Trang chủ > Uncategorized > Chương 18

Chương 18

Suốt những ngày đầu sống trong tu viện Đan Thanh ở trong gian phòng dành riêng cho khách, cạnh lò rèn, theo lời chàng yêu cầu trong dãy nhà phụ vây quanh khoảng sân lớn giống như một ngôi chợ.

Trở về mái nhà xưa, chàng như đi lạc vào một khung cảnh mê đắm mãnh liệt, đến nỗi chàng phải tự kinh ngạc. Ngoại trừ tu viện trưởng, không một ai biết chàng ở đây. Mọi người tu sĩ cũng như tân tòng, đang sống một cuộc đời kỷ luật, công việc của họ rất bề bộn nên chẳng ai buồn chú ý đến chàng. Tuy nhiên hàng cây trong sân, những vòm cổng và khung cửa sổ đều nhận biết chàng, cối xay với bánh xe nước và con đường lát đá ngoài hành lang đều thân thuộc với chàng, ân tình xa xưa bàng bạc trên khóm hồng tàn úa nơi ô cửa tò vò, trên tổ chim cò mái nhà ăn, vựa lúa… Tại mỗi nơi chốn, hương dĩ vãng, hình ảnh thiếu thời vụt đến nơi chàng, biết bao êm đềm và xao xuyến: lòng dào dạt yêu thương, chàng muốn nhìn lại tất cả, lắng nghe mọi âm điệu, từ tiếng chuông đổ hồi trong thánh lễ buổi chiều hoặc ngày chúa nhật, tiếng cối xay âm thầm quay đều dưới bờ tường rêu xanh, đến tiếng dép vang dội trên thềm đá và chùm chìa khóa leng keng trong ánh hoàng hôn theo bước chân cậu tân tòng đi khóa cửa. Gần cổng đá dẫn nước, nơi nước mưa từ nóc nhà ăn học trò tuôn xuống, cỏ vẫn mọc chi chít, cỏ phong thảo và mã đề và cây táo già cỗi nơi khu vườn lò rèn vẫn còn những nhánh cây cong queo chĩa ra xa. Nhưng xúc động nhất là hồi chuông trường học báo giờ ra chơi, tất cả học sinh trong tu viện đều túa xuống bực thang ra sân. Những gương mặt bé bỏng, trẻ thơ và khờ dại làm sao! Có phải chàng cũng đã khờ dại, từng ranh mãnh, vụng về và đĩnh ngộ như vậy chăng?

Ngoài những nét thân thuộc yêu dấu chàng còn tìm thấy trong tu viện một cái gì xa lạ đã làm chàng chú ý ngay những ngày đầu. Hình ảnh mới lạ ấy càng được chàng chú ý và từ từ tan lẫn vào những hình ảnh thân yêu xa xưa. Kể từ ngày chàng ra đi, tuy chưa có sự vật gì mới mẻ thêm vào, có lẽ tất cả vẫn giữ nguyên hàng trăm năm nay, nhưng ngày nay chàng nhìn cảnh trí cũ không còn với đôi mắt học trò nữa. Nhãn quan chàng đã cảm thức được kích thước các công thự, độ cong các vòm cửa nhà thờ, giá trị những bức họa cổ, những tượng đá và tượng gỗ trên điện thờ, trên hàng cổng; không có gì đổi khác, những vật ấy vốn có từ trước đến nay, trừ một điều là hiện giờ chàng biết nhận thức vẻ đẹp và giao cảm với tinh thần sáng tạo trong những công trình ấy. Chàng nhìn vào pho tượng Đức Mẹ bằng đá trong nhà nguyện. Lúc còn bé chàng đã yêu thích và sao vẽ lại, nhưng chỉ bây giờ chàng mới thấy rõ nét tuyệt diệu, mà tác phẩm thành công và đắc ý nhất của mình chưa thể vượt qua nổi. Có rất nhiều tuyệt phẩm như thế, không phải được bài trí một cách ngẫu nhiên mà mỗi nghệ phẩm đứng giữa hàng cột và vòm cửa cổ kính như thể đang ở trong ngôi nhà tự nhiên của nó. Mọi sự đều được tác sinh từ một tinh thần sáng tạo duy nhất. Và chính tinh thần duy nhất ấy đã tác động vào mọi công trình xây cất, chạm trổ, sơn phết, uốn nắn cho đến nếp sống, lối nghĩ nơi đây suốt trăm năm nay; tất cả đều hòa điệu và đồng nhất như các nhánh mọc trên một thân cây.

Đan Thanh cảm thấy quá nhỏ bé trong thế giới ấy, trong sự đồng nhất phi thường và lặng lẽ ấy; và càng nhỏ bé hơn nữa trước tu viện trưởng Huyền Minh, người bạn của chàng, đang điều khiển thế giới ấy trong một kỷ luật tuy đầy uy quyền nhưng vẫn thân mật. Tuy có những dị biệt lớn kio về cá tính giữa tu viện trưởng Huyền Minh thông thái, tao nhã và Từ Vân nhân hậu thật thà nhưng cả hai cũng đều phụng sự cho một tập thể, một tư tưởng, một lối sống; hy sinh bản thân cho lối sống ấy và cùng được kính trọng trong lối sống ấy. Chiếc áo dòng đã làm cho họ không khác nhau.

Giữa lòng tu viện của chàng, Huyền Minh cao vĩ hẳn lên một cách lạ lùng dưới mắt của Đan Thanh, dù chàng không có một thái độ nào khác hơn là thái độ của một người bạn, một người chủ tử tế. Chẳng bao lâu Đan Thanh không dám gọi chàng là Huyền Minh nữa.

Một hôm Đan Thanh bảo:

– Tu viện trưởng Gioan, tôi phải quen gọi tên mới này của anh. Tôi phải nói rằng tôi rất vừa lòng được ở nơi đây. Tôi suýt muốn xưng tội hết với anh và xin ở lại làm sư huynh thế tục sau một thời gian sám hối và được xá tội. Nhưng nếu thế thì tình bạn giữa hai ta sẽ chấm dứt, anh là linh mục viện trưởng, tôi là sư huynh thế tục. Tôi không thể kéo dài lối sống hiện tại; ở gần anh, nhìn công việc anh làm mà chính mình thì ngồi không làm gì cả. Tôi cũng muốn làm việc để tỏ cho anh thấy tôi là ai, tôi có thể làm được việc gì, và có bõ công anh cứu khỏi bị chết treo không.

-Tôi vui mừng nghe anh nói thế – Huyền Minh nói thật rõ từng chữ và khúc chiết hơn thường lệ – Anh có thể dựng xưởng điêu khắc bất cứ lúc nào anh muốn. Tôi để người thợ rèn và thợ mộc thuộc quyền anh sử dụng ngay bây giờ. Anh hãy lấy dùng vật liệu nào hiện có sẵn và lập một danh sách món nào cần mua ở ngoài. Và bấy giờ tôi sẽ nói anh nghe những gì tôi nghĩ về anh. Hãy để tôi có đủ thì giờ để diễn đạt: tôi là một trí giả và chỉ có thể trình bày vấn đề với anh từ thế giới tư tưởng của tôi. Tôi không biết một ngôn ngữ nào khác. Anh hãy kiên nhẫn nghe tôi nói như ngày xưa anh đã từng kiên nhẫn.

– Tôi sẽ cố lắng nghe. Anh hãy nói đi.

– Anh có nhớ, ngày mà chúng ta còn cắp sách, đôi khi tôi nói anh là một nghệ sĩ. Tôi đã nghĩ anh sẽ thành thi sĩ. Khi đọc và viết, anh chán ghét những gì trừu tượng, không xúc chạm được; anh đặc biệt ưa thích những chữ hoặc những âm thanh gợi cảm, thi vị và hàm súc hình ảnh.

Đan Thanh ngắt lời:

– Tôi xin lỗi, nhưng không phải những ý niệm trừu tượng mà anh thường dùng cũng là hình ảnh sao? Hay anh thực sự muốn suy tư bằng những danh từ mà từ đó ta không thể tưởng tượng ra cái gì cả? Và có thể nào chúng ta suy nghĩ mà không cần hình ảnh hay sao?

-Tôi rất sung sướng khi anh đặt câu hỏi đó. Vâng, dĩ nhiên ta có thể suy nghĩ mà tưởng tượng ra cái gì cả! Suy tư và tưởng tượng không có dính líu nhau. Suy tư được thể hiện không bằng hình ảnh mà bằng những khái niệm công thức. Ngay ở điểm hình ảnh chấm dứt thì triết lý bắt đầu. Đây chính là vấn đề hồi nhỏ chúng ta thường tranh luận; với anh thế giới được tạo thành bằng những hình ảnh, với tôi, bằng ý tưởng. Tôi luôn luôn bảo anh rằng anh không phải sinh ra để làm triết gia, và tôi cũng nói rằng chuyện ây không hề hấn gì, bởi vì bù lại, anh là một bậc thầy trong lãnh vực tưởng tượng. Xin hãy lắng nghe, tôi sẽ giải thích điều ấy. Nếu ngày xưa thay vì chìm đắm trong thế gian, anh lại trở thành một nhà tư tưởng, thì có lẽ anh đã tác yêu, tác quái. Bởi vì khi làm một nhà tư tưởng, chắc chắn anh sẽ trở thành một nhà thần bí. Nhà thần bí, nói trắng ra là người không thể tách khỏi hình ảnh, bởi thế không phải là người tư duy. Đó là một hạng nghệ sĩ bí mật: một nhà thơ không vần điệu, họa sĩ không sơn cọ, nhạc sĩ không âm thanh. Trong số ấy có người rất thông minh xuất chúng, song hầu hết đều là những kẻ bất hạnh. Anh cũng có thể đã thành ra một người như vậy. Nhưng lạy Chúa, anh đã không ra như vậy mà thành một nghệ sĩ, nắm vững thế giới cảm quan trong đó anh có thể làm một đấng tạo hóa, mọi ông chủ, thay vì làm một nhà tư duy phải nghẹn ngào trong bất mãn.

Đan Thanh:

– Tôi e rằng tôi không bao giờ nắm bắt được ý tưởng trong thế giới tư duy của anh, một thế giới trong đó có tư duy mà không có hình ảnh.

– Ồ được chứ, anh sẽ nắm được ngay bây giờ. Hãy nghe: nhà tư duy cố định đoán và trình bày bản chất của thế giới bằng lý luận. Ông ta biết lý trí và khí cụ của nó luận lý – đều bất toàn – cũng như một nghệ sĩ biết rõ cây cọ, dao khắc không bao giờ có thể diễn đạt hoàn toàn trung thực vẻ chói sáng của một thiên thần hay một vị thánh. Nhưng cả hai đều cố hết sức mình theo cách riêng của họ. Họ không thể làm gì khác. bởi vì khi một người cố gắng thể hiện bản thân bằng những năng khiếu đã được phú bẩm, thì anh ta chỉ còn nước nỗ lực làm cái điều duy nhất mà mình có thể làm. Đó là lý do tại sao ngày xưa tôi thường bảo anh đừng cố mô phỏng triết gia hay nhà khổ hạnh, mà hẫy trở thành chính anh, có thể hiện chính mình .

-Tôi hơi hiểu một vài điều anh nói. Nhưng thể hiện chính mình là cái gì vậy?

-Đó là một khái niệm triết học, tôi không thể diễn tả cách nào khác. Với chúng tôi, những môn đồ của Aristote và Thánh Thomas, đó là khái niệm cao cả nhất trong những ý tưởng: linh hồn toàn vẹn. Thượng Đế là linh hồn toàn vẹn. Mọi cái khác hiện hữu trên đời chỉ sống có một nữa, một phần, đang trở thành, đang lẫn lộn, dang hàm chứa nhiều tiềm năng chưa khai phá. Nhưng Thượng Đế thì không phải lẫn lộn. Ngài là Một, Ngài không có những tiềm năng, mà là cái Toàn Thể, Thực Thể tròn đầy. Trong khi chúng ta thì vô thường, đang trở thành, là những tiềm năng; không phải là linh hồn toàn vẹn. Nhưng mỗi khi ta đi từ tiềm năng đến hành động, từ khả tính đến thực hiện, là chúng ta đang tham dự vào linh hồn chân thật, trở thành mỗi lúc một giống với Toàn Thiện, Thánh Thể. Đó là ý nghĩa của sự thể hiện chính mình. Anh nên tìm hiểu điều đó bằng chính kinh nghiệm của anh vì anh là một nghệ sĩ đã tạo nhiều tượng. Ví dụ nếu một bức tượng là tốt đẹp thực sự, nếu anh đã thể hiện được hình ảnh một con người từ cái vô thường biến đổi, làm cho nó trở thành hình ảnh thuần túy, thế thì anh đã thể hiện được hình ảnh con người ấy, trên phương diện nghệ thuật.

-Tôi hiểu.

-Bạn Đan Thanh, anh thấy tôi ở trong một địa vị và nhiệm vụ trong đó tôi dễ dàng thể hiện con người của tôi hơn ở bất cứ đâu. Anh thấy tôi sống trong một cộng đồng và một truyền thống thích hợp với tôi, làm tôi thăng tiến. Một tu viện không phải là một thiên đàng. Nó đầy dẫy những khuyết điểm. Tuy vậy một đời sống tu sĩ trong một tu viện có quy cũ vẫn vô vàn tốt cho những người như tôi, hơn là đời sống thế tục. Với tôi, ở nơi đây, tôi sẽ dễ dàng thể hiện con người như tôi, với anh thì không. Anh phải trải qua bao nhiêu gian khổ để trở thành một nghệ sĩ; tôi rất cảm phục điều ấy. Đời anh cam go hơn tôi nhiều.

Lời ca ngợi làm cho Đan Thanh đỏ mặt lúng túng và cũng sung sướng. Muốn đổi đề tài, chàng ngắt lời bạn:

-Tôi hiểu được phần lớn những gì anh muốn nói. Nhưng có một điều vẫn chưa vào được trong đầu tôi, đó là cái mà anh gọi là tư duy thuần túy. Tôi muốn nói cái mà anh gọi là suy tưởng không có hình ảnh, và sự sử dụng những danh từ không chỉ đến một vật gì mà người ta có thể hình dung được.

Tôi sẽ lấy một ví dụ cho anh hiểu. Hãy nghĩ đến toán học. Những con số chứa đựng hình ảnh gì? Những dấu cộng trừ có hình ảnh gì? Một phương trình có hình ảnh gì? không có hình ảnh gì cả. Khi anh giải một bài số học hay đại số, không hình ảnh nào có thể giúp anh giải được, anh phải làm một công việc thuần bằng những ký hiệu tư duy mà anh đã học được.

-Đúng thế, Huyền Minh. Nếu anh đưa cho tôi một hàng con số và ký hiệu tôi có thể làm việc mà không sử dụng trí sử dụng, tôi có thể để cho những đấu cộng, trừ, bình phương v.v… điều khiển tôi và giải ra bài toán nghĩa là ngày xưa tôi có thể làm, bây giờ thì không. Tôi không thể tưởng tượng sự giải một bài toán ấy có giá trị gì khác hơn ngoài việc luyện tập trí não học trof. Tập đếm thì không sao. Nhưng tôi thấy thật vô nghĩa, ngớ ngẩn nếu một người dùng trọn cuộc đời chỉ để đếm và lấp đầy những trang giấy bằng những hàng con số.

-Anh nghĩ sai, Đan Thanh. Anh cho rằng người giải toán luôn luôn giải những bài toán ông thầy cho y. Nhưng ngoài ra y cũng có thể tự đặt cho y những câu hỏi, những vấn đề có thể khởi lên trong tâm trí y như những sức mạnh cưỡng bức. Một con người thường phải đo lường và băn khoăn về không gian thực và không gian tưởng tượng trong toán học trước khi nó có thể dấn liều đối diện với chính bài toán không gian.

-Được rồi. Nhưng bàn đến vấn đề không gian bằng tư tưởng thuần túy đối với tôi không đáng là một công việc cho người ta phí cả cuộc đời và năng lực của mình. Danh từ “không gian” với tôi không có nghĩa gì, không đáng nghĩ tới nếu tôi không thể tưởng tượng ra không gian thực sự, ví dụ như khoảng cách giữa những vì sao. Bây giờ, sự khảo sát và đo lường khoảng cách ấy đối với tôi dường như không phải là một việc không đáng làm.

Mỉm cười, Huyền Minh ngắt lời bạn:

-Kỳ thật bạn đang nói rằng bạn hơi coi thường sự suy tưởng, trừ phi sự suy tưởng ấy áp dụng vào thế giới thực tế hữu hình. Tôi có thể trả lời bạn: chúng ta không thiếu cơ hội để áp dụng tư duy của chúng ta, và chúng ta cũng không phải không muốn làm. Ví dụ con người suy tưởng Huyền Minh đã áp dụng những kết quả của tư duy mình hàng trăm bận cho bạn Đan Thanh của y cũng như cho mỗi tu sĩ trong tu viện, và y làm như vậy trong mỗi lúc. Nhưng làm sao y có thể áp dụng nếu y đã không học và thực tập trước? Và nghệ sĩ cũng luôn luôn luyện tập con mắt và trí tưởng tượng của mình, và chúng ta nhận ra sự luyện tập ấy, dù chỉ trong một số ít nghệ phẩm xứng đáng. Bạn không thể bác bỏ tư duy mà chỉ thừa nhận sự ứng dụng của nó, rõ ràng là một chuyện mâu thuẫn. Vậy tôi xin tiếp tục suy tưởng và phán đoán những tư tưởng của tôi do những hậu quả của chúng, cũng như phán đoán nghệ thuật của anh qua nghệ phẩm của anh. Bạn đã sốt ruột, bực mình vì còn có những chướng ngại giữa bạn và nghệ phẩm của bạn. Hãy dẹp những chướng ngại ấy đi. Hãy tự đi tìm hoặc dựng lên một xưởng vẽ cho bạn, và bắt đầu làm việc đi. Bằng cách đó nhiều vấn đề sẽ tự động giải quyết.

Đan Thanh không mong gì hơn. Kế bên cổng vào sân chàng đã làm được một cái chái trống thích hợp để mở xưởng. Chàng đặt thợ mộc làm một bản vẽ và các dụng cụ khác, tất cả được thực hiện theo họa đồ do chàng vẽ lấy. Chàng lập một danh sách vật liệu mà bác lái xe hàng cho tu viện phải chở về từ các thành phố chung quanh, một danh sách khá dài. Chàng xem xét tất cả thước gỗ đã đốn xuống trong xưởng mộc hoặc vào tận trong rừng, chọn lựa nhiều mẫu và mang về chất đống trên đám cỏ phía sau xưởng, nơi chàng phơi gỗ dưới mái che do chính tay chàng cất lên. Chàng cũng làm việc nhiều với bác thợ rèn, cùng đứa con của bác, một cậu thanh niên mơ mộng, đã chiếm được cảm tình của chàng. Họ làm việc bên nhau nửa ngày trời trong lò rèn, cạnh cái đe, máng nước lạnh và phiến đá mài. Họ rèn tất cả lưỡi dao cong và thẳng, dao khắc, lưỡi khoan, lưỡi bào cần thiết cho việc đẽo gỗ. Con của bác thợ rèn, cậu Bảo Ân, một cậu thiếu niên trạc hai mươi, đã trở thành bạn của Đan Thanh. Cậu ta giúp chàng mọi việc, luôn luôn vui vẻ vì thích việc và tò mò . Đan Than hứa sẽ dạy cậu ta đàn, môn cậu rất ham thích, và chàng cũng cho phép cậu thử điêu khắc. Nhiều lúc ở tu viện, Đan Thanh cảm thấy vô dụng và chán nản khi giáp mặt Huyền Minh, chàng có thể khỏa lấp phần nào khi có Bảo Ản bên cạnh. Bảo Ân thương chàng một cách rụt rè và ngưỡng mộ chàng vô hạn. Cậu ta thường bảo chàng kể chuyện về thầy Không Lộ và thành phố của vị giám mục. Đôi khi Đan Thanh cũng vui thích kể lại. Rồi chàng chợt kinh ngạc thấy mình ngồi như một ông già, thuật lại những chuyến phiêu lưu trong quá khứ, trong khi đời sống thực sự của chàng chỉ mới bắt đầu từ bây giờ.

Gần đây chàng đã biến đổi rõ rệt và già hẳn so với tuổi đời, nhưng không ai nhận ra, không ai biết chàng thuở trước. Những khó nhọc suốt đoạn đời lang thang; vô định đã làm hao mòn hết sức lực chàng, bệnh dịch khủng khiếp rồi cuối cùng bị giam cầm trong lâu đài của viên Bá tước, và đêm hãi hùng dưới hầm tối đã lay chuyển con người chàng tận cội rễ. Những kinh nghiệm trên đã để lại nhiều dấu vết: tóc đã hoa râm, râu đã mất màu vàng óng, nếp nhăn đã hằn trên mặt với những đêm thao thức. Hứng khởi và tò mò không còn nữa thay vào là cơn mệt mỏi ăn sâu vào tận tâm hồn. Tình cảm khô cạn vì chàng đã sống quá sung mãn, thừa mứa.

Trong khoảng thời gian chuẩn bị công việc, hoặc chuyện vãn với Bảo Ân cùng làm việc với bác thợ rèn, thợ mộc chàng trở nên hăng hái, lấy lại tuổi trẻ, mọi người đều ngưỡng mộ và yêu mến chàng; nhưng vào những lúc khác, chàng đã ngồi hằng giờ, dã dượi, khẽ mỉm cười và mơ mộng, lòng hờ hửng và lãnh đạm, buông trôi tất cả.

Vấn đề rất quan trọng đối với chàng là bắt đầu công việc như thế nào. Việc đầu tiên mà chàng muốn làm tại đây và cũng để trả ơn lòng đối đãi của tu viện trưởng, không phải là một tác phẩm tầm thường mà ai cũng có thể đặt được vào bất cứ vị trí nào để thỏa mãn tính hiếu kỳ của người đời. Công trình của chàng phải thầm nhập mật thiết vào cuộc sống của tu viện cùng với những nghệ phẩm có đã có và phải hài hòa với tổng thể kiến trúc cũ. Chàng muốn xây một bệ thờ hoặc một giảng đài nhưng không cần thiết và cũng không có chỗ trống. Chàng nghĩ ra một việc khác. Có một bục cao trong nhà ăn, nơi mà một sư huynh đọc lại truyện tích các Thánh trong giờ ăn. Bục cao ấy chưa được trang hoàng. Đan Thanh quyết định điêu khắc những bậc thang lên cao như một giảng đài với một bức chạm nổi chung quanh và một số tượng khác để đứng. Chàng giải thích đồ án này cho tu viện trưởng và được chấp thuận.

Khi khởi sự công việc, tuyết đã rơi, Giáng sinh đã qua -đời sống của Đan Thanh bước qua một sắc thái mới. Chàng như đã biến mất khỏi tu viện, không còn ai trông thấy chàng nữa. Chàng không còn thơ thẩn trong rừng hoặc bách bộ dưới các vòm cung. Chàng không còn chờ đợi giờ các học sinh tan học. Chàng dùng bữa trong nhà máy xay. Người chủ máy xay không phải là người ngày xưa khi chàng còn là học sinh đến thăm viếng. Và chàng không cho phép ai vào trong xưởng ngoại trừ Bảo Ân, và có nhiều ngày chính cậu ta cũng chẳng nghe chàng mở miệng.

Đối với công trình thứ nhất này, chàng đã nghĩ ra từ lâu một thiết kế như sau gồm có hai phần, một biểu thị cho thế gian, một cho lời của Chúa. Phần bên dưới, chung quanh các bực thang, để biểu thị cho tạo vật, những hình ảnh thiên nhiên, đời sống bình thường của chư tổ và các nhà tiên tri. Bên trên khung lan can là hình ảnh bốn vị thánh tông đồ. Một trong những trứ giả của Phúc âm sẽ có nét mặt của tu viện trưởng Từ Vân nhân hậu, một người khác là cha Lương, người kế vị, và pho tượng của thánh Luke sẽ làm hình ảnh thầy Không Lộ trở nên bất diệt.

Chàng đã gặp nhiều trở ngại lớn hơn chàng đã dự liệu. Và những trở ngại này đã mang đến nhiều phiền toái, nhưng là những phiền toái ngọt ngào. Hiện giờ chàng thích thú và đôi khi chàng lại thất vọng, chàng theo đuổi công việc của chàng như phải đối đầu với một người đàn bà miễn cưỡng, chàng chiến đấu với khó khăn một cách quả quyết và mềm dẻo như người đánh cá chiến đấu với con cá trắm to lớn, và mỗi kháng cự đều gợi cho chàng xúc cảm sâu xa. Chàng đã quên mọi việc khác. Chàng quên cả tu viện, gần như quên cả Huyền Minh. Huyền Minh có đến vài lần, nhưng chỉ để xem những bản vẽ.

Rồi một hôm Huyền Minh đã ngạc nhiên vì Đan Thanh yêu cầu được xưng tội với chàng.

-Trước đây, tôi không thể quyết định đến xưng tội, Đan Thanh thừa nhận. Tôi đã cảm thấy quá nhỏ bé, hoàn toàn nhỏ bé trước mặt anh. Bây giờ tôi cảm thấy lớn mạnh hơn, tôi hiện có công việc của tôi và sẽ không còn là một tên vô lại. Và kể từ bây giờ, tôi muốn đặt mình vào khuôn khổ của tu viện.

Bây giờ chàng cảm thấy đồng đẳng với Huyền Minh trong công việc và không muốn chờ đợi lâu hơn nữa. Những tuần đầu tiên trầm tư tại tu viện, sự thoải mái của cảnh trở lại mái nhà, những kỷ niệm thuở hoa niên, và những câu chuyện mà Bảo Ân đã hỏi chàng, tất cả điều đó mang lại cho chàng một ít say mê.

Huyền Minh đã nhận cho chàng xưng tội kéo dài khoảng hai giờ, không cần nghi thức. Với gương mặt bất động, tu viện trưởng lắng nghe những cuộc phiêu lưu thống khổ và tội lỗi của bạn mình, đặt nhiều câu hỏi, không bao giờ ngắt lời và lắng nghe một cách thụ động, kể cả đoạn Đan Thanh thú nhận chàng đã mất hết đức tin nơi Thượng đế, công bằng và toàn thiện. Huyền Minh phải dội người vì lời tự thú của kẻ xưng tội. Chàng không thể tưởng tượng được bạn chàng đã giao động và khủng khiếp đến mức độ nào, đôi khi đã tiến gần sát đến sự hủy diệt. Và rồi chàng lại mỉm cười xao xuyến xúc động khi thấy bạn chàng vẫn còn giữ được bản chất ngây thơ, vẫn lo sợ và hối hận vì những tư tưởng bất chính của mình, những điều khá vô hại so với vực thẳm hoài nghi đen tối nơi chính chàng.

Đan Thanh rất đỗi ngạc nhiên, gần như thất vọng vì cha xưng tội không xem tội lỗi của chàng là nghiêm trọng, mà lại hết lời khiển trách và quở phạt vì chuyện không cầu nguyện, không xưng tội, không rước mình thánh. Chàng bị bắt buộc phải chịu khổ hạnh sám tội như sau: sống tiết dục và trong sạch trong một tháng trước khi rước mình thánh, dự thánh lễ mỗi sáng, và cầu kinh Lạy Cha ba lần và một lần kinh “Kính mừng Maria Đức Mẹ Chúa Trời” mỗi chiều.

Sau đó Huyền Minh nói với chàng:

-Tôi dặn anh đừng xem nhẹ những khổ hạnh này. Tôi không hiểu là anh có còn thuộc kinh lễ hay không? Anh phải đọc theo từng chữ một và tự dâng mình cho mỗi ý nghĩa. Chính tôi sẽ cùng đọc kinh với anh hôm nay, giảng giải ý nghĩa lời kinh mà anh phải đặc biệt hướng sự chú trọng đến. Anh phải đọc và nghe những chữ thiêng liêng không phải như một người đọc và nghe những chữ thông thường. Anh phải tự nắm vững vừa đúng để khỏi quay cuồng bởi những từ ngữ, điều này sẽ xảy đến thường hơn anh tưởng, anh phải nhớ giờ khắc ấy và sự dặn dò của tôi, và anh phải khởi sự lại từ đầu và đọc lên từng chữ sao cho thấm nhập vào tận tim anh, như tôi sẽ chỉ cho anh.

Không biết do sự tình cờ hay do tài xét đóan của tu viện trưởng về tâm hồn người, mà Đan Thanh quả có được một giai đoạn an bình sung mãn sau kỳ xưng tội và hành sám ấy. Giữa bao mối căng thẳng, lo âu và thỏa mãn đối với công việc điêu khắc, mỗi sáng chiều chàng lại thấy mình được nhẹ nhõm nhờ những thời luyện tập tâm linh, đọc kinh, tuy dễ dàng nhưng cần chú ý ấy. Cả con người chàng phục tòng một trật tự cao cả mang chàng ra khỏi cảnh cô lập nguy hiểm của người sáng tạo, biến chàng thành một đứa trẻ trong nước Chúa.

Nhưng không luôn luôn được như vậy. Đôi khi chàng không an lòng và thoải mái lúc chiều về, sau những giờ làm việc hăng say. Thỉnh thoảng chàng quên đọc kinh, và nhiều lần trong lúc đọc; chàng bị dày vò bỡi ý nghĩ rằng chung quy những lời cầu nguyện chỉ là trò trẻ con trước một ông Thượng đế không có thật, hoặc dù có thật cũng không giúp được gì. Chàng thố lộ điều ấy với bạn. Huyền Minh bảo:

-Hãy cứ tiếp tục, anh đã hứa anh phải giữ lời. Anh không được nghĩ Chúa có nghe lời anh xin hay không, hoặc Ngài có hiện hữu hay không. Anh cũng không được nghĩ rằng mình đọc kinh như vậy có phải trẻ con không. Đối với Ngài, tất cả mọi việc làm chúng ta đều trẻ con. Anh phải tự cấm chế triệt để những tư tưởng điên rồ ấy trong lúc đọc kinh. Hãy dấn trọn mình cho những lời kinh như thể khi anh đàn hay hát. Anh không có những tư tưởng mơ mộng trong lúc đó, phải không? Không, anh chỉ nhấn nốt nhạc bằng những ngón tay một cách nhất tâm thuần thục càng nhiều càng hay. Khi anh hát cũng vậy anh không tự hỏi hát như thế nào, có ích lợi gì hay không. Anh chỉ có việc hát. Ấy, anh cũng phải cầu nguyện y như vậy.

Một lần nữa, lời khuyên ấy thành công; cái ngã tham lam bướng bỉnh của Đan Thanh tự dập tắt trong giáo đường. Một lần nữa những lời kinh khả kính lại bay lượn trên đầu chàng như những vì sao.

Tu viện trưởng rất bằng lòng thấy Đan Thanh vẫn tiếp tục khổ ta mỗi ngày, nhiều tuần và nhiều tháng sau khi thời kỳ sám tội đã chấm dứt, sau khi chàng đã nhận các phép bí tích.

Trong khi ấy, công việc của Đan Thanh vẫn tiếp tục tiến triển. Một thế giới nhỏ hiện lớn lên từ những bực thang hình trôn ốc dày đặc: sinh vật cây cỏ, muông thú và loài người. Ngay giữa là Noah đứng trong đám lá và chùm trái nho. Công trình giống như một tập tranh ảnh ca tụng sự sáng tạo một thế giới đẹp đẽ, chàng tự do diễn đạt nhưng vẫn chịu định hướng một trật tự và kỷ luật nội tâm. Suốt những tháng ấy, không ai ngoài Bảo Ân trông thấy được công trình, cậu ta được phép làm những việc nho nhỏ và không ước mơ gì hơn ngoài việc trở thành nghệ sĩ. Nhưng cũng có vài ngày nào đó, cả cậu ta cũng không được vào trong xưởng điêu khắc. Có những ngày Đan Thanh sống với cậu ta, chỉ bảo cậu ta vài việc và để cậu ta tập làm thử, chàng vui vì có được một người môn đệ tin tưởng mình. Nếu công việc thành công tốt đẹp, chàng sẽ xin cha của Bảo Ân để cậu đến tập sự hẳn như một người phụ tá thường trực.

Chàng đã tạc pho tượng các trứ giả trong những ngày tươi đẹp nhất đời chàng, tất cả cùng hòa điệu không một thoáng nghi ngờ. Chàng nghĩ là sẽ thành công hơn hết với bức tượng mang nét mặt của tu viện trưởng Từ Vân. Chàng thương yêu bức tượng ấy vô cùng, một gương mặt rạng rỡ ân cần và tinh khiết. Chàng không thỏa mãn lắm với pho tượng thầy Không Lộ, mà Bảo Ân ái mộ nhất. Pho tượng ấy hiển lộ một cái gì bất ổn, đau buồn, vừa tràn trề dự ước sáng tạo cao xa mà lại vừa mang nặng một cảm thức tuyệt vọng về sự vô ích của sáng tạo; vừa tiếc thương cho một hòa điệu và tính hồn nhiên đã mất.

Khi pho tượng tu viện trưởng Từ Vân đã xong, chàng nhờ Bảo Ân quét dọn xưởng. Chàng phủ kín các bức tượng dưới những tấm vải che và chỉ đặt một bức duy nhất ra ánh sáng. Rồi chàng đi tìm Huyền Minh, Huyền Minh mắc bận, chàng kiên nhẫn đợi đến ngày hôm sau. Vào giữa trưa chàng đã dẫn bạn đến xem bức tượng.

Huyền Minh đứng yên nhìn ngắm. Chàng đứng đó thật lâu, quan sát công trình với tất cả chú tâm và cẩn trọng của một nhà học giả. Đan Thanh đứng sau lưng chàng, im lặng, cố gắng chế ngự cơn bão trong lòng mình. Đan Thanh nghĩ: “Ôi! Nếu một trong nghệ phẩm của ta không qua nổi kỳ trắc nghiệm này, thì thật là hỏng. Nếu bức tượng của ta không thành công hoặc nếu Huyền Minh không thông hiểu, tất cả công trình của ta ở đây sẽ mất hết giá trị. Ta còn phải chờ đợi lâu hơn nữa!”

Đối với Đan Thanh một phút dài như cả giờ, và chàng nhớ đến lúc thầy Không Lộ cầm bản vẽ đầu tiên của chàng trong tay. Chàng nắm chặt lòng bàn tay nóng ướt.

– Huyền Minh quay sang chàng, và tức khắc, chàng cảm thấy mình như bừng sống lại. Trên gương mặt thon dài của bạn chàng, một cái gì như nụ hoa, đã lịm tắt từ những năm xưa còn bé, nay bỗng nhiên nở vội một nụ cười e ấp trên gương mặt thuộc về thế giới của tâm linh và ý chí, một nụ cười của tình yêu và đầu lụy, tươi sáng, xuyên thấu tất cả, một nụ cười của sự cô đơn và kiêu hãnh bừng chiếu trong một giây khắc để rồi đọng lại nhường chỗ cho một tấm lòng dâng trào vui sướng.

– Đan Thanh! Huyền Minh nói thật êm đềm, cân nhắc từng lời, anh không nên mong mỏi tôi biến thành một chuyên gia về nghệ thuật một cách đột ngột. Anh biết rằng tôi không thuộc loại người ấy. Tôi không có thể nói với anh một lời nào về nghệ thuật của anh mà anh sẽ không chế giễu tôi. Nhưng hãy để tôi nói với anh một điều: nhìn qua lần đầu, tôi nhận ra tu viện trưởng Từ Vân của chúng ta trong ảnh tượng vị trứ giả. Không hẳn thuần là chân dung của cha mà còn biểu thị tất cả những gì là phẩm hạnh, nhân hậu và bình dị, như chúng ta đã từng tôn kính cha lúc còn trẻ. Cha Từ Vân đang đứng trước mặt chúng ta và ban đến chúng ta tất cả những gì thiêng liêng, những gì mà chúng ta sẽ không bao giờ quên được trong khoảng đời hoa niên ấy. Bạn ơi! Anh đã dâng tôi một tặng phẩm về lòng bao đung quảng đại, vầ không những anh chỉ mang đến cho tôi con người của cha Từ Vân, mà lần đầu tiên anh còn hoàn toàn mở rộng tâm hồn anh cho tôi thấu hiểu. Bây giờ tôi biết anh là người thế nào. Ta sẽ nói về vấn đề này mai sau, hiện giờ tôi không thể. Đan Thanh ơi! Giờ phút sung sướng này là dành riêng cho chúng ta.

Căn phòng lớn thật yên lặng. Bạn chàng tu viện trưởng đang rung động tận đáy lòng. Đan Thanh đã nhìn thấy và chàng bối rối đến ngạt thở:

– Vâng, chàng nói gọn lỏn, tôi vui mừng. Nhưng đã đến giờ ta phải đi ăn.

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: