Trang chủ > Uncategorized > Chương 9

Chương 9

Trong những cuộc cưỡi ngựa, Đan Thanh đã làm quen được vùng đất đó; chàng biết, vượt qua cánh đồng băng giá kia sẽ có một vựa lúa của người quý tộc già, xa hơn nữa, thì đến một khu trại chàng quen biết; chàng có thể nghỉ chân và ngủ đêm một trong hai nơi đó, ngày mai sẽ tính sau. Dần dần Đan Thanh lại bị thu hút bởi không khí tự do và khung cảnh xa lạ mà trong một thời gian dài chàng đã lãng quên, vẻ thu hút ấy, có một vị đắng cay, vào một ngày đông quạu quọ và băng giá này, nó có một mùi gay gắt của khốn đốn, đói khát và buồn thảm; tuy nhiên sau những ngày sống dễ dãi, bị phiền nhiễu, nay lại được nhìn sự vĩ đại vô bờ của thiên nhiên, cả sự gan lì và rắn rỏi, Đan Thanh có một cảm giác bình lặng gần như an ủi.

Đan Thanh mệt vì đi bộ. Thế là từ đây hết cưỡi ngựa, chàng thầm nhủ khi nghĩ đến thế giới bao la. Tuyết rơi thưa thớt xa xa, chóp rừng mất hút vào đám mây xám. Yên lặng mênh mang, cùng khắp. Cái gì sẽ đến với Liên Đài, với con tim khốn khổ và ưu tư của người con gái ấy? Vừa nghĩ đến, chàng thấy đau đớn chua cay. những ý nghĩ êm ái về người yêu đã đến với chàng khi chàng một mình ngồi dưới gốc cây trần bì, cô đơn giữa một cánh đồng biệt lập. Về sau, cơn lạnh đã kéo Đan Thanh lên đường; chàng đứng dậy đôi chân tê cóng, phải dần dần chàng mới lấy lại được dáng đi cũ. Ánh sáng của ngày trời xám hình như đang giảm dần cường độ. Đoạn đường dài băng qua những cánh đồng trụi lũi đã làm chàng tê cóng với bao ý nghĩ. Bây giờ điều phải làm, không phải là những ý kiến hay những tình cảm, dù đẹp, dù êm dịu đến đâu đi nữa, mà là phải giữ mình ấm, tìm một chỗ qua đêm trong một thời gian giới hạn, để thu mình như một loài bướm đêm hoặc một chú chồn trong cái thế giới lạnh lẽo, lãnh đạm này và cố sức giữ mình đừng ngã quỵ ngay giữa đồng – còn thì không có gì đáng kể nữa.

Bất chợt, Đan Thanh chăm chú nhìn về phía chân trời tai vẳng nghe tiếng vó ngựa. Có thể lắm, ai đang theo mình chăng? Chàng nắm lấy con dao trong túi và rút ra khỏi vỏ, một chiếc vỏ bằng gỗ. Người cưỡi ngựa vừa vào tầm mắt, chàng nhận ra con vật quen thuộc trong tàu ngựa nhà hai cô gái đang đi về phía chàng. Có trốn cũng mất công, chàng ngừng lại chờ đợi, không sợ hãi nhưng tò mò và nghe tim đập nhanh hơn, một ý nghĩ táo bạo dữ dội lướt nhanh: “Nếu ta giết được người cưỡi ngựa kia thì thật may mắn; ta sẽ có một con ngựa và thế giới chỉ còn nằm trong bàn tay.” Nhưng khi thấy rõ người cưỡi ngựa, thằng Hân, một đứa bé chăn ngựa có đôi mắt xanh trong suốt, khuôn mặt rụt rè trẻ nít, chàng không nín cười được, giết thằng bé hiền lành và trung hậu như thế người ta hẳn phải có một trái tim bằng đá. Chàng thân mật chào Hân, âu yếm chào luôn cả chú ngựa Nga Mi, con vật đã nhận ra chàng ngay, chàng vuốt ve cần cổ nóng và hâm hấp của nó.

– Mày đi đâu thế Hân?

– Đi kiếm cậu đây, thằng bé cười nhe hai hàm răng trắng toát, cậu đã đi bộ một đoạn thật phi thường! Tôi không dám làm trễ cậu, tôi chỉ đến gửi lời chào cậu và gửi cậu vật này.

– Ai gửi lời chào tao?

– Cô Liên Đài. Ồ này, cậu giáo, cậu làm chúng tôi điêu đứng suốt cả ngày hôm nay đấy, may mà tôi xoay xở cũng khá. Dù cho cụ chủ không biết tôi đã đi đưa tin cho cậu, cái đầu tôi cũng không chắc được ở yên trên cổ đâu. Nào cậu cầm lấy.

Thằng bé chìa ra một gói nhỏ và Đan Thanh nhận lấy.

Này Hân, trong túi mày còn một chút bánh nào không? Cho tao đi.

Bánh ư? Có lẽ còn một mẩu.

Thằng bé thọc tay lục lọi trong túi rồi lôi ra một miếng bánh mì đen. Xong nó dợm lên ngựa quay về. Đan Thanh vội hỏi:

Cô Liên Đài làm gì ở nhà? Chẳng gửi em gì nữa à? Một bức thư cũng không có sao?

Chẳng có gì cả. Tôi chỉ thấy cô có một lát, ở nhà đang có chuyện lộn xộn, cậu cũng biết, cụ chủ hầm hầm đi tới đi lui như một ông vua. Thôi tôi chỉ phải đưa gói đó cho cậu và chẳng còn gì nữa, tôi phải trở lại bây giờ.

– Này Hân, còn một phút nữa. Mày có thể để lại cho tao con dao rừng của mày không? Tao chỉ có một con dao nhỏ. Nếu có chó sói, có con dao của mày trong tay chắc chắn tốt hơn rồi đó.

Nhưng Hân không muốn biết, nó nói nó cũng buồn khi thấy cậu giáo xảy ra chuyện gì, nhưng con dao săn của nó, nó không thể cho, dù đổi lấy tiền hay vật gì cũng thế, dù thánh Geneviève hỏi xin nó cũng không cho. Vâng, bây giờ nó phải về gấp, nó rất tiếc về chuyện đó và chúc cậu được nhiều may mắn.

Cả hai bắt tay nhau rồi thằng bé lên ngựa, Đan Thanh dõi mắt trông theo, buồn bã. Rồi chàng mở gói, sung sướng thấy có sợi dây bằng da bê cột gói. Bên trong chàng thấy một chiếc áo len thật tốt màu xám, hẳn là công trình của Liên Đài để dành riêng cho chàng, lần trong áo chàng thấy có một vật cứng thì ra một miếng dăm bông và một đồng tiền vàng óng ánh nhét trong đó. Không một chữ viết. Đan Thanh đứng đó trong tuyết rơi với món quà tặng trên tay, không biết làm gì. Chàng cởi áo ngoài, choàng chiếc áo len vào mình và cảm thấy ấm áp dễ chịu. Vội vàng chàng khoác chiếc áo ngoài, cất đồng tiền vàng vào túi thật chắc chắn, thắt chặt dây lưng và tiếp tục con đường của mình, hướng về những cánh đồng tuyết. Đã đến chỗ trú chân, chàng thấy mình thật mệt, nhưng không muốn đến nhà bác nông phu, dù rằng sẽ được ấm và hy vọng có chút sữa. Chàng không muốn nói chuyện với ai và để ai hỏi han điều gì. Đan Thanh ngủ đêm trong vựa lúa và lên đường lại từ sáng tinh sương, gió tạt giá lạnh vào mặt, vun vút như kim châm. Trời lạnh buốt như khuyến khích chàng đi xa. Trong nhiều đêm chàng mơ thấy hai chị em Liên Đài. Trong nhiều ngày, nỗi cô đơn và buồn vời vợi đã bóp thắt con tim chàng trai phiêu bạt.

Một buổi chiều sau đó, chàng tìm được một chỗ trọ trong nhà một bác nông phu, bữa ăn không có bánh mà có cháo kê, những phiêu lưu mới đang chờ chàng ở đấy. Tối hôm đó vợ bác nông phu cho ra đời một đứa bé và chàng đã chứng kiến cảnh ấy. Người ta đã ra vựa lúa mời chàng vào giúp, dù chàng chẳng biết gì hơn là soi đuốc cho cô mụ làm việc – lần đầu tiên chàng thấy cảnh một người đàn bà lâm bồn – chàng nhìn sững vào gương mặt người đàn bà, một kinh nghiệm mới bỗng nhiên đến với chàng. Ít ra những gì chàng thấy trên nét mặt người đàn bà, đối với chàng thật là quan trọng. dưới ánh sáng lù mù của ngọn đuốc dăm bào, đôi mắt chàng tò mò đến cùng độ dán chặt vào gương mặt người sản phụ đang trong những cơn đau quằn quại, và chàng khám phá một điều bất ngờ: những nét mặt nhăn nhúm trong tiếng thét trên khuôn mặt đàn bà đó không khác mấy với khuôn mặt những người đàn bà trong cơn say cuồng dục lạc. Sự biểu lộ đau đớn cùng cực trên khuôn mặt nàng tuy mạnh bạo hơn nhưng nhìn cho thật kỹ chúng vẫn không khác nhau, cũng một sự co thắt hơi nhăn nhúm, cũng bừng cháy lên rồi lịm tắt. Đan Thanh ngạc nhiên một cách kỳ lạ, không hiểu tại sao cơn đau và sảng khoái lại có thể giống nhau đến thế, giống như một cặp chị em.

Chàng còn qua một kinh nghiệm khác. Sáng hôm sau chàng gặp một người đàn bà bên cạnh, vừa gặp chàng đã liếc mắt đưa tình. Chàng liền ở lại trong làng một đêm thứ hai, người đàn bà hưởng được nhiều lạc thú vì sau một thời gian dài bị kích thích và thất vọng, bây giờ xác thịt chàng mới tìm thấy toại lòng mãn nguyện. Sự chậm trễ này đã gây ra một biến cố mới. Chàng làm quen với một người trong khu làng quê này, đó là Viên, một tên du thủ du thực, nửa như ông mục sư nửa như kẻ vô lại. Gã chào chàng và tuôn ra một tràng tiếng La Tinh và tự giới thiệu mình là một thằng học trò lang bạt dù gã đã quá tuổi đi học từ lâu.

Gã đàn ông có một bộ râu nhọn, biết cách chào hỏi thân tình, pha lẫn hài hước của dân giang hồ, gã chiếm được cảm tình của người bạn trẻ. Khi Đan Thanh hỏi về trường học của gã và mục đích của cuộc hành trình, gã đáp bằng một giọng khoe khoang rỗng tuếch.

– Ối giời, toàn là những trường lớn tôi đã đi học ở Cologne và Paris. Trong luận đề tôi đã làm ở Leyden chưa có ai lý luận vững chắc như tôi về vấn đề siêu hình của chiếc xúc xích nhồi gan. Từ đây, này huynh tôi lăn như một con heo khốn nạn qua Saint Empire, tâm hồn bị dằn vặt vì đói, vì khát, người ta gọi tôi, đặt tên cho tôi là Nỗi kinh hoàng của đám nông dân. Nghề của tôi là giảng dạy La Tinh cho những bà vợ trẻ và làm bùa phép cho những khúc dồi treo trên lò sưởi chui vào bụng. Mục đích của tôi là trên giường của một vị phu nhân; nếu tôi không bị quạ rỉa thây trước thì sau chắc tôi cũng không tránh được phải đảm đương trách vụ nặng nề của một vị giám mục. Này huynh, sống qua ngày đoạn tháng là tốt hơn cho một chú thỏ quay bằng cái dạ dày khốn khổ của tôi. Vị chúa lang thang là huynh đệ tôi và chính đấng cha chung của chúng ta nuôi hắn cũng như nuôi tôi, ổng bắt tôi phải làm công việc nặng nhọc nhất, hôm kia ổng còn nghiêm khắc như một người cha toan dùng thân tôi để cứu lấy mạng sống của một con sói đang lả đói. Nếu tôi không giết nổi con vật, hẳn là bạn không được vinh dự và sung sướng làm quen với tôi rồi. In soecula soeculorum. Amen.

Đan Thanh chưa quen với cách hài hước du côn và tiếng La Tinh du đãng ấy, chàng thấy hơi lo trước con người thô lậu kia có giọng cười khả ố kèm theo mỗi câu pha trò. Nhưng trong anh chàng du đãng dày dạn này có một cái gì khiến chàng ưa thích nên chàng dễ dàng chịu nhận cùng lên đường với gã. Dù câu chuyện gã đánh ngã chó sói thật hay chỉ là khoác lác bề gì thì hai người cũng vẫn mạnh hơn và đỡ lo sợ. Nhưng trước khi lên đường tiếp tục, Viên còn muốn xổ La Tinh với mấy bác nông phu, gã nói thế và muốn ở lại nhà một bác làm vườn. Gã không ở yên một nơi như Đan Thanh, khi được tiếp đãi trong một căn trại hoặc một khu xóm mà lại đi từ chòi này sang chòi khác, tán chuyện với mọi người đàn bà, cho mũi vào mọi chuồng bò và hình như chẳng chịu rời làng trước khi mỗi nhà đều có một cái gì nộp đưa. Gã kể cho những bác nông phu nghe những chuyện chiến tranh ở xứ man rợ và hát bên bếp lửa những bài ca thánh ở chiến trận Pavie, chỉ bày cho những bà già phương thuốc chống phong và chữa rụng răng, gã có vẻ cái gì cũng biết và gã đã đi khắp nơi, độn trong áo phía bên trong thắt lưng nào là bánh mì, hạt dẻ, từng miếng lê người ta cho chật cứng đến nứt áo. Đan Thanh trố mắt kinh ngạc nhìn gã điều khiển chiến trận khi thì làm họ sợ sệt, khi thì lấy lòng họ bằng những lời tán tĩnh, ba hoa chích chòe trước đám thính giả ngẩn ngơ, xổ tiếng La Tinh thật chói tai và làm ra vẻ trí thức, lôi kéo mọi người chú ý bằng những tiếng lóng trơ tráo, hoa hòe. Khi kể chuyện hoặc thuyết về thần học gã không quên liếc mắt ghi nhận từng khuôn mặt, từng ngăn kéo mở ra, một chiếc thìa một mẩu bánh mì. Đan Thanh thấy rõ rệt đó là một tên mất gốc, một tên vô gia cư, dạn dày chai đá, một kẻ đã thấy nhiều và đầy kinh nghiệm, kẻ luôn luôn sống trong đói rét, trong đấu tranh gian khổ để có một cuộc sống thảm thương và không ngớt bị đe dọa, một kẻ đã biến thành láu lỉnh và trân tráo. Kiếp sống lang thang sẽ tận cùng giống thế chăng? Và một ngày kia, ta sẽ cũng như kẻ đó, phải vậy không?

Ngày hôm sau họ tiếp tục lên đường. Lần đầu tiên Đan Thanh thưởng thức cuộc giang hồ tay đôi. Họ đi suốt ba ngày qua và Đan Thanh cũng đã học được nhiều điều ở Viên. Thói quen đã biến thành bản năng, tất cả đều dẫn đến ba nhu yếu căn bản của một kẻ giang hồ, đó là đề phòng những nguy hiểm chết người, hai là tìm một chỗ trú qua đêm, ba là phải tự kiếm lấy đồ ăn. Thói quen đó đã dạy bảo nhiều cho gã giang hồ lang bạt từ mấy năm nay. Viên còn đáng là bậc thầy về nhiều nghệ thuật nữa; khám phá những dấu hiệu thật nhỏ nhặt báo hiệu sắp đến nơi có người ở dù vào mùa đông hay đêm tối; còn về khả năng kiếm chỗ ngủ hoặc nơi nghỉ chân, gã nhận xét rất chính xác mỗi cánh đồng, mỗi khu rừng khả dĩ tạm trú.

Khi bước vào một căn trại, gã luôn luôn đánh hơi được mức độ sung túc hay khốn khó của chủ nhà, cùng với sự ban phát có được rộng rãi không, có tò mò thích thú hay khiếp hãi, chán chê. Gã truyền cho Đan Thanh những bí mật nghề nghiệp rất đáng giá. Đã một lần Đan Thanh phản đối gã, chàng cho rằng không cần phải theo sát chủ nhà với những tính toán như thế, chưa khi nào chàng bị từ chối cả dù không biết đến những thứ nghệ thuật đó, mọi người đều niềm nở tiếp chàng. Gã to lớn phá lên cười và thật thà bảo:

Đúng thế, chú bé ơi, nhưng đó là với cậu; cậu còn trẻ, còn đẹp, còn dáng ngây thơ, đó là giấy thông hành tốt nhất để xin trọ ngủ. Đàn bà ưa thích mày thôi không cần nói, còn đàn ông thì tự bảo: thằng này hiền lành không hại ai đâu trời ạ. Nhưng cậu nghĩ coi, con người sẽ già đi, và trên khuôn mặt ngây thơ râu ria sẽ mọc kín, nếp nhăn hiện rõ, áo quần sẽ rách bươm và trong thoáng giây họ đã thành một ông khách ghê tởm không ai ưa. Đôi mắt long lanh đầy ngây thơ của cậu bấy giờ không còn nữa chỉ còn vẻ háu đói phản chiếu, cậu sẽ phải dạn dày và tập hiểu đời chút ít, bằng không cậu sẽ nằm trên phân cho chó đói trêu mình. Nhưng tớ nghĩ là cậu không cực nhọc thế này lâu lắm đâu. Cậu có bàn tay thật thon đẹp, những lọn tóc xinh xinh, cậu sẽ mau tiến tới đời sống dễ chịu hơn trên một chiếc giường ấm của một người đàn bà đã có chồng, trong một tu viện nhỏ béo bở, hoặc trong một phòng làm việc ấm cúng. Cậu sẽ có áo đẹp và người ta xem cậu như một nhà quý phái, vương giả.

Gã vẫn cười và đưa tay vuốt chiếc áo của Đan Thanh. Chàng thấy gã sờ nắn từng đường viền chỉ và lục lọi khắp các túi, chàng giật mình lùi ra khi chợt nghĩ đến đồng tiền vàng trong ấy. Chàng kể về ngày mình ở lâu đài của người quý tộc và chuyện chàng nhận chiếc áo đẹp này nhờ viết La Tinh. Nhưng gã muốn biết tại sao chàng lại rời nơi êm ấm ấy vào giữa lúc trời mùa đông giá buốt thế này. Chàng không quen nói dối, kể loáng thoáng cho gã nghe câu chuyện tình giữa mình cùng hai cô gái và cuộc cãi cọ đầu tiên xảy ra từ đó. Gã cho rằng chàng ngu như một con lừa, bỏ đi như thế mà chịu phó mặc ngôi lâu đài cùng hai cô gái cho trời che chở lấy. Phải vớt vát lại mới xong, có gã tình nguyện giúp một tay. Cả hai sẽ quay trở lại, dĩ nhiên Đan Thanh sẽ không ra mặt, mọi việc cứ giao cho gã. Chàng phải viết một lá thư cho Liên Đài, nói này kia kia nọ, và gã sẽ đến lâu đài, nhờ Chúa gã sẽ không trở về không và sẽ có tiền bạc này nọ và nhiều thứ khác… Đan Thanh không chịu làm thế, xong chàng giận dữ tuyên bố không còn muốn nghe một tiếng nào về vấn đề ấy nữa, chàng từ chối không tiết lộ tên người quý tộc già và con đường đưa đến lâu đài.

Thấy chàng giận dữ như thế, gã cười to và rộng lượng bảo: “Ô hay, tội gì phải nổi nóng vì chuyện nhỏ nhặt như thế, tớ chỉ nói sơ qua, cậu đã để lỡ cơ hội cho hai đứa mình, vậy là cậu chưa điệu lắm, bạn bè gì thế. Cậu không muốn thực, cậu là một nhà quý phái mà, để mai kia cậu sẽ cưỡi ngựa về để cưới cô gái ấy, lấy nàng ta làm vợ. Chú bé ơi, chú cao thượng đến điên rồ, thôi được, tớ muốn chúng mình tiếp tục lên đường ngón chân đã cóng cứng rồi đây.”

Đan Thanh buồn bực giữ im lặng cho đến tối. Nhưng vì suốt hôm đó họ chẳng gặp một dấu hiệu nào là có người ở, ngay đến một chỗ trú chân cũng thế, chàng phải thầm cám ơn gã Viên đã kiếm được một nơi thuận tiện để ngủ đêm, gã bắt chéo hai thân cây để bảo vệ sau lưng và làm cho cả hai một chiếc giường nhỏ bằng cách xếp những cành thông thật dày. Cả hai cùng ăn bánh và phó mát, lôi từ trong chiếc áo đầy ắp của gã. Đan Thanh xấu hổ vì cơn giận vừa qua, chàng cố ngoan ngoãn và ân cần với gã, chàng nhường chiếc áo cộc len để mặc đêm và cả hai đồng ý là sẽ thay phiên nhau thức để canh thú dữ. Đan Thanh gặp phiên canh đầu tiên và gã nằm duỗi dài trên cành lá. Chàng ngồi dựa vào gốc thông và giữ im lặng cho bạn ngủ một hồi lâu chàng phải đứng dậy đi lui đi tới vì trời thật giá lạnh. Chàng dần đi xa hơn, ngắm nhìn ngọn thông nhọn hoắt vạch trên nền trời màu nhạt. Giữa cái lặng lẽ mênh mang ấy lòng chàng ẩn một chút lo âu. Đêm đông uy nghi, trang trọng đã thấm vào chàng, chàng nghe thấy con tim nóng hổi đập mạnh trong khoảng không im lìm, lạnh giá. Chàng bước nhẹ đến nơi bạn ngủ, lắng nghe những hơi thở của gã. Chưa bao giờ chàng hiểu thấm thía như bây giờ tâm sự của một kẻ giang hồ không nhà không cửa, kẻ không có lấy một bức tường, đền đài hay tu viện để ngăn cách mình với những mối lo sợ mênh mông, kẻ chạy trần, đơn côi băng ngang thế giới thù nghịch, khó hiểu, hoàn toàn cô độc dưới ngôi sao lạnh trên trời mỉa mai, giữa những dã thú rình chờ, giữa những đám cây im lìm chịu đựng.

Không, chàng tự nhủ không bao giờ mình lại trở thành như gã dù mình lang bạt suốt đời đi nữa. Con người tráo trở và dạn dày này có lẽ có lý, có lẽ chàng không khi nào sánh kịp, không khi nào trở nên một tay giang hồ thực thụ mà một ngày nào đó chàng sẽ ở yên dưới một mái nhà. Nhưng chàng vẫn là kẻ lang thang, đi không mục đích, chàng sẽ không bao giờ thấy mình được yên ổn, một thế giới đẹp đẽ và gai góc một cách bí hiểm luôn luôn vây hãm chàng, luôn luôn chàng phải lắng nghe, giữa vùng mênh mông đó trái tim thật mỏng và ưu tư vô cùng. Chỉ thấy vài ngôi sao lấp lánh, gió lặng im trong khoảng không sâu thẳm, mây trời như đang rung động.

Một lúc lâu, Viên tỉnh dậy. Chàng vẫn định đánh thức bạn nhưng gã đã nói:

Này, cậu phải ngủ đi, nếu không mai sẽ chẳng ra cái quái gì cả.

Đan Thanh ngoan ngoãn nằm xuống, nhắm mắt, chàng khá mệt nhưng vẫn không ngủ được, các ý nghĩ cứ lũ lượt kéo tới, ngoài ra còn một cảm tưởng mà chàng vẫn chưa chịu chấp nhận, một ý tưởng lo ngại, ngờ vực người bạn đồng hành. Chàng thấy mình thật vô lý, nói làm gì chuyện Liên Đài với anh chàng thô lậu, một tên ăn xin trơ trẽn như thế, giận hắn rồi tự giận mình, chàng thừ người nghĩ đến cơ hội thuận tiện nhất để tách rời gã.

Hình như chàng thiếp đi, và giật mình vì cảm thấy hai bàn tay của Viên đang ở trên người chàng, cẩn thận nắn từng chiếc áo. Trong hai túi, một bên chàng để con dao, bên kia đồng tiền vàng. Chàng làm như ngái ngủ, lăn trở qua trở lại, tay chân duỗi ra. Viên rút lui ngay. Chàng thấy gã thật đáng giận và định sáng mai sẽ rời gã. Nhưng độ nửa giờ sau Viên lại làm lần nữa, nghiêng người trên chàng và bắt đầu lục lọi. Đan Thanh lạnh lùng và giận dữ, chàng nằm im mở to mắt, khinh bỉ nói:

Đi đi, chẳng có gì ở đây để lấy trộm.

Sợ hãi, gã liền đưa tay giữ lấy cổ chàng và siết chặt. Vì chàng cự lại và muốn nhỏm dậy, gã siết chặt hơn và đưa đầu gối lên chặn ngực chàng. Đan Thanh nghẹt thở, chàng cố hết sức giãy giụa và gỡ ra nhưng không được. Thình lình cái chết đã làm cho chàng khôn lanh và sáng suốt. Khi gã vẫn tiếp tục siết cổ, chàng thọc tay vào túi rút lấy con dao săn ra và bất ngờ cắm sâu nhiều lát vào thân gã vô lại đang quỳ gối trên chàng. Một lát sau bàn tay của gã mới chịu buông ra, chàng thở hít mạnh luồng không khí. Chàng khoan khoái thở một cuộc đời vừa được cứu sống rồi chàng thử ngồi dậy, cái xác to lớn của người bạn đồng hành ngã gục trước chàng, mềm nhũn, rên khừ khừ ghê rợn, máu đổ cả lên mặt chàng. Bấy giờ chàng mới đứng dậy được. Trong bóng đêm lờ mờ cái xác to lớn trải dài nằm đấy, khi chàng sờ đến chàng chỉ thấy toàn là máu. Chàng nâng đầu gã dậy, đầu gã gật xuống nặng nề. Từ ngực đến cổ, máu nhỏ từng giọt, ở trong miệng thoát ra những tiếng ú ở nhỏ dần, sự sống đã tắt.

“Vậy là ta đã giết một người,” Đan Thanh lẩm bẩm, nhắc đi nhắc lại hoài câu nói ấy, chàng quỳ trên đầu kẻ xấu số và nhìn màu tái nhạt đang trải dần trên khuôn mặt. “Trời ơi, vậy ta đã giết người!” Chàng nghe thấy mình lẩm bẩm, Đan Thanh không thể nào ở lại đây nữa, chàng nhặt con dao, chùi nó trên chiếc áo len của người chết, chiếc áo mà Liên Đài đã tự tay đan cho người tình. Chàng đút con dao vào vỏ, nhét vào túi, đứng ngay dậy và chạy trốn bằng sức lực của đôi chân.

Cái chết của gã giang hồ vui vẻ ấy đã đè nặng lên tâm hồn chàng. Khi trời sáng chàng kinh tởm lấy tuyết rửa sạch máu trên người rồi tiếp tục lang thang hết ngày đến đêm, đi không mục đích, đầy lòng lo âu. Sau cùng, cơn nhọc mệt cùng cực của thể xác đã làm chàng hồi tỉnh, cả tiêu tán phiền não.

Mất hút giữa khoảng không gian ngập tuyết trắng xóa, không chỗ trú chân, bụng đói, không biết đi về đâu, chàng lâm vào tình trạng thật là bi đát, cứ đi mãi, hầu như là không ngủ. Cơn đói cào ruột kêu réo như con thú dữ. Đã có lần chàng kiệt lực, nằm ngay giữa đồng mắt nhắm lại coi như đã chết, không ước mong gì hơn là được ngủ vùi luôn trong đám tuyết.

Nhưng luôn luôn có một sức mạnh nâng chàng dậy. Trong cơn tuyệt vọng, trong ước mong mãnh liệt được giải thoát chàng bước đi để cứu lấy mạng sống, và giữa cơn thất vọng chua cay cùng tột, sự chống chỏi với cái chết như cuồng như dại cùng bản năng sinh tồn mãnh liệt nơi chàng đã nâng cao tinh thần và chàng đã ngất ngây say đắm. Trong một bụi đổ tùng phủ tuyết, chàng dùng đôi tay cóng giá nhợt nhạt lượm những hạt trái cây nho nhỏ khô héo và nhai cái vật chan chát không ngon lành gì lại thêm lẫn những gai thông ấy. Với món ăn cay chát và gợi đói đó chàng nuốt thêm vài nắm tuyết để dịu cơn khát. Chàng ngồi xuống trên một ngọn đồi, tạm dừng chân và thở hổn hển, chàng thổi ấm đôi bàn tay chết cóng và liếc nhìn quanh với tia mắt long lanh háu đói chẳng có gì ngoài truông hoang và rừng rậm, không một dấu vết của loài người. Vài con quạ bay ngang trên đầu, chàng nhìn theo bực tức. Không, chàng không là miếng mồi của chúng khi đôi chân còn sức, máu còn nóng. Chàng đứng lên, thu hết tàn lực cố chạy để chống đỡ với tử thần. Chạy, chạy mãi trong cơn sốt của sự cố gắng đã kiệt, ý tưởng kỳ lạ cực độ nổi lên. Chàng tự nói với mình khi to tiếng khi thầm thì, những lời thật điên dại: này bồ, ông bạn tinh ranh của tôi, mạnh giỏi chứ? Có phải ánh trăng đang chiếu ngang chùm ruột của bạn không? Bầy chồn đang kéo tay bồ hả? Bồ nói đã giết được một chú sói, bồ đã cắn vào cổ nó hay giật đứt được đuôi nó, hả? Bạn muốn cuỗm đồng tiền vàng của tôi phải không tên vô lại già, nhưng thằng nhóc Đan Thanh, nó đã dành riêng cho bạn một bất ngờ, có đúng thế không? Nó đá cù vào hông bạn nhưng chuyện đó không ngăn bạn có đầy những túi nào bánh, nào xúc xích, nào phó mát, rồi thịt heo, rồi cả một đống hổ lốn trong xắc. Những câu nhảm nhí như thế được chàng tuôn ra trong một tràng sủa như chó cùng với cơn ho rũ rượi. Chàng mắng chửi người bạn xấu số, nhạo gã sao lại để bị giết đi, đồ ngu dần, đồ khoác lác.

Rồi sau đó, những ý nghĩ, những lời nhảm độc thoại của chàng lại không dính líu gì đến thằng cha khốn Viên nữa. Bây giờ chàng thấy Liên Kiều trước, cô bé xinh đẹp, đẹp như khi cô bé bỏ đi trong cái đêm tuyệt diệu đó. Chàng cố gắng quyến rũ nàng đến gần.

Rồi lảo đảo, chàng đứng lên đôi chân cứng ngắt, gắng phóng qua bên kia bụi thạch thảo khô queo phủ đầy tuyết, đau đớn đến mê man, ý chí sinh tồn bừng lên mãnh liệt. Chàng lại bắt đầu thầm thì một mình, bây giờ chàng nói với Huyền Minh, kể cho bạn nghe những ý tưởng mới, sự khôn ngoan, những lời giễu cợt.

– Anh sợ không Huyền Minh? Anh có nổi da gà không, anh chả thấy gì cả sao? Vâng, này bạn khả kính của tôi, thế gian này đầy chết chóc, anh nghe chứ, trên mỗi nhà là một bộ xương người ngự trị, chúng nấp sau mỗi thân cây và như thế, anh xây tường, làm phòng ngủ, nhà thờ đều chẳng ích gì cả, nó cứ thò đầu ngó mắt vào cửa sổ và cười ta đó. Nó biết rõ từng đứa một trong chúng ta, nửa đêm anh có thấy nó cười khảy và gọi tên anh ngay dưới cánh cửa sổ không? Anh vẫn có thể hát những bài thánh ca, vẫn có thể dùng đôi tay dễ thương thắp nến trên bàn thờ, tụng những bài kinh chiều và sáng, hái cỏ, đem vào phòng thí nghiệm và thu thập những sách cũ. Anh có còn nhịn đói qua những đêm không ngủ chăng, như thế có ích gì? Cái chết chính hắn đục khoét đến tận xương anh đó: đi mau đi, hỡi người bạn thiết, thần chết đang băng qua cánh đồng kia kìa, bạn chạy nhanh đi, và đếm những đốt xương của bạn, chúng đang muốn đi, muốn rời chúng ta mà bay theo gió, chúng không muốn ở với ta. A! Những khúc xương, cái cổ họng, cái dạ dày, từng mẩu óc, tất cả những thứ khốn nạn này đều muốn bỏ ta, rời ta để đi theo lũ quỷ, những con quạ trên cây kia, bay thật là những tên cố đạo nham hiểm!

Đã một thời gian chàng như điên dại, không biết mình chạy đi đâu, hiện ở nơi nào, đang nói cái gì, mình đang nằm hay đứng. Chàng ngã chúi vào những bụi bờ, đâm đầu vào thân cây, lọt trong đám tuyết, bàn tay nắm đầy những gai. Nhưng bản năng sinh tồn trong chàng vẫn còn mạnh mẽ luôn luôn đẩy chàng bước tới, kéo chàng lên đường trong một cuộc trốn chạy mù lòa. Đúng vào lần cuối cùng chàng ngã gục nằm ngay trên đất, thì nơi đó chính là ngôi làng chàng đã gặp, nơi chàng đã cầm những mảnh vỏ bào đốt cháy soi cho người đàn bà sinh nở. Chàng nằm dưới đất và mọi người chạy lại vây quanh bàn tán, chàng không còn nghe gì nữa. Người đàn bà đã trao tình cùng chàng đêm nọ đã nhận ra chàng, thương cảm, nàng chớp nhanh đôi mắt, kéo người đàn ông sắp chết ấy vào trong chuồng bò, mặc cho anh chồng chửi rủa.

Không lâu, Đan Thanh đã đứng được và có thể ra đi. Trong chuồng bò êm ấm, người đàn bà đã để chàng ngủ, cho chàng uống sữa dê. Đan Thanh đã tỉnh táo và lấy lại sức, song những biến cố vừa qua đã trở thành mù mờ dường như đã qua đi từ lâu. Cuộc hành trình cùng Viên, đêm đông băng giá ghê rợn dưới những cành thông, cuộc vật lộn kinh khủng, rồi đến cái chết của người bạn đồng hành, những ngày, những đêm tê cóng, đói khát lạc đường, chàng hầu như đã quên, và tất cả lắng chìm hẳn, đó chỉ là một thử thách mà chàng đã vượt qua, chàng vẫn còn một cái gì, một cái gì thật khó hiểu khó giải nghĩa, một cái gì ghê rợn nhưng cũng rất quý báu đã được vùi sâu trong đáy lòng nhưng rất khó quên, một kinh nghiệm, một vị chua cay trên chót lưỡi, một vòng tròn bao phủ trái tim. Hai năm qua chàng đã uống cạn những lạc thú cùng đau đớn của kẻ giang hồ: cô đơn, tự do, nỗi nghe ngóng lo ngại dã thú rừng hoang, những tình yêu phù phiếm không bền, cơn từ sầu trong nỗi đắng cay của nó. Nhiều ngày chàng đã là người khách trong vùng đồng bằng nóng cháy, nhiều ngày chàng ở trong rừng, nhiều ngày chàng ở trong tuyết giá, nhiều ngày chàng ở trong nỗi kinh hoàng khắc khoải, gần kề cái chết. Trong tất cả, ý thức mạnh mẽ hết, kỳ lạ nhất vẫn là sức chống chỏi với tử thần, biết mình nhỏ bé, khốn nạn, đã bị hăm he, song trong cuộc chiến vô vọng với tử thần, chàng vẫn thấy được sức dai bền của sự sống. Điều ấy tiếp tục ngân vang trong chàng, ghi dấu vết trong lòng chàng, hệt như dáng điệu cùng khuôn mặt người đàn bà trong cơn dục lạc, không khác mấy với khuôn mặt người đàn bà sinh nở và những người đang hấp hối. Hôm trước người đàn bà đẻ kêu la, mặt mày nhăn nhúm. Hôm sau Viên ngã xuống, máu lặng lẽ tuôn tràn. Ngay chính chàng, trong những ngày đói khát, chàng đã cảm thấy cái chết rình rập chung quanh, đã chịu cơn đói hành hạ và đã từng cóng lạnh cứng đờ. Trong cuộc chiến đấu ấy, chàng đã chạm mặt tử thần, biết bao lo lắng cùng lạc thú đắng cay trong cuộc chống cự ấy! Sau đó chàng có cảm tưởng rằng đời không còn gì đáng cho mình học hỏi nữa. có lẽ ý nghĩ này chỉ có thể nói cùng Huyền Minh, không ngoài ai khác.

Khi Đan Thanh đã tỉnh táo hẳn trong chiếc ổ rơm, chàng không còn thấy đồng tiền vàng trong túi. Có lẽ trong cơn chạy hầu như vô thức, chàng đã đánh rơi đi, hay chàng đã đánh mất trong hôn mê ngày cuối cùng đói khát? Chàng nghĩ mãi về chuyện đó. Đồng tiền vàng đối với chàng thật thân thiết, chàng không hề muốn để nó mất đi, tiền bạc, đúng ra đối với chàng ít có giá trị, chàng chưa hiểu giá trị của chúng. Nhưng đồng vàng này có hai lý lẽ, một là vì đó là tặng vật độc nhất của Liên Đài chàng còn giữ lại, chiếc áo len đã nằm trên người Viên trong rừng vấy đầy máu.

Kế đến vì đó là vật mà vì nó chàng đã giết người trong cơn tuyệt vọng. Giờ đây nếu đồng tiền vàng đó mất đi, mọi cuộc phiêu lưu trong đêm ghê rợn đó sẽ mất hết phần nào ý nghĩa và giá trị của nó. Suy nghĩ một hồi lâu, chàng thổ lộ tâm tình cho người đàn bà biết, chàng thì thầm:

– Em ạ, tôi có một đồng vàng trong túi và giờ đây không còn nữa.

– Này bây giờ anh mới biết sao?

Nàng toét miệng cười, âu yếm pha lẫn tính quái, khiến Đan Thanh khoái chí đến nỗi dù đang yếu chàng cũng vòng tay quấn lấy người đàn bà.

– Anh thật như con nít, rất lanh và rất tinh mà cũng thật là dại khờ! Anh định chạy khắp thế giới với đồng tiền vàng trong chiếc túi mở rộng như thế chăng? Chàng điên nhỏ bé của tôi ơi! Tôi đã tìm ra đồng tiền vàng của anh, ngay khi đặt anh nằm xuống ổ.

– Em ơi! Em có nó đấy à, đâu?

– Anh hãy kiếm đi, nàng cười vang và để cho Đan Thanh kiếm một hồi mới chỉ cho chàng trong góc áo mà nàng đã khâu lại, thật chắc. Người đàn bà thêm một lô những lời dặn dò như mẹ dặn con, mà chàng vội quên ngay, nhưng sự giúp đỡ dịu dàng cùng nụ cười láu lỉnh của người đàn bà, chàng không khi nào quên được. Chàng gắng làm tất cả những gì có thể được để tỏ lòng biết ơn, rồi sau đó vài hôm chàng bình phục hẳn để có thể đi và chàng muốn lên đường ngay. Người đàn bà giữ chàng lại, trời này mặt trăng đã đổi tuần và chắc chắn thời tiết sẽ khá hơn. Và quả thế, khi chàng lên đường, tuyết đã đổi màu và giảm sút, không khí nặng và ấm, trên cao gió gầm gừ thổi tan băng giá.

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: