Trang chủ > Uncategorized > Chương 16

Chương 16

Đan Thanh đã qua một ngày trên đồi sung sướng trong sự chờ đợi. Nếu chàng có riêng một con ngựa, chàng sẽ phóng đến tu viện nơi an vị pho tượng Đức Mẹ ấy. Đến đêm chàng đã nằm mơ thấy thầy Không Lộ. Thế nào chàng cũng phải ngắm lại pho tượng. Dù hạnh phúc do Ái Liên mang đến quá mỏng manh, có thể dẫn đến tai ương, nhưng hôm nay lòng chàng bừng nở, chàng không muốn bỏ lỡ một chút gì, chàng không muốn gặp ai cả, không muốn giải trí, chàng chỉ muốn sống trọn một ngày mùa thu mật ngọt giữa khung trời với cỏ cây mây gió. Chàng bảo Mai là chàng sẽ đi dạo miền quê, có thể trở về khuya, và xin nàng một ổ bánh mì đi đường và dặn không nên chờ chàng. Nàng không nói gì, chỉ nhét bánh mì và táo đầy túi, chải sơ chiếc áo dạ cũ cho chàng, chiếc áo mà nàng đã khâu vá ngày chàng mới về, và để chàng ra đi.

Chàng băng qua con sông leo lên những đoạn dốc, thơ thẩn ngang cánh đồng nho hoang vắng, lạc hướng khi vào đến rừng. Chàng chỉ ngừng khi leo đến vùng cao nguyên cao nhất. Nơi đó mặt trời chói chang như muốn thiêu đốt những cụm cây trụi lá. Đàn chim sáo bay nhanh sau mỗi bước chân chàng, chúng nhút nhát chui rúc vào bụi rậm, lén nhìn chàng với cặp mắt đen nhánh. Phía dưới thật xa, con sông uốn khúc một màu xanh biếc. Phố thị giống như một món đồ chơi trẻ con. Không một âm thanh nào vọng đến trừ tiếng chuông cầu nguyện vang hồi. Trên kia nổi lên nhiều ụ đất, ngày xưa có thể là mồ mả. Chàng ngồi lên một mô đất, mùa thu cỏ khô cọ nhau nghe xào xạc. Chàng có thể trông ra toàn thể thung lũng bao la, đồi và núi bên kia sông từng dãy trùng trùng điệp điệp bao hết đường chân trời nơi mà trời và núi cùng hòa lẫn vào nhau trong một màu xanh mông lung khó tách biệt. Bước chân chàng đã in hết vùng đất đang trải dài thật xa, xa hơn tầm mắt. Nguyên cả vùng đất quen thuộc ấy giờ đây trông thật xa xăm và chỉ còn là kỷ niệm. Hàng trăm lần chàng đã vùi giữa những cánh rừng này, đã nhai những trái nhỏ, bị đói lạnh, chàng đã băng ngang nhiều chóp núi và truông đất hoang. Chàng đã vui hoặc buồn, tươi tỉnh hoặc mệt mỏi. Một nơi ở khoảng này xa hơn tầm mắt, là những mảnh xương cháy đen của Lan. Một chỗ khác, Lỗ Bình, người bạn đồng hành với chàng, có lẽ còn lang thang nếu bệnh dịch chưa chụp lên hắn. Ở chốn kia Viên đã nằm chết; và một nơi xa hẳn nơi quyển rũ này là tu viện của thời hoa niên, và còn nữa tòa lâu dài của nhà quý tộc có hai cô con gái đẹp, và nàng Hương Vân nghèo khổ, đáng thương đang bị săn đuổi, nàng sẽ tiếp tục trôi dạt nếu chưa gục ngã. Biết bao nơi chốn đã tán loạn, bãi đất hoang và rừng rậm, phố thị và làng mạc, lâu đài và tu viện, và những người còn sống hay đã chết vẫn hiện diện trong ký ức chàng với tình thương, tiếc nuối và khát khao. Và nếu một mai khi cái chết đến với chàng, tất cả đều rơi rụng và sẽ tan biến, cả tập giấy vẽ chân dung những người tình của những ngày hạ đêm đông. Ôi đã đến lúc chàng phải thành tựu một việc gì, sáng tạo một cái gì để lưu lại và tồn tại.

Từ lúc vào đời cho đến nay, qua những tháng ngày phiêu lãng, tác phẩm của chàng quá ít, không ngoài những bức tượng đã tạc trong xưởng điêu khắc, nhất là tượng Thánh Gioan, và tập giấy này, một thế giới hình ảnh không thực, tuyệt đẹp và đớn đau tận cùng ký ức. Chàng có thành công chăng khi giải tỏa thế giới nội tâm ấy, để vẽ khắc thành đường nét cho người đời chiêm ngưỡng? Hoặc chàng lại tiếp tục con đường cũ: đi đến những đô thị mới, những phong cảnh mới, đàn bà mới, cưu mang thêm những kinh nghiệm đã không mang lại cho chàng điều gì khác hơn là niềm khắc khoải dâng tràn con tim.

Thật đáng hổ thẹn nếu cứ sống trôi lăn, để cuộc đời lừa lọc, thay khóc đổi cười. Nếu ta chỉ biết sống với khoái cảm trong nguồn sinh lực tuôn chảy từ bầu sữa mẹ nguyên sơ, tuy hưởng được mộng đời bất tuyệt, nhưng cũng không thoát khỏi vô thường sinh tử; giống như cây nấm mọc giữa rừng hoang, tươi màu hôm nay để rồi mục nát ngày mai. Hoặc giả ta sống chế ngự bằng cách tự giam mình trong công việc, cố tạo dựng cuộc đời phù du này thành một tòa lâu đài để rồi quên sống cho chính mình, như vậy không khác gì một công cụ, dù có sáng tạo một cái gì trường cửu chăng nữa nhưng cuộc đời rồi cũng cằn cỗi mất hết tự do, nhựa sống khô cạn, không còn gì sinh thú; đó là trường hợp thầy Không Lộ.

Cuộc đời chỉ có ý nghĩa nếu ta biết dung hợp hai lối sống. Trong sáng tác vẫn không hy sinh cuộc sống riêng của mình. Sống thật với lòng mình mà không từ bỏ nghệ thuật cao đẹp. Phải chăng đó là điều không thể đạt được?

Có thể có một số người nào đó biết cách dung hợp. Có những người chồng, người cha tuy sống chân tình với vợ con mà vẫn không mất lạc thú. Có người tình cảm vẫn không khô cạn, dù sống một đời định cư, thiếu mất tự do, không phiêu lưu với hiểm nguy. Có thể có trường hợp như vậy, nhưng chàng chưa hề gặp.

Có lẽ căn để của đời sống mang thể tính nhị nguyên, và đều có sự tương phản. Dù là đàn ông hoặc đàn bà sống lang thang hoặc cố định, là nhà tư duy hoặc người mê cảm, không ai có thể thở ra và hít vào cùng một lúc đủ nam lẫn nữ tính, có thể sống phóng khoáng tự do trong một kỷ luật bó buộc, hoặc vừa sống buông thả theo bản năng vừa lắng lòng hướng về nội tâm. Ta phải chịu mất một cá tính này để được một đặc thù khác, và cả hai đều hệ trọng và cùng có một hấp lực ngang nhau. Trên bình diện này, người phụ nữ được Ưu đãi hơn. Tạo hóa đã dựng nên họ sao cho hạnh phúc yêu đương kết quả cụ thể: một đứa trẻ được sinh ra. Đối với nam giới, lòng khao khát liên tục chính là hình thái của năng lực sinh sản. Có phải Thượng đế đã tạo dựng muôn loài với tâm ác độc và thù hận thế sao? Và còn cười cợt mỉa mai trên các sinh vật do Ngài tác tạo? Không, Thượng đế đã tạo ra nai, hươu, chim, cá, núi rừng, cỏ hoa và tiết mùa biến chuyển thì không thể nào ác độc được. Nhưng trên công trình sáng tạo của Ngài đã xuất hiện vết nứt rạn. Có lẽ đó là một công trình không còn chân chính, không còn toàn hảo, hoặc chính Thượng đế chủ ý vào sự bất toàn hảo và tham vọng của con người để xây dựng nhân tính? Có thể đó là mầm mống của hận thù, của tội tổ tông? Nhưng tại sao tham vọng và sự bất toàn hảo của con người lại là tội lỗi? Không phải tất cả điều này là tốt đẹp và thánh thiện sao? Và không phải chính từ đó mà loài người sáng tác nghệ thuật để tôn kính và tri ân Thượng đế?

Chàng bị dằn vặt bởi chính tư tưởng của mình. Chàng nhìn về hướng thành phố khu chợ cá, những nhịp cầu, nhà thờ, tòa thị sảnh. Và cả tòa lâu đài của vị giám mục cao ngạo, nơi Bá tước Huân Lịch đang chiếm ngự với nàng Ái Liên dưới mái tháp cao, người tình vương các diễm kiều, kiêu sa và hoàn toàn buông thả trong cuộc tình. Chàng sung sướng nghĩ đến nàng và biết ơn đêm vừa qua, đêm ấy không bao giờ chàng quên được. Để đạt đến hạnh phúc và làm thỏa mãn người đàn bà tuyệt vời ấy, chàng phải đánh đổi cả cuộc đời chàng, hứng chịu bao đau khổ, lang thang trong sương tuyết cả đêm, tập thân mật với muông thú, yêu mến cỏ hoa, sông nước và bướm ong, chim cá. Chẳng cần đến cảm quan bén nhạy với say ngất, hiểm nguy, chịu nhịn lạc thú gia đình, cần cả một thế giới nội tâm chất chứa nhiều hình ảnh từ mấy năm qua. Tất cả điều ấy chỉ vì Ái Liên. Khi nào cuộc đời chàng còn là khu vườn để những nụ hoa diễm ảo như Ái Liên nở rộ thì không có lý do gì để chàng than vãn.

Chàng đã tận hưởng một ngày trọn trên đỉnh đồi vào thu. Chàng đi dạo nghỉ ngơi, ăn bánh, nhớ đến Ái Liên và buổi tối sắp đến.

Màn đêm xuống dần, chàng quay gót về thành phố, hướng đến tòa lâu đài. Trời trở lạnh, những mái nhà rọi sáng từ cửa sổ mắt mèo đỏ rực và thầm lặng chàng gặp một toán trẻ con ca hát nghêu ngao, tay cầm những cây gậy gắn củ cải khoét rỗng ruột và chạm trổ hình với ngọn nến bên trong. Hoạt cảnh câm nhỏ bé ấy đã gợi lại dư hương mùa đông. Đan Thanh nhìn theo chúng tươi cười. Chàng đã lượn quanh tòa lâu đài khá lâu. Đoàn chức sắc tòa thánh vẫn còn ở đấy, bóng các vị linh mục thấp thoáng nơi khung cửa sổ. Cuối cùng chàng lẻn được vào bên trong và tìm được chị bồi phòng. Chị ta lại giấu chàng trong căn phòng chứa đồ cho đến khi Ái Liên xuất hiện và im lặng dẫn chàng vào phòng nàng. Nàng dịu dàng đón chàng với gương mặt kiều diễm, nhưng không vui vẻ, nàng đang buôn và lo lắng. Chàng đã cố làm nàng vui lên một cách khó khãn. Những lời nói yêu đương và những chiếc hôn từ từ làm nàng yên tâm.

– Anh thật ngọt ngào, nàng nói giọng biết ơn, những lời anh vọng lên thật êm ái, líu lo như chim hót. Hỡi con chim vàng ngọc của em, Đan Thanh, em yêu anh vô hạn. Nếu đôi ta được xa hẳn nơi đây! Em không còn muốn ở đây thêm một giây phút nào. Sớm muộn gì cũng phải chấm dứt. Bá tước sẽ bị triệu hồi và tên giám mục hèn nhát sẽ trở về. Các vị linh mục đã làm Bá tước cau có. Đừng để ông ta thấy mặt anh, anh sẽ không thể sống thêm một giờ nào. Em lo sợ cho anh.

Ký ức chàng lại vang lên những âm thanh mà chàng tưởng đã tắt hẳn. Có phải dư âm của ngày xa xưa? Đó là những lời Liên Đài thố lộ với chàng, tình tứ và âu lo, êm ái pha lẫn u buồn. Đêm ấy Liên Đài đã sang phòng chàng, rộn rã vì yêu đương và bàng hoàng với bao lo sợ, bao ảo tưởng khủng khiếp. Chàng thích nghe bản tình ca khắc khoải ấy. tình yêu có còn nguyên hương vị chăng nếu không thầm lén, không hiểm nguy?

Chàng kéo nhẹ Ái Liên lại, mơn trớn nàng, nâng bàn tay nàng và thỏ thẻ những lời âu yếm, hôn lên rèm mi.

Chàng xao xuyến và thích thú khi biết nàng sợ hãi và lo lắng vì chàng. Nàng khoan khoái đón nhận mơn trớn, ôm lấy chàng nhưng không lộ vẻ gì sôi bòng.

Bỗng nhiên nàng buông chàng ra và khi tiếng đập cửa vang lên cùng với tiếng chân chạy đến. “Chúaơi! Bá tước.” Nàng hét lên tuyệt vọng. “Nhanh lên, anh có thể trốn thoát qua phòng chứa đồ. Gấp lên! Đừng tiết lộ em!”

Nàng đẩy chàng vào trong phòng chứa đồ. Chàng đứng một mình, ngập ngừng sờ soạng trong bóng tối. Từ sau cánh cửa, chàng nghe Bá tước la to với Ái Liên. Chàng tìm đường qua cửa bên kia xuyên qua dãy áo, chàng đi từng bước một, không gây tiếng động. Chàng đi đến cánh cửa trổ ra hành lang, và cố mở. Và đến lúc này, khi chàng nhận ra là đã khóa từ bên ngoài, lo sợ ào đến, tim chàng đập lung tung, đau đớn. Thật là một ngẫu nhiên bất hạnh vì có ai đã khóa cửa sau khi chàng bước vào nhưng chàng đã không tin như thế. Chàng đã bị gài bẫy, đã có người trông thấy chàng, chàng đứng trong bóng tối, run rẩy và tức khắc nghĩ đến tiếng nói cuối cùng của Ái Liên: “Đừng tiết lộ em!” Không, chàng sẽ không tiết lộ nàng. Tim chàng đập dồn dập, nhưng một quyết định đã đến làm chàng tự tin. Chàng giận dữ cắn chặt hàm răng thách thức.

Và mọi việc đã đến sau đó vài giây, cửa mở và Bá tước từ phòng riêng của Ái Liên bước vào, tay trái cầm ngọn nến và thanh gươm rút khỏi bao trên bàn tay mặt. Ngay lúc ấy, không suy nghĩ Đan Thanh giựt vài chiếc áo đang treo chung quanh và máng trên cánh tay. Hãy để họ tưởng chàng là kẻ trộm, có thể đó là lối thoát cho chàng.

Bá tước thấy chàng ngay lúc đầu. Từ từ ông ta bước tới gần.

Mi là ai? Mi làm gì ở đây? Trả lời, hoặc ta cho một nhát kiếm qua thân mi.

Xin tha tội cho tôi, Đan Thanh thì thào, tôi nghèo đói và ông quá giàu. Tôi xin trả lời, bẩm ngài, những gì tôi đã lấy. Đây này, ngài hãy xem!

Và chàng liệng chiếc áo xuống sàn nhà.

À ra, một tên trộm, mi quả không khôn ngoan, liều mạng sống vì vài chiếc áo. Mi có phải là dân ở thành phố này không?

Thưa không, bẩm ngài, tôi không nhà cửa, tôi nghèo đói, xin ngài đoái thương…

– Im đi! Ta muốn biết không chừng mi đã vô liêm sỉ quấy rầy phu nhân. Nhưng thế nào rồi mi cũng bị treo cổ, tội trộm cũng đủ.

Ông ta đập mạnh lên cánh cửa đã khóa và gọi:

– Ai đó không? Mở cửa!

Cửa mở từ bên ngoài, và ba tên lính hầu đã đứng sẵn sàng gươn tuốt khỏi vỏ.

– Trói hắn chặt! Bá tước truyền lệnh, giọng ồ ồ, kiêu hãnh và mai mỉa. Nó là một tên lêu lổng đã vào đây ăn cắp. Nhốt nó vô ngục tối dưới hầm và sáng mai treo cổ nó lên.

Tay Đan Thanh bị trói chặt, chàng đã không kháng cự. Chàng bị dẫn đi, qua dãy hành lang dài, xuống các bậc thang băng ngang khoảng sân phía trong, một tên gia nhân dưới hầm cầm bó đuốc hướng dẫn họ. Họ dừng bước trước một xà lim cửa sắt, gấu ó nhau vì chìa khóa không có trong ổ. Một lính hầu cầm lấy bó đuốc để tên gia nhân dưới hầm chạy đi tìm chìa khóa. Và họ đứng đó, ba tên lính có võ trang và một kẻ bị trói, chờ bên ngoài cửa. Tên cầm đuốc tò mò soi sát mặt Đan Thanh. Ngay lúc ấy, hai trong các tu sĩ thượng khách của Bá tước đi đến từ nhà nguyện của lâu đài. Họ dừng chân trước mặt đám đông, cả hai đều chăm chú nhìn quang cảnh ba tên lính hầu và một kẻ bị trói và cung cách họ đứng đây chờ đợi.

Đan Thanh chẳng chú ý gì đến tu sĩ hoặc lính gác. Chàng không trông thấy gì nhưng bó đuốc vẫn cháy bập bùng bao phủ gương mặt chàng. Chàng chói mắt nhắm lại. Và phía sau ánh sáng, trong bóng mờ đầy kinh hãi, chàng đã thấy một cái gì khác, một cái gì không hình dạng, to lớn, ma quái: là vực thẳm, là tận cùng, là cõi chết. Chàng đứng đây, đôi mắt đăm đăm, chẳng nghe, chẳng thấy. Một trong hai vị linh mục thì thầm hỏi chuyện tên lính gác. Khi ông ta biết đó là một kẻ trộm bị xử tử hình, ông ta hỏi xem có ai rửa tội chưa. “Không,” bọn lính nói, “hắn vừa bị bắt quả tang.”

– Vậy sáng mai tôi sẽ đến với hắn, vị linh mục nói. Trước phiên lễ đầu tôi sẽ làm phép bí tích cho hắn và nghe hắn xưng tội. Các anh phải thề với tôi là trước lúc ấy không được mang hắn đi hành quyết. Tôi sẽ nói với Bá tước ngay tối nay. Dù là một tên trộm, hắn vẫn được quyền xưng tội và được lãnh phép thánh như mọi tín đồ Thiên Chúa khác.

Bọn lính không dám cưỡng lệnh. Họ biết oai quyền của vị linh mục. Ông ta thuộc phái đoàn tòa thánh, và đã nhiều lần dự tiệc với Bá tước. Vả lại tại sao tước đoạt quyền xưng tội của một kẻ đói rách lêu lổng?

Hai vị linh mục bước đi. Đan Thanh đăm đăm nhìn theo. Cuối cùng tên tớ mang chìa khóa đến và mở cửa. Kẻ tội phạm được dẫn tuốt vô trong xà lim, sau vài bước hắn đã hụt chân ngã xuống. Trong hầm có hai chiếc ghế đẩu ba chân được đặt chung quanh chiếc bàn, đó là một căn phòng phía trước hầm chứa rượu. Họ đẩy một cái ghế về phía Đan Thanh và bảo chàng ngồi xuống.

– Ngày mai có linh mục đến làm lễ xưng tội cho anh, một tên lính nói. Rồi họ đi ra, cẩn thận khóa cánh cửa nặng nề.

– Để lại cho tôi ngọn đuốc đi, anh bạn, Đan Thanh van xin.

– Không được bồ ơi! Anh sẽ dùng nó để làm bậy. Hay nhất là hãy tập quen với bóng tối, bó đuốc đâu có sáng lâu, chỉ trong vòng một giờ. Chúc anh ngủ ngon.

Bây giờ chỉ có chàng một mình trong bóng tối. Chàng ngồi trên chiếc ghế đẩu và gục đầu lên bàn. Thật khổ phải ngồi kiểu này; dây trói quanh cổ tay làm chàng đau; nhưng chỉ sau này cảm giác ấy mới thấm nhập vào ý thức chàng. Ban đầu chàng chỉ buồn, dù đầu chàng đang ở trên bàn hay bị chém đi, chàng phải nhận chịu điều không thể tránh, phải nhận chịu chết.

Chàng đã vĩnh viễn ngồi trên đoạn đường này, cong người xuống một cách khốn khổ, cố gắng hứng chịu những gì đã đặt để cho mình, sống và thở với số mệnh. Trời đã tối, đêm đã khuya và phút cuối của đêm nay cũng là phút cuối đời chàng. Đó là những điều chàng phải ý thức. Ngày mai chàng sẽ không còn sống nữa. Chàng sẽ bị treo cổ, một miếng mồi cho lũ chim đậu lên và mổ nát. Chàng sẽ như thầy Không Lộ, như Lan nằm trong căn chòi cháy thiêu, như tất cả những người chàng đã thấy chồng chất trên những cỗ xe tang. Không dễ gì chịu đựng và phó mặc. Tuyệt đối không thể nào không chịu như vậy. Còn quá nhiều thứ chàng chưa thể rời bỏ, chưa nói lời từ biệt. Giờ khắc của đêm nay vừa đừng để cho chàng làm công việc ấy.

Chàng phải nói lời từ giã nàng Ái Liên kiều diễm. Mãi mãi chàng sẽ không bao giờ nhìn lại vóc dáng cao lớn, mái tóc vàng óng ánh, đôi mắt xanh lạnh mát, luồng điện trong ánh mắt kiêu kỳ, lông măng vàng mịn trên làn da thơm ngọt. Giã từ đôi mắt xanh, bờ môi tình tứ mà chàng đã ước mong được hôn lên thật nhiều lần. Ôi, chỉ mới buổi mai hôm nay trên ngọn đồi, trong ánh nắng cuối thu, chàng đã nhớ đến nàng! Và chàng cũng phải giã biệt cả đồi vắng, ánh dương, bầu trời lơ lững những áng mây trắng, mây xanh, cây cỏ và rừng hoang, năm tháng lang thang, giờ khắc thoảng đưa và bốn mùa thay đổi. Có lẽ cho đến bây giờ Mai vẫn ngồi đấy, Mai đáng thương với đôi mắt trữ tình và dáng di khập khiễng, luôn luôn ngồi và chờ đợi, ngủ thiếp đi trong nhà bếp, rồi lại thức giấc, nhưng không khi nào Đan Thanh có thể quay về được nữa.

Ôi! Những giấy và bút, tất cả những gương mặt mà chàng muốn tạo dựng. Hết, hết cả rồi! Và cả niềm hy vọng gặp lại Huyền Minh, nhìn lại tượng Thánh Gioan yêu dấu, tất cả đều chấm dứt.

Rồi chàng còn phải giã từ tay và mắt chàng, đói và khát, những đêm ân ái, lúc đàn hát, khi ngủ vùi, đi dạo, giã từ tất cả. Ngày mai, một cánh chim sẽ bay ngang trời không những Đan Thanh sẽ không còn trông thấy nữa, một cô gái sẽ hát lên từ khung cửa sổ nhưng chàng sẽ không còn nghe nữa, dòng sông sẽ uốn quanh và đàn cá vẫn lội lặng lẽ trong bóng tối, gió vẫn thổi cuốn đi những chiếc lá vàng úa rụng trên mặt đất, mặt trời vẫn chiếu và biết bao tinh tú lấp lánh trên không, đám thanh niên vẫn còn nhảy nhót, cụm hoa tuyết đầu tiên đang trải dài trên đỉnh núi xa xăm – tất cả đều tiếp tục sinh sống, cây xanh vẫn rọi bóng, người ta vẫn vui hoặc buồn hiện rõ trong ánh mắt sống động, chó vẫn sủa, bò vẫn rống trong chuồng làng quê, tất cả đều có mặt trừ Đan Thanh.

Chàng nhớ lại hương thơm sáng sớm trên bãi đất hoang, mùi rượu nho dịu ngọt, trái hồ đào đặc ruột, ký ức chàng xoay quanh cảnh trí tươi sáng của thế giới muôn màu trong một cõi lòng tan nát. Tất cả cuộc đời chàng hỗn tạp một cách kỳ ảo, một lần nữa, cảm quan chàng lại bừng sáng và sầu khổ trào tuôn. Chàng muốn khóc, khóc để những giọt nước mắt chảy dài. Chàng nức nở và chìm sâu vào triều sóng tuyệt vọng. Những giọt lệ dâng trào làm chàng quỵ ngã, chàng tự buông trôi vào cơn đau cùng cực. Ôi thung lũng và rừng cây, những dòng suối hai bên bờ cây du mọc xanh rờn, hỡi các cô gái, hỡi những đêm chan hòa ánh trăng trên các nhịp cầu, hỡi thế giới rực rỡ hình ảnh mỹ miều. Tại sao tôi phải rời bỏ các người? Chàng than khóc, nằm dài trên bàn như một đứa trẻ thảm sầu. Từ nỗi lòng thống khổ, một hình bóng, một oán trách khẩn cầu hiện đến: “Mẹ, mẹ ơi!”

Và khi chàng gọi lên tiếng nói thần diệu, một hình ảnh đáp lại từ tận cùng ký ức chàng, hình ảnh mẹ chàng. Không phải gương mặt do chàng tư duy, hoặc hiện ra trong những cơn mơ nghệ thuật. Đó là hình ảnh người mẹ của riêng chàng, thật đẹp và sinh động chàng chưa từng trông thấy kể từ khi rời khỏi tu viện. Chàng đã gởi về mẹ lời cầu nguyện, chàng đã than thở với mẹ nỗi thống khổ không chịu nổi vì bị bắt buộc chết, chàng đã tự buông trôi hướng về mẹ, dâng tặng mẹ cả rừng xanh mặt trời, mắt chàng, tay chàng, chàng xin đặt cả cuộc đời chàng trong vòng tay mẹ âu yếm.

Chàng khóc thật nhiều rồi đi vào giấc ngủ; kiệt lực và giấc ngủ như người mẹ đã bế chàng vào vòng tay. Chàng ngủ vùi khoảng một đến hai giờ, thoát khỏi nỗi đau.

Chàng tỉnh dậy và thấy đau kinh khủng, cổ tay bị trói sưng lên nhức nhối, cơn đau xâu xé trên cổ và lưng. Chàng đau đớn khi đứng lên; chàng nhớ lại tất cả và biết rõ hiện đang ở đâu. Chung quanh chàng đều là bóng tối. Chàng không rõ đã ngủ được bao nhiêu lâu, còn được sống đến mấy giờ nữa. Có thể họ sẽ đến bất kỳ lúc nào để đưa chàng vào cõi chết. Rồi chàng nhớ lại người ta hứa cho một linh mục đến rửa tội. Chàng không nghĩ rằng các phép thánh sẽ tốt đẹp cho chàng. Chàng cũng không biết rằng ngay cả sự giải tội hoàn toàn có thể mang chàng lên thiên đàng chăng? Chàng không hiểu là nước thiên đàng có hay không, có đức Chúa Cha, có phán xét, có vĩnh cửu hay không. Đã từ lâu chàng đánh mất niềm tin.

Nhưng dù cho có vĩnh cửu hay không chàng cũng không mong ước, chàng không muốn gì cả, chỉ muốn sống một cuộc đời bấp bênh trần thế. Chàng ngồi dậy giận dữ, sờ soạng tìm đường đến bức tường trong bóng tối và bắt đầu suy nghĩ. Dù sao phải có một lối thoát chứ! Có thể vị linh mục là lối thoát. Chàng có thể thuyết phục để ông ta tin chàng vô tội, để ông ta bênh vực chàng nhân danh mục sư hoặc xin ân xá cho chàng hoặc giúp chàng trốn thoát? Chàng xoay quanh những ý tưởng ấy. Dù có hão huyền chàng vẫn không thể rời bỏ một khi ván cờ vừa bày ra. Ban đầu chàng phải cố thắng vị linh mục. Dù khó khăn cách mấy chàng sẽ cố mê hoặc vị linh mục, để ông ta chịu lao vào kế hoạch của chàng, thuyết phục ông ta, nịnh hót ông ta. Linh mục là lá bài tốt nhất trong tay chàng; những điều khác đều là chiêm bao. Ngoài ra còn sự bất ngờ và định mạng: kẻ treo cổ chàng có thể bị đau bụng, cọc treo có thể bị gãy đổ, cơ hội trốn thoát thình lình có thể xảy đến. Dù thế nào đi nữa Đan Thanh cũng không chịu chết một cách vô vọng và nhận chịu định mạng. Chàng phải kháng cự lại, phải chiến đấu, chàng phải đá chân tên gác, tấn công kẻ treo cổ, chàng phải đánh ngã chúng vì mạng sống của chàng trong giây phút cuối cùng này, cho đến giọt máu sau chót. Ôi, nếu chàng thuyết phục được vị linh mục mở trói cho chàng! Mục tiêu lớn lao kia sẽ thành tựu.

Trong khi ấy, chàng đã cố, dù còn đau buốt, dùng răng cắn đứt dây trói. Chàng gắng sức mãnh liệt và thành công, sau khoảng thời gian lâu kinh khủng, chàng đã làm sợi dây hơi lỏng ra. Chàng đứng trong bóng đêm nhà ngục thở hổn hển, cánh tay sưng vù và đôi tay nhức nhối. Khi chàng trở lại điều hòa, chàng lết dọc theo bờ tường, từng bước một, khám phá chỗ ướt nơi cạnh tường nhô ra. Rồi chàng nhớ lại những bước chân hụt ngã trong nhà ngục này. Chàng đã tìm ra. Chàng quỳ xuống và cố cứa sợi dây trói trên cạnh sắc của thềm đá. Thật là khó khăn. Quanh đi quẩn lại chỉ có cổ tay chàng, thay vì dây trói, đụng vào đá, đau tóe lửa và máu tuôn lênh láng. Nhưng chàng không chịu thua. Khi một tia sáng tinh sương chiếu rõ qua khe cửa, chàng đã thành công. Dây trói đã đứt, chàng có thể tháo ra, tay chàng đã được tự do. Nhưng sau đó chàng không thể cử động các ngón tay. Bàn tay chàng vẫn còn sưng húp và chết cứng, và cánh tay chàng tê dại cho đến đôi vai. Chàng phải tập cử động cho máu lưu thông trở lại. Bây giờ chàng đã có một mưu kế rất hay.

Nếu chàng không thể thuyết phục vị linh mục giúp đỡ chàng, và nếu họ để một mình vị linh mục với chàng dù trong thời gian thật ngắn, chàng sẽ giết ông ta với chiếc ghế đẩu. Chàng không thể bóp cổ vì tay còn yếu. Trước tiên phải đập chết vị linh mục rồi chuồn nhanh dưới lớp áo của ông ta. Khi thiên hạ phát giác người chết, chàng đã chạy xa khỏi tòa lâu đài, rồi chạy, chạy mãi. Mai sẽ để cho chàng vào nhà và che giấu chàng. Mưu tính này phải thực hiện bằng được.

Chưa bao giờ trong đời chàng, Đan Thanh ngắm nhìn sáng sớm tinh mơ một cách chăm chú, thèm muốn và hãi sợ như vậy. Chàng rùng mình, đầu óc quá căng thẳng vì quyết định trên, chàng quan sát mảnh ánh sáng dưới cánh cửa từ từ tỏ dần. Chàng trở lại nơi bàn, ngồi co ro trên chiếc ghế đẩu, tay bó gối, như vậy dây trói tháo khỏi cổ tay sẽ không bị nhận ra ngay. Kể từ lúc tay chàng được tự do chàng không tin là chàng phải chết nữa. Chàng cả quyết là sẽ thoát khỏi dù cả thế giới có phải vở tan ra. Chàng đã quyết định là phải sống với bất cứ giá nào. Mũi chàng phập phồng vì khao khát tự do và sống còn. Nào ai biết được, có thể có người nào đó ở bên ngoài sẽ đến cứu chàng. Ái Liên tuy là một người đàn bà nhưng nàng đã yêu chàng; có thể nàng sẽ làm một điều gì giúp chàng. Có thể chị Bạch bồi phòng đang quanh quẩn bên ngoài, và còn gã giữ ngựa đáng tin cậy? Và nếu không ai xuất hiện và không dấu hiệu nào đến với chàng, cũng được, chàng sẽ thi hành kế hoạch của chàng. Nếu không thành công, chàng sẽ giết lính gác với chiếc ghế đẩu, hai hoặc ba tên; càng nhiều nếu chúng xông vào nhiều. Chắc chắn chàng được một thuận lợi: mắt chàng đã quen với bóng tối xà lim. Bây giờ chàng nhận ra bằng trực giác tất cả đường nét, vóc dáng trong bóng mờ, mà những người khác lại quáng mắt khi mới bước vào.

Chàng nóng nảy nằm co ro trên bàn, nghĩ thật chu đáo phải nói thế nào với vị linh mục để đạt được sự hỗ trợ của ông ta, vì đó là điểm then chốt để khởi sự. Cùng lúc chàng khao khát nhìn ánh sáng đơn sơ đang bừng tỏa từ khe hở. Hiện giờ chàng mong muốn đến độ tuyệt vọng giây phút mà chàng đã lo sợ từ nhiều giờ qua. Chàng phải đợi một cách khó nhọc; thần kinh căng thẳng khủng khiếp và khó chịu đựng nổi nếu kéo dài lâu hơn. sức mạnh, cẩn trọng, năng lực của chàng trong quyết định này đang giảm dần. Lính gác phải đến nhanh với vị linh mục khi đôi tay chàng đã sẵn sàng thì ý chí cương quyết tự cứu thoát vẫn còn mạnh mẽ.

Cuối cùng thế giới bên ngoài đều thức dậy, kẻ thù nghịch tiến đến gần. Những bước chân vang lên trên nền gạch trong sân, chìa khóa được đút vào lỗ và vặn mạnh, mỗi tiếng động nổ lên như sấm sét sau thời gian dài lặng chết.

Thật chậm cánh cửa mở một khe hở, bản lề kêu lên cọt kẹt. Linh mục bước vào một mình, không lính gác, mang một chiếc thánh giá cắm hai ngọn nến khác xa những gì tên từ tội đã tưởng tượng.

Diễn biến thật lạ lùng: linh mục bước vào, sau lưng ông một bàn tay vô hình kéo cửa đóng lại, ông ta mặc y phục của tu viện Thánh Ân, chiếc áo dòng nổi tiếng và quen thuộc mà cha tu viện trưởng Từ Vân, cha An, cha Lương đã từng mang trên người.

Cảnh tượng trên đâm thủng tim chàng, chàng phải nhìn ra xa. Có thể y phục ấy là một điềm tốt. Nhưng rồi cũng phải giết ông ta vì đó là lối thoát duy nhất. Chàng cắn chặt răng. Thật khổ tâm cho chàng phải giết một thầy dòng.

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: