Bóng người hòa bình

Vũ Khởi Phụng

– Thượng tuần tháng 10/1962, Giáo Hội Công Giáo sống trong bầu khí phấn khởi, vui tươi, hòa ái. Công Ðồng Vatican II khai mạc. Mọi người đều hy vọng Công Ðồng, theo chỉ đạo của Ðức Gioan XXIII, sẽ về nguồn Ðức Tin và từ đó đến với người thời đại (aggiornamento). Giáo Hội sẽ trẻ trung và đầy sức sống, góp phần quan trọng làm cho thế giới tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.
Không ai ngờ chính lúc đó đang tích tụ một cơn khủng hoảng ghê gớm. Thế giới sắp lao đến bờ vực thẳm của thế chiến thứ ba, mà lần này sẽ là chiến tranh hạt nhân. Giáo Hội như một con tàu chất đầy hy vọng tốt lành chuẩn bị ra khơi để tìm đến mọi bến bờ nhân loại, nhưng ngoài khơi bắt đầu nổi lên những con sóng cực dữ có thể nhận chìm tất cả. Công Ðồng chỉ mới bắt đầu, còn nhiều năm tháng nữa mới hoàn tất, nhưng đã bị đe dọa bởi một thử thách quá hiểm nghèo, khiến cho công trình có thể tiêu tan cùng với sự sinh tồn và nền văn minh của cả nhân loại. Chính trong bối cảnh đó, đã xuất hiện tác động kín đáo mà rất thanh bình của Ðức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII.
Năm nay, Hội Thánh Công Giáo kỷ niệm 50 năm những biến cố lịch sử đó. Ðể mừng Chúa Giáng Sinh và mừng Ngày Hòa Bình Thế Giới theo chủ đề của Ðức Benedictô XVI “Phúc thay ai gây dựng Hòa Bình”, chúng tôi xin ôn lại những diễn biến thời đó. Có lẽ nhiều người, nhất là các bạn trẻ, chưa có dịp biết những gì đã xảy ra cả trong đạo lẫn ngoài đời vào những ngày mệnh hệ ấy. Lịch sử đó để lại cho ta những bài học lớn, trong đó có cả một bài học rất sáng giá về đức tin.
14/10/1962 là ngày phát sinh cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới, tuy lúc ấy hầu như chưa có ai biết. Sau nhiều ngày đắn đo, không quân Hoa Kỳ đã gửi một máy bay do thám U2 xâm nhập vùng trời Cuba. Chiếc U2 chụp 928 không ảnh các địa điểm hồ nghi là có đặt các dàn phóng tên lửa của Liên Xô ở San Cristobal, tỉnh Pinar del Rio, miền Tây Cuba. Ðịa điểm này chỉ cách bờ biển phía Nam của nước Mỹ chừng 150 km.
15-10-1962, ở Washington Trung Ương Tình Báo Mỹ C.I.A. họp các chuyên viên nhiếp ảnh để diễn giải các không ảnh do máy bay U2 chụp ở Cuba hôm trước. Các chuyên gia xác nhận những vật thể trong các không ảnh đó là tên lửa đạn đạo tầm trung (1000-3000km) có thể mang đầu đạn hạt nhân, phía Mỹ gọi là hỏa tiễn SS-4. Chiều hôm đó, C.I.A. thông báo cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (Ngoại Trưởng Dean Rusk). 8g30 tối, thông tin được chuyển đến Bạch Cung, tức Phủ Tổng Thống. Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Mc George Bundy tiếp nhận thông tin, nhưng ông quyết định giữ lại những thông tin này đến sáng mai, cho Tổng Thống John Kennedy một đêm yên giấc. Hồi nửa đêm, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mc Namarara được thông báo.
16-10-1962, ở Washington Cố vấn An Ninh Quốc Gia Mc George Bundy trình Tổng Thống John Kennedy các tư liệu hình ảnh cùng với các phân tích, lý giải của C.I.A.
Từ 4g30 chiều, hội đồng các tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ và nhiều tướng lãnh liên quân họp với bộ trưởng quốc phòng về tình hình mới phát hiện ở Cuba. Các tướng lãnh nhất trí đề nghị tổng tấn công Cuba. Không chỉ đánh vào các vị trí có dàn phóng hỏa tiễn, mà đánh phá mọi mục tiêu quân sự trên toàn lãnh thổ Cuba. Họ cho rằng Liên Xô sẽ không can thiệp. Bộ Trưởng Quốc Phòng Mc Namarara có vẻ không mặn mà với giải pháp này. Ông nói rằng nước Mỹ đang có ưu thế tuyệt đối về số lượng đầu đạn hạt nhân chiến lược (3500), so với Liên Xô (chỉ có 300) thì thêm vài chục đầu đạn của Liên Xô nữa ở Cuba vẫn không làm thay đổi cán cân chiến lược. Các tướng không đồng ý với đánh giá này. Cũng trong lúc đó, bên Bộ Ngoại Giao, Ngoại Trưởng Rusk, các thứ trưởng, đại sứ tại liên hiệp quốc và một số chuyên gia cũng đang vùi đầu nghiên cứu hệ lụy của một vấn đề có thể trở nên cơn khủng hoảng cực đại giữa hai siêu cường hạt nhân.
6g30 tối, Tổng Thống Kennedy triệu tập hội đồng an ninh quốc gia gồm chín thành viên và năm vị cố vấn dầy dạn kinh nghiệm. Nhóm này sau sẽ được gọi tên chính thức là Ban Hành Ðộng của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia (viết tắt: EXCOMM). Nước Mỹ phải đối mặt với một tình hình chưa có tiền lệ, vấn đề phải đối phó làm sao khi Liên Xô dàn thế trận hạt nhân ngay ngoài cửa nước Mỹ chưa bao giờ được đặt ra.
Nhóm Excomm trao đổi về những giải pháp có thể chọn lựa.
Nếu cấm vận Cuba, không kích các địa điểm có tên lửa, hoặc tấn công tổng lực vào Cuba, dĩ nhiên sẽ làm cho Mỹ và Liên Xô đụng độ trực tiếp. Các tướng lãnh đều cho rằng chỉ có tấn công tổng lực vào Cuba mới là giải pháp. Họ cho rằng Liên Xô sẽ không can thiệp. Nhưng Tổng Thống Kennedy không nghĩ thế. Người em ruột và cũng là cánh tay mặt của tổng thống là Robert Kennedy tường thuật rằng tổng thống nói: “Họ (người Liên Xô), cũng như chúng ta, không thể để cho việc như thế diễn ra mà lại không làm gì. Sau bao nhiêu tuyên bố, họ không thể để cho chúng ta dẹp bỏ hết hỏa tiễn của họ, giết nhiều người Nga, mà lại không làm gì. Nếu họ không đáp trả ở Cuba thì chắc chắn họ sẽ đáp trả ở Berlin”. (Berlin, Thủ Ðô lịch sử của nước Ðức, nằm lọt thỏm trong phần đất Ðông Ðức Xã Hội Chủ Nghĩa, nhưng riêng thành phố lại chia làm bốn khu vực do Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp cai quản. Do đó thườg xuyên là đầu mối cho đụng độ giữa hai khối, gây nhiều căng thẳng ở Châu Âu).
Tổng Thống Kennedy cũng hỏi đã phát hiện các đầu đạn hạt nhân ở Cuba chưa. Bên tình báo trả lời chưa, ít nữa là ở những nơi gần với các bệ phóng tên lửa.
Cuộc họp của Excomm kết thúc chưa đi đến một kết luận nào, trừ một điều là Tổng Thống Kennedy vẫn duy trì lịch hoạt động bình thường để khỏi gây xôn xao dư luận. Họp tan nhiều người còn sang bộ ngoại giao họp tiếp đến 11 giờ đêm.
17/10/1962 – Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khrushchev gửi thư cho Tổng Thống Kennedy bảo đảm rằng: “dù trong hoàn cảnh nào cũng sẽ không gửi tên lửa đất-đối-đất sang Cuba”.
Excomm sau những thảo luận lâu giờ đã thu hẹp sáu giải pháp còn hai giải pháp để chọn lựa: phong tỏa và cấm vận hoặc không kích. Cả hai giải pháp này đều phải đụng độ với Liên Xô.
18/10/1962 – Tổng Thống Kennedy ra lệnh tập trung quân lực ở vùng biên giới phía Nam nước Mỹ, để phòng chiến tranh bùng nổ. Dư luận chưa hồ nghi gì vì từ trước đã có kế hoạch tập trận ở vùng này. Ngoại Trưởng Liên Xô Gromyko đến thăm tổng thống. Cũng như Thủ Tướng Khrushchev, ông Gromyko nói rằng viện trợ của Liên Xô dành cho Cuba “chỉ nhằm mục đích đóng góp cho khả năng phòng thủ của Cuba và để giúp triển khai một nền dân chủ hòa bình tại đây. Nếu không phải vì mục đích ấy, chính phủ Liên Xô chẳng bao giờ dính líu đến chuyện viện trợ làm gì”. Kennedy điềm tĩnh ngồi nghe, mặc dù những tấm không ảnh đang nằm trong ngăn. Ðợi Gromyko nói xong, Kennedy đọc lại một phần tuyên bố của ông ngày 4/9, đoạn cảnh báo Liên Bang Xô Viết rằng nếu hỏa tiễn tấn công được đặt trên đất Cuba, thì sẽ “kéo theo những hậu quả hết sức nghiêm trọng”.
19/10/1962, Ở Mỹ, để “tập trận” Sư Ðoàn I Thiết Giáp được điều đến Bang Georgia ở phía Nam; năm sư đoàn bộ binh được đặt trong tình trạng báo động cao nhất. Bộ Chỉ Huy Không Quân Chiến Lược (S.A.C.) phân phối các oanh tạc cơ tầm trung B47 về các phi trường dân sự ở miền Nam. Pháo đài bay B52 thường xuyên quần thảo trên không. Thực tế là quân lực Mỹ được đặt trong tình trạng báo động cao để tiến hành phong tỏa, cấm vận hoặc xâm phạm Cuba bất kỳ lúc nào. Các máy bay do thám U2 cũng gia tăng hoạt động và phát hiện thêm những địa điểm mới có dàn phóng tên lửa ở Cuba. Ngoài ra quân đội Mỹ đã lên kế hoạch xâm chiếm Cuba bằng nhiều đơn vị bộ binh và thủy quân lục chiến với sự yểm trợ của hải quân, một khi không quân và hải quân đã đánh đợt oanh kích phủ đầu.
Nhưng Matxcơva cũng đã phong thanh rằng những cuộc tập trận trên biển phía Nam nước Mỹ đó có mục đích chuẩn bị xâm chiếm Cuba.
Nước Mỹ đang trong mùa bầu cử quốc hội lập pháp giữa nhiệm kỳ tổng thống. Ðể duy trì vẻ hoạt động bình thường, tổng thống Kennedy cũng lên đường đi mấy bang xa để vận động cho những ứng viên Ðảng Dân Chủ. Dưới cái vỏ bọc đó, thật sự ông đang rất bồn chồn, nhất là chiều hôm ấy khi ông nhận một cú điện thoại của người em là Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy đề nghị ông trở về Washington gấp.
20/10/1962 –Kennedy đột ngột chấm dứt chuyện đi vận động bầu cử. Ông cảm thấy đã đến lúc phải quyết định. Viện cớ cảm cúm, ông vội vã bay về Washington họp với ban tham mưu trong năm tiếng đồng hồ.
Nội bộ ban tham mưu này vẫn có một phái siêu diều hâu. Thường họ là những quân nhân, tướng lãnh. Họ vẫn chủ trương tổng tấn côngCuba. Không những đánh vào các hỏa tiễn, mà hủy diệt luôn mấy chục máy bay cường kích của Liên Xô đang đậu ở những phi trườngCuba. Theo họ, cần đánh ngay, càng để lâu càng khó, vì họ tính đến tháng 12, Liên Xô sẽ trang bị được khoảng năm mươi đầu đạn hạt nhân trên các hỏa tiễn ở Cuba.
Quan điểm của giới chính trị thì thận trọng hơn và có phần ưu thắng. Giới này cũng dứt khoát đòi loại bỏ các đầu đạn hạt nhân khỏiCuba. Nhưng họ chủ trương một lộ trình dài hơn, bớt nguy hiểm tí chút, và cũng phức tạp nữa. Họ chủ trương lúc đầu sẽ phong tỏa và cấm vậnCuba, nếu không hiệu quả mới tính tới các biện pháp chiến tranh. Nhân vụ phong tỏa và cấm vận gây chấn động quốc tế, sẽ mở cuộc thương thuyết với Liên Xô. Ðã bắt đầu có ý kiến Mỹ có thể dỡ bỏ các hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân ở Ý và Thổ Nhỉ Kỳ, đổi lấy việc Liên Xô dỡ bỏ tên lửa ởCuba. Nhưng cũng có ý kiến cứng rắn muốn cảnh cáo Liên Xô trước rằng nếu các tên lửa ởCubakhai hỏa, Mỹ cũng sẽ cho mưa bom hạt nhân trên lãnh thổ rộng lớn của Liên Xô. Bất luận đánh giá ra sao về tương quan lực lượng võ trang sau khi Liên Xô bố trí tên lửa ở Cuba, điều tất cả các khuynh hướng trong giới cầm quyền ở Mỹ đều lo sợ là một thái độ yếu mềm, thấp cơ của Mỹ trước Liên Xô sẽ làm suy yếu địa vị lãnh đạo của Mỹ đối với phương Tây, đặc biệt là đối với các nước Châu Mỹ La Tinh, nơi đang có nhiều tầng lớp tả phái bất mãn muốn đi theo con đường Cuba. Do đó, Mỹ cần phải cương quyết.
21/10/1962 – Kennedy vẫn họp cả ngày với ban tham mưu. Có một lúc ông hỏi tướng tư lệnh bộ chỉ huy không quân chiến thuật: “Ðánh một đợt đầu có xóa sạch hết các hỏa tiễn không?”. Trả lời: “Chỉ xóa bỏ được những hỏa tiễn mà chúng ta biết”. Tổng thống lại hỏi: “Dự báo tổn thất nhân mạng là bao nhiêu, cả các quân nhân lẫn dân sự?”. Trả lời: “Từ 10 đến 20 000”. Tổng thống nghiêng hẳn về biện pháp phong tỏa và cấm vận, thay cho không kích.
Một chuyến bay U2 nữa phát hiện những máy bay oanh kích đang được lắp ráp khẩn trương và thêm những địa điểm dàn trận tên lửa đang được xây cất ở bờ biển phía Bắc Cuba.
Ngoài xã hội báo chí bắt đầu đánh hơi có chuyện bất thường. Họ còn dò la được là Liên Xô đã bố trí các võ khí tấn công chiến lược ở Cuba. Tổng Thống Mỹ triệu tập các chủ nhiệm của hai tờ báo lớn The New York Times và The Washington Post và yêu cầu họ đừng nói gì nhiều về chuyện này, vì tiết lộ thì sẽ làm mất yếu tố bất ngờ trong phản ứng của Mỹ, và khi ấy “tôi không biết người Liên Xô sẽ làm gì”. Hai tờ báo lớn đồng ý.
Mỹ dự liệu ngày hôm sau 22/10 mới cho cuộc khủng hoảng nổ ra công khai.
22-10-1962, ở Washington, Tổng Thống Kennedy đích thân điện đàm với các tổng thống nhiệm kỳ trước, Herbert Hoover (1929-1933), Harry Truman (1945-1953) và Dwight Eisenhower (1953-1961) để báo cáo với các vị về tình hình nghiêm trọng và khẩn trương. Sau đó, ông Kennedy ký quyết định chính thức thành lập Nhóm Hành Ðộng Excomm, nhóm này từ nay sẽ họp thường trực mỗi ngày suốt thời gian khủng hoảng.
5g chiều: Tổng Thống gặp các thủ lãnh lưỡng viện quốc hội để thông báo tình hình. Hóa ra các vị dân cử lại tỏ ra cứng rắn hơn tổng thống, họ đòi oanh kích Cuba, lập trường này có thể phản ảnh tâm lý của dân Mỹ hồi đó, nhưng ông Kennedy cương quyết chủ trương phong tỏa và cấm vận trước.
Cũng vào lúc này, các đặc sứ cao cấp của Mỹ đến gặp các vị nguyên thủ các nước đồng minh để thông báo tình hình. Còn ở Matxcơva, Ðại Sứ Mỹ Kohler đến gặp Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khushchev để chuyển giao nội dung bài diễn văn ông Kennedy sắp đọc. Trong thư gửi Thủ Tướng Liên Xô trước khi đọc diễn văn, Kennedy viết: “Tôi thiết tưởng trong thời đại hạt nhân ngày nay, dù Ngài, hay bất cứ ai khác, không một người nào có tinh thần tỉnh táo lành mạnh lại có thể cố tình cố ý dìm thế giới vào một cuộc đại chiến. Ðã thấy rõ như pha lê rằng trong cuộc chiến đó không nước nào có thể thắng, mà chỉ có những hậu quả thảm họa cho toàn thể giới, kể cả cho người gây chiến”.
7g tối: Tổng Thống Kennedy đọc diễn văn truyền thanh và truyền hình toàn quốc. Ông thông báo tình hình, phê bình Thủ Tướng và Ngoại Trưởng Liên Xô đã không nói thật, rồi tuyên bố: “Chúng ta không còn sống trong một thời mà chỉ có khai hỏa thật sự bằng khí giới mới được kể là thách thức nền an ninh của một quốc gia và tạo ra nguy cơ tột cùng. Võ khí hạt nhân có sức công phá lớn và hỏa tiễn đạn đạo thì bay mau đến độ bất cứ một sự gia tăng đáng kể nào về khả năng xử dụng, hoặc bất cứ sự thay đổi đột ngột nào về thế trận đều rất có thể phải coi là một đe dọa thực sự cho hòa bình”.
“Nếu không cần thiết thì chúng ta không vội liều mình trả giá cho một cuộc chiến tranh hạt nhân trên toàn thế giới, bởi dù có chiến thắng thì kết quả cũng chỉ như mùi vị tro tàn trong miệng, nhưng chúng ta cũng không né tránh hiểm nguy bất cứ khi nào phải đối mặt”.
Sau đó Tổng Thống Mỹ công bố các quyết định:
+ Từ nay sẽ cấm vận ngặt nghèo đối với mọi trang thiết bị quân sự tấn công được chở tới Cuba. Mọi loại tàu bè, bất luận từ nước nào hoặc cảng nào đi Cuba, nếu phát hiện có chuyên chở các võ khí tấn công, sẽ bị đẩy lui.
+ Chính sách của Hoa Kỳ là bất kỳ hỏa tiễn hạt nhân nào phóng đi từ Cuba để đánh vào bất cứ nước nào ở Tây Bán Cầu sẽ bị coi là sự tấn công của Liên Xô vào Hoa Kỳ, khiến cho Hoa Kỳ sẽ đáp trả toàn lực vào Liên Bang Xô Viết.
Cuối cùng ông Kennedy kêu gọi Thủ Tướng Khrushchev chấm dứt và bãi bỏ chính sách đặt hỏa tiễn Liên Xô ởCuba.
Ðang khi Kennedy đọc diễn văn thì Không Quân Mỹ trên khắp thế giới đã được đặt trong tình trạng báo động cấp 3 (Quân Lực Hoa Kỳ có 5 cấp báo động: cấp 5, báo động xanh lam là tình trạng bình thường; cao nhất là cấp 1, báo động trắng, là tình trạng cận kề chiến tranh hạt nhân. Cấp 3, báo động vàng, thì các máy bay của không quân phải sẳn sàng ứng chiến sau 15 phút).
Bài diễn văn chưa đầy 30 phút của Kennedy đặt toàn thế giới trước nguy cơ thế chiến thứ 3. Hiển nhiên Liên Xô không thể tuân hành lệnh cấm vận của Mỹ. Còn Mỹ đã quyết liệt và long trọng ban hành lệnh cấm vận rồi thì cũng không thể lùi lại. Ðụng độ giữa hai siêu cường sẽ xảy ra chỉ trong một vài ngày nữa, vì một đoàn tàu Liên Xô đang vượt Ðại Tây Dương để sangCuba. Ðúng như Ðại Sứ Mỹ ở Liên Hợp Quốc Adlai Stevenson tuyên bố: “Từ khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, chưa bao giờ thế giới đến gần một cuộc chiến tranh hạt nhân như vậy”.
Nhưng vượt ra ngoài mọi tính toán của các giới chính trị và quân sự, tình hình hiểm nghèo này lại mở ra một cánh cửa bất ngờ để Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII bước vào. Thật ra ngài không hề dự tính trước. Ngài cũng bất ngờ như hầu hết mọi người trên thế giới trước cuộc khủng hoảng. Một chuỗi hoàn cảnh khiến cho người có đức tin cảm thấy có bàn tay Thiên Chúa Quan Phòng ….

– 23/10/1962 Trong những giờ phút toàn thế giới căng thẳng ấy, Ðức Gioan XXIII không biết rằng ở một nơi rất xa đang mở ra cánh cửa cho ngài đem lời hòa bình vào nơi máu lửa. Nơi đó ở bên Mỹ, nhưng không phải ở nơi đầu não quyền lực là Washington, nhưng ở Bang Massachusetts trên miền Ðông Bắc. Hai người tiên phong mở đường cho Ðức Gioan XXIII là một nhà báo rất nổi tiếng người Mỹ và một linh mục Dòng Ða Minh người Bỉ.
Nhà báo là Norman Cousins (1915-1990), một người đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về báo chí từ ngày còn ở trung học. Năm 1934 ông làm tổng biên tập Tuần San Saturday Review, khiến cho báo bán tăng từ 20 000 lên 650 000 ấn bản. Ngày 6/8/1945, Mỹ thả trái bom nguyên tử đầu tiên xuống Hiroshima, Nhật Bản, hơn 100 000 người chết tức khắc và rất nhiều người đau đớn quằn quại về các di chứng cho đến hết đời. Biến cố này có tác động rất lớn đến Norman Cousins. Ngày hôm ấy ông viết bài báo “Con người hiện đại đã lỗi thời” (The Modern Man is Obsolete). Ông cảm thấy mình như mang trọng tội với những nạn nhân của bom nguyên tử. Trong bài xã luận đó ông bàn về những hệ lụy xã hội và chính trị tiềm ẩn trong trái bom nguyên tử. Bài báo được phổ biến trên khắp nước Mỹ và được rất nhiều người hưởng ứng. Từ đó Cousins dành rất nhiều công sức để cứu giúp các nạn nhân sống sót sau hai trái bom nguyên tử thả xuống nước Nhật.
Năm 1950, ông chủ xướng Liên bang thế giới và Giải trang hạt nhân. Năm 1953, ông viết cuốn sách “Ai lên tiếng cho con người” (Who Speaks for Man?) và làm chủ tịch Hiệp hội Liên bang thế giới ( World Federalist Association). Ðiều làm Cousins hết sức hãnh diện là ông được Nhà Bác Học Albert Einstein mời tham gia thảo luận ở Ðại Học Princeton. Einstein, cũng như nhiều nhà bác học khác, sau khi góp phần giúp chính phủ mình tạo được võ khí hạt nhân, đã luôn cảm thấy lương tâm dày vò và ám ảnh vì những hậu quả khủng khiếp do phát minh của mình. Einstein cũng như Cousins đều cảm thấy rằng thế giới đi đến thảm họa tận diệt nếu không chận được cuộc chạy đua võ khí hạt nhân. Cũng trong tinh thần đó, năm 1960, Cousins chủ xướng Hội Thảo Mỹ-Xô ở Dartmouth để thăng tiến hòa bình: Dartmouth, Massachusetts, là nơi đầu tiên quy tụ các viện sĩ, văn sĩ, bác học Mỹ và Liên Xô, mỗi bên chừng hai mươi người hội thảo với nhau trong khuôn khổ không chính thức và phi chính phủ để suy nghĩ về nhu cầu hòa bình thế giới, và làm thế nào để củng cố, tạo lập hòa bình. Cuộc hội thảo này diễn ra hàng năm, gọi là không chính thức và phi chính phủ cho dễ nói chuyện, thật ra các nhân vật có địa vị cao đó vẫn có rất nhiều quan hệ với các giới cầm quyền cả hai bên. Năm 1962 này họ vừa họp được một ngày ở Andover thì bài diễn văn tối 22/10 của Kennedy đã công khai hóa cuộc khủng hoảng nghiêm trọng khiến mọi tham dự viên đều bức xúc.
Còn vị linh mục là cha Felix Morlion (1904-1987), người Bỉ. Hồi còn niên thiếu, cha Morlion là người vô thần, nhưng đến năm 21 tuổi cha trở lại đạo Công Giáo, rồi vào tu Dòng Ða Minh và chịu chức linh mục năm 1932. Cha là người sáng lập Liên Hiệp Quốc Tế Vì Chúa (International Pro Deo Union), còn được biết đến dưới danh hiệu Phong Trào Nhân Dân Hợp Nhất (United People Movement), đó là một hiệp hội độc lập muốn tạo lập đoàn kết trên khắp thế giới giữa những nhà lãnh đạo trẻ, không phân biệt tôn giáo hay chủng tộc, trong các lãnh vực chính trị, giáo dục, văn hóa, tôn giáo. Ấn phẩm của Phong Trào lưu hành ở 152 nước.
Hồi Thế Chiến Thứ Hai, cha ngấm ngầm chống Ðức Quốc Xã bằng cách giúp người Do Thái trốn lánh an toàn. Ðến khi bị Mật Vụ Gestapo treo giá cha một triệu đôla, thì cha thoát thân qua ngả Tây Ban Nha rồi tiếp tục hoạt động ở New York. Thế chiến chấm dứt, được Ðức Giáo Hoàng Piô XII nâng đỡ, cha sáng lập và điều hành Ðại học Quốc tế các Khoa học Xã hội. Nhiều sinh viên, không phân biệt tôn giáo đã học và tốt nghiệp ở Ðại Học này, trong đó có nhiều người về sau làm thủ tướng Ý . Sau khi Ðức Piô XII qua đời, cha được Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII tiếp tục nâng đỡ, cùng với Ðức Hồng Y Montini, trong ít tháng nữa sẽ là Giáo Hoàng Phaolô VI.
Norman Cousins nhận xét về cha Morlion rằng cha “là nhà trung gian hòa giải đã mở rộng rất nhiều lãnh vực đối thoại giữa các nền dân chủ phương Tây và các nước Ðông Âu. Cha là mẫu người hoạt động không hề ngơi, luôn trình bày trước các vị lãnh đạo chính trị và tôn giáo khắp các nước hết ý tưởng này đến dự phóng khác”.
Năm 1962 cha đi Mỹ cổ võ cho các công trình của cha và đến Andover thăm Cousins đúng vào lúc cuộc khủng hoảng Cuba bùng nổ. Ðã gần nhau về tưởng, lại gặp nhau đúng lúc tình hình sục sôi, hai người bạn có rất nhiều điều chia sẻ với nhau.
Về sau, trong một bài viết trên tờ Saturday Review, Cousins tóm tắt ý tưởng của cha Morlion như sau: “Ðức Giáo Hoàng can thiệp vào vụ Cuba là sự cốt yếu và có thể thực hiện được, bởi vì tạo cho cả hai bên cơ hội đáp ứng một đề nghị của người ngoại cuộc, chứ còn cùng một đề nghị đó mà do một trong hai bên đưa ra thì bên đối phương sẽ bác bỏ ngay, bất kể nó cao kiến như thế nào”.
Ý tưởng của cha Morlion không phải vô căn cứ. Ngay trong ngày 23 đó đã có trao đổi thư từ giữa Kennedy và Khrushchev, nhưng chưa có kết quả. Thư của ông Khrushchev rất cương quyết: “ Nước Mỹ đã công khai chọn lựa con đường vi phạm thô bạo Hiến Chương Liên Hợp Quốc, vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế và tự do đi lại trên biển khơi, đồng thời gây hấn với Cuba và Liên Xô … Chúng tôi không thể công nhận quyền của nước Mỹ được kiểm soát các võ khí cần thiết cho Cộng Hòa Cuba để tăng cường khả năng quốc phòng … Chúng tôi tái khẳng định võ khí ở Cuba … chỉ có mục đích phòng thủ… chống lại mũi tấn công của một cuộc xâm lăng.”
Cuối thư ông Khrushchev “hy vọng Chính Phủ Mỹ sẽ có tầm nhìn và từ bỏ những hành động Mỹ đang theo đuổi, vì hậu quả sẽ là thảm họa cho hòa bình thế giới.”
Thư hồi đáp của Kennedy cũng trong ngày 23 này một lần nữa tố cáo Liên Xô đã “lén lút cung cấp hỏa tiễn tầm xa cho Cuba” và bày tỏ quan tâm là “tình hình đã khó kiểm soát rồi, cả hai chúng ta không nên làm một điều gì khiến xảy ra những biến cố còn khó kiểm soát hơn nữa”. Kennedy “hy vọng ngài sẽ ra chỉ thị để các tàu đi Cuba đừng thách thức lệnh cấm vận đã được OAS ban hành hợp pháp” (OAS là Organisation of American States, Tổ Chức các Quốc Gia Châu Mỹ).
Như vậy là không bên nào nhượng bộ bên nào, tuy cả hai bên đều cảnh báo về hiểm họa đại chiến. Trong thực tế, các dấu hiệu leo thang rõ nét dần. Như bức thư của Kennedy cho thấy, các quốc gia Châu Mỹ (tất nhiên trừ Cuba) đã áp dụng các điều khoản của hiệp ước thành lập OAS và nhất trí cùng tham gia cấm vận với Mỹ. Các nước như Argentina, Venezuela, , Colombia, Cộng Hòa Dominicana đã gửi máy bay, tàu chiến và dành căn cứ quân sự để tham gia cấm vận Cuba. Tổng Thống Kennedy công bố: lệnh cấm vận sẽ có hiệu lực bắt đầu từ 10g. sáng hôm sau, 24/10. Mỹ cho 6 máy bay phản lực Crusaders bay những chuyến do thám rất sát mặt đất trong lãnh thổ Cuba. Cũng có tin tàu ngầm của Liên Xô đã đi vào vùng biển Caribê.
Ở Andover, Cousins và nhiều người tham gia hội thảo cho rằng cha Morlion có lý. Chiều hôm ấy, vị linh mục Dòng Ða Minh quyết định điện thoại về Vatican. Ở đầu dây bên kia là Ðức Ông Igino Cardinale, Trưởng Ban Nghi Lễ Ðiện Vatican. Ở Rôma lúc này trời đã tối. Ðức Ông Cardinale hứa trình bày việc này lên Ðức Thánh Cha càng sớm càng tốt. Vài tiếng sau, vị giáo chức Vatican gọi lại cho cha Morlion: chính Ðức Giáo Hoàng cũng đang rất lo âu về tình hình vùng biển chung quanh Cuba; Ngài sợ rằng hai Ðại Cường cố chấp thì sẽ đẩy thế giới vào một cuộc hủy diệt; Ngài đã sẳn sàng can thiệp, tuy nhiên, ngài thận trọng muốn thăm dò phản ứng của đôi bên nếu ngài lên tiếng. Norman Cousins liền điện thoại cho Bạch Cung, nói chuyện với Ted Sorensen, một cố vấn của Kennedy…

Sau khi trình lên tổng thống, Sorensen đã gọi lại cho Cousins: Tổng thống Kennedy rất sẵn lòng để Đức Giáo Hoàng can thiệp. Đường nào thì bây giờ lập trường của hai bên đã rõ ràng, không bên nào chịu lùi bước. Tổng Thống có cảm giác tình hình đã vượt ra ngoài vòng kiểm soát. Trong ít giờ nữa, hạm đội Mỹ sẽ chặn đoàn tàu Liên Xô trên Đại Tây Dương. Khi ấy, chuyện gì sẽ xảy ra? Tuy cương quyết, nhưng Kennedy vẫn bị ám ảnh có thể chỉ sáu tiếng đồng hồ nữa, ông sẽ bấm nút để phóng các hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân. Nếu thế hàng trăm triệu người sẽ chết. Như vậy là cha Morlion và Cousins đã đoán đúng; cần một tiếng nói thứ ba.

Phía Mỹ có vẻ đã tiếp nhận. Phía Liên Xô thì sao? Từ hôm nổ ra khủng hoảng, các thành viên Liên Xô tham dự hội thảo ở Andover rất bồn chồn. Họ cảm thấy bất an, chỉ muốn mau chóng về nước. Cha Morlion tham khảo ý kiến các thành viên chính trong đoàn Liên Xô, viện sĩ Evgeny Fedorov, tướng Nicolai Talewsky, nhà báo Yuri Jukov. Một trong những người này đã điện về Kremli: “Chúng tôi tin chắc rằng đồng chí thủ tướng là người yêu hòa bình và không hề muốn cho hằng triệu người chết”. Từ Matxcơva, ông Khrutchev hồi đáp: ông tán thành hành động can thiệp của Đức Gioan XXIII. Ông mong Đức Giáo Hoàng đề nghị Mỹ rút tàu chiến về và ngưng phong tỏa Cuba.

Đêm 23 rạng ngày 24/10, Đức Gioan XXIII thảo thông điệp cùng với hai người cộng sự: Đức Cha Dell Acqua, phụ khuyết ở phủ Quốc Vụ Khanh và Đức Ông Igino Cardinale. Có lúc Đức Thánh Cha bảo: “Các vị cứ tiếp tục đi. Lát nữa tôi trở lại”. Rồi Ngài đi vào nhà nguyện riêng, cầu nguyện hồi lâu.

24/10/1962- Sáng ngày 24, sứ điệp của Đức Thánh Cha được chuyển tới Sứ Quán Mỹ và sứ quán Liên Xô ở Roma. Đến trưa, đài phát thanh Vatican truyền đi nội dung sứ điệp:

“Lạy Chúa, xin nghe lời tôi tá Chúa khẩn cầu… Kìa bầu trời quốc tế đang vần vũ những mây mù bão táp, gieo lo âu sợ hãi cho hàng triệu gia đình…6

Hòa bình! Hòa bình!… Chúng tôi khẩn nài các nhà cai trị đừng làm ngơ giả điếc trước tiếng kêu van của nhân loại. Xin các vị dốc tận lực để cứu vãn hòa bình. Được như thế, các vị sẽ tránh cho thế giới khỏi mọi nỗi khủng khiếp của chiến tranh, mà khi đã nổ ra thì không ai có thể lường trước được hậu quả sẽ ghê gớm thế nào. Xin các vị tiếp tục thương lượng, vì thái độ thẳng thắn chân thành và cởi mở là một chứng tá lớn cho lương tâm mỗi người và trước lịch sử. Phát huy, tạo điều kiện và chấp nhận thương thảo, ở mọi cấp bậc và trong mọi thời, là quy luật của sự khôn ngoan sáng suốt, đáng cho trời chúc lành, người ca tụng.”

Nghe nói Đức Thánh Cha đã tự tay chỉnh sửa khá nhiều bản văn do các người cộng sự soạn thảo. Dự thảo ban đầu dùng ngôn ngữ có phong cách ngoại giao. Thay vào đó, Đức Thánh Cha đã viết một sứ điệp vừa là lời cầu nguyện, vừa là tiếng gọi lay động lương tâm. Đọc sứ điệp thấy Đức Gioan XXIII đang phát ngôn thay cho mọi người dân lành đang bị đe dọa.
Lời kêu gọi đã truyền đi rồi. Hòa bình thế giới rồi sẽ ra sao? Mặt trận chính trị vẫn rất gay gắt. Thủ tướng Khrutchev gửi thư cho tổng thống Kennedy:

“Thưa tổng thống, xin Ngài thử nghĩ nếu chúng tôi gửi đến Ngài một tối hậu thư như Ngài vừa đưa ra với chúng tôi bằng các hành động của Ngài, thì Ngài sẽ phản ứng thế nào?…

Điều Ngài tuyên bố đâu phải là cấm vận cấm vận, đúng hơn Ngài đang công bố một tối hậu thư, và Ngài đe dọa nếu chúng tôi không tuân lệnh, Ngài sẽ dùng võ lực. Xin Ngài suy nghĩ điều Ngài đang nói! Vậy mà Ngài lại muốn thuyết phục tôi đồng ý được sao? Đồng ý với những yêu cầu đó nghĩa là gì? Nghĩa là chúng tôi không được điều hành quan hệ với các nước khác bằng lí trí nữa, nhưng bằng cách vâng theo bạo quyền. Ngài không nại đến lý trí, Ngài chỉ muốn đe dọa chúng tôi thôi.

Hành động của Mỹ đối với Cuba là ăn cướp trắng trợn. Nếu Ngài làm như vậy thì chỉ là sự điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc đến hồi đốn mạt.
Thật bất hạnh, nhân dân các nước, và nhân dân Mỹ cũng không hơn gì, có thể phải khốn khổ vì sự điên cuồng ấy, bởi với sự xuất hiện của võ khí hiện đại, thì Hoa Kỳ đã mất hẳn vị thế bất khả xâm phạm trước đây.

Vì lẽ đó, thưa tổng thống, nếu ngài cân nhắc hiện tình với cái đầu lạnh, chứ đừng buông theo đam mê, Ngài sẽ hiểu rằng Liên bang Xô Viết không thể nào cam chịu mà không khước từ những yêu cầu bạo ngược của Hoa Kỳ… Do đó, chính phủ Liên Xô không thể chỉ thị cho hạm trưởng các tàu Liên Xô đang đi Cuba phải tuân lệnh của các lực lượng hải quân Mỹ đang phong tỏa đảo quốc này. Chỉ thị của chúng tôi cho các thủy thủ Liên Xô là tuân thủ khít khao những tiêu chuẩn mọi nơi đều chấp nhận về hải hành trên các vùng biển quốc tế, dù một tấc cũng không lùi. Và nếu Mỹ xâm phạm những quyền đó, thì Mỹ phải ý thức trách nhiệm của mình về hành động đó. Chắc chắn chúng tôi sẽ không khoanh tay đứng nhìn cảnh tàu Mỹ ăn cướp trên biển khơi. Khi đó về phần mình, chúng tôi sẽ buộc lòng có những biện pháp mà chúng tôi xét thấy là cần thiết và đủ để bảo vệ quyền của chúng tôi. Chúng tôi có tất cả những gì cần thiết để đạt mục đích ấy. Kính thư…”

Ở Washington, trong cuộc họp của Excomm, bộ trưởng Quốc Phòng báo cáo có một tàu ngầm Liên Xô gần những chiến hạm Mỹ. Nói chung, quan điểm của Excomm là nếu có tàu ngầm can thiệp vào vụ cấm vận thì phải hủy diệt tàu ngầm đó.

Tình thế đã thêm căng thẳng . Tuy nhiên, bắt đầu xuất hiện một vài sự kiện khả dĩ dự báo một cuộc xuống thang. Đó là những sự kiện nào?…

24-12-1962. Mấy tia hy vọng rạng lên trong ngày 24/10. Trước thời điểm lệnh cấm vận bắt đầu có hiệu lực, tình báo Mỹ nhận thấy có điều khác lạ. Mười chín tàu Liên Xô đang trên đường sang Cuba, thì mười sáu chiếc, trong đó có năm chiếc phía Mỹ hồ nghi là chở tên lửa, đã giảm tốc độ, thậm chí có chiếc đã quay ngược mũi tàu. Điều tình báo Mỹ khi đó chưa biết, là trong số tàu quay ngược về, có chiếc Poltava, chở 20 đầu đạn hạt nhân. Tình báo Mỹ cũng mới chỉ phát hiện những tên lửa Liên Xô ở Cuba, nhưng chưa biết hơn 100 trái bom hạt nhân đã được đưa vào nội địa Cuba, và đang chuẩn bị lắp ráp với tên lửa. Tàu Liên Xô giảm tốc và chuyển hướng những con tàu trên Địa Trung Hải được báo cáo với Excomm lúc 10h25 sáng. Tổng thống Kennedy ra lệnh hoãn lệnh cấm vận thêm một tiếng, trong khi nghe ngóng tình hình.
Cùng ngày hôm nay, một doanh nhân Mỹ đang có chuyến thăm và làm việc ở Matxơcơva trước khi về nước đã bất ngờ nhận được điện thoại triệu tập đến gặp thủ tướng Khrushchev. William Knox là chủ tịch công ty Westinghouse International. Nhà lãnh đạo Liên Xô nói liên miên suốt ba tiếng đồng hồ. Ông vẫn biện bạch là tên lửa ở Liên Xô chỉ để phòng thủ chứ không phải để tấn công. Nhưng đồng thời ông cũng đưa ra lời thách thức: “Tôi không ham tàn phá thế giới … Nhưng tùy các vị, nếu các vị muốn tất cả chúng ta gặp nhau dưới địa ngục”.
Knox nhận xét ông Khrushchev trông mệt mỏi, mất ngủ và rất bồn chồn. Rõ ràng thủ tướng Liên Xô cũng đang trong tình trạng rất căng thẳng. Ý nghĩa của cuộc nói chuyện thì rõ ràng là ông Khrushchev muốn qua Knox gửi một thông điệp nữa cho phía Mỹ.
Dù sao gần đến thời điểm cấm vận, bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ lại nâng báo động từ Defcon 3 lên Defcon 2. Đó là mức báo động cao nhất của quân lực Mỹ cho đến ngày nay. Defcon 2 là báo động đỏ, được ban hành nếu chiến tranh hạt nhân cận kề. Gần 200 máy bay B52 liên tục trực chiến trên không. 145 hỏa tiễn đạn đạo liên lục địa sẵn sàng nhận lệnh báo động. Bộ chỉ huy Phòng Không dàn thế trận, 161 hỏa tiễn chặn hỏa tiễn, được trang bị bom hạt nhân, khoảng 50 hỏa tiễn trong số này phải sẵn sàng tham chiến trong vòng 15 phút. 23 máy bay B 52 mang bom hạt nhân quần thảo gần không phận Liên Xô.
Sáng 25/20/1962- 1 giờ sáng, tổng thống Kennedy trả lời bức điện của thủ tướng Khrushchev:
“ Ngài chủ tịch thân mến.
Tôi đã nhận được thư Ngài đề ngày 24/10. Tôi rất tiếc là Ngài vẫn tỏ ra không hiểu điều gì đã khiến chúng tôi hành động trong vụ này.
Diễn tiến của mọi biến cố thật rõ ràng. Tháng 8 đã có những báo cáo về những chuyến tàu lớn chở trang bị quân sự và các kỹ thuật gia từ Liên Xô sang Cuba. Đầu tháng 9, tôi đã cho thấy rất rõ là Hoa Kỳ coi như bất kỳ chuyến tàu nào chở võ khí tấn công đến Cuba cũng tạo ra tình thế hết sức nghiêm trọng. Sau đó, chính phủ tôi đã nhận được từ quí chính phủ và quí vị đại diện những bảo đảm rất mực minh bạch, cả công khai lẫn riêng tư, rằng không có võ khí tấn công được gửi sang Cuba…
Vì dựa vào những bảo đảm long trọng hồi đó mà tôi đã yêu cầu người trong nước tôi phải tự kiềm chế khi họ đòi hành động về vụ này. Thế rồi tôi được biết chắc, không thể nghi ngờ được nữa, điều mà Ngài cũng không phủ nhận, tức là tất cả những lời bảo đảm công khai đó đều giả dối và mới đây giới quân nhân của các Ngài đã triển khai cả một loạt các căn cứ hỏa tiễn ở Cuba. Thưa Ngài chủ tịch, tôi xin Ngài nhận rõ một điều, là trong vụ này, không phải tôi đã gây ra sự thách thức và từ đó sự thể ở Cuba đã đòi hỏi phải đáp ứng như tôi đã thông báo.
Một lần nữa, tôi lấy làm tiếc rằng những biến cố đó đã làm tổn hại quan hệ giữa chúng ta. Tôi mong quí chính phủ có những hành động cần thiết để phục hồi tình trạng như trước đây.
Chân thành …”

Tối ngày 25, CIA báo cáo bên Cuba vẫn khẩn trương lắp đặt hỏa tiễn. Tổng thống Kennedy ra lệnh lắp đặt bom hạt nhân trên các máy bay dưới quyền điều động của SACEUR, tức là bộ chỉ huy tiền phương các lực lượng không kích của Mỹ trong trường hợp có chiến tranh với Liên Xô.
Cũng ngày hôm nay, tiếng nói của nước cộng sản khổng lồ thứ hai đã cất lên. Nhân dân nhật báo Bắc Kinh, trong bài xã luận quan trọng, tuyên bố: “650 triệu người Trung Quốc, không phân biệt nam nữ, sát cánh với nhân dân Cuba.”
Nói chung, ngày 25 tháng 10 vẫn là một ngày hết sức căng thẳng.
Tuy có một tia hy vọng vì đoàn tàu Liên Xô giảm tốc và đổi hướng, nhưng văn thư trao đổi giữa hai bên vẫn kết tội nhau nặng nề. Mỹ vẫn ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Một điều khi ấy Mỹ chưa biết là trên lãnh thổ Cuba đã có hơn 100 đầu đạn hạt nhân và bộ chỉ huy Liên Xô được quyền khai hỏa nếu Mỹ tấn công tổng lực vào đảo quốc. Chủ tịch Fidel Castro thì quyết liệt muốn giáng trả Mỹ dù cho Cuba có phải tan hoang. Chính quyền Mỹ cũng bồn chồn vì khả năng Liên Xô trả đũa ở Berlin (Đức). Với sự lên tiếng của Trung Quốc, những điểm nóng không còn giới hạn ở Châu Mỹ và Châu Âu mà đã lan đến Châu Á. Kinh nghiệm lịch sử cũng như chủ trương chính sách cho thấy rằng khi thấy cần, chủ tịch Mao Trạch Đông không ngần ngại hy sinh cả trăm triệu sinh mạng người Trung Quốc. Đang khi thế giới hồi hộp theo dõi vụ Cuba, thì chiến tranh đã bùng nổ thực sự giữa Trung Quốc và Ấn Độ ở vùng biên giới Himalaya. Các giám mục Ấn Độ đã phải xin nghỉ họp công đồng Vatican II để về nước với đoàn chiên trong thời điểm hiểm nguy.
Nói theo lời Đức Gio-an XXIII: “ Bầu trời quốc tế đang vần vũ những đám mây đen bão táp”.

26/10/1962: Một tín hiệu bất thường từ Matxcơva: báo Pravda, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng Sản Liên Bang Nga, đăng lên trang nhất lời kêu gọi hòa bình của Đức Gioan XXIII, cùng với lời bình luận là Đức Giáo Hoàng có lý khi Ngài chủ trương cần phải thương thuyết. Với những ai hiểu biết về những tương quan của thế giới Cộng sản, đặc biệt là của Liên Xô với Giáo Hội Công Giáo, động thái của Matxcơva có ý nghĩa đặc biệt. Về mặt triết lý và chính trị, thì mọi người đều biết Karl Marx và Engels đã phê bình ác liệt như thế nào về các tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng. Từ ngày có một chế độ Mác xít chuyên chính được thiết lập ở nước Nga năm 1917 (Cách mạng tháng 10), những tư tưởng triết lý và chính trị ấy được thể hiện với cả một hệ thống pháp luật và công an khắc nghiệt khổng lồ.
Năm 1926, sứ thần Tòa thánh tại Đức, Đức Cha Pacelli (sau này sẽ là Đức Giáo Hoàng Pio XII) nhận lệnh của Đức Giáo Hoàng Pio XI, phong chức Giám mục cho một tu sỹ Dòng Tên là Cha Michel d’Herbigny. Nhiệm vụ của Đức Cha d’Herbigny là đi vào nước Nga Xô viết để tấn phong bí mật cho nhiều vị Giám mục Công giáo. Từ đó trở đi, bức màn sắt buông xuống, Công giáo ở Nga chìm vào một vực thẳm yên lặng. Sau này khi đọc “Quần đảo ngục tù” (Archipel Goulag) của văn hào Soljenitsyn, ta có thể mường tượng trong cõi ngục tù mênh mông ấy nhiều tín hữu của Chúa, Chính Thống có, Công Giáo có.

Từ đó thái độ của nước Nga Xô viết đối với Giáo Hội và của Giáo Hội đối với Cộng sản, là một chuỗi những mâu thuẫn gay gắt. Ngày 27/6/1930 trước đại hội XVI của Đảng Cộng Sản Nga, Chủ tịch Stalin đã nói về “một cuộc thánh chiến của bọn cha cố do Giáo Hoàng dẫn đầu chống lại Liên bang Xô viết”. Năm sau, 1931, ngoại trưởng Molotov tuyên bố bọn cha cố Công Giáo là “những tên gián điệp phục vụ cho bộ tổng tham mưu chống Liên xô… Trong mấy năm vừa rồi, (Vatican) đã tìm cách tích cực can thiệp vào các vụ việc quốc tế, dĩ nhiên là can thiệp để bênh vực bọn tư bản và địa chủ, bọn đế quốc châm ngòi lửa chiến tranh.” Bên Công giáo phản ứng cũng không vừa.
19/3/1937, Đức Giáo Hoàng Pio XI công bố hẳn một bức Thông Điệp, nhan đề “Chúa Cứu Thế” (Divini Redemptoris) về chủ nghĩa Cộng sản vô thần, với câu nói nổi bật là “Chủ Nghĩa Cộng Sản là sự ác từ bản chất”.

Sau đời Đức Pio XI đến thế chiến thứ II, với Đức Pio XII, quan hệ đôi bên chẳng những không cải thiện mà còn nặng nề hơn. Liên xô chiến thắng đã thiết lập một thế giới Cộng sản bao trùm cả Đông Âu, trong khi Mao Trạch Đông bá chủ toàn thể đất nước Trung Hoa từ năm 1949; chế độ Cộng sản được thết lập vững chắc ở Bắc Việt Nam và Bắc Triều Tiên.

Không thể kể hết những gian nan, khốn khổ, hiểm nguy Giáo Hội đã phải chịu. Những vị lãnh đạo lớn của các Giáo Hội Đông Âu đều chịu cảnh tù rạc, những người như các Đức Hồng Y Mindzenty ở Hungari, Stepinac ở Nam Tư, Beran ở Tiệp Khắc; Giáo Hội Công Giáo ở Ukraina bị cưỡng bức sát nhập vào Giáo Hội Chính Thống, v.v.. (Một sự kiện trong Dòng Chúa Cứu Thế có thể coi là một minh họa cho thời kỳ này: ngày 26/6/2001 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II tôn phong Chân Phước cho 5 tu sỹ của Dòng người Ukraina và Ba Lan, có vị đã chết rũ tù, có vị bị tra tấn dã man, hoặc chết vì kiệt sức sau khi ở tù ra, trong thời gian 1941 – 1959). Bên Trung Quốc chính quyền chủ xướng lập giáo hội tự trị, tạo ra tình hình phân rẽ giáo hội công khai và Giáo Hội Hầm Trú cho tới ngày hôm nay. Ở Việt Nam ta chỉ cần đi thăm các vị có tuổi trong các Giáo Phận Miền Bắc sẽ được nghe biết bao nhiêu nông nỗi về thời kỳ này. Có những nạn nhân nổi tiếng như Cha Nguyễn Văn Vinh của Hà Nội, hoặc một tu sỹ Dòng Chúa Cứu Thế là Marcel Nguyễn Tân Văn mà ở nước ngoài có cả một phong trào vận động xin Hội Thánh tuyên phong Chân Phước cho Thầy.

Trong tình hình như thế, dễ hiểu là tương quan giữa khối các nước Xã hội Chủ nghĩa và Giáo Hội u uất nặng nề đến mức nào. Sứ điệp lễ Giáng sinh năm 1956 của Đức Giáo Hoàng Pio XII có câu: “Chúng tôi, với tư cách là người đứng đầu Giáo Hội, đã tránh không kêu gọi thế giới Kitô vào một cuộc thánh chiến, nhưng chúng tôi có thể hiểu được tâm trạng của những người đang đau khổ nơi chính bản thân mình, vì sao họ có những suy nghĩ như vậy (mong có thánh chiến).” Mặc dù đã minh xác như vậy, Đức Thánh Cha Pio XII vẫn được coi là vị Giáo Hoàng chống Cộng quyết liệt vào bậc nhất.

Nhưng thời gian lịch sử có tác dụng tạo ra những biến chuyển trong cuộc sống con người mặc dù có thể rất chậm chạp. Năm 1953, thống chế Salin qua đời, ba năm sau Khrushchev đã củng cố được quyền lực ở Liên Xô. Giữa hai khối Tư bản và Xã hội Chủ nghĩa khi ấy, một mặt cuộc cạnh tranh “ai thắng ai” vẫn vô cùng ráo riết, mặt khác với sự phát triển của vũ khí hạt nhân,với bom A, bom H thì Liên Xô cũng thấy là một cuộc thế chiến chỉ gây tàn phá cho toàn nhân loại mà không có kẻ thắng; chạy đua vũ trang chủ yếu là thủ thế với nhau, hơn là để gây chiến tranh nguyên tử.

Vì lẽ đó một mặt Liên Xô tuyên truyền như sấm sét về sức mạnh của mình, thử bom, thử tên lửa, phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên, đưa phi hành gia đầu tiên lên quỹ đạo; mặt khác, Khrushchev phát động chính sách sống chung hòa bình, để cạnh tranh về chính trị và tuyên truyền. Về mặt tôn giáo, trong khi ở Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa vẫn quyết liệt đấu tranh bài bác, Khrushchev lại cũng áp dụng ở bên ngoài chính sách “chung sống hòa bình”. Thời gian đó, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII với Công đồng Vatican II tạo ra một luồng gió mới trong Giáo Hội, gây được rất nhiều thiện cảm trên toàn thế giới.

Thứ bảy, 25/11/1961, Giáo Hội mừng thọ Đức Gioan XXIII bước vào tuổi 80. Hầu hết các nước lớn đều gửi đại diện đến Vatiacan chúc mừng. Riêng Liên Xô vắng mặt. Bất ngờ đúng ngày sinh nhật, đại sứ Liên Xô tại Roma, ông Kozyrev, chuyển đến sứ thần Tòa thánh bên cạnh chính phủ Ý, Đức Cha Grano, một điệp văn: “Nhận chỉ thị của chủ tịch Khrushchev, tôi xin Tổng Giám Mục chuyển đến Đức Thánh Cha Gioan XXIII, trong dịp lễ thượng thọ bát tuần, lời chúc mừng của Chủ tịch. Chủ tịch chân thành cầu mong Đức Giáo Hoàng mạnh khỏe và thành đạt các ước vọng cao quý của Ngài là góp phần tăng cường và củng cố hòa bình thế giới, để giải quyết các vấn đề quốc tế, nhờ sự thương lượng thẳng thắn”.

Xưa nay, nếu Liên Xô có nói đến tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng, thì chỉ một giọng gầm gừ mạt sát. Đây là lần đầu tiên từ cách mạng tháng 10 năm 1917, một nhà lãnh đạo Liên Xô gửi một sứ điệp cho một vị Giáo Hoàng, hơn nữa lại còn dùng ngôn ngữ trang trọng. Điêp văn của ông Khrushchev gây ra nhiều băn khoăn cho các vị phụ trách ngoại giao của Tòa thánh về cung cách ứng xử trong tình hình mới này.

Đức Gioan XXIII xuống hoa viên Vatican đi dạo một vòng. Ngài dừng lại cầu nguyện hồi lâu trước hang đá Lộ Đức. Đến tối Ngài nói với thư ký riêng, đức ông Capovilla: “Có một cái gì đó đang chuyển động trên thế giới, Chúa đã dùng khí cụ nhỏ hèn là tôi đây để chuyển hóa lịch sử. Hôm nay chúng ta đã có một tín hiệu của Chúa quan phòng”.

Tối hôm đó Ngài về phòng riêng sớm hơn thường lệ, để tự tay thảo câu trả lời cho Chủ tịch Liên Xô. Qua một ngày chủ nhật. Sáng thứ hai 27/11 sứ thần Tòa thánh ở Rôma chuyển điệp văn đến đại sứ Liên Xô ở Ý: “Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII xin cảm ơn Ngài đã chúc mừng. Về phần mình, Đức Giáo Hoàng xin gửi tới toàn dân Nga những lời cầu chúc chân thành để quý quốc phát triển và xây dựng hòa bình khắp thế giới bằng những đồng thuận tốt đẹp, dựa trên tình huynh đệ đại đồng nhân loại, Đức Thánh Cha tha thiết cầu nguyện theo ý này”.

Có lẽ đây cũng là một bước chuẩn bị huyền nhiệm. Không đầy một năm sau, nổ ra cuộc khủng hoảng rất nguy hiểm ở Cuba.
Vụ Cuba cho thấy rằng ngay cả khi hai đại cường Xô Mỹ không muốn có đại chiến, thì guồng máy khổng lồ hết sức phức tạp của cả hai bên về ý thức hệ, chính trị, quân sự có thể cuốn hút các nhà lãnh đạo từng bước đưa đến thảm họa. Bất chấp những tính toán, tiên liệu chi tiết tới đâu, chuyện sinh tử của thế giới có thể lệ thuộc vào những diễn biến bất ngờ to nhỏ phát xuất từ từng con người.

Rốt cuộc những người như cha Morlion và Cousins đã có lý khi cho rằng cần một tiếng nói thứ ba trong cuộc đối đầu gay gắt giữa hai siêu cường. Và người có tư thế để nói lên tiếng nói thứ ba đó chính là Đức Gioan XXIII. Ngài không có quyền lực về chính trị hay quân sự. Nhưng tinh thần và ảnh hưởng lan tỏa của Ngài tạo cho tiếng nói thứ ba này một âm vang rất lớn. Sự kiện lần đầu tiên trong lịch sử Cách mạng Xã hội chủ nghĩa báo Pravda đưa lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng lên trang nhất vào một thời điểm hết sức hệ trọng giữa chiến tranh và hòa bình, cho thấy Đức Gioan XXIII đã đổ vào cuộc khủng hoảng một chất xúc tác khả dĩ khai thông dòng chảy hòa bình. Vài tháng sau, chính ông Khrushchev cũng xác định như vậy với Norman Cousins ở Matxcơva. Chuyện này sẽ xin tường thuật sau…

Minnesota, USA – Washington, 26/10/1962 – Sáng hôm nay, Tổng Thống Kennedy vẫn chưa chú ý đến tín hiệu trên tờ Pravda. Trong cuộc họp Excomm, ông vẫn nhận xét bi quan rằng chỉ có xâm chiếm Cuba thì mới giải quyết được vấn đề tên lửa của Liên Xô. Tuy vậy, sau khi trao đổi và suy nghĩ, ông quyết định kéo dài thời gian chờ đợi xem có kết quả gì không. Một bước leo thang: từ nay các chuyến bay dọ thám ở độ thấp tăng từ hai chuyến một ngày lên một chuyến mỗi giờ. Ðồng thời Kennedy cho tiến hành kế hoạch gấp rút lập chính phủ dân sự ở Cuba để ra mắt ngay khi cuộc xâm lăng bắt đầu.
Trong khi đó, Chủ Tịch Fidel Castro của Cuba cũng đang trong tâm trạng hết sức phấn khích. Trong ngày 26 này, ông Castro gửi thư cho Thủ Tướng Khrushchev có những lời lẽ như sau:
“Phân tích tình hình và dựa vào những báo cáo chúng tôi đang có, tôi thấy là (Mỹ) sắp tấn công đến nơi, trong vòng từ 24 đến 72 tiếng nữa…
Ðồng chí có thể tin chắc rằng chúng tôi sẽ kháng cự quyết liệt. Tinh thần của nhân dân Cuba hết sức cao, và dân Cuba sẽ anh dũng đương đầu với cuộc xâm lăng….
Nếu… bọn đế quốc xâm lăng Cuba nhằm mục đích chiếm đóng, thì những nguy cơ do chính sách xâm lược của bọn chúng sẽ hết sức to lớn, đến độ Liên Xô không bao giờ được để xảy ra những tình huống bọn đế quốc có thể ra tay trước đánh mình bằng một đòn hạt nhân.
Tôi nói với đồng chí như vậy vì tôi tin rằng óc xâm lăng của bọn đế quốc khiến chúng trở nên hết sức nguy hiểm, và nếu chúng tiến hành được một cuộc xâm lăng Cuba — một hành động tàn bạo xâm phạm quy luật luân lý đạo đức phổ quát — thì đã đến lúc phải hủy diệt vĩnh viễn nguy cơ đó. Giải pháp ấy dù gian khổ và khủng khiếp tới đâu, thì cũng không thể có giải pháp nào khác thay thế ….”

Lời lẽ trong bức thư cho thấy ông Castro muốn Liên Xô ra đòn trước tấn công hạt nhân vào nước Mỹ, dù cho đảo quốc Cuba nhỏ bé của ông có tan hoang. 40 năm sau bức thư rực lửa chiến tranh ấy, Chủ Tịch Castro về già, trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Mỹ Atlantic Magazine, tháng 9 /2010, khi được hỏi về thái độ của ông khi ấy, đã trả lời: “Sau khi tôi đã thấy những gì tôi đã thấy, và đã biết những gì tôi đã biết, thì thấy không đáng làm như vậy chút nào.” Chủ Tịch Castro bỏ lửng không nói rõ ông đã thấy và đã biết những gì… Chỉ biết ngày 26/10/1962 đó, cả hai phía đều đứng bên bờ vực chiến tranh hạt nhân.
Nhưng chiều hôm 26 đó, Tổng Thống Mỹ nhận được một bức thư nữa của Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khrushchev. Em ruột của Tổng Thống, Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy mô tả bức thư là “rất dài và bức xúc”. Bức thư này mở ra một khúc quanh trong cuộc khủng hoảng….

Bức thư dài của Chủ Tịch Hội Ðồng Bộ Tưởng Nikita Khrushchev gửi Tổng Thống Mỹ một mặt bảo lưu lập trường của Liên Xô, mặt khác đưa ra một đề nghị cụ thể để thương thuyết.

Về bảo lưu lập trường của Liên Xô, bức thư có đoạn: “Nhân danh Chính Phủ Liên Xô và nhân dân Liên Xô, tôi bảo đảm với ngài là những kết luận của ngài về các võ khí tấn công ở Cuba là vô căn cứ. Dựa vào những gì ngài đã viết cho tôi thì thấy rõ quan niệm của chúng ta khác nhau về điểm này, hay nói đứng hơn chúng ta có những cách đánh giá khác nhau về những khí tài quân sự ; thực ra cùng một loại võ khí có thể được hiểu bằng những cách khác nhau. Ngài là một quân nhân nên tôi hy vọng ngài sẽ hiểu tôi. Chẳng hạn ta lấy một khẩu đại bác thông thường làm ví dụ. Nó là phương tiện gì: để tấn công hay phòng thủ? Khẩu dại bác là một phương tiện phòng thủ nếu nó được lắp đặt để bảo vệ biên giới hoặc một vùng quân sự. Nhưng nếu ta tập trung pháo binh, và thêm vào đó số bộ binh cần thiết, thì cũng những đại bác đó tất trở thành phương tiện tấn công, vì chúng chuẩn bị và mở đường cho bộ binh tấn công. Ðối với các khí giới tên lửc hạt nhân thì cũng vậy, bất cứ chúng thuộc loại nào.
Ngài lầm lẫn nếu ngài nghĩ rằng bất cứ khí tài nào của chúng tôi ở Cuba cũng là để tấn công. Nhưng thôi, ta đừng cãi nhau bây giờ. Ðã rõ là tôi sẽ không thuyết phục được ngài về chuyện này. Nhưng tôi nói với ngài: thưa Tổng Thống, ngài là một quân nhân và ngài đáng lẽ phải hiểu: liệu người ta có tấn công được không dù trên lãnh thổ của mình có một số lớn tên lửa chăng nữa với những tầm bắn hiệu quả khác nhau và sức công phá khác nhau, nhưng nếu chỉ dùng phương tiện đó. Những tên lửa đó là những phương tiện để hủy diệt và tàn phá. Nhưng người ta không thể dùng các tên lửa đó, kể cả những tên lửa hạt nhân có sức công phá 100 megaton di nữa bởi vì chỉ có những con người, bộ binh, mới tấn công được. Không có người lính, thì bất cứ phương tiện nào dù mạnh đến đâu cũng không thể dùng để tấn công đươc …
Nhưng, thưa Tổng Thống có thật ngài nghĩ một cách nghiêm túc rằng Cuba có thể tấn công Hoa Kỳ và thậm chí cả chúng tôi cùng với Cuba có thể tấn công quý quốc từ lãnh thổ Cuba? Liệu ngài có thật sự nghĩ như thế không? Sao lại có thể như thế được? Chúng tôi không thể nào hiểu được …”

Ông Khrushchev lập đi lập lại nhiều lần rằng hành động cấm vận của Mỹ là hành động ăn cướp. Rồi ông đề nghị:
“Ta hãy bình thường hóa quan hệ. Chúng tôi đã nhận được một lời kêu gọi từ ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant, cùng với những đề nghị. Tôi đã trả lời ông ấy rồi. Ông ấy đề nghị như sau: phía chúng tôi sẽ không chuyên chở khí giới bất cứ thuộc loại nào sang Cuba trong một thời gian nhất định, trong khi tiến hành thương thuyết, và chúng tôi đã sẵn sàng để tham gia thương thuyết như vậy – còn phía bên kia cũng sẽ không có một hành động cướp bóc nào đối với các tàu bè đi lại trên biển khơi. Tôi coi những đề nghị này là phải chăng …”

Chủ Tịch Hội Ðồng Bộ Trưởng Liên Xô nhắc lại rằng trước đây Mỹ đã nhúng tay vào một vụ xâm lược Cuba và Tổng Thống Kennedy đã nhìn nhận đó là một sai lầm. Rồi ông đặt điều kiện:
“Nếu Tổng Thống và Chính Phủ Hoa Kỳ bảo đảm rằng bản thân Hoa Kỳ sẽ không tham gia vào một cuộc tấn công Cuba và sẽ can gián các nước khác không tham gia vào những hành động như thế, nếu quý vị gọi hạm đội về nước, thì tất cả sẽ thay đổi ngay lập tức …Khi đó vấn đề võ trang cũng biến theo bởi vì nếu không có sự đe dọa, thì sự võ trang là một gánh nặng cho mọi dân tộc…”

Và đây là đoạn kết thúc mà Robert Kennedy coi là có tính cách “bức xúc”:
“… Chúng tôi và quý vị lúc này không nên kéo hai đầu dây thòng lọng mà ngài đã tròng vào để thắt chiến tranh. Có thể sẽ đến một lúc nút thắt chiến tranh chặt đến nỗi cả người thắt nút cũng không còn đủ sức để cởi nút… Do đó nếu không có ý định thắt chặt nút chiến tranh và do đó ném thế giới vào thảm họa chiến tranh hạt nhân, thì không những chúng ta nên khoan giãn sức mạnh đang kéo hai đầu nút, chúng ta hãy đưa ra những biện pháp để cởi nút. Chúng tôi đã sẵn sàng…”

Sáng sớm ngày 27.10.1962, Tổng Thống Kennedy điện trả lời Thủ Tướng Khrushchev:

“Tôi đã đọc kỹ thư ngài viết ngày 26.10 và lấy làm mừng vì ngài đã tuyên bố muốn tìm một giải pháp mau chóng cho vấn đề. Tuy vậy, việc đầu tiên cần làm là phải cho ngừng hoạt động các căn cứ hỏa tiễn ở Cuba và mọi hệ thống võ khí ở Cuba có khả năng tấn công đều phải đặt trong tình trạng không thể vận hành được, với những quy định kiến hiệu của Liên Hiệp Quốc.
Tin rằng việc này sẽ được thi hành nhanh chóng, tôi đã chỉ thị cho những người đại diện tôi ở New York cho phép họ đề ra từ cuối tuần này một thỏa thuận để giải quyết lâu dài vấn đề Cuba theo những cương lĩnh đã được gợi ý trong bức thư ngày 26.10, trong sự cộng tác với ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc và với người đại diện của ngài. Khi đọc thư của ngài, thì những yếu tố cốt yếu trong các đề nghị của ngài theo như tôi hiểu là nói chung có thể chấp nhận được. Những yếu tố cốt yếu đó là như sau:
1. Ngài sẽ đồng ý tháo dỡ những hệ thống võ khí và đưa đi khỏi Cuba với sự quan sát và thanh sát tương thích của Liên Hiệp Quốc; và ngài sẽ tiến hành chấm dứt việc đưa thêm những hệ thống võ khí như vậy vào Cuba với những bảo đảm thích hợp.
2. Về phần chúng tôi khi đã thiết lập được những thỏa thuận thích đáng qua Liên Hiệp Quốc để thi hành và tiếp tục những điều chúng tôi cam kết, chúng tôi sẽ:
a. Thu hồi mau chóng các biện pháp cấm vận hiện hành và
b. Ðưa ra những lời bảo đảm sẽ không tấn công Cuba. Tôi tin rằng các quốc gia khác ở Tây Bán Cầu cũng sẵn sàng làm như vậy.
Nếu ngài cũng chỉ thị cho các người đại diện của ngài như vậy thì không có lý do gì chúng ta lại không hoàn tất được các thỏa thuận và thông báo cho thế giới nội trong vài ngày tới đây …
Nhưng xin cho tôi nhấn mạnh là yếu tố đầu tiên là các căn cứ hỏa tiễn ở Cuba ngưng hoạt động và cần có những biện pháp khiến cho những khí giới như vậy không thể vận hành được, với sự bảo đảm kiến hiệu của quốc tế. Tôi hy vọng chúng ta có thể nhanh chóng đồng ý với nhau theo những cương lĩnh được đề ra trong bức thư này và bức thư ngày 26.10 của ngài.”

Cứ tưởng như thế là cuộc khủng hoảng đã tìm đươc một lối thoát tốt đẹp. Nhưng ngày 27.10 này vẫn còn những giờ phút Liên Xô và Mỹ rất gần với chiến tranh …

Ngày 27.10.1962, lúc 9 giờ sáng giờ Washington, Ðài Phát Thanh Mátxcơva bất ngờ phát đi một sứ điệp của ông Khrushchev, bản văn của sứ điệp này được gửi đến Washington lúc 11 giờ. Khác với bức thư đêm hôm trước, lần này ông Khrushchev đưa thêm một điều kiện mới. Ông viết:

“Quý vị bất an vì Cuba. Quý vị bảo quý vị bất an vì Cuba chỉ cách bờ biển Hiệp Chủng Quốc Mỹ Châu có 99 dặm đường biển. Nhưng … quý vị lại dựng những tên lửa có sức hủy diệt mà quý vị gọi là tên lửa tấn công ở Thổ Nhĩ Kỳ, thế là ở ngay bên cạnh chúng tôi … Cho nên tôi đề nghị như sau: chúng tôi bằng lòng dỡ bỏ khỏi Cuba những khí tài mà các vị coi là có tính cách tấn công … Các người đại diện của quý vị sẽ đưa ra lời tuyên bố là Hoa Kỳ … sẽ dỡ bỏ những khí tài tương tự ở Thổ Nhĩ Kỳ … Sau đó, những người được Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ủy thác sẽ được thanh sát tại chỗ xem những điều cam kết đã thực hiện đầy đủ chưa.”

Excomm lại họp suốt ngày. Phía Mỹ phỏng đoán là trong nội bộ ban lãnh đạo Liên Xô có một phái cứng rắn. Và phái này đã đòi thêm điều kiện như vậy. Người con Thủ Tướng Khrushchev, ông Sergei Khrushchev, năm 2002 đưa ra một lời giải thích khác, được dịch ra tiếng Anh trong American Heritage 53. Theo ông Sergei, sở dĩ có sự thay đổi trong lập trường của Liên Xô là vì suốt cuộc khủng hoảng, Tổng Thống Kennedy đã nhiều lần dùng người em ruột là Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy để tiếp xúc không chính thức với Sứ Quán Liên Xô ở Washington, (Robert Kennedy với Ðại Sứ Liên Xô Dobrinine là chỗ quen biết). Trong những lần tiếp xúc này, Robert Kennedy, (và một vài phái viên không chính thức khác) đã gợi ý Mỹ có thể dỡ bỏ các hỏa tiễn ở Thổ Nhĩ Kỳ để đổi lấy việc Liên Xô dỡ bỏ tên lửa ở Cuba.

Khi Ðại Sứ Dobrinine báo cáo về đề xuất này với ông Khrushchev thì bức thư của ông đề ngày 26/10 đã gửi đi rồi. Ông Khrushchev nhận ra rằng trong bức thư đó ông đã bị hố, vì chính phía Mỹ đưa ra một đề nghị có lợi cho Liên Xô mà ông lại không biết để đưa vào dự thảo thỏa thuận. Ðể sửa lại tính toán sai lầm này, Thủ Tướng Liên Xô đã cho phát thanh ngay đề nghị mới trên Ðài Mátxcơva. Dù vậy, nó vẫn đến Mỹ chậm hơn bức thư ngày 26.

Nhiều người trong Excomm vẫn không biết những điều Robert Kennedy đã đề xuất với Ðại Sứ Liên Xô. Họ thuyết phục Tổng Thống chỉ dựa vào bức thư ngày 26/10 mà không nhắc gì đến đề nghị ngày 27 của ông Khrushchev. Nhưng nếu vậy, liệu thương thuyết có thành? Robert Kennedy nhớ lại: “Chúng tôi chưa mất hy vọng, nhưng nếu có hy vọng gì thì hoàn toàn phụ thuộc vào ông Khrushchev có duyệt lại hướng đi trong vài giờ tới đây hay không. Ðó là một niềm hy vọng, nhưng không phải là sự chờ đợi. Chúng tôi chờ đợi sự đối đầu bằng võ lực sẽ xảy ra (nay mai) ….”

Do đó, Mỹ vẫn đẩy mạnh kế hoạch để không kích các dàn tên lửa và các mục tiêu kinh tế, đặc biệt là các kho chứa xăng dầu ở Cuba. Mặt khác, lại phải có biện pháp đề phòng Liên Xô chác chắn sẽ phản ứng ở Châu Âu. Ðã thế,CIAlại còn báo cáo tất cả các tên lửa ở Cuba đã sẵn sàng hoạt động.

Qua trưa ngày 27/10, Mỹ thông báo cho các đống minh NATO : “Tình hình đã khẩn trương hơn… có lẻ trong một thời gian rất ngắn, Hoa Kỳ có thể thấy cấn thiết vì quyền lợi của mình và quyền lợi của các đồng minh ở Tây Bán Cầu mà cần phải hành động bằng quân sự bất cứ cách nào cần thiết”.

Trong khi cuộc thương thuyết Mỹ Xô và các bước chuẩn bị quân sự đang nóng bỏng như vậy, thì trên thực địa đã xảy ra những vụ việc cho thấy nguy cơ do những rủi ro mà quyền bính chính trị đôi bên không thể kiểm soát hết. Vì những vụ việc này, về sau Bạch Cung gọi ngày 27/10 đó là “Thứ Bảy Ðen”.

Sáng ngày 27 đó, một chiếc máy bay U-2F của Mỹ, do Thiếu Tá Không Quân Rudolf Anderson lái, bay vào vùng trời Cuba thực hiện nhiệm vụ do thám, chụp hình các tên lửa Liên Xô. Sergei Khrushchev thuật lại: “Khi chiếc U-2 đang tới gần đảo quốc, một trong những dàn tên lửa phòng không vừa dựng lên và khởi sự nghiệm thu lần đầu hệ thống radar cảnh báo và dẫn đường. Radar mới bật lên thì dấu vết một chiếc máy bay bay rất cao hiện ra trên màn hình, chỉ có U-2 của Mỹ là bay cao được như thế …. Các pháo thủ gọi người đứng đầu lực lượng phòng không Liên Xô, Ðại Tá Georgy Voronkov. Ông đại tá này lại tìm cách tiếp xúc với vị chỉ huy toàn thể lực lượng Liên Xô ở Cuba, Tướng Issa Pliyev, nhưng không ai biết ông tướng đang ở đâu. Voronkov lại gọi nữa: “Ðối tượng sắp đi khỏi, chỉ còn 2 phút nữa thôi”. Một phó tướng của Pliyev hạ lệnh: “bắn!” Dưới đất chỉ nhìn thấy một chút khói trắng. Pháo thủ báo cáo: “đối tượng đã bị tiêu diệt”. Thiếu Tá Anderson trở thành liệt sĩ trong cuộc khủng hoảng này. Ðộng cơ của chiếc U-2 vẫn đang được trưng bày ở Viện Bảo Tàng Cách Mạng ở Havana.

40 năm sau, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ hồi đó là ông Mc Namara hồi tưởng: “Trước khi cho chiếc U-2 xuất phát, chúng tôi đã đồng ý với nhau là nếu nó bị bắn hạ, chúng tôi sẽ không cần họp hành gì nữa, mà tấn công liền …. Cũng may chúng tôi lại đỏi ý, nghĩ rằng: có thể đó là một tai nạn rủi ro thôi, ta sẽ không tấn công. Về sau chúng tôi được biết ông Khrushchev cũng lý luận như chúng tôi.”

Về phía Liên Xô, Sergei Khrushchev thuật lại: “khi biết tin này, cha tôi cảm thấy rằng ông đang mất khả năng kiểm soát tình hình. Hôm nay một ông tướng phóng một tên lửa phòng không; ngày mai một ông tướng khác có thể phóng một tên lửa đạn đạo. Như sau này cha tôi nói, chính lúc đó ông đã cảm nhận bằng trực giác rằng các tên lửa phải di dời đi thôi, rằng thảm họa thật sự đã gần kề ….

Một tín hiệu bằng mật mã gửi sang Cuba: “Chúng tôi nhận thấy các đồng chí đã quá vội vàng khi bắn hạ chiếc U-2…” vì đang thành hình một thỏa thuận về một đường lối hòa bình để tránh cho Cuba bị xâm lăng. Từ khi đó, nếu không được Matxcơva cho phép thì cấm bắn hạ máy bay Mỹ.”

Một vụ việc nguy hiểm nữa xảy ra ngoài biển khơi. Orlov, nhân viên quân báo trên chiếc tàu ngầm B59 của Liên Xô ghi lại những giờ phút cực kỳ căng thẳng. Chiếc B59 đã đi vào phòng tuyến cấm vận và đang bị 14 tàu chiến trên mặt biển truy lùng. Ðôi bên như chơi trò hú tim với nhau. Nhưng tàu ngầm Liên Xô gặp nhiều trục trặc kỹ thuật, và khí thở trong tàu gần cạn kiệt; nhưng trong tình thế bị truy lùng không thể nổi lên mặt nước để tiếp dưỡng khí. Orlov kể: “Nhiệt độ trong các khoang tàu lên đến 45-50 độ C, còn ở khoang động cơ thì lên đến 60 độ C. Ngột ngạt không thể chịu được. Lượng CO2 trong không khí lên tới ngưỡng có thể chết người. Một sĩ quan trực ngất xỉu té đùng. Rồi một người thứ hai, rồi một người thứ ba … cứ như là những quân domino nối nhau sụp xuống vậy. Nhưng chúng tôi vẫn cầm cự, tìm đường thoát thân. Chịu đựng như thế chừng 4 tiếng đồng hồ. Người Mỹ tấn công chúng tôi bằng một thứ gì đó mạnh hơn những loại lựu đạn (nước sâu). Sau vụ tấn công đó (hạm trưởng) Savitsky đã mệt lử, ông nổi giận đùng đùng. Ðã thế ông lại không liên lạc được với Bộ Tổng Tham Mưu. Ông cho gọi viên sĩ quan phụ trách các thủy lôi hạt nhân và truyền lệnh đặt các thủy lôi vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Ông quát tháo biện minh cho mệnh lệnh: “không chừng ở trên kia chiến tranh đã bắt đầu rồi, mà mình cứ làm xiếc mãi ở đây thế này à … Ðập tan chúng nó đi ! Ta sẽ chết, nhưng ta sẽ đánh đấm tất cả chúng nó … chứ không làm nhục Hải quân của ta !” Nhưng rồi chúng tôi đã không khai hỏa thủy lôi. Ông Savitsky đã dằn được cơn giận dữ. Sau khi tham khảo ý kiến chỉ huy phó … Arkhipov và chính trị viên … Maslennikov, ông quyết định ngoi lên mặt biển. Chúng tôi gửi đi tín hiệu … “tàu ngầm đang lên mặt biển.” Những con tàu đang truy nã chúng tôi cũng chùn lại …”

Thật ra khi người Mỹ thả những loại lựu đạn nước sâu để truy bức chiếc B 59, họ không biết là chiếc B 59 được trang bị loại thủy lôi mang đầu đạn hạt nhân 15 kiloton. Ðược biết theo quân lệnh Liên Xô, B 59 được phép sử dụng loại thủy lôi này nếu tàu ngầm bị bắn thủng vỏ, với điều kiện ba sĩ quan chỉ huy trên tàu đều nhất trí. Các tường thuật nội vụ hiện có không cho thấy rõ ba sĩ quan này đã trao đổi ý kiến với nhau thế nào, chỉ biết cuối cùng họ đã không phóng thủy lôi. Trong cuộc hội thảo về cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba ở Havana tháng 10, 2002, Nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng Mc Namara nói rằng khi đó “mọi người không biết, nhưng chiến tranh hạt nhân đã mấp mé lắm rồi.” Còn Thomas Blanton, Giám Ðốc Văn Khố An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ thì nói: “một anh chàng tên là Vassili Arkhipov đã cứu sống thế giới.” Arkhipov là chỉ huy phó của chiếc B 59.
Một vụ việc nguy hiểm nữa xảy ra ở biên giới Ðông Bắc Liên Xô. Một chiếc máy bay U-2 cất cánh từ Alaska với nhiệm vụ lấy mẫu không khí ở tầng cao để nghiên cứu mức độ phóng xạ do các vụ thử bom hạt nhân của Liên Xô. Trên đường về, chiếc máy bay đã bay lạc vào không phận Liên Xô. Nhiều máy bay Mig của Liên Xô bay lên ngăn chặn, phía Mỹ cho các chiến đấu cơ F 102 được trang bị hỏa tiển không-đối-không bay trên biển Behring để sẵn sàng nghênh chiến. Nghe tin này, ông Mc Namara xanh mặt hét lên: “thế là chiến tranh với Liên Xô à!” May thay, chiếc U-2 được hướng dẫn bay về Alaska mà chưa bên nào khai hỏa.
Ngày nay nhìn lại thấy rằng trong ngày “Thứ Bảy Ðen” 27/10, có ba thời điểm đúng là “đứng tim”, thế giới đã thoát khỏi chiến tranh hạt nhân trong gang tấc. một lần nhờ những người lãnh đạo biết kiềm chế, đó là vụ chiếc U-2 bị hạ ở Cuba. Lần thứ hai nhờ những người tuy không ở cấp cao nhưng kịp có phản ứng sáng suốt, đó là vụ chiếc B 59. Trong trường hợp chiếc U-2 ở Alaska đi lạc vào Liên Xô, thì vụ việc tiêu tan trước khi hai bên khai hỏa. Người có đức tin nhìn nhận ra đã có một ơn Quan Phòng cứu thế giới.
Tối ngày 27, sau rất nhiều ý kiến trao đổi, Tổng Thống Kennedy bí mật đồng ý tháo dỡ các hỏa tiển ở Thổ Nhĩ Kỳ và ở miền Nam Nước Ý để đổi lấy việc Liên Xô tháo dỡ tên lửa ở Cuba. Nhưng sự đồng ý của Mỹ chỉ là thỏa thuận miệng chứ không ghi bằng văn bản chính thức, (Chính Phủ Thổ Nhĩ Kỳ vẫn kịch liệt phản đối việc tháo dỡ hỏa tiển ở đất nước họ). Một lần nữa Robert Kennedy lại lãnh nhiệm vụ nói chuyện với Ðại Sứ Dobrinine. Bên cạnh những lời lẻ cứng rắn rằng nếu Liên Xô không di dời tên lửa, Mỹ sẽ dùng võ lực để phá hũy chúng, đồng thời lại có lời hứa hẹn Mỹ sẽ “tự nguyện” tháo dỡ hỏa tiển ở Thổ Nhĩ Kỳ liền sau vụ Cuba.
Khi ấy trời đã tối đen, chẳng biết ngày “Thứ Bảy Ðen” có bớt đen?

Sáng Chủ Nhật 28/10, Ðức Cha Dell’Acqua thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh, trình lên Ðức Gioan XXIII một điện tín ngắn của Tổng Thống Kennedy: “Khrushchev đã chấp nhận thương thuyết như ý Ngài. Xin cám ơn Ngài đã can thiệp.” Ðức Gioan XXIII đang ngồi đứng dậy nắm cánh tay vị giám mục: “Ta hãy cám ơn Chúa”. Và Ngài kéo vị giám mục vào nhà nguyện.
Cũng buổi sáng hôm đó, Ðài Phát Thanh Mátxcơva thông báo: “ Chính Phủ Liên Xô trước đây đã có chỉ thị ngừng tiến hành các hoạt động ở những địa điểm đang xây dựng căn cứ võ trang, nay lại có lệnh mới tháo dỡ các võ khí mà quý vị cho là để “tấn công”, những võ khí này sẽ được đóng bao và đưa về Liên Xô”. Thông báo này sau đó được ghi vào văn thư của Thủ Tướng Khrushchev gửi Tổng Thống Kennedy.

Tổng Thống Kennedy tuyên bố tức khắc: đây là “sự đóng góp quan trọng xây dựng hòa bình.” Sau đó ông gửi một bức thư cho Thủ Tướng Khrushchev: “Tôi coi bức thư tôi gửi Ngài ngày 27/10 và thư phúc đáp của Ngài hôm nay là những quyết sách cả hai chính phủ chúng ta sẽ thi hành nhanh chóng … Hoa Kỳ sẽ đưa ra lời tuyên bố về Cuba ở Hội Ðồng Bảo An như sau: Hoa Kỳ tuyên bố Hiệp Chủng Quốc Mỹ Châu sẽ tôn trọng tính bất khả xâm phạm của biên giới Cuba, chủ quyền của Cuba; Hoa Kỳ cam kết không can thiệp vào nội bộ Cuba, bản thân Hoa Kỳ không can dự, cũng không cho phép ai dùng lãnh thổ chúng tôi làm điểm xuất phát xâm chiếm Cuba, sẽ can gián những ai có kế hoạch xâm lấn Cuba, dù từ lãnh thổ Hoa Kỳ hay từ lãnh thổ các nước láng giềng khác của Cuba.”

Ðến đây cuộc khủng hoảng 13 ngày cơ bản đã chấm dứt. Trong 13 ngày đó, thế giới nói chung, Mỹ và Liên Xô nói riêng sống hồi hộp trước một thảm họa to lớn đang rình rập. Các đài phát thanh và truyền hình Mỹ liên tục phát đi những nội dung hướng dẫn người dân cách trú ẩn phòng khi chiến tranh hạt nhân xảy ra. Các giới lãnh đạo lại càng ý thức hơnvề mối đe dọa cận kề. Tướng William Smith, Phụ Tá Ðặc Biệt của Chủ Tịch các Tham Mưu Trưởng Liên Quân gửi lời hướng dẫn người em ruột xây dựng nơi trú ẩn như thế nào dưới tầng hầm của gia đình ở Arkansas. Nhưng về phần ông ởWashingtonthì: “Tôi không nghĩ là có ai trong chúng tôi sẽ sống sót. Ðưa ra kế hoạch này nọ chẳng có ý nghĩa gì nhiều vì chẳng đưa đến đâu.”
Dino Brugioni, một nhân viênCIAluôn tháp tùng bên cạnh tổng thống, viết thư vĩnh biệt vợ, nhưng lại dặn chị chỉ mở thư khi nào ông nhắn mở: “Lúc tôi kinh sợ là ngày Thứ Bảy Ðen 27/10. Chúng tôi nhận chỉ thị phải sẵn sàng xuống hầm” (hầm đây là nơi tổng thống trú ẩn trong trường hợp khẩn cấp) “Ðêm ấy tôi gọi vợ và bảo cô ấy: “nếu anh gọi em lấn nữa, thì đưa mấy đứa nhỏ lên xe và chạy về Missouri với ông bà nội”, bởi vì tôi tin chắc quân ta sẽ ném bom các vị trí có hỏa tiển vào ngày thứ hai. Tôi có một đứa con gái 8 tuổi và một đứa con trai 1 tuổi. Chỉ nghĩ đến việc vợ tôi chất chúng lên xe hơi chạy loạn tôi đã nẫu cả ruột. Nhưng tôi đã nhìn thấy những vụ nổ nguyên tử và tôi biết chúng tàn phá như thế nào, mà tôi cảm thấyWashingtonsẽ là mục tiêu.”
Một nhân vật lớn khác, Nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng William Perry, đã rời chính trường, nhưng trong dịp này được kêu gọi khẩn cấp về Washingtonđể tham gia Excomm nhớ lại: “Ngày nào tôi cũng nghĩ như đấy là ngày cuối cùng tôi sống trên mặt đất này.”
Còn Bộ Trưởng Quốc Phòng đương nhiệm Mc Namara, vào đêm 27/10 khi lên xe về nhà than rằng: “Chẳng biết có còn sáng ngày hôm sau không”. Trong những ngày đó nhiều viên chức cao cấp đều gửi vợ con đi xaWashington. Riêng Tổng Thống Phu Nhân Jacqueline Kennedy nằng nặc không chịu đi tị nạn. Bà đòi vợ chồng con cái sống cùng sống, chết cùng chết.
Là vì như Brugioni: “Cả hai nước đều la làng rằng chúng ta đang đi đến bờ vực, mà đã đến bờ vực thật rồi, thì còn ai biết làm cái quái gì nữa.”
Về phía Liên Xô, chúng tôi không có được nhiều chứng từ như vậy. Nhưng người con trai của Thủ Tướng Liên Xô, ông Sergei Khrushchev cũng là một kỹ sư có tham gia công tác thiết kế tên lửa, ghi lại: “Cảm tưởng chung là nếu xảy ra chiến tranh, thì mọi người đều chết là điều không tránh khỏi và không có chỗ nào có thể trú ẩn được.” Ông cũng mô tả Thủ Tướng Khrushchev chờ đợi chiến tranh xảy ra, đến nỗi ông không về nhà riêng, mà ngày đêm cứ ở trong Ðiện Kremli: “Bố tôi quyết định ở lại vì nếu người Mỹ thực sự phát động cuộc xâm lăng đêm hôm đó (26/10) thì ở trong Ðiện Kremli vẫn hơn ở nhà.” Ông tả cảnh Thủ Tướng Khrushchev trằn trọc cả đêm, nửa thức nửa ngủ trong văn phòng chờ đợi tin dữ về cuộc chiến đã mở màn.
Khi Khrushchev đọc báo cáo của Ðại Sứ Dobrinine từ Washington gửi về, nói Robert Kennedy trông có vẻ rất mệt mõi, cặp mắt đỏ hoe, vừa thương thuyết vừa phàn nàn rằng suốt một tuần lễ không được về nhà riêng, và ở Bạch Cung bầu khí căng thẳng như thế nào, thì ông thủ tướng nhếch mép cười, bảo rằng: “Bên này tụi mình cũng có hơn gì đâu!”
Chúng tôi đã dài dòng thuật lại những diễn biến chính và bầu khí của 13 ngày khủng hoảng, không phải vì muốn kể chuyện chính trị hay quân sự. Chúng tôi chỉ muốn bạn đọc hình dung được ít nhiều tình hình lúc đó để cảm nhận tác động của Ðức Chân Phước Gioan XXIII. Nói rằng một tay ngài cứu vãn được hòa bình thế giới thì là nói quá; bằng chứng là cả hai bên đã ráo riết gây áp lực với nhau đến giây phút cuối. Nhưng nếu nhìn lại, giữa một tình huống sặc mùi đối đầu, đe dọa lẫn nhau, sự hiện diện của Ðức Giáo Hoàng đã như một xúc tác cốt yếu, một ngọn gió hòa bình giữa cơn sốt đối đầu quân sự. Trong 13 ngày đó, phần nổi của tác động của Ðức Thánh Cha là lời kêu gọi hòa bình của ngài phát đi ngày 24/10. Hiệu quả của lời kêu gọi đó ta có thể nhận ra trong vụ báo Pravda của Liên Xô trịnh trọng đưa nó lên trang nhất ngày 26/10. Chính vì thế ngày 28/10 mới có bức điện văn của Tổng Thống Kennedy cám ơn ngài. Hai tháng sau đó khi Norman Cousins viếng thăm Matxcơva, Thủ Tướng Khrushchev đã nói với ông: “Trong tuần lễ khủng hoảngCuba, lời kêu gọi của Ðức Giáo Hoàng đứng là một tia sáng. Tôi biết ơn ngài. Ông hãy tin tôi đi, đó là một thời điểm nguy hiểm. Tôi mong rằng không ai phải sống qua những cảnh huống như thế nữa.” Khrushchev lại nói: “Có một cái gì đó rất xúc động đối với tôi về một người như Ngài bất chấp bệnh tật vẫn đấu tranh để đạt một mục đích lớn lao như vậy trước khi ngài qua đời.”
Ngày nay, Hội Thánh cám ơn Chúa vì trong tình thế hiểm nghèo đó, Chúa đã ban cho Hội Thánh một vị lãnh đạo hiện thân của hòa bình. Uy tín của Ðức Gioan XXIII qua những năm chuẩn bị rồi triệu tập Công Ðồng Vatican II, phong thái rất mực tin mừng, rất mực bình an của Ngài đã được thế giới hưởng ứng. Ðang khi Công Ðồng khơi lên một nguồn hy vọng ở khắp nơi, thì hành động của Ngài trong cuộc khủng hoảng Cuba lại càng xác nhận rằng thế giớ đã không lầm khi dành hết tình cảm cho Ngài. Hoạt động vì hòa bình của Ngài cũng không chấm dứt tại đó. Từ cuộc khủng hoảng cho đến khi Ngài qua đời không đầy 8 tháng. Nhưng cảm nghiệm về cuộc khủng hoảng đã làm cho Ngài khởi thảo thông điệp danh tiếng Hòa Bình Trên Thế Giới (Pacem In Terris). Ngay khi chưa biết nội dung, cộng đồng quốc tế đã đáp ứng nồng nhiệt khi Tạp Chí Time của Mỹ bầu chọn ngài là Người của Năm 1962 (Man of the Year) ngày 31/12, 1962. Không lâu sau đó, Ngài nhận Giải Thưởng Hòa Bình Quốc Tế Balzan. Hội Ðồng Giải Thưởng này gồm 37 thành viên, thuộc 21 quốc tịch, trong số đó có 4 người Liên Xô. Cả 4 người này đếu bỏ phiếu bầu Ðức Giáo Hoàng nhận giải. Cũng trong dịp này, Thủ Tướng Khrushchev sẽ cho con gái và con rể đến chúc mừng Ðức Giáo Hoàng. Một tháng sau khi nhận giải thưởng, Ðức Gioan XXIII công bố bức Thông Ðiệp Hòa Bình Thế Giới (Pacem In Terris) coi như chúc thư tinh thần Ngài để lại cho cộng đồng nhân loại. Từ đó đến khi Ngài qua đời chỉ còn 2 tháng.
Ngày 3/6 vừa qua là ngày giỗ thứ 50 của Ðức Gioan XXIII, Ðức Thánh Cha Phanxicô đã nói những lời sau đây: “Toàn thế giới nhìn nhận Ðức Giáo Hoàng Gioan là một vị mục tử và một người cha. Ngài là mục tử vì Ngài là một người cha.” Ðức Phanxicô nhắc lại: Ðức Gioan được gọi là: “Ðức Giáo Hoàng nhân lành. Tìm được một vị linh mục thực sự nhân lành, lòng đầy nhân ái, là điều tuyệt diệu biết bao … Những người có tuổi như tôi vẫn ghi nhớ niềm xúc động (trong những ngày cuối cùng của Ðức Gioan) … Quảng Trường Thánh Phêrô biến thành một Ðền Thánh lộ thiên, ngày đêm đón tiếp các tín hữu không phân biệt tuổi tác hay địa vị xã hội. Mọi người đều bồi hồi cầu nguyện cho Ðức Giáo Hoàng.”
Chính vì phải có tuổi như Ðức Phanxicô mới ghi đậm trong ký ức những ấn tượng lạ lùng ấy của 50 năm trước, nên chúng tôi đã cố gắng thuật lại những biến cố của cuộc khủng hoảng, và sẽ cố gắng gợi lại dung mạo rực sáng hòa bình của Ðức Gioan XXIII, mong nối kết sự hiệp thông của người thời nay với những giờ phút ơn phúc ấy của Hội Thánh.
VKP
Tái Bút. – Những điều tôi viết sau đây không thật cần thiết cho bài đã viết, nhưng sao tôi vẫn cảm thấy sẽ có những bạn đọc thông cảm.
Ðang khi tôi sưu tầm tư liệu để viết loạt bài “Bóng Người Hòa Bình” này, thì những liên hệ riêng tư khiến cho tôi đang ở SàiGòn bỗng dạt sangMaryland (Hoa Kỳ). Mà BangMaryland thì lại sát kề bên Thủ Ðô Washington D.C.. Thế là, hoàn toàn không nằm trong chương trình làm việc dự kiến, một ngày đẹp trời tự nhiên tôi đứng trước Phủ Tổng Thống Mỹ: Bạch Cung (cũng gọi là Tòa Bạch Ốc, hay Tòa Nhà Trắng), nơi hơn 50 trước đã xảy ra những biến cố nghẹt thở đó. Nhìn bề ngoài, Bạch Cung tuy vẫn bề thế, nhưng trông không mịn màng thanh thoát như ta vẫn thường thấy trong rất nhiều bức ảnh chụp. Tôi liên tưởng đến đoạn văn Norman Cousins mô tả chuyến ông viếng thăm Bạch Cung sau vụCuba. Ông nói từ trong Bạch Cung nhìn ra “ thảm cỏ không có vẻ mượt mà bằng phẳng như nhìn từ ngoài đường. Tôi thấy có nhiều góc khuất, một khoảng có trang bị những dụng cụ cho trẻ con chơi đùa. Chừng 6-7 thiếu nhi từ 4-8 tuổi đang chơi đùa lau nhau với nhau, có hai cô ăn mặc gọn ghẽ chăm sóc. Một người dáng trẻ trung, thanh mảnh ghé vào và cúi xuống nói chuyện với lũ trẻ. Khi người ấy đứng thẳng lên và quay mặt lại thì tôi nhận ra đó là tổng thống … Tổng Thống bước vào phòng họp của nội các. Nước da ông ngăm ngăm rất khỏe khoắn, con người ông tỏa ra sức mạnh thể xác và tinh thần linh hoạt.” Có ai ngờ chỉ một năm sau vị tổng thống tỏa ra bấy nhiêu sức mạnh thể xác và tinh thần đã chết thảm trong một vụ ám sát đến bây giờ vẫn còn chìm trong bí ẩn. Trong giây phút, vị tổng thống rất mực quyền uy và hào hoa phong nhã đã thành cái xác không hồn.
Trong lần thămWashingtonnày, tôi đã đến Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington để thăm mộ ông Kennedy. Cả nước Mỹ bàng hoàng vì vụ ám sát đã tổ chức một đám tang vĩ đại. Cho đến khi nằm yên dưới mộ, Kennedy vẫn mang phong cách một tổng tư lệnh tối cao. Ngôi mộ của ông chiếm riêng một vạt đồi cao, với ngọn lửa vĩnh cửu, nhìn xuống dưới kia là hàng hàng lớp lớp những ngôi mộ trắng phần lớn là của các binh sĩ Mỹ đã chết trong các cuộc chiến tranh.
Ðứng bên mộ Kennedy, tôi hồi tưởng về một người quá cố khác. Năm 2003, tôi đã được quỳ trước thi hài tới nay vẫn còn nguyên vẹn của Ðức Chân Phước Gioan XXIII, đặt trong một khám bằng kính trong Ðền Thánh Phêrô. Ngôi Ðền Thờ mênh mông và nguy nga ấy, ngoại trừ những lúc có lễ, còn thì rất đông khách du lịch đi đi lại lại. Chỉ có hai địa điểm thấy người ta đắm chìm cầu nguyện là Nhà Nguyện Thánh Thể và trước di hài Ðức Gioan XXIII, (nghe nói ngày nay người ta cũng cầu nguyện như vậy trước mộ của Ðức Chân Phước Gioan Phaolô II, nhưng từ ngày Ngài qua đời, tôi không được có dịp trở lại Rôma để chứng kiến cảnh tượng ấy). Chính ở trước di hài của vị Giáo Hoàng Hòa Bình tôi đã cảm thấy ham muốn được có dịp kể lại cho các thế hệ trẻ sự nghiệp của Người.

50 năm đã qua, Ðức Gioan XXIII đã về Nước Chúa sau khi đã để lại một vầng sáng trong lành giữa thế gian hỗn loạn. Nửa năm sau, đến lượt ông Kennedy cũng qua đời. Ông Khrushchev còn cầm quyền một thời gian nữa, rồi đến cuối năm 1964, ông cũng bị các đồng chí lật đổ, sống cuộc đời cô quạnh, luôn bị mật vụ canh chừng và qua đời năm 1971. Trong các vị lãnh tụ thời khủng hoảng Cuba nay chỉ còn Chủ Tịch Fidel Castro, hiện đang sống những năm cuối đời sau khi đã có nhiều dịp tiếp xúc với các đấng kế vị Ðức Gioan XXIII là Ðức Chân Phước Gioan Phaolô II và Ðức Bênêđictô XVI . Ðời này qua đời khác, Hội Thánh Chúa vẫn tiếp tục cuộc đối thoại hòa bình với một thế giới còn bị xâu xé hận thù. Người Trung Quốc có nói: không vào hang cọp, sao bắt được cọp con. Chúa Giêsu thì nói cách khác: “Thầy phái anh em đi như chiên đi giữa sói rừng.” (Mat. 10,16).

Thế gian này chưa phải là Nước Chúa. Nó vẫn chất chứa nhiều uất hận hờn căm. Tôi nhớ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI đã muốn đến Hà Nội và Sài Gòn trong một Lễ Giáng Sinh để kêu gọi hòa bình, nhưng mộng không thành. Lại nhớ Ðức Gioan Phaolô II và Ðức Bênêđictô XVI với những cuộc họp các tôn giáo và cả những người vô tín ngưỡng để cầu nguyện hòa bình ởAssisi. Mới đây nghe nói Tổng Thống Israel Shimon Peres đề nghị Ðức Giáo Hoàng Phanxicô mời ba tôn giáo độc thần (Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo) ngồi lại với nhau để gây dựng hòa bình đặc biệt cho Ðất Thánh và vùng Trung Ðông đang dầu sôi lửa bỏng. Con đường của Hội Thánh còn dài, con đường quanh co, hiểm trở, nhưng vẫn luôn hướng về một chân trời quang đãng hòa bình.

Sau hết, trong loạt bài về Ðức Gioan XXIII và cuộc khủng hoảngCuba, tôi đã trích dẫn khá nhiều tài liệu mà không ghi xuất xứ. Có lẽ khuôn khổ một bài báo ngắn trên mạng không tiện lắm để ghi lại các xuất xứ đó. Tôi muốn được bổ khuyết sự thiếu sót này để bạn đọc nếu muốn có thể tra cứu thêm.

Từ sau cuộc khủng hoảng Cuba, và nhất là năm 2012 kỷ niệm 50 năm biến cố đó, đã có rất nhiều sách vở, báo chí, phim ảnh ..v..v…về vụ này. Ở đây chỉ xin ghi một vài nguồn tư liệu cốt yếu mà chúng tôi sử dụng.

Tác phẩm của người trong cuộc chủ yếu là cuốn Thirteen Days của Robert Kennedy, W.W. Norton, 1969.
Các bài diễn văn của John Kennedy và thư từ trao đổi giữa Kennedy và Khrushchev được lưu giữ ở Thư Viện và Viện Bảo Tàng Tổng Thống Kennedy (John Kennedy Presidential Library and Museum) và Thư Viện của Quốc Hội Mỹ (Library of Congress). Hai nơi này cũng lưu giữ biên bản các cuộc họp của Excomm. Các văn kiện này cũng có thể tìm thấy trên mạng.

Ta có thể tìm một đúc kết tổng hợp ở mục từ Cuban Missile Crisis của Wikipedia.

Một số chứng từ của người trong cuộc chúng tôi ghi lại theo nội dung chương trình phát thanh của ÐàiBBCtháng 10, 2012, nhân kỷ niệm 50 năm vụCuba.

Bà Jacqueline Kennedy cũng có những hồi tưởng về những ngày này trong một cuộc phỏng vấn dài bà dành cho Arthur Schlesinger đầu năm 1964, được phổ biến vào năm 2011.

Về phía Liên Xô, chúng tôi đã sử dụng tài liệu của Sergei Khrushchev: How My Father and President Kennedy Saved the World, bản dịch tiếng Anh trong American Heritage, 53.

Cuộc phỏng vấn Vadim Orlof trong Hội Nghị kỷ niệm 40 năm khủng hoảng Cuba họp ở Havana với sự tham dự của Chủ Tịch Fidel Castro và Nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng Mc Namara.. Cuộc phỏng vấn này được Svetlana Savranskaya dịch sang tiếng Anh cho văn khố An Ninh Quốc Gia của Mỹ.

Về tác động của Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII, chúng tôi dựa vào 3 tác phẩm:
– Paul Dreyfus, Jean XXIII, Le Sarment, Fayard, 2000
– Peter Hebblethwaite, John XXIII, Pope of the Century,Wellington House 1984.
– Và đầy đủ nhất là Norman Cousins, với tác phẩm Bộ Ba Bất Ngờ, John F. Kennedy, Giáo Hoàng Gioan, Nikita Khruhchev (The Improbable Triumvirate, John Kennedy, Pope John, Nikita Khrushchev), w.w. Norton & Company New York, 1972.
Lm. Mathêu Vũ Khởi Phụng C.Ss.R

Mátthêu Vũ Khởi Phụng, CSsR

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: