám năm. Cuối tháng 12 vừa qua, Ngài cho xuất bản tập cuối của tác phẩm. Đến lúc ấy thì trong thâm tâm Ngài đã cảm thấy “Chúa bảo tôi lên núi cao hiến mình hơn nữa để cầu nguyện và suy ngắm. Nhưng như thế không có nghĩa là bỏ Giáo Hội mà đi, trái lại là khác. Nếu Thiên Chúa gọi tôi làm như thế là vì tôi có thể tiếp tục phục vụ Hội Thánh, với cùng một tình yêu nồng nàn như tôi đã tìm cách làm cho đến lúc đó, nhưng từ nay làm một cách thích hợp hơn với tuổi tác và sức lực của tôi.

Trong những ngày cuối Ngài nói: “Tôi sẽ không phải là Giáo Hoàng nữa nhưng là một giáo lữ bắt đầu đi vào chặng cuối của chuyến hành hương giữa thế gian”. Đức Benedicto XVI rời khỏi Vatican chiều ngày 28 tháng 2. Thế gian lại bổ nhào vào những dự đoán về người kế vị, với đủ mọi kiểu tính toán. Chúa nhật vừa rồi, các vị Hồng Y chia nhau đi dâng thánh lễ ở các nhà thờ Rôma. Người ta hết sức tò mò săn đón những vị được coi là có khả năng sắp lên ngôi. Người ta đua nhau nêu những câu hỏi xem các vị trả lời thế nào, phản ứng làm sao.

Đức Hồng Y Peter Erdo, người Hungary, chủ tịch các hội đồng giám mục Châu Âu, trả lời:“Đến lúc rồi đây. Chúng ta phải đứng dậy, ngẩng cao đầu lên và nếu chúng ta không tìm được con đường để về nhà, thì phải hỏi các bậc tiền nhân đi đường nào cho đúng. Đường đó chính là Chúa Kitô. Nhiệm vụ của Hội Thánh là loan báo Chúa Kitô cho mọi người”.

Người ta lại đi tìm Đức Hồng Y Scola, người đang được đánh giá là có nhiều triển vọng. Chỉ nghe thấy Ngài cầu nguyện trong thánh lễ : “Xin ban cho chúng con một vị mục tử thánh thiện để xây dựng Hội Thánh bằng chứng tá cả một cuộc đời”.

Hay là đi hỏi dò Đức Hồng Y Ouellet, người Canada? Ngài đề nghị: ta hãy cầu nguyện “để Chúa thánh thần hướng dẫn cho các Hồng Y tìm thấy người Thiên Chúa đã chọn rồi”.

Nay mai, mật nghị Hồng Y sẽ tìm ra “người Thiên Chúa đã chọn rồi”. Vài tuần nữa trong đêm Vọng Phục Sinh, Hội Thánh lại thắp lên cây nến mới, biểu tượng cho lòng tin vào:

“Chúa Kitô hôm qua và hôm nay

Khởi nguyên và Cánh thành

Alpha và Omega

Thời gian là của Người, vĩnh hằng là của Người…”

Vũ Khởi Phụng

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: