Trang chủ > Uncategorized > Chương 14

Chương 14

Trước khi mùa hạ tắt hẳn, cuộc sống trong căn chòi cũng chấm dứt một cách mà họ không ngờ đến. Một hôm Đan Thanh đang thơ thẩn loanh quanh với cây ná, hy vọng bắn trúng một con chim đa đa hoặc loại chim nào khác; thực phẩm càng ngày càng hiếm. Lan cũng ở quanh đấy, nàng lượm lặt những trái nhỏ và thỉnh thoảng chàng đến gần nàng để ngắm mái tóc, chiếc cổ nâu sẫm nổi bật trên tấm áo vải hoặc nghe nàng hát. Có một lần chàng lẻn đến nhón lấy vài quả; rồi chàng lại đi vơ vẩn, và lạc mất bóng nàng trong chốc lát. Chàng nghĩ đến nàng, vừa êm đềm vừa khó chịu vì nàng hay đề cập đến mùa thu và tương lai sắp đến. Nàng nói rằng nàng đã mang thai nên không thể để chàng bỏ đi nữa. Bây giờ sắp đến lúc phải chấm đứt, chàng nghĩ: Tôi đã đủ rồi, tôi sẽ lãng du một mình, tôi sẽ rời bỏ cả Lỗ Bình. Tôi sẽ cố gắng trở về đô thị lớn khi trời bắt đầu vào đông, về với thầy Không Lộ. Tất cả mùa đông của tôi trôi qua nơi ấy và mùa xuân tới, tôi sẽ mua đôi giày mới rồi lại đi, đi nữa, đi đến tu viện Thánh Ân của chúng tôi và chào mừng Huyền Minh. Đã mười năm qua tôi không được gặp Huyền Minh, và tôi phải gặp lại anh dù chỉ một hoặc hai ngày.

Một tiếng vang không quen thuộc làm chàng bừng tỉnh khỏi dòng suy tưởng, và chàng ý thức là mọi tư tưởng và ước muốn đã hoàn toàn tách chàng khỏi nơi đây. Chàng chú tâm nghe ngóng. Âm thanh sợ hãi nổi lên trong lòng chàng, chàng nhận ra giọng nói của Lan và chạy theo tiếng của nàng, tuy không thích bị nàng gọi lại. Chàng bước nhanh; tiếng vang đó là tiếng gọi của Lan. Nàng đã gọi tên chàng như đang trong cơn đau tột cùng. Chàng chạy nhanh hơn, vẫn còn đôi chút khó chịu, nhưng thương xót và lo ngại đã gần kề, và nàng tiếp tục la thét. Cuối cùng khi chàng nhìn thấy nàng, nàng đang quỳ giữa ruộng vắng, chiếc áo nàng bị xé tan nát, nàng đang kêu thét và vật lộn với một tên đàn ông dự tính cưỡng đoạt nàng. Đan Thanh chạy và phóng nhanh tới. Bao nhiêu tức bực đã dồn nén trong chàng, áy náy và phiền muộn đã bùng nổ vào cơn giận khốc liệt và trút xuống tên vô lại kia. Chàng đã làm hắn bất ngờ khi hắn cố đè Lan xuống đất. Đôi ngực trần của nàng chảy máu, tên lạ mặt thèm khát kia đã níu giữ nàng. Đan Thanh ngã bổ lên người hắn, móng tay cuồng nộ của chàng vồ lấy họng hắn, da hắn mỏng và căng thẳng, phủ lên một lớp râu rậm. Đan Thanh khoái trá siết họng hắn cho đến khi hắn buông cô gái ra và mềm nhũn trong đôi bàn tay chàng; vẫn bóp chặt, Đan Thanh kéo lê tên kiệt sức gần chết trên mặt đất đến những trụ đá trồi lên từ dưới đất. Chàng dựng tên bại trận lên, hắn cũng khá nặng, lần thứ hai rồi lần thứ ba và đập bể đầu hắn trên phiến đá có cạnh sắc, bẻ cổ hắn và đẩy thân hắn xuống, căm hận vẫn chưa trút hết, chàng còn muốn tùng xẻo tên ấy.

Hớn hở, Lan ngồi xuống và nhìn. Ngực của nàng đang

rỉ máu, nàng vẫn còn run và thở hổn hển, nhưng chẳng mấy chốc nàng đã lấy lại bình tĩnh. Tuyệt vọng, thèm khát và ái mộ, nàng quan sát người yêu khỏe mạnh của mình kéo tên đột nhập ngang qua cây thạch thảo, siết họng hắn, bẻ cổ hắn, và xô thây hắn xuống. Như một con rắn chết, mềm nhũn và vặn vẹo, xác hắn nằm dài trên đất, gương mặt xám ngoẹt, hàm râu bù xù và mái tóc mềm rơi xõa một bên rất thảm hại. Đắc thắng, Lan đứng lên ngã vào lòng Đan Thanh, nhưng bỗng nhiên nàng tái xanh. Mệt mỏi và run rẩy, nàng ngã vào bụi cây sim, nhưng không lâu nàng được Đan Thanh dìu về đến chòi. Chàng rửa ngực cho nàng, một bên bị trầy trụa và có dấu răng tên cướp.

Câu chuyện này đã kích thích Lỗ Bình khá mạnh. Hắn nóng ruột hỏi chi tiết trận đấu. “Anh đã bẻ cổ hắn phải không? Tuyệt quá! Đan Thanh, anh là một con người đáng sợ thật!”

Nhưng Đan Thanh không thích nói đến việc ấy nữa, chàng đã nguội lạnh. Khi chàng đã rời xa người chết, gã khốn khổ Viên khoác lác lại hiện đến trong tâm trí chàng. Bàn tay chàng đã giết người lần thứ hai. Để cho Lỗ Bình im tiếng, chàng bảo: “Bây giờ em phải giúp một việc, dọn thây ma đi. Nếu không đào nổi một cái hố cho hắn, hãy kéo hắn đến đám sậy hoặc lấp hắn lại với đất đá.” Nhưng Lỗ Bình từ chối, hắn không muốn nhúng tay vào xác chết vì không thể biết chắc được nó có bị nhiễm dịch hay không.

Lan lại ngã bệnh, vết cắn trên ngực làm nàng đau, nhưng rồi nàng thấy bớt; nàng trở dậy được, nhóm lửa và nấu sữa buổi chiều, nàng thấy vui vẻ nhưng Đan Thanh bảo nàng vào giường nghỉ. Nàng vâng lời như một con cừu non và vắn một lòng ái mộ chàng. Đan Thanh u buồn và trầm ngâm; Lỗ Bình nhận biết và để chàng một mình. Đan Thanh vào giường rất trễ. Chàng khòm lưng trên người Lan để nghe ngóng. Nàng đang ngủ, chàng cảm thấy không yên, chàng cố đừng nghĩ đến Viên, một cảm tưởng đau đớn và thúc bách bắt chàng phải thay đổi lối sống khác, ngôi nhà vui thú đã đến hồi chấm dứt. Một việc đã làm chàng đặc biệt quan tâm. Chàng đã bắt gặp ánh mắt của Lan khi chàng đánh chết tên vô lại và quăng hắn xuống. Ánh mắt nàng thật kỳ lạ. Chàng biết rằng sẽ không bao giờ quên được. Kiêu hãnh và đắc thắng đã phóng ra từ đôi mắt mở to của Lan, kinh hoàng lẫn thích thú, một đam mê nóng bỏng khao khát được dự phần vào việc trả thù và giết người. Chưa bao giờ chàng trông thấy một khuôn mặt đàn bà như vậy, và không bao giờ chàng tưởng nổi một ánh mắt như thế. Không vì ánh mắt ấy, chàng nghĩ, một ngày kia hoặc vài năm sau, chàng sẽ quên gương mặt Lan. Ánh mắt ấy đã làm gương mặt người thôn nữ trở nên mông lung, kiều diễm và khủng khiếp. Nhiều tháng qua, nhãn quan chàng vẫn chưa rút thêm kinh nghiệm nào để cho chàng được mãn nguyện. “Phải vẽ cho kỳ được!” Giờ đây ánh mắt ấy đã thúc đẩy ước nguyện trên bàng hoàng rung chuyển khắp người chàng.

Chàng không thể ngủ, và cuối cùng trổi dậy ra ngoài. Trời mát lạnh, một cơn gió nhẹ nô đùa trong đám bạch hoa, chàng bước trong bóng đêm, ngồi trên tảng đá, chìm đắm trong tư duy và buồn nản. Chàng ân hận vì Viên và tên bị chàng giết hôm nay. Chàng nuối tiếc tâm hồn thơ dại trong trắng không còn nữa. Chàng đã bỏ tu viện ra đi, rời xa Huyền Minh, lầm lỗi với thầy Không Lộ và từ chối tình duyên với Ly Phương diễm lệ chỉ đến đây, giữa bãi đất hoang, bắt những con thú đi lạc, và giết chết gã khốn nạn trên tảng đá này sao? Tất cả có nghĩa lý gì không? Có phải là một kinh nghiệm sống đáng giá? Tâm tư chàng quặn thắt vì không tìm ra ý nghĩa và chàng tự khinh bỉ mình. Chàng buông mình nằm xuống và nhìn đăm đăm áng mây đêm nhạt nhòa, luồng tư tưởng bỗng nhiên đứt đoạn, chàng không rõ đó là mây mù giăng mắc trên nền trời hay trong thế giới nội tâm tẻ ngắt của chính mình, vừa lúc chàng thiêm thiếp trên tảng đá, đột nhiên một gương mặt mông lung yếu ớt hiển hiện như một tia sáng từ nơi xa xôi rọi đến đám mây trôi bềnh bồng, gương mặt của Mẹ, trĩu nặng và u ẩn, và đôi mắt ấy chợt mở rộng, đôi mắt to đầy nhục cảm và sát nhân. Đan Thanh ngủ thiếp cho đến khi sương lạnh thấm ướt.

Ngày hôm sau Lan trở bệnh. Họ bắt nàng nằm nghỉ trên giường, và họ còn nhiều việc cần phải thanh toán: buổi sáng, Lỗ Bình đã trông thấy hai con trừu trong khu rừng nhỏ, chúng bỏ chạy. Hắn gọi Đan Thanh và nửa ngày sau họ rượt theo cho đến khi bắt được một con, họ quay về mệt lả. Lan có vẻ đau nặng. Đan Thanh khám nàng và thấy nàng nổi hạch. Chàng giữ nguyên bí mật, nhưng Lỗ Bình rất đa nghi. Khi hay tin Lan vẫn chưa bình phục, hắn không muốn ở trong chòi. Hắn ngủ ngoài trời và mang theo con dê vì sợ nó bị truyền nhiễm.

“Lao xuống địa ngục đi!” Đan Thanh hét vào mặt hắn giận dữ. “Đừng bao giờ để tôi thấy mặt nữa.” Chàng vồ lấy con dê, kéo nó đến chỗ của nó sau vách ngăn bằng cây đỗ tùng. Lỗ Bình biến mất không nói một lời, và cũng không mang theo con dê. Hắn sợ đến phát bệnh: sợ bệnh dịch, sợ Đan Thanh, sợ cô đơn và đêm tối. Hắn nằm ngủgần căn chòi.

Đan Thanh nói với Lan:

– Anh sẽ ở bên em, đừng lo sợ. Em sẽ mạnh.

Nàng gật đầu:

– Hãy cẩn thận, anh yêu quý. Đừng để lây bệnh; anh không nên đến gần em quá, đừng nên gắng sức để an ủi em. Em sắp chết, và em muốn chết hơn là thấy giường anh bỏ trống một buổi sáng nào đó vì anh đã rời xa em. Mỗi sáng em đều nghĩ như thế và rất sợ hãi. Không, em muốn chết.

Buổi sáng nàng yếu hẳn đi. Thỉnh thoảng chàng tiếp cho nàng vài hớp nước và ngủ một giấc ngắn giữa hai lần tiếp nước. dưới ánh sáng tỏ rạng, giờ đây chàng nhận diện dấu hiệu thần chết lớn vởn trên gương mặt Lan, trông nàng thật tàn tạ và yếu lả. Chàng bước ra ngoài đi bách bộ để hít thở không khí và ngắm bầu trời một lát. Vài khúc cây bách ửng đỏ nơi bìa rừng ngời sáng trong tia nắng đầu ngày, không khí mát lạnh và êm địu. Khoảng cách giữa các ngọn đồi vẫn còn mịt mờ trong đám mây tinh sương. Chàng đi vài bước kéo giãn đôi chân mỏi mệt và thở thật sâu. thế giới sáng nay thật đẹp. Có lẽ chàng nên lên đường trở về sớm. Đã đến giờ từ biệt. Lỗ Bình gọi chàng từ trong rừng. Nàng có bớt không? Nếu không phải là bệnh dịch thì hắn sẽ ở lại. Đan Thanh không giận hắn; lúc này hắn bận theo dõi con trừu.

– Hãy xuống địa ngục, mi và cả con trừu – Đan Thanh hét to với hắn – Lan đang hấp hối, và tôi cũng đã bị truyền nhiễm.

Chàng nói láo để cho Lỗ Bình đừng trở lại. Hắn cũng là người có ý tốt, nhưng Đan Thanh đã chán hắn. Hắn tỏ ra quá hèn nhát và quá nhỏ mọn đối với chàng; hắn thường lẩn mất khi có biến cố xảy đến. Lỗ Bình đi luôn và không trở lại. Mặt trời đã chiếu rực rỡ.

Khi Đan Thanh quay về với Lan, nàng còn ngủ. Chàng cùng rơi vào giấc ngủ và trong cơn mơ chàng đã thấy con Mây Mây xa xưa với cây dẻ tráng lệ trong tu viện; chàng có cảm giác như đang quay về mái nhà xinh đẹp vừa mất hút từ nơi xa xăm vô cực và hoang sơ. Và khi chàng thức giấc, nước mắt tuôn chảy xuống đôi má vàng sẫm lún phún râu. Chàng nghe Lan nói giọng rất yếu. Chàng nghĩ rằng nàng gọi chàng và ngồi lên giường nàng, nhưng nàng không nói với ai cả. Nàng đang lắp bắp những lời lẽ yêu đương, nguyền rủa; nàng cười nho nhỏ và bắt đầu thở dài thườn thượt rồi khóc nức nở. Từ từ nàng im lặng. Đan Thanh nhỏm dậy và cúi xuống gương mặt đã biến dạng. Đôi mắt chàng tò mò vẽ lại những đường nét thương yêu đã bắt đầu nhăn nhíu, méo mó dưới móng vuốt của tử thần.

“Hỡi Lan yêu quý,” tim chàng lên tiếng, “hỡi cô bé dịu hiền mến yêu, em cũng đã sẵn sàng lìa bỏ tôi ư? Phải chăng em cũng đã chán tôi?”

Chàng muốn bỏ đi xa. Đi lang thang, thơ thẩn, chạy rong hít thở khí trời cho đến mệt lả, và nhìn ngắm những hình ảnh mới lạ. Điều này tốt đối với chàng; và có lẽ sẽ giúp chàng vượt qua nỗi buồn. Nhưng chàng không thể bỏ đi ngay bây giờ. Không thể nào lìa bỏ một đứa bé đang nằm chết một mình. Chàng chỉ đi ra bên ngoài sau mỗi giờ để thờ không khí trong lành giây lát. Kể từ lúc Lan không còn nuốt được sữa, chàng đành uống thế. Không còn thức ăn nào khác. Thỉnh thoảng chàng dẫn con dê ra ngoài, cho nó ăn uống nước và chạy loanh quanh. Một lần nữa chàng đứng bên giường Lan, thì thào những lời nói êm ái bên tai nàng, không ngừng chú mục vào gương mặt nàng tuy ủ rũ nhưng tỉnh táo, chàng nhìn nàng đang hấp hối. Nàng vẫn còn sáng suốt. Đôi lúc nàng thiếp ngủ, và khi tỉnh dậy nàng chỉ hé mở mắt, đôi khi mỏi mệt và mềm nhũn. Sau mỗi giờ, cô gái trẻ già dần và từ mắt đến mũi, một vẻ mặt cụ già thoáng hiện nhanh chóng trên vầng cổ tươi trẻ. Ít khi nàng nói ra tiếng, thỉnh thoảng gọi “Đan Thanh” hoặc “anh yêu,” và mỗi khi nàng cố liếm ướt đôi môi tái xanh sưng húp; chàng tiếp cho nàng vài giọt nước. Nàng nhắm mắt vào buổi tối hôm sau. Nàng đã chết đi không một lời rên rỉ. Chỉ một thoáng run rẩy ngắn ngủi qua làn da, rồi hơi thở ngưng đọng. Tim chàng đập mạnh. Chàng nhớ lại con cá đang dẫy chết trong chợ mà chàng đã không ngớt thương cảm: Lan và con cá kia đều chết giống nhau, một thoáng run rẩy, một rùng mình nhẹ nhàng đầy thống khổ chạy lướt trên làn da và dập tắt mọi ham muốn và sức sống. Chàng đã quỳ bên Lan khá lâu, đi ra ngoài và ngồi xuống bụi thanh hao. Chàng nhớ lại con dê và trở vào trong chòi thả nó đi; nó nằm lăn trên đất. Chàng cũng nằm kế bên đầu tựa lên cạnh sườn của nó và ngủ vùi cho đến khi trời sáng tỏ hẳn. Chàng trở vào trong chòi lần chót, bước phía sau bức vách bện cây, và tìm kiếm lần cuối cùng gương mặt đau thương đã quá vãng. Chàng không muốn để nàng nằm đó. Chàng trở ra, ôm đầy củi và nhánh cây khô rồi ném cả vào trong chòi. Chàng châm lửa. Từ căn chòi chàng chỉ lấy theo hòn đá lửa. Trong chốc lát bức vách bằng cây đỗ tùng cháy rực lên. Chàng đứng bên ngoài và quan sát, gương mặt ửng đỏ vì ánh lửa, cho đến khi nguyên mái nhà cháy rụi và cây đà chống đầu tiên nổ lách tách. Con dê rên siết chạy nhảy trong kinh sợ. Chàng biết rằng muốn giữ sức lực cho cuộc hành trình chàng bắt buộc phải giết con vật và nướng thịt ăn. Nhưng chàng không đủ can đảm, chàng thả con dê trong bãi đất hoang rồi bỏ đi. Khói bốc lên từ đám lửa đuổi theo chàng đến tận khu rừng. Từ trước đến giờ chưa lúc nào chàng cảm thấy ảm đạm khi khởi đầu một cuộc hành trình như vậy. Và rồi cảnh vật chờ đón chàng còn tồi tệ hơn chàng tưởng. Những trang trại, làng xóm đầu tiên càng khủng khiếp hơn lên theo bước chân chàng đi. Nguyên một vùng rộng lớn đều ở dưới đám mây tử thần và trùm kín trong kinh hoàng, hãi sợ, u ám. Những ngôi nhà bỏ trống, những con chó đói chết ngay trên dây xích, thịt nát rữa, những xác chết không được mai táng rải rác khắp nơi; biết bao trẻ con đi xin ăn, và những huyệt mộ nơi cổng rào thành phố cũng chưa tồi tệ nhất. Tồi tệ nhất là những kẻ sống sót, họ tưởng như đã đánh mất cả mắt, cả linh hồn dưới sức mạnh của kinh khiếp và sợ hãi thần chết. Nơi nơi gã lang thang đi đến chỉ gặp toàn những chuyện quái dị và ghê sợ. Cha mẹ ruồng bỏ con cái, chồng xa lìa vợ khi họ mắc bệnh. Bọn ma cà rồng ngự trị và nắm quyền sinh sát. Chúng cướp phá những ngôi nhà bỏ trống, bỏ mặc xác chết không chốn cất hoặc kéo giựt kẻ hấp hối lên xe tang ngay từ trên giường họ trước khi họ được thở hơi cuối cùng. Những kẻ đào tẩu vì sợ hãi, lang thang đơn độc, trở thành mọi rợ, tránh tất cả mọi người vì bị tử thần đe dọa bám riết. Những kẻ khác tụ tập lại trong một đời sống khích động, ham muốn mãnh liệt, rượu chè, nhảy nhót, chơi bời dưới tiếng đàn hát của tử thần. Còn những kẻ khác ngồi co rúm ngoài nghĩa trang, tiếc thương, nguyền rủa, hoặc với đôi mắt điên loạn họ ngồi bên ngoài gian nhà trống của họ; và tồi tệ hơn cả là mọi người tìm cách buộc tội lẫn nhau vì những đau khổ cực độ của họ. Họ cho rằng đã biết kẻ mang bệnh tật đến, có ý đồ gây ra tội ác và không tiếc lời nguyền rủa kẻ ấy thậm tệ. Người ta nói có đám người hung ác, cười trên nỗi đau khổ của người khác; chúng truyền bệnh khắp nơi bằng cách trích chất độc từ các xác chết bôi trét lên tường và núm cửa, thả xuống nước giếng và cho súc vật ăn. Ai bị tình nghi là thủ phạm phải nhanh chân tẩu thoát nếu không muốn bị pháp luật và quần chúng đập chết. Người giàu đổ tội cho người nghèo hoặc ngược lại, hoặc cả hai đều đổ tội cho bọn Do Thái, bọn Pháp hoặc y sĩ. Nơi một đô thị, Đan Thanh rất đỗi kinh hoàng khi trước mắt: chàng cả một “ghetto” bị đốt cháy, từng nhà một lửa bốc ngút trời, những tên du côn tru tréo vây chung quanh, chúng dùng kiếm côn xô đẩy đám Do Thái đang tìm đường trốn chạy để bắt họ lại. Trong cơn điên cuồng vì quá hãi sợ, khắp nơi người ta chém giết, đốt phá và đày đọa những kẻ vô tội. Đan Thanh chứng kiến những cảnh tượng ấy, lòng căm hờn vì thế giới đang bị hủy diệt và đầu độc. Hình như không còn gì là vui thú, là ngây thơ trên mảnh đất này, không còn gì là yêu thương dưới vòm trời này. Trong những bữa tiệc cuồng loạn và thừa quá mức của những tay chơi đang cố vớt vát và hưởng thụ cuộc sống, đâu đâu cũng lan truyền tiếng đàn của thần chết. Chàng nhận ra rất nhanh loại âm thanh địa ngục ấy. Chàng đã thường tham dự nhiều cuộc chè chén say sưa điên khùng, đánh đàn hoặc khiêu vũ trong những đêm sôi động ấy dưới ánh đuốc bập bùng.

Chàng không Sợ; chàng đã nếm qua nỗi sợ chết giữa một đêm đông dưới hàng thông, khi móng vuốt gã Viên vồ

lấy họng chàng, và sau này trong cơn giá lạnh và đói khát của những ngày điêu đứng. Thần chết đã đến khắc nghiệt như thế với những ai dám chống trả, dám tự vệ và chàng đã một mình tự vệ, với đôi tay và chân run rẩy, với bao tử há hốc và thân xác kiệt quệ. Chàng đã chống trả, chiến thắng và trốn thoát. Nhưng không ai có thể chiến đấu nổi với cái chết từ bệnh dịch; ta chỉ biết phó mặc và thúc thủ để nó hoành hành. Đan Thanh đã nhẫn nại từ lâu. Chàng không sợ, chàng xem như không thiết tha với đời sống lâu dài, kể từ lúc chàng đã bỏ Lan ở lại trong căn chòi lửa cháy, để đi vào cuộc hành trình không kết thúc qua những vùng đất đã bị tử thần tàn phá. Nhưng tính tò mò cố hữu đã dẫn dắt chàng và giữ chàng tỉnh thức; chàng không biết mệt, chàng nhìn ngắm lưỡi hái tử thần, lắng nghe bài hát phù du của vạn vật. Chàng không đi lạc khỏi con đường của chàng. Nơi nơi chàng vẫn giữ nguyên một nỗi đam mê thầm lặng để tham dự hết các từng địa ngục với đôi mắt mở rộng. Chàng đã ăn bánh trong nhiều căn nhà bỏ trống, ca hát và nâng ly trong những bữa tiệc cuồng loạn, hái từng cánh hoa nhục cảm sớm úa tàn, nhìn thẳng vào đôi mắt say khướt của các bà, trực diện với đôi mắt đứng yên ngây dại của gã say và lợt lạt của người hấp hối. Chàng yêu thương vẻ tuyệt vọng nôn nóng của người đàn bà, chàng giúp mang xác chết để đổi lấy bát canh, lấp đất chôn những thi thể trần truồng vì 2 đồng “pennies.” Tất cả đều trở nên đen tối và hoang dại trong thế giới này. Thần chết đã tru lên bài ca của hắn và Đan Thanh đã lắng nghe trong cơn mê lạc say bỏng. Mục đích của chàng là thành phố của thầy Không Lộ; nơi mà nhịp tim reo vang lôi chàng đến. Con đường thật dài với bệnh tật, điêu tàn và chết chóc tiếp diễn.

Chàng đi trong buồn bã, nhiễm độc vì bài ca của tử thần, hồn mở rộng tiếp đón tiếng kêu thét khốn khổ của nhân gian, tuy ưu tư nhưng hứng khởi, những cảm quan đều bừng tỉnh.

Trong một tu viện chàng đã đến trước một bức họa mới vẽ trên tường. Chàng đã nhìn ngắm khá lâu bức họa: một vũ khúc của tử thần. Thần chết xanh xao, trơ xương và cả một đám đông nhảy múa từ cõi sống vào cõi chết: nào là vua chúa, mục sư, thầy dòng, bá tước, hiệp sĩ, y sĩ, nông phu, binh sĩ – trong khi ấy những bộ xương nhạc sĩ tấu nhạc với những ống xương hông. Đôi mắt tò mò của Đan Thanh đã bị bức họa thu hút hết. Một đồng nghiệp vô danh, đã áp dụng bài học mà chàng đã chứng kiến từ bệnh dịch hạch, và qua ngọn bút vẽ, đã thét lên tiếng kêu chát chúa, thấu đến tai mọi người bài thuyết giảng về cái chết không sao tránh được. Đó là một bức họa đẹp, một bài giảng thuyết hay. Người bạn vô danh đã nhìn thấy và vẽ lên chủ đề ấy. Từ bức họa man dại ấy, ngân vang một dư âm ghê rợn của những bộ xương. Nhưng đó không phải là những gì Đan Thanh đã thấy và chứng nghiệm. Đó là cái chết bị ép buộc đã được vẽ lên, một số mệnh khắc nghiệt và tàn nhẫn. Nhưng Đan Thanh lại thích một bức họa khác hơn. Trong tâm hồn chàng, bài ca hoang dại của thần chết có một tiết điệu hoàn toàn khác hẳn; không khô khan những xương và sọ, nhưng mật ngọt và quyến rũ hơn, như tiếng mẹ hát ru con, như lời mời gọi trở về mái ấm gia đình. Nơi nào bàn tay thần chết với đến sự sống âm thanh không chỉ là chát chúa và hiếu sát mà còn là thâm trầm và trữ tình, man mác hơi thu, là cửa hồn mở rộng, là ngọn đèn leo lét giữa lòng đời; càng kề sát với tử thần, càng bừng lên sáng ngời. Đối với những người khác, một chiến sĩ, một quan tòa hoặc tên đao phủ, cái chết mang bộ mặt một người cha nghiêm khắc. Đối với chàng cái chết như một bà mẹ và một người tình, đó là tiếng gọi của hôn phối, là xúc cảm yêu đương. Sau khi xem bức họa vũ khúc tử thần, Đan Thanh cảm thấy bị lôi cuốn về thầy Không Lộ và xưởng mỹ nghệ bằng một hấp lực mới. Đâu đâu chàng đều dừng lại trước cảnh tượng và kinh nghiệm mới. Mũi chàng run lên vì hít thở mùi tử khí. Nơi nào chàng cũng phải mất một giờ hoặc một ngày để giúp đỡ vì thương xót và hiếu kỳ. Một đứa bé nhà quê lên năm hay sáu, khóc mếu máo vì sắp chết đói đã theo chàng suốt ba ngày. Chàng đã cõng nó trên vai nhiều giờ liền. Chàng khổ sở không biết làm sao dứt của nợ. Cuối cùng chàng giao nó cho vợ một người phu mỏ. Chồng bà ta đã chết và bà muốn nuôi một đứa trẻ để có người hủ hỉ. Có một con chó vô chủ cũng đã theo chàng mấy hôm. Chàng cho nó ăn, nhờ nó chàng ngủ được ấm áp hơn, nhưng một buổi sáng nó cũng bỏ đi mất. Đan Thanh rất tiếc vì chàng đã quen chuyện vãn với nó. Có khi hằng giờ liền chàng nói về tội ác của con người, về sự hiện hữu của Chúa, về nghệ thuật, về gò ngực và bờ hông của Liên Kiều, cô gái trẻ con nhà quý tộc mà chàng đã biết hồi còn trẻ. Hiển nhiên là Đan Thanh đã hơi muốn điên suốt cuộc hành trình trong vòng tay thần chết: bất cứ ai sống giữa vùng; bệnh dịch đều hóa điên, và nhiều người đã điên hẳn. Có thể Hương Vân cũng hơi điên dại – một cô gái đẹp tăm tối với đôi mắt bốc lửa, chàng đã theo nàng suốt hai ngày qua.

Chàng đã gặp nàng bên ngoài một thị trấn nhỏ, ngồi co rúm trên cánh đồng gần đống gạch vụn, khóc nức nở,

tay vả vào mặt, bứt làn tóc đen huyền. Mái tóc nàng đã làm chàng động lòng. Một mái tóc tuyệt đẹp và chàng nắm lấy đôi tay hung dữ, giữ yên rồi nói với nàng, chú ý đến vẻ đẹp trên gương mặt và vóc dáng của nàng. Nàng đang khóc thương cha nàng đã bị đốt thành tro với 14 người Do Thái khác theo lệnh chánh quyền thị trấn. Nàng đã trốn thoát nhưng giờ đây lại tuyệt vọng quay về và tự kết án mình là đã không để đốt cháy với những người thân. Tuy nàng vẫn muốn giằng ra, chàng vẫn kiên nhẫn giữ lấy đôi lay nàng và dịu dàng nói với nàng, thỏ thẻ những lời êm ái và xin được giúp đỡ, bảo vệ nàng. Nàng nhờ chàng giúp chôn cất người cha. Họ gom tất cả xương từ đám tro còn ấm, mang đến một chỗ kín đáo rất xa trên cánh đồng và vùi xuống đất. Khi chiều buông xuống, Đan Thanh đi tìm một nơi để ngủ. Trong khu rừng sồi nhỏ chàng dọn một chỗ ngủ cho cô gái, và khi nàng đã nằm xuống, chàng hứa trông chừng nàng và lắng nghe tiếng nàng than thở, khóc tấm tức; cuối cùng nàng đi vào giấc ngủ. Rồi chàng cũng chợp mắt một lát, và sáng sớm chàng bắt đầu tán tỉnh nàng. Chàng nói rằng nàng không thể sống đơn độc như vậy, nàng Sẽ bị nhận diện là người Do Thái và bị giết chết, hoặc những khách bộ hành trụy lạc sẽ cưỡng đoạt nàng, rừng xanh không thiếu sói dữ và những tên giang hồ. Nếu chàng mang nàng theo dù sao đi nữa chàng cũng bảo vệ được nàng khỏi lũ sói và người. Vì chàng thương xót và yêu mến nàng, vì mắt chàng còn sáng để biết thưởng thức sắc đẹp – không bao giờ chàng cho phép làn mi thông minh hiền dịu và bờ vai tuyệt mỹ kia bị bầy thú nuốt sống hoặc để chết thiêu nơi cột dàn hỏa. Nàng lắng nghe, xịu mặt xuống rồi bổng nhảy vọt lên chạy mất. Chàng phải đuổi theo và tóm lấy nàng trước khi nói tiếp.

Vân ơi! Em có thấy là tôi có ý làm tổn hại em không? Em đang buồn, nhớ tiếc cha em, em chưa muốn nghe chuyện yêu đương lúc này. Nhưng ngày mai, ngày kia, hoặc sau này, tôi sẽ van xin em nữa. Cho đến khi tôi được bảo vệ em, mang thức ăn đến cho em và tôi không chạm đến người em. Hãy đau buồn đến lúc nào em muốn. Em có thể buồn hoặc vui với tôi. Luôn luôn em có thể làm những gì để mang nguồn vui đến với em.

Nhưng lời chàng nói đã bay theo gió. Nàng không muốn làm điều gì để tạo niềm vui, nàng vẫn nói chuyện giọng chua chát và quạu quọ. Nàng chỉ muốn làm điều gì mang đến sầu não. Không bao giờ nàng lại nghĩ đến một điều gì vui vẻ; chó sói sẽ nhanh chóng ăn thịt nàng có lẽ tốt hơn. Bây giờ chàng phải đi, chàng không thể làm điều gì được nữa, họ đã nói với nhau quá nhiều. Chàng nói:

Em à! Em có thấy chết chóc dẫy đầy khắp nơi? Trong bất cứ nhà nào, thị trấn nào, người ta đang chết, mọi vật đều khốn đốn. Sự tàn bạo của những kẻ ngu xuẩn đã đốt cháy cha em thật không nghĩa lý gì cả so với nỗi khốn khổ chung; đó là hậu quả của một sự thống khổ cùng cực. Hãy xem, rồi thần chết sẽ đến viếng chúng ta, và ta sẽ nát rữa ra trên cánh đồng và bầy chuột chũi sẽ chơi lúc lắc với những mành xương của ta. Ta hãy sống một chút trước khi đi đến như thế và hãy từ ái với nhau. Ôi! Vòng cổ trắng nõn nà và bắp chân thon nhỏ của em trông đáng thương làm sao! Hỡi em yêu dấu, hãy đến với tôi, tôi không chạm vào em. Tôi chỉ muốn nhìn em và lo lắng cho em.

Chàng van xin khá lâu. Bỗng nhiên chàng hiểu tại sao những lời nói và lý lẽ tán tỉnh nàng đều vô dụng. Chàng câm nín và nhìn nàng buồn bã, một gương mặt lộng lẫy kiêu sa, thẳng thắn từ khước.

Anh là người như thế đó, cuối cùng nàng lên tiếng, giọng căm hờn và khinh bỉ. Tâm địa một người Thiên Chúa giáo là như vậy đó! Ban đầu anh giúp đỡ một người con gái chôn cất cha của cô ấy, mà đồng bào anh đã giết chết, một móng tay của ông ấy còn đáng giá hơn tất cả con người anh, và khi mọi việc đã xong, người con gái phải thuộc quyền anh và đi giang hồ với anh. Anh như thế đó! Đầu tiên tôi nghĩ có lẽ anh là người tốt. Nhưng bây giờ anh lại ra như thế! Anh chỉ là một lũ heo!

Trong lúc nàng nói Đan Thanh nhận ra trong đôi mắt nàng, ẩn sau lòng căm hận, một cái gì lóe sáng khiến chàng xúc động tận đáy lòng và làm cho chàng hổ thẹn với chính mình. Chàng nhìn thấy trong ánh mắt nàng không phải thần chết đến ép buộc nàng từ bỏ cuộc đời mà chính nàng ao ước được chết, nàng lặng lẽ tuân phục và tự buông trôi theo tiếng gọi của người Mẹ đại thể.

Hương Vân, chàng nói giọng êm nhẹ, có lẽ em nói đúng. Tôi không phải là người tốt, tuy nhiên tôi có thiện ý đối với em. Hãy thứ lỗi cho tôi. Chỉ lúc này tôi mới hiểu được em.

Chàng cất mũ lên và cúi chào nàng kính cẩn như chào một bà công tước, và ra đi với trái tim se thắt; chàng phải để nàng chết. Một thời gian lâu dài chàng buồn bã và không nói lời nào. Ở vài khía cạnh nào đó, cô gái Do Thái kiêu sa đã nhắc đến Liên Đài, cô con gái nhà quý tộc, tuy hai người vẫn khác biệt nhau. Yêu loại phụ nữ này chỉ chuốc lấy khổ đau. Nhưng trong thoáng chốc chàng tưởng như chưa hề yêu người đàn bà nào, trừ hai người, Liên Đài đáng thương và Hương Vân chua chát.

chúng ta đã nghĩ đến cô gái ngăm đen tươi tắn ấy nhiều ngày và nhiều đêm mơ đến vẻ đẹp mảnh mai bốc lửa của thân thể nàng, hương sắc ấy đáng lý chỉ đành riêng cho lạc thú nhưng lại từ khước để đi vào cõi chết. Ôi bờ môi và gò ngực ấy sẽ ngã xuống làm mồi cho lũ heo để rồi nát rửa giữa đồng hoang! Không có sức mạnh hoặc phép lạ nào để cứu thoát đóa hoa thơm quý ấy sao? Có sức mạnh và phép lạ ấy đang tiếp tục sống trong hồn chàng, được chàng dung hợp và mãi mãi duy trì hình đáng ấy. Chàng kinh hoàng và khoan khoái khi ý thức tâm tư chàng đã chất chứa bao hình ảnh, suốt cuộc hành trình dài đăng đẳng qua vùng đất chết chóc, biết bao ý niệm về hội họa và điêu khắc đã in sâu vào ký ức. Ôi, sao người chàng căng phồng đến mức gần như vỡ toang vì những ý niệm ấy. Chàng khát vọng trở về với chính mình, về với những hình ảnh nội tâm để rồi hiển lộ thành những tác phẩm bất tử, chàng tiến tới hăng hái hơn, khát vọng dâng cao, đồi mắt mở to, giác quan tò mò, chàng cần hơn bao giờ hết giấy trắng, viết chì, thạch cao, gỗ và xưởng điêu khắc.

Mùa hạ qua mau. Nhiều người phỏng đoán bệnh truyền nhiễm sẽ chấm dứt khi thu đến hoặc lập đông. Một mùa thu không được vui. Đan Thanh đã đi ngang qua những vùng đất không còn ai hết để hái trái, mặc cho nó chín mùi rồi tự rơi rụng và mục nát trên đồng cỏ. Ở những nơi khác từng lũ đã man từ thị trấn đến cướp bóc, đập phá.

Chậm chậm Đan Thanh tiến đến gần mục tiêu, đôi khi chàng bị xâm chiếm bởi lo sợ có thể nhiễm bệnh và gục chết trong một chuồng bò nào đó trước khi đến nơi mong ước. Từ lâu chàng đã không còn muốn chết trước khi thưởng thức lạc thú được đứng một năm nữa trong xưởng điêu khắc và lao mình vào sáng tác. Lần đầu tiên đối với chàng thế giới sao quá rộng, đế quốc Đức quá to lớn. Không còn thị trấn đẹp đẽ nào cám dỗ được chàng cư ngụ, không một thôn nữ xinh tươi có thể giữ chàng lại hơn một đêm. Ở một nơi chàng đã đi ngang qua một ngôi nhà thờ. Trên khung cửa an vị nhiều tượng dán nơi chỗ hủng sâu và được chống đỡ bởi hàng cột nhỏ chạm trổ nhiều hình ảnh: nhiều pho tượng của Thiên thần, Thánh tông đồ và Thánh tử đạo, giống như những pho tượng chàng đã trông thấy nhiều lần trong tu viện Thánh Ân. Lúc trước trong tuổi thiếu niên, chàng đã nhìn ngắm, nhưng không biết say mê, chàng chỉ thấy đẹp và đáng tôn kính, đôi chút trang nghiêm, đường nét cứng đơ và cổ lỗ. về sau qua chuyến phiêu du đầu tiên dai dẳng, khi đã thích thú vì pho tượng Đức Mẹ buồn êm ả của thầy Không Lộ, chàng thấy những bức tượng đá uy nghiêm cổ xưa quá nặng nề, cứng ngắt và ngoại lai. Chàng chê những pho tượng ấy và nhận thấy đường nét mỹ thuật tân kỳ của vị thầy dễ thương hơn, dũng mãnh và sống động. Bây giờ quay về từ một thế giới đầy hình ảnh tâm tư chàng in rõ dấu vết bao cuộc phiêu lưu và kinh nghiệm khốc liệt ngập tràn niềm đau hoài vọng về ý thức sáng tạo mới lạ, chàng chợt xúc động dữ dội vì những bức tượng uy nghiêm và cổ kính ấy. Chàng nghiêng mình trước những pho tượng sùng kính ấy mà bên trong vẫn sống mãi trái tim thời cổ đại. Trải qua bao thế kỷ ưu tư và lạc thú của những thế hệ đã tiêu hoại, được khắc sâu vào tượng đá để trở nên bất tử với dòng thời gian. Lòng kính tín của chàng bỗng lóe lên từ vùng tâm thức vừa trở lại an nhiên và hốt hoảng trước cuộc đời băng hoại của chính mình.

Chàng đi tìm một nơi để xưng tội và xin cứu chuộc, việc làm mà bấy lâu nay chàng không hề nhớ đến.

Có nhiều phòng xưng tội trong nhà thờ nhưng không còn cha sở. Các cha đã chết hết, nằm trong bệnh viện hoặc đã bỏ đi nơi khác tránh bệnh dịch khủng khiếp. Nhà thờ vắng tanh. Bước chân Đan Thanh vang lên trong lòng giáo đường dưới vòm cung bằng đá. Chàng quỳ trước phòng xưng tội trống trơn, nhắm mắt lại và thì thầm thú tội. “Lạy Chúa, xin chúa đoái thương xem con sẻ ra sao. Con đã trở về từ thế gian. Con đã biến thành kẻ hung ác, một tên vô dụng. Con đã phung phá tuổi thanh xuân và giờ đây gần như chẳng còn gì nữa. Con đã giết người, con đã ăn cắp, đánh đĩ đi hoang, lười biếng và ăn quịt bánh của kẻ khác. Lạy Chúa kính yêu, tại sao Chúa lại tạo ra chúng con, sao Chúa dẫn dắt chúng con đi vào con đường ấy? Chúng con không phải là con của Chúa hay sao? Có phải con của Chúa đã chịu chết thay chúng con? Không có Thánh thần nào dẫn dắt chúng con ư? Hoặc tất cả những chuyện vui lạ ấy được tưởng tượng ra để kể cho lũ trẻ nghe, để các thầy dòng cười nhạo? Con đã bắt đầu nghi ngờ Chúa. Chúa đã tạo dựng một thế giới không tốt lành, thế giới của Chúa đang sống trong một kỷ cương tội ác. Con đã thấy những ngôi nhà chất đống thây ma, những con đường trải dài xác chết. Con đã thấy người giàu ẩn nấp trong nhà hoặc chạy trốn nơi khác, người nghèo để mặc anh em nằm chết không mai táng. Họ nghi kỵ lẫn nhau, họ tàn sát người Do Thái như súc vật. Con đã thấy biết bao người vô tội rên siết, ngã chết và nhiều kẻ hung ác vênh váo trong nếp sống sung mãn. Có phải Chúa đã hoàn toàn quên hết và bỏ rơi chúng con, có phải Chúa đã ghê tởm các đứa con của Chúa tạo dựng? Hay là Chúa muốn chúng con đều phải diệt vong?”

Làm dấu xong, chàng bước ra ngoài dưới cánh cửa cao lớn và nhìn những pho tượng câm lặng, thiên thần và các thánh đứng hốc hác và cao lớn trong những chiếc áo thụng gấp nếp cứng đơ và bất động, trông thật xa vời và siêu phàm, những pho tượng được chính bàn tay và trí não con người sáng tạo. Uy nghiêm và câm điếc, họ đứng đó trong chỗ trũng chật hẹp, bỏ ngoài tai những lời thỉnh nguyện, băn khoăn. Nhưng họ vẫn là niềm an ủi vô biên, họ chiến thắng thần chết và tuyệt vọng trong hào quang chói lọi và phẩm hạnh trang nghiêm của họ vẫn đứng vững khi con người sinh ra rồi chết đi, thế hệ này nối tiếp thế hệ sau. Ôi! Nàng Hương Vân xinh đẹp đáng thương rồi cũng đứng trên ấy với các pho tượng, tội nghiệp cho Lan đã chết thiêu đốt với căn chòi, và Liên Đài diễm lệ, và thầy Không Lộ! Một ngày kia tất cả đều sẽ đứng chung trên ấy và trường tồn vĩnh cứu. Chàng sẽ đặt họ lên trên ấy, những pho tượng biểu hiện cho tình yêu, cho đam mê khắc khoải, và đang dằn vặt chàng hôm nay. Họ sẽ đứng vững cho đến những thế hệ đời sau, không tên tuổi, không lịch sử, họ là biểu tượng thầm lặng của kiếp người.

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: