Trang chủ > Uncategorized > Chương 15

Chương 15

Cuối cùng rồi mục tiêu cũng đạt. Đan Thanh đã vào thành phố hằng khao khát cũng đã qua chiếc cổng mà cách đây nhiều năm chàng đã nhịp những bước đầu tiên tìm kiếm vị thầy. Những tin tức đã đến tai chàng trên đường đi vào thành phố. Chẳng biết là bệnh địch đã lan đến và có lẽ còn đang hoành hành, người ta kể cho chàng về các cuộc rối loạn rất đáng lo ngại và Hoàng đế đã phái một vị Thống đốc đến để tái lập trật tự, để ban hành những điều luật khẩn cấp, bảo vệ đời sống và tài sàn. Vị giám mục đã tức khắc rời khỏi thành phố ngay sau khi bệnh dịch bộc phát và đang cư ngụ thật xa nơi một trong những tòa lâu đài của ông ở miền quê. Gã lang thang không mấy chú ý những tin tức này. Khi mà thành phố vẫn còn đứng sững cùng với xưởng điêu khắc nơi chàng muốn làm việc thì mọi việc khác đều không đáng kể đối với chàng. Khi chàng đến nơi, bệnh dịch đã lắng dịu, mọi người đang trông chờ vị giám mục trở về và quan thống đốc ra đi, họ mong mỏi được sống trở lại một đời quen thuộc yên ổn.

Khi Đan Thanh gặp lại thành phố một cảm giác mà chàng chưa hề có, nỗi xúc động của kẻ trở về mái nhà xưa

dâng ngập lòng chàng, để tự trấn tĩnh, chàng tạo một bộ mặt nghiêm khắc, khác với bản tính hồn nhiên cố hữu. Tất cả vẫn ở nguyên vị trí: những vòm cửa, hồ nước xinh đẹp, chiếc tháp cổ kính vụng về của ngôi giáo đường và ngọn tháp mảnh khảnh mới xây của nhà thờ Saint Mary, gác chuông tươi sáng của nhà thờ Saint Laurence, khu chợ lộ thiên rộng lớn. Ôi, tất cả đều chờ đợi chàng. Có một lần trên đường đi, chàng đã mơ thấy mọi vật trở nên xa lạ và thay đổi, vài nơi sẽ điêu tàn và đổ nát, có những nơi không nhận ra nổi, vì nhiều cao ốc mới và cảnh trí không vừa mắt. Chàng bước qua những đường phố nước mắt lưng tròng và nhận ra từng căn nhà một. Chàng nhận thấy chính mình cũng đố kỵ với dân thành thị cư trú vững chãi trong ngôi nhà xinh xắn, trong an toàn, được bảo bọc, và tiện nghi, an lành vì có tổ ấm, họ sống với căn phòng và xưởng làm, chung quanh vợ con, người giúp việc và láng giềng.

Trời đã khá trưa, phía bên kia đường còn rọi nắng, nhà ốc, quán rượu, bảng hiệu của hội đoàn, những cánh cửa chạm trổ, và chậu hoa đang tắm mình trong ánh sáng nồng ấm. Không có gì nhắc nhở đến thần chết và điên loạn lo sợ đã bùng nổ. Con sông vắng lạnh, màu xanh nhạt, trong vắt vẫn róc rách xuôi dòng dưới chân cầu. Đan Thanh ngồi nghỉ giây lát trên bờ đập. Trời tối sầm, bầy cá vẫn tung tăng lội trong bóng mát dưới đáy sông xanh biếc như pha lê hoặc không cử động, nghếch miệng ngược với triều nước. Tia nắng vàng yếu ớt như ngày xưa vẫn rung rinh đó đây, rọi chiếu từ ánh sáng dưới đáy nước hứa hẹn và gợi đến mộng mơ. Những dòng nước nơi khác cũng có cá lội; những nhịp cầu và phố xá, cũng dâng hiến nhiều cảnh tượng đẹp mắt, chàng có cảm tưởng đã từ lâu chưa từng trông thấy, chưa từng cảm thức như hiện giờ. Hai cậu bé bán thịt đi ngang qua, tay dắt con bê. Chúng cười hát, liếc mắt và nói giỡn với con nhỏ giúp việc đang phơi áo quần trên bao lơn. Tất cả đều qua nhanh! vừa mới đây ngọn lửa bệnh dịch còn bốc khói và bây giờ nhịp sống trở lại bình thường, người ta lại cười vang đùa giỡn. Nhưng chàng không có gì đổi khác. Chàng ngồi đây, vui mừng được thấy lại cảnh vật ngày cũ, cảm thấy dễ chịu và thâm tình với những người định cư như thể không có chết chóc khốn khổ, không có Lan, không có cả nàng công chúa Do Thái. Chàng mỉm cười đứng lên và đi tiếp. Khi gần đến nhà thầy Không Lộ, trên con đường thuở xưa bao lần chàng đã đi qua, tim chàng bỗng se thắt, đau đớn và lo ngại trĩu nặng. Chàng muốn gặp thầy ngay hôm nay, muốn biết nơi thầy đang đứng. Chàng không thể chờ nổi đến hôm sau. Không hiểu thầy có còn giận chàng? Tất cả như đã xa xưa, và cũng không còn quan trọng, và nếu có chăng nữa, chàng cũng bất cần. Chàng chỉ cần thầy còn đó, thầy và xưởng điêu khắc của thầy, là tốt lắm rồi. Vội vàng, như sợ bỏ lỡ cơ hội cuối cùng, chàng tiến nhanh đến ngôi nhà quen thuộc, cầm ngay quả đấm và chàng sợ đến ớn lạnh vì cửa đã khóa chặt. Có phải là điềm không may? Trước đây, cửa không bao giờ khóa giữa ban ngày. Chàng để quả đấm rơi xuống và chờ đợi, băn khoăn chợt ào đến.

Một bà lão giúp việc ra mở cửa và đón chàng vào. Bà ta không xấu thêm chỉ già hơn và ít thiện cảm, bà chẳng nhớ Đan Thanh. Chàng hỏi thăm ông thầy giọng lo ngại. Bà lão nhìn chàng vẻ ngờ vực:

– Ông thầy à? Không có ông thầy nào ở đây. Hãy đi đi ông ạ, không ai vào được cả.

Bà lão cố đẩy chàng ra ngoài đường, chàng nắm lấy tay bà ta và gào lên:

– Hãy nói, bà Thanh, Chúa ơi! Tôi là Đan Thanh, bà không nhớ tôi sao? Tôi phải gặp thầy Không Lộ.

Không có vẻ gì mừng rỡ lộ trên gương mặt xa lạ của bà trong đôi mắt viễn thị.

– Không còn thầy Không Lộ ở đây nữa – bà ta lạnh lùng trả lời- ông ta đã chết. Hãy đi đi, tôi không phải đứng ở đây để chuyện trò.

Tất cả đều sụp đổ. Chàng đẩy bà lão qua một bên, bà ta chạy theo chàng, la lên khi chàng vội vã băng ngang qua hành lang tối om dẫn đến xưởng làm. Xưởng đóng cửa. Chàng leo lên cầu thang, bà lão vẫn lải nhải la mắng theo sau. Trong ánh sáng chập chờn của căn phòng thân thuộc, những bức tượng mà thầy Không Lộ đã sưu tập vẫn còn đó, chàng gọi to Ly Phương.

Cửa mở và Ly Phương bước vào. Chàng chỉ nhận ra nàng khi nhìn nàng lần thứ hai; quang cảnh trước mắt bóp nát tim chàng. Kể từ lúc lo ngại khi thấy cửa khóa, mọi vật trong nhà đều có vẻ ma quái và như chìm vào cơn ác mộng, nhưng giờ đây trông thấy dáng dấp Ly Phương, chàng bỗng rùng mình nổi gai. Nàng Ly Phương diễm lệ kiêu sa ngày nào, bây giờ trở thành một cô gái già dữ tợn trong chiếc áo đen đơn sơ, gương mặt nàng vàng vọt bệnh hoạn, đôi mắt bấn loạn và hãi sợ.

– Xin tha thứ cho tôi, chàng nói. Bà Thanh không muốn cho tôi vào. Cô có nhận ra tôi? Tôi là Đan Thanh, nói đi, trời ơi! Hãy nói đi, có phải là cha cô đã qua đời?

Qua ánh mắt, chàng biết là nàng đã nhận ra chàng, và chàng đứng đây thật là không phải lúc.

– Ồ, Ông là Đan Thanh? – Chàng nhận rõ vẻ kiêu kỳ trong giọng nói của nàng,- Ông có băn khoăn cũng vô ích. Cha tôi đã mất. Còn xưởng điêu khắc? Xưởng đã đóng cửa. Nếu ông muốn kiếm việc làm, ông nên đi nơi khác.

Chàng cố trấn tĩnh:

– Cô Ly Phương, chàng nói giọng thân mật, tôi không đến để tìm việc làm, tôi chỉ muốn đến cầu nguyện Chúa giáng phúc cho thầy và cô. Tôi rất đau buồn nghe tin ấy. Tôi thấy là cô đã trải qua những giờ phút khủng hoảng. Nếu một môn đệ biết ơn thầy, có thể làm gì được giúp cô, xin cô hãy nói, tôi rất vui lòng. Cô Ly Phương! Tim tôi tan nát khi trông thấy cô ra nông nỗi, tôi rất ân hận.

Nàng lui về phía cửa:

– Cám ơn ông, nàng nói ngập ngừng, ông không giúp ích gì cho cha tôi hoặc tôi được. Bà Thanh sẽ tiễn ông ra ngoài.

Giọng nàng buồn thảm, nửa giận dỗi, nửa run sợ. Chàng nghĩ rằng nếu nàng có can đảm, nàng sẽ mắng nhiếc chàng.

Rất nhanh chàng xuống dưới nhà, và bà lão đóng ập cửa sau lưng khóa chặt. Chàng có thể nghe tiếng vặn khô khan hai lần khóa lạch cạch vang dội đến chàng như nắp áo quan buông xuống.

Chàng bước chậm trở về bờ đập và ngồi xuống chỗ cũ bên dòng sông. Ánh dương đã lẩn khuất, hơi lạnh tỏa ra từ mặt nước, phiến đá nơi chàng ngồi cũng thấm lạnh. Con đường dọc theo bến sông trở nên vắng lặng. Triều nước un bọt quanh cột trụ dưới chân cầu; đáy sông tối hun hút, không còn tia sáng vàng vọt nào lấp lánh nữa. Chàng nghĩ phải chi ta vượt khỏi bờ đập, rơi xuống nước rồi biệt tăm. Một lần nữa, chàng thấy thế giới được thần chết bao phủ. Một giờ đã qua và hoàng hôn đi vào tối. Và rồi chàng thầm khóc, buồn bã và tức tưởi, những giọt lệ nồng ấm nhỏ xuống ướt cả tay và đầu gối. Chàng khóc cho vị thầy vừa nằm xuống, cho sắc đẹp tàn tạ ấy của Ly Phương, khóc cho Lan, Lỗ Bình, và Hương Vân, cho tuổi hoa niên của chàng đã hoang phí và úa tàn.

Vào khuya, chàng tìm đến quán rượu, nơi chàng đã một lần nâng ly với bạn hữu. Bà chủ quán nhớ mặt chàng. Chàng gọi một khúc bánh mì. Bà ta khá thân thiện; và bưng đến cho chàng thêm một cốc rượu. Chàng không sao nuốt nổi bánh và rượu. Đêm ấy chàng ngủ trên chiếc băng dài trong quán. Sáng sớm bà chủ quán gọi chàng dậy. Chàng cám ơn bà ta và ra đi, ăn hết khúc bánh mì trên đường.

Chàng bước đến khu chợ cá. Nơi ấy tọa lạc ngôi nhà mà chàng đã một lần ở trọ. Bên cạnh vòi nước, các bà bán cá đang rao hàng; chàng chăm chú nhìn vào thùng tròn, chiếu mắt vào những sinh vật lấp lánh dễ thương. Trước đây chàng đã thường nhìn ngắm như vậy. Chàng nhớ đến luồng cảm giác thương xót bầy cá và căm hận bọn bán cá lẫn khách đến mua. Chàng nhớ lại một buổi sáng chàng đang vơ vẩn nơi đây, lòng trắc ẩn nổi lên khi nhìn ngắm bầy cá, tâm tư chàng thật u uất. Thời gian thấm thoát thoi đưa, bao nhiêu con nước đã trôi dưới cầu. Chàng nhớ lại nỗi buồn chán trước đây nhưng vẫn không rõ được nguyên do. Chung quy rồi tất cả đều qua mau: nỗi buồn, đau khổ, tuyệt vọng cũng như niềm vui. Những ấn tượng vui buồn, đau đớn đã từng hằn sâu trong tâm tưởng, ngày theo tháng sẽ phai nhạt, giảm dần chiều sâu, mất hẳn ý nghĩa, và đến một thời điểm nào đó, chẳng còn nhớ đến ai đã làm khổ ai. Hoa ưu tư rồi cũng héo tàn. Và cơn đau của chàng hôm nay, một ngày kia có biến thành vô nghĩa và tàn lụn chăng? Chàng tuyệt vọng vì thầy đã qua đời mà chưa hòa thuận với chàng, chàng khổ sở vì không còn xưởng điêu khắc nào còn mở cửa để chàng có thể thường thức lạc thú trong sáng tác và giải phóng những hình ảnh mãi mãi đè nặng tâm tư chàng. Điều chắc chắn là niềm đau về nhu cầu sáng tác này rồi cũng lão hóa và mệt mỏi. Rồi ta cũng sẽ quên đi. Không có gì trường cửu, cả sự nuối tiếc cũng vậy.

Khi chàng chú mục vào đàn cá, hấp thụ những dòng tư tưởng trên, chàng nghe một giọng nói thân mật gọi tên chàng.

“Đan Thanh,” có ai gọi chàng rụt rè, và khi chàng ngẩng lên, chàng trông thấy một cô gái lịch sự, có vẻ bệnh hoạn, đôi mắt sâu đẹp lạ lùng. Chàng không quen biết cô bé.

“Đan Thanh, có phải anh đấy chăng?” Cô bé nhắc lại nàng là con gái ông chủ nhà đã mời chàng ly sữa nóng trong căn bếp vào buổi sáng chàng ra đi; nói xong mặt cô bé đỏ rần.

Vâng cô bé ấy là Mai, đứa trẻ bệnh hoạn đi khập khiễng ngày nào đã lo cho chàng, cô bé vẫn rụt rè và dịu dàng. Giờ đây chàng nhớ lại tất cả. Mai đã đợi chàng trong buổi sáng mát lạnh và rũ buồn khi chàng rời xa, đã đun sữa cho chàng, chàng đã hôn tặng và Mai đã im lặng nhận lãnh thật trang trọng, như nhận phép bí tích, chưa bao giờ chàng nghĩ đến Mai và bây giờ nàng đã trưởng thành, đôi mắt tuyệt đẹp, nhưng vẫn còn đi khập khiễng. Chàng bắt tay Mai. Chàng vui sướng vì còn có người trong thành phố này nhớ đến và yêu thương chàng.

Mai vẫn nắm lấy chàng, chàng không nhiệt tình lắm. Chàng được mời dùng cơm với song thân nàng trong gian phòng có treo bức họa của chàng và chiếc cốc màu đỏ hồng ngọc vẫn còn trên chiếc kệ lò sưởi. Cả nhà mời chàng ở lại vài hôm và sung sướng gặp lại chàng. Rồi chàng được biết những gì đã xảy ra trong nhà vị thầy. Không Lộ không phải chết vì bệnh dịch, nhưng cô Ly Phương xinh đẹp đã bị truyền nhiễm và ngã bệnh trầm trọng một thời gian dài; cha nàng đã nuôi bệnh nàng và ông đã qua đời vài tuần trước khi nàng lành bệnh. Nàng thoát chết nhưng vẻ đẹp không còn.

Xưởng điêu khắc bỏ không, ông chủ nhà nói. Chỉ còn là căn nhà xinh xắn với nhiều pho tượng và liền bạc thừa thãi. Hãy suy nghĩ đi Đan Thanh! Chắc cô ấy sẽ không từ chối. Cô ấy sẽ không thể chọn lựa được nữa.

Chàng nghe kể về những ngày bệnh dịch thao túng, bọn vô lại đã đốt cháy nhà thương ra sao, chúng tấn công và cướp bóc nhiều nhà giàu có, và có những lúc, sau khi vị giám mục bỏ trốn, thành phố sống trong cảnh vô trật tự và mất an ninh. Chính lúc ấy, vì du hành gần đấy, Hoàng đế đã phái đến một viên thống đốc là Bá tước Huân Lịch. Cũng tốt, ông ta là một nhà quý tộc thao lược. Ông ta chỉ cần vài người lính bộ binh và kỵ binh để tái lập trật tự. Nhưng bây giờ thời kỳ cai trị của ông ta sắp chấm dứt, dân chúng đang chờ vị giám mục trở về. Bá tước đã quá khe khắt với dân chúng và họ đã hết chịu nổi với cô nhân tình của ông ta tên là Ái Liên. Bấy lâu nay Hội đồng thành phố muốn bể đầu vì phải đối xử với viên võ tưởng cận thần, kẻ được Hoàng đế sủng ái, tiệc tùng luôn với các sứ thần như các bậc vương tử. Dân chúng đã quen với vị giám mục hiền hòa trước đây.

Bây giờ Đan Thanh được hỏi đến chuyến phiêu lưu của chàng

– Thật là đau thương, chàng nói giọng buồn nản, tôi chẳng muốn nói nhiều. Tôi đã lang thang và lang thang, bệnh dịch lan tràn khắp nơi, chết chóc xảy ra khắp chốn, ở đâu mọi người đều hóa điên và trở nên hung dữ vì quá sợ, có lẽ một ngày nào đó chúng ta sẽ quên hết. Tôi đã sống sót, và giờ đây tôi đã trở về nhưng vị thầy của tôi đã yên nghỉ! Xin cho tôi ở lại đây và tịnh dưỡng rồi tôi sẽ tiếp tục lãng du.

Không phải chàng ở lại để tịnh dưỡng. Chàng ở lại vì chán nản và chưa biết quyết định ra sao, vì nhiều kỷ niệm của đoạn đời yên vui trong thành phố yêu mến này, và cũng vì tình thương của cô bé Mai đáng mến đã sưởi ấm tim chàng. Chàng không thể trở lại như xưa, chàng không thể tặng nàng tình yêu, nhưng tình bạn và lòng trắc ẩn, vẻ từ tốn thầm lặng tôn kính của nàng đã ấp ủ tâm hồn chàng. Nhưng ngoài tất cả những điều ấy, chính con người nghệ sĩ trong chàng sống dậy với nhu cầu sáng tác sôi bỏng, đã giữ chàng lại nơi đây dù không còn xưởng điêu khắc, dù chỉ còn những phương tiện khả dĩ tạm bợ.

Mấy ngày qua, Đan Thanh không làm gì cả, chỉ vẽ. Mai đã tìm cho chàng bút và giấy, chàng ngồi vẽ trong phòng hết giờ này sang giờ khác, những tờ giấy vẽ rộng lớn hiện giờ đầy những nét phác họa, những gương mặt lịch sự tình tứ, chàng để mặc những hình ảnh tích trữ từ nội tâm tuôn trào lèn giấy. Chàng đã vẽ khuôn mặt của Lan nhiều lần cung cách nàng cười thỏa mãn, ánh mắt độc ác lẫn yêu thương ngay lúc tên vô lại ngã gục, và khuôn mặt nàng trong đêm cuối cùng, tất cả như một trình tự dần dần nóng chảy và tan rã để trở về với lòng đất. Chàng đã vẽ đứa bé nhà quê nằm chết ngang ngạch cửa với hàm răng cắn chặt, chiếc xe tang chất đống xác chết được ba con ngựa đáng thương kéo đi và những dân phu tống táng chạy theo bên hông xe tay cầm gậy gộc, đôi mắt họ nhấp nháy từ sau lỗ thủng chiếc mũ trùm đầu phòng bệnh. Chàng vẽ đi vẽ lại Hương Vân, cô gái mảnh mai có đôi mắt đen láy, chiếc miệng nhỏ kiêu kỳ, gương mặt buồn tiếc thương và phẫn uất; gương mặt diễm lệ và tươi trẻ của nàng như được sinh ra để yêu đương, nhất là chiếc miệng kiêu căng và chua chát. Chàng vẽ chính chàng, một gã lang thang, khách đa tình, kẻ thoát khỏi lưỡi hái tử thần, đang quay cuồng theo bọn điên loạn khát sống. Chàng ngồi đó tan loãng vào nền giấy trắng. Ly Phương khinh khinh, gương mặt thân thuộc những ngày xa xưa, bà lão Thanh giúp việc nhăn nhó và thầy Không Lộ vừa trữ tình vừa đáng sợ. Đã nhiều lần với nét bút sắc sảo, từ nguồn mạch trực giác chàng đã thử phác họa khuôn mặt người đàn bà cao vĩ, người Mẹ đại thể, dáng ngồi với đôi bàn tay trên tà áo, đôi mắt u ẩn thoáng cười. Ý niệm trào tuôn thành khuôn mặt đã dâng đến chàng niềm vui to tát. Nhiều ngày qua chàng đã vẽ hết xấp giấy của Mai. Chàng cắt mẫu vẽ trên tờ giấy và đến tờ cuối, chàng thảo sơ nét mặt Mai với đôi mắt tuyệt đẹp, chiếc miệng biểu lộ lòng hy sinh và tặng cả cho nàng.

Vẽ đã xoa dịu bao cảm giác đè nặng và giải tỏa nhiệt tình căng ứ đang muốn bùng nổ trong tâm tư chàng. Lúc vẽ chàng quên không biết mình đang ở đâu. thế giới của chàng không ngoài bàn vẽ, giấy trắng, ngọn nến về đêm. Hiện giờ chàng đã tỉnh thức, ghi nhớ tất cả những biến động mới nhất, thấy rõ nếp sống lang thang đã dẫn dắt chàng một cách ngẫu nhiên. Chàng lại thơ thẩn qua các phố, lòng lâng lâng giữa hai cảm giác tương phản, vừa muốn sống êm ấm dưới một mái nhà, vừa muốn lên đường viễn phương.

– Đang khi thơ thẩn, chàng đã gặp một người đàn bà. Nhìn nàng, tất cả cảm giác xáo trộn trong lòng chàng đều được qui tụ lại quanh một tâm điểm mới. Nàng đang phi ngựa, một thiếu phụ cao lớn, tóc vàng nhạt, vẻ hiếu động trong đôi mắt xanh mát lạnh, thân hình chắc nịch, mạnh khỏe, gương mặt nở hoa thèm khát dục lạc, một người có nghị lực, tự tín, giác quan tò mò và bén nhạy. Nàng ngồi trên lưng con ngựa nâu sẫm, vẻ hách dịch và ngạo mạn của một người quen hạ lệnh nhưng cũng không quá lãnh đạm. Mũi nàng phập phồng như muốn thu hút tất cả hương thơm trần thế và chiếc miệng mở rộng kia hiển nhiên đầy đủ mê lực chiếm giữ và hiến dâng tột đỉnh. Giây phút trông thấy nàng. Đan Thanh hoàn toàn thức tỉnh, lòng dâng tràn ham muốn được cùng nàng kết ước. Ý nghĩ chinh phục nàng chợt hiện đến như một mục tiêu cao cả cần phải phấn đấu và nếu có vì thế mà chàng phải gãy cổ thì âu cũng là một cái chết không đến nỗi tệ. Chàng cảm thấy người đẹp sư tử tóc vàng này rất tương xứng với mình, cảm quan phong phú đa tình, và dòng máu di truyền hoang dại ấy sẽ tuôn đổ mạnh mẽ vào đam mê say đắm. Khi nàng phi ngựa ngang qua, chàng nhìn theo. Giữa làn tóc vàng uốn cong và viền áo nhung, chàng trông thấy chiếc cổ nàng chắc nịch mạnh mẽ kiêu kỳ được làn da mịn màng bao bọc. Chàng nghĩ nàng là người đàn bà đẹp nhất chàng chưa từng gặp. Chàng muốn luồn tay áp trên vòng cổ ấy và cướp đọat vẻ bí ẩn xanh mát ngời lên từ đôi mắt. Không khó lắm nếu muốn khám phá nàng là ai. Không bao lâu chàng được biết nàng đang ngự trong một tòa lâu đài tên là Ái Liên, người tình của Bá tước. Điều này không làm chàng ngạc nhiên, con người nàng đã sẵn toát ra vẻ bà hoàng. Tại bể phun nước, chàng đã dừng bước soi mình. Gương mặt chàng so với thiếu phụ tóc vàng trông như hai anh em, chỉ khác một điều là đầu tóc chàng rối bù. Chàng đến anh thợ cạo quen, khiến y cắt tóc cạo râu và chải chuốt sạch sẽ.

Chàng đã đeo đuổi nàng hai ngày nay. Khi Ái Liên đi ra khỏi lâu đài, gã lạ mặt tóc vàng đứng chờ nơi cổng, ái mộ nhìn sâu vào mắt nàng. Ái Liên cưỡi ngựa quanh bờ thành và Đan Thanh đứng dưới cây du quan sát nàng. Nàng đến tiệm kim hoàn và khi nàng rời khỏi cửa hiệu, nàng bắt gặp gã lạ mặt. Tia mắt uy quyền phớt qua người chàng, mũi nàng run nhẹ. Sáng hôm sau nàng lại nhìn thấy chàng đứng chỗ cũ, nơi vòng ngựa thứ nhất, trong tư thế sẵn sàng. Nàng mỉm cười, liếc mắt thách thức. Chàng cũng đã thấy Bá tước, một con người quả quyết và oai nghiêm. Ông ta giữ vẻ nghiêm trọng, hàm râu đã hoa râm, thoáng lo âu và Đan Thanh cảm nghĩ trội hẳn ông ta.

Hai ngày nay chàng rất sung sướng hớn hở trở lại tuổi xuân nồng. Thật kỳ diệu khi xuất hiện trước người thiếu phụ và dâng tặng nàng trận giặc tình. Chàng thích thú được đặt sự tự do của mình dưới sắc đẹp của nàng. Một kích thích tuyệt vời và thâm trầm khi liều mình vào cuộc chơi. Vào buổi sáng ngày thứ ba, Ái Liên phi ngựa ra khỏi cổng lâu đài, mang theo tên giữ ngựa. Đôi mắt nàng tức khắc tìm kiếm gã săn đuổi và sẵn sàng lao vào trận chiến. Chàng đã đợi ở đấy, và nàng phái tên giữ ngựa đi công việc. Nàng cưỡi ngựa bước chậm trước một mình ra khỏi cổng và băng ngang qua cầu. Nàng chỉ quay lại nhìn một lần duy nhất gã lạ mặt bước theo sau. Nàng đợi chàng trên con đường đến nhà nguyện Thánh Vitus giờ này rất vắng vẻ. Nàng đã chờ khoảng nửa giờ vì gã lạ mặt bước thong thả, không muốn mệt ngất khi đến nơi. Chàng đã đến, tươi tỉnh và thoáng cười, miệng ngậm một nhánh cây có trái sơn trà đỏ chín. Nàng bước xuống buộc ngựa và đứng dựa vào bờ tường dây trường xuân, chăm chú vào gã đeo đuổi. Chàng đến bên nàng, nhìn vào trong ánh mắt nàng và cất mũ chào:

– Sao anh lại chạy theo tôi? Anh muốn gì nơi tôi? Nàng hỏi.

Chàng đáp:

– Tôi rất muốn dâng nàng một tặng phẩm hơn là được thọ nhận. Tôi muốn tặng tôi cho nàng, hỡi người đẹp hãy sai bảo tôi theo ý nàng.

Tốt lắm, tôi sẽ làm những gì có thể được. Nhưng nếu anh nghĩ rằng anh có thể hái đóa hoa nhỏ này mà không nguy hiểm thì anh đã lầm. Tôi chỉ có thể yêu người đàn ông nào dám đánh liều cuộc đời mình khi cần thiết.

Nàng có thể sai khiến tôi.

Nàng từ từ tháo chiếc vòng cổ và trao cho chàng:

– Anh tên gì?

– Đan Thanh.

– Tốt lắm, Đan Thanh, tôi sẽ thưởng thức hương vị từ đôi môi vàng ngọc của anh. Hãy nghe cho kỹ. Đêm đến, anh hãy cầm chiếc vòng này đến lâu đài và nói rằng anh đã nhặt được. nhớ đừng để mất chiếc vòng khỏi tay anh; tôi muốn nhận lại trực tiếp từ nơi anh. Hãy đến như hiện tại, hãy để họ xem anh như kẻ ăn xin. Nếu có kẻ tôi tớ nào la mắng anh, hãy giữ im lặng. Tôi chỉ có hai người đáng tin cậy trong lâu đài; anh giữ ngựa Mạnh, và chị bồi phòng Bạch. Anh phải gặp một trong hai người để họ dẫn đến tôi. Với tất cả những người khác trong lâu đài, kể cả Bá tước, anh phải xử sự thật cẩn trọng, họ đều là thù nghịch. Tôi đã báo trước cho anh. Anh phải trả giá bằng cả cuộc đời anh.

Nàng đưa tay ra, chàng cầm lấy, tươi cười, dịu dàng hôn lên, và áp nhẹ má chàng lên tay nàng. Rồi chàng cầm chiếc vòng cổ, bước xuống ngọn đồi, tiến đến dòng sông trong thành phố. Những vườn nho đã trơ trụi, từng chiếc lá úa vàng lìa cành bay lác đác. Đan Thanh mỉm cười nhìn xuống phố thị mật thiết đáng yêu. Mấy ngày trước đây chàng còn buồn vì khốn khổ, đớn đau, và hiện giờ, thực sự nỗi buồn mới trôi đi, lất phất rơi rụng như lá vàng xa cành. Chàng cảm tưởng như chưa bao giờ tình yêu lại bừng tỏa rực rỡ như lúc này. Vóc dáng người thiếu phụ cao lớn và nhựa sống tràn đầy của nàng đã gợi đến hình ảnh người mẹ mà ngày còn bé ở tu viện Thánh Ân chàng đã mang sâu vào tâm khảm. Trước đây hai ngày chàng đã không thể ngờ rằng cuộc đời lại có thể tươi vui, rằng chàng lại cảm nhận một lần nữa dòng sống hân hoan và tuổi trẻ đang tuôn trào ồ ạt trong mạch máu. Còn vui mừng nào hơn khi ta được sống còn, được tử thần dung tha sau bao ngày khủng khiếp.

Chàng đến lâu đài vào chiều tối. Trong sân thật là ồn ào; bầy ngựa đang được cất yên, các sứ giả bước đến vội vã. Bọn hầu cận đang hướng dẫn phái đoàn mục sư và chức sắc tòa thánh vào công đường. Đan Thanh muốn đi theo họ nhưng người gác cổng đã giữ chàng lại. Chàng đưa ra chiếc vòng cổ vàng và nói rằng chàng được chỉ thị phải trao tận tay không ai khác hơn ngoài chính phu nhân hoặc chị bồi phòng. Chàng được một người hầu cận dẫn đến ngồi đợi khá lâu trong hành lang. Cuối cùng một thiếu phụ xinh đẹp hiện ra, nhanh nhẹn đi ngang qua chàng và hỏi nhỏ nhẹ: “Anh có phải là Đan Thanh?” Bà ta ra hiệu cho chàng đi theo rồi im lặng biến mất sau một cánh cửa, một lát sau bà ta trở lại và ra dấu cho chàng bước vào. Chàng vào trong một căn phòng nhỏ thơm ngát mùi áo lông và nước hoa, áo dài, áo khoác ngoài và mũ phụ nữ máng trong tủ gỗ đứng, đủ loại giày ống đàn bà trong rương lớn. Chàng đã đứng đợi ở đấy khoảng nừa giờ, hít hương thơm từ các bộ áo dài, vuốt nhẹ lên chiếc áo lông, và tò mò cười với tất cả vải vóc treo phủ.

Cuối cùng cửa mở, không phải chị bồi phòng mà chính Ái Liên, trong chiếc áo xanh nhạt, và tấm lông choàng quanh cổ. Nàng đang thong thả đến với kẻ chờ đợi, từng bước một, đôi mắt xanh mát nhìn chàng trang nghiêm.

– Anh đã phải đợi, nàng thì thầm, tôi nghĩ chúng ta đang an toàn. Một phái đoàn chức sắc giáo hội đang làm việc với Bá tước. Bá tước sẽ dùng cơm với họ, có lẽ họ cần bàn bạc lâu. Hội nghị với các mục sư lúc nào cũng kéo dài. Thời gian hiện giờ là của riêng anh và tôi. Mừng anh, Đan Thanh.

Nàng nghiêng người về chàng, đôi môi đòi hỏi tiến sát đôi môi chàng, họ chào đón nhau lặng lẽ bằng chiếc hôn đầu. Từ từ chàng đan kín đôi bàn tay quanh cổ nàng. Nàng dẫn chàng qua cửa bước vào phòng ngủ cao ráo có ánh nến soi sáng. Trên bàn đã dọn sẵn một bữa ăn. Họ ngồi xuống;

nàng mời chàng bánh mì bơ, thịt và rượu nho trắng trong chiếc cốc xinh xắn. Họ ăn và cùng uống chung một cốc, tay họ không rời nhau. Nàng hỏi chàng:

– Anh từ đâu đến, hỡi con chim xinh xinh? Có phải anh là một hiệp khách, nhạc sĩ, hay chỉ là gã lang thang đáng thương?

– Tôi là tất cả những gì nàng muốn – chàng cười êm dịu – Tôi thuộc về nàng tất cả. Là nhạc sĩ nếu nàng là cây đàn kỳ diệu. Khi tôi ấp tay quanh cổ nàng để đàn lên nốt nhạc thần tiên, đôi ta sẽ cùng nghe. Đến đây, trái tim của tôi, tôi không phải ở đây để ăn bánh và uống rượu nho. Tôi đến chỉ vì nàng.

Chàng êm đềm tháo tấm lông choàng quanh cổ nàng. Bên ngoài quan chức và mục sư còn hội nghị, quân hầu cận vẫn chạy lăng xăng, mảnh trăng lưỡi liềm mỏng nhánh lơ lửng phía xa, sau đám cây. Đôi tình nhân không còn biết gì khác, đối với họ thiên đàng đang nở hoa. Họ tan biến vào nhau trong trời đêm ngát hương. Chưa bao giờ người nhạc sĩ gảy khúc đàn hay tuyệt điệu, chưa bao giờ cây đàn lại ngân vang đưới ngón tay rắn rỏi và thành thạo như vậy.

Đan Thanh, nàng thì thào rót vào tai chàng. Ôi! Anh như tên phù thủy! Đan Thanh yêu đấu! Tôi muốn chết với anh. Hãy uống cạn em, anh yêu, đốt em tan chảy, hãy giết em đi!

Một âm điệu vui sướng thoát ra từ cổ họng khi chàng thấy trong đôi mắt nàng vẻ lạnh lùng tan biến và chỉ còn nét yếu lả. Một thoáng run rẩy êm đềm chợt tắt trong đôi mắt sâu hút đã cạn nguồn sinh lực. Đó là ánh bạc lấp lánh trên làn da con cá dẫy chết, là ánh sáng lung linh kỳ ảo chiếu rọi từ lòng sông thăm thẳm. Tất cả hạnh phúc của kiếp người hình như đều ngưng đọng chỉ trong giây phút này.

Ngay sau đó, khi nàng còn run rẩy mắt nhắm nghiền, chàng thở dài và nói:

– Người tôi yêu quý, tôi phải rời xa nàng. Tôi chưa cảm thấy muốn chết, tôi không muốn Bá tước của nàng giết tôi. Trước hết, tôi muốn cả hai chúng ta đều hạnh phúc bên nhau như ngày hôm nay, và còn lần nữa, lần nữa.

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: