Trang chủ > Uncategorized > Chương 13

Chương 13

Suốt những ngày đầu trong cuộc sống lang thang mới, giữa cơn lốc khao khát lấy lại tự do, Đan Thanh phải học lại nếp sống không nhà, không giờ giấc của kẻ lữ hành. Không tùy thuộc một ai, chỉ tuân phục thời tiết và bốn mùa; ngoài mọi mục tiêu, không một mái ấm, không tư hữu; mở rộng vòng tay chờ đón định mệnh bất ngờ. Những kẻ lang bạt không nhà sống thơ dại và liều lĩnh, hư hỏng. Họ là con cháu của Adam bị đuổi khỏi Thiên Đàng, làm bạn với muông thú ngây thơ. Họ nhận chịu những gì Thượng Đế ban cho từng giờ từng khắc: nắng, mưa, sương, tuyết; ấm cúng và lạnh lẽo, sung túc và gian khổ, không có thời gian đối với họ, không lịch sử, không tham vọng, không cả thần tượng quái đản mang tên là tiến bộ và phát triển, mà những kẻ có nhà tin tưởng đến mức tuyệt vọng. Gã lang thang có thể mềm mỏng hoặc thô bạo, khéo léo hoặc vụng về, liều lĩnh hoặc nhát gan – tâm hồn gã luôn luôn chan chứa tuổi thơ, gã sống như ngày đầu tạo thiên lập địa, trước khi khai mở kỷ nguyên nhân loại. Kiếp sống của gã luôn luôn bị những bản năng thúc đẩy và nhu cầu dẫn dắt. Gã có thể thông minh hoặc ngu xuẩn, nhận thức thật sâu sắc những mảnh đời phù du, hiểu rằng mỗi sinh vật dù nhỏ nhoi đến đâu đều phải cưu mang trong mình dòng máu nóng để kéo dài kiếp sống ngang qua vũ trụ băng giá. Tuy gã chỉ biết nghe theo mệnh lệnh của bao tử xấu đói, hệt như một đứa bé tham ăn, luôn luôn gã là kẻ phản đối, là người thù đến chết của những ai có tài sản vững chắc. Gã ghét họ, khinh bỉ và sợ hãi họ, vì gã không muốn được nhắc nhở rằng mọi hiện hữu đều biến dịch, sự sống thì không ngừng tan rã còn cái chết tàn nhẫn và giá băng thì bao trùm khắp cả không gian.

Từ lâu tâm hồn Đan Thanh đã tiêm nhiễm và được un đúc trong nếp sống thơ dại của một gã lang thang, sống theo người mẹ suối nguồn, sống xa lánh luật lệ và lẽ phải, trôi lăn theo dòng đời và không ngừng mật thiết với cái chết. Tuy nhiên tâm thức và ý chí tồn tại trong người chàng, bản chất nghệ sĩ đã làm cuộc sống chàng thêm phong phú và lắm chông gai. Chính sự phân hóa và mâu thuẫn đã đơm hoa cho cuộc đời. Lý luận khô khan của nhân loại sẽ không còn giá trị nếu không biết đến say đắm đê mê. Nhục cảm sẽ mất hết khoái lạc nếu không có cái chết ẩn sau. Và tình yêu cũng chẳng còn thú vị nếu không có xung đột giữa nam và nữ tính.

Mùa hạ đã trôi đi thật xa, và thu cũng sắp tàn. Đan Thanh chiến đấu thật khó khăn qua những tháng ngày cay đắng; chàng đã lang thang say ngất suốt mùa xuân mật ngọt thơm lành. Bốn mùa thấm thoát đến rồi đi. Lần này và lần nữa nắng hạ chói chang rồi lịm tắt. Năm tháng trôi qua. Đan Thanh gần như quên bẵng những gì khác hơn là đói khát, ái ân và tiết mùa lặng lẽ tiếp nối. Hình như chàng đã chìm đắm toàn diện vào thế giới nguyên sơ của bản năng, của ngưỡng vọng về Mẹ. Trong những giấc mơ hoặc giây phút ngưng đọng trầm tư, khi nhìn qua bên kia thung lũng trổ hoa hoặc úa tàn, con người nghệ sĩ trong chàng mong ước đến tuyệt vọng khơi dậy mạch sống tâm linh để chấm dứt sự phi lý và mang lại ý nghĩa thực sự cho cuộc đời.

Một ngày kia chàng có một bạn đồng hành. Sau chuyến phiêu lưu đẫm máu với Viên, chàng chỉ du hành một mình. Người bạn này rất gian xảo, hắn đã ràng buộc vào chàng và quả thật chàng không thể buông hắn ra. Hắn không giống Viên. Hắn đi hành hương đến La Mã; trông hắn còn trẻ, mặc bộ áo choàng và mũ của người hành hương. Tên hắn là Lỗ Bình và nhà hắn ở gần hồ Constance. Lỗ Bình là con của một thợ thủ công. Có một thời hắn học tại trường dòng Thánh Gallus, và bây giờ cậu thanh niên chỉ có một ý muốn duy nhất trong đầu là hành hương đến La Mã. Đây là cao vọng ân huệ của hắn và hắn nắm ngay cơ hội đầu tiên để thực hiện. Cơ hội tự đến khi cha hắn qua đời, hắn là thợ mộc đóng đồ gỗ trong xưởng của ông cụ. Khi cha hắn nằm sâu một cách khó khăn trong lòng đất, Lỗ Bình thưa với mẹ và chị hắn là không có gì ngăn nổi hắn thỏa mãn ý định đi La Mã hành hương để chuộc tội cho cha hắn. Mẹ và chị hắn đã van lơn và quở trách nhưng đều vô hiệu. Hắn vẫn bướng bỉnh, và thay vì săn sóc mẹ và chị, hắn thu xếp chuyến đi, không cần mẹ hắn chấp thuận và hắn lên đường trong tiếng chị hắn mắng chửi. Phần lớn sự ham thích du lịch đã lôi cuốn hắn, ngoài ra hắn có thêm lòng kính tín phiến diện, cảm thấy cần đến các nơi linh thiêng dự các nghi thức thờ phụng, thánh lễ rửa tội, mai táng, trong mùi hương và ánh nến. Hắn biết chút ít tiếng La Tinh, nhưng với tâm hồn khờ dại hắn đã không rán sức học hỏi chỉ biết nhìn ngắm và kính mộ vòm cung giáo đường. Khi còn là một đứa trẻ, hắn lười biếng, nhiều đam mê và ưa việc tế tự. Đan Thanh không trọng nể hắn lắm, nhưng chàng mến hắn. Chàng cảm thấy hắn cùng chung huyết tộc vì đã tuân phục bản năng để lang thang qua nhiều chân trời mới. Vào lúc cha hắn qua đời, Lỗ Bình đã đến La Mã, nơi đó hắn được giúp đỡ trú ngụ trong các tu viện, hắn đã ngắm cảnh núi non ở phương Nam, lòng vui sướng, và được nghe giảng hàng trăm bài thánh kinh, được cầu nguyện ở các đền thờ nổi tiếng linh thiêng, nhận lãnh phép bí tích và hít thở hương thơm nhiều quá mức để rửa tội cho hắn và cha hắn. Hắn đã xa nhà một năm hoặc lâu hơn, và khi hắn trở về, hắn bước vô căn nhà nhỏ của cha hắn, hắn được đón nhận như một đứa con phá của. Trong thời gian ấy, chị hắn đã lãnh hết công việc và quyền hạn trong nhà. Chị đã thuê một người thợ mộc phụ và thành hôn với ông ấy; quản lý tất cả nhà xưởng cho nên khi hắn hành hương xong trở về hắn không còn được thâu dụng nữa. Khi hắn đề cập đến chuyến đi mới không ai bảo hắn ở lại. Hắn cũng không cảm thấy đau lòng lắm. Mẹ hắn cho hắn vài đồng “pennies”, hắn lại mặc vào bộ áo hành hương và lại thu xếp ra đi không mục đích rõ rệt, tự mình quyết định và trở thành gần như một mục sư lang thang. Những tấm mề đai kỷ niệm từ các đền đài danh tiếng trong cuộc hành hương và tràng hạt ân phước vẫn reo leng keng trong người hắn.

Hắn đã gặp Đan Thanh, cùng lang thang chung một ngày đường, trao đổi với chàng những kỷ niệm lữ hành; hắn lặn mất ở ngôi làng nhỏ sắp đến, rồi xuất hiện đây đó và cuối cùng chung sống với chàng như một kẻ đồng hành thân thiết, sẵn lòng giúp đỡ và chịu đựng nhau. Đan Thanh rất thích hắn. Hắn mua lòng chàng bằng cách giúp đỡ lặt vặt, hắn ngưỡng mộ óc thông thái, tính bạo dạn, tâm hồn chàng, và yêu mến hơi thở, sức mạnh, lòng thành thật của chàng. Cả hai đều hữu ích lẫn nhau, và Đan Thanh dễ dàng chấp nhận hắn đi chung. Có một điều hắn không chịu chàng là khi âu sầu và phiền muộn xâm chiếm, chàng vẫn ngạo nghễ giữ câm lặng, không chú ý đến một người nào khác. Trong cơn âu sầu không ai có thể chuyện trò cùng Đan Thanh hoặc hỏi thăm an ủi, cứ để mặc chàng và nên im lặng. Lỗ Bình học được điều trên khá nhanh. Hắn để ý Đan Thanh thuộc lòng nhiều bài thơ và bài hát tiếng La Tinh. Hắn đã nghe chàng giải thích về tượng đá bên ngoài cửa ngôi thánh đường, đã thấy chàng vẽ rất nhanh trên khoảng tường trống những khuôn mặt sống động lớn như thật và hắn nghĩ rằng bạn đồng hành của hắn đã được ân phước của Chúa và gần như là một nhà ảo thuật. Lỗ Bình cũng nhận thấy Đan Thanh là một tình nhân được đàn bà sủng ái, chỉ cần một liếc mắt hoặc cười duyên; dù không mến chuộng điểm không tốt này, hắn vẫn còn hâm mộ chàng.

Một hôm hành trình của họ bị gián đoạn một cách không ngờ. Vừa đến gần một ngôi làng, một nhóm nhỏ nông dân trang bị nào gậy gộc, đòn sào ra đón họ. Từ xa người cầm đầu đã hét vang bảo họ đi nơi khác ngay tức khắc và đừng bao giờ trở lại; bảo họ là ma quỷ phải chạy nhanh nếu không muốn bị đập chết. Đan Thanh dừng lại và muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Chàng được giải đáp bằng một viên đá ném ngay ngực. Chàng quay lại tìm Lỗ Bình, nhưng hắn đã chạy mất. Đám nông dân tiến đến đầy vẻ hăm dọa, và Đan Thanh không thể chọn lựa cách nào khác hơn là chạy theo người bạn đồng hành đang tẩu thoát. Lỗ Bình đứng chờ chàng, run lập cập dưới cây thánh giá giữa cánh đồng.

– Em chạy như một người hùng, Đan Thanh cười. Nhưng lũ heo đó đang nghĩ gì trong cái đầu bự của họ? Có đánh nhau à? Họ đặt lính gác có võ trang bên vòng ngoài cái làng nhỏ bé mục nát này, không cho ai vào. Tôi kinh ngạc không hiểu gì cả.

Lỗ Bình cũng chẳng hiểu mô tê. Nhưng sáng hôm sau, qua một trang trại biệt lập, họ đã phỏng đoán được phần nào điều bí mật. Trang trại gồm một căn chòi, một chuồng bò và một vựa lúa bao quanh bởi một luống đất xanh rì những cỏ cao và cây ăn trái; một nơi nằm ngủ im vắng lạ thường; không một tiếng nói, không ai đá bóng, không trẻ con cười la, không một tiếng động. Trong sân, một con bò đang rống lên giận dữ trong đám cỏ. Có lẽ đã đến giờ vắt sữa nó. Họ bước đến gõ cửa, không ai trả lời, họ bèn ra chuồng bò, cửa chuồng mở toang bỏ trống. Họ qua vựa lúa. Trên mái rơm, lớp rêu xanh tươi lóng lánh dưới ánh mặt trời, nhưng không thấy một bóng người nào. Họ trở lại ngôi nhà, kinh ngạc và chán nản vì trại vắng tanh. Nắm tay họ đập cửa nhiều lần, không ai lên tiếng. Đan Thanh thử mở cửa. Thật bất ngờ, cửa không khóa, chàng đẩy cửa và bước vào trong căn phòng tối mịt.

” Chúa ban ơn cho ông,” chàng gọi lớn. “Có ai ở nhà không?” Căn chòi vắng lặng. Lỗ Bình còn đứng bên ngoài. Thúc đẩy bởi sự tò mò, Đan Thanh vào hẳn bên trong. Có mùi hôi trong chòi, mùi kỳ lạ ghê tởm. Lò sưởi đầy tro. Chàng thổi vào: còn một ít tàn lửa đỏ trong lỗ sâu dưới khúc gỗ đã cháy thành than. Rồi chàng nhận ra có người ngồi ở đấy trên chiếc ghế dựa đang ngủ: trông như một bà lão. Có lẽ không nên gọi lớn: hình như cả nhà đều trong cơn mê. Chàng thân mật vỗ vai bà lão đang ngồi, nhưng bà ta không cử động và chàng thấy bà ta ngồi trên mạng nhện, và tơ nhện giăng từ tóc đến cằm. “Bà ấy đã chết,” chàng rùng mình nghĩ đến. Để biết chắc, chàng thử khều tro và thổi cho đến khi ngọn lửa bùng cháy, chàng đốt được một bó đuốc dài. Cầm ngọn lửa đến bên bà lão chàng thấy một gương mặt thây ma xám ngắt, dưới mái tóc hoa râm một con mắt còn mở như đổ chì, nhìn trừng trừng vào khoảng không. Bà lão đã chết ngồi trên ghế. Cũng tốt, bà sẽ được giúp đỡ ở bên kia thế giới. Với ánh sáng leo lét trong tay, Đan Thanh tìm vào bên trong. Cùng một gian phòng, ngang qua ngạch cửa đến phòng sau, chàng gặp một thi thể nữa, một đứa bé trai lên tám hoặc chín, mặt xinh lên biến dạng chỉ mang độc chiếc áo sơ mi. Đứa bé nằm vắt chiếc bụng ngang bực cửa, cả hai tay nắm chặt tức tối. Đan Thanh nghĩ đây là nạn nhân thứ hai. Giữa cơn mê kinh sợ, chàng bước vào gian phòng sau. Cửa mở toang, ánh sáng ban ngày tràn vào tận trong. Chàng cẩn thận tắt bó đuốc và phủi tàn lửa trên sàn nhà.

Có ba chiếc giường trong phòng sau. Một giường trống và rơm vương vãi dưới lớp khăn trải giường thô xám. Trên chiếc giường thứ hai, một người đàn ông râu ria, nằm ngửa người cứng đơ, đầu ông ta nghiêng qua phía sau, cằm và râu chĩa thẳng lên trần nhà; có lẽ là ông trại chủ. Gương mặt tiều tụy của ông lờ mờ màu chết nhợt nhạt quái dị, một cánh tay duỗi ra trên sàn nhà nơi chiếc bình bằng đất đựng nước biếc đẩy rớt xuống. Nước chảy lênh láng vì sàn nhà không thấm hết, xuống chỗ trũng và làm thành một vũng nhỏ. Trên chiếc giường thứ ba, một bà to lớn mạnh khỏe cuộn hết toàn thân trong đống khăn và chăn. Gương mặt bà ta dán chặt trên giường, và những sợi tóc thô màu vàng như rơm óng ánh dưới ánh sáng. Nằm chung vái bà ta là một cậu bé tóc cũng màu vàng rơm, trùm kín quanh mình tấm vải bèo nhèo, vết xanh xám trên gương mặt đã chết.

Mắt Đan Thanh nhảy từ thi thể này sang thi thể khác. Mặt cô bé hoàn toàn méo mó vì kinh hoàng, nhưng chàng vẫn nhìn ra một cái gì khủng khiếp trong cái chết không được cứu giúp. Trên cổ và tóc của bà mẹ, trên thân mình nằm lõm sâu trên giường, ta có thể đọc được sự giận dữ, kinh hãi và ước muốn khao khát trốn thoát, nhất là trong mái tóc hoang dại nói lên sự từ chối đi vào cõi chết. Gương mặt người trại chủ nói lên vẻ ương ngạnh và kiềm chế bên trong nỗi đau đớn. Ông đã chết một cách khổ sở, nhưng thật lạ, chiếc cằm nhiều râu vẫn nổi bật lên hiên ngang trong không gian như một chiến sĩ ngoài mặt trận. Dáng dấp thầm lặng, cương nghị, ngang tàng bất khuất của ông ta đẹp vô cùng. Có thể ông không phải là loại người tầm thường nhút nhát để bị chết như vậy. Thương tâm nhất là thi hài bé bỏng của cậu con trai nằm vắt bụng qua ngạch cửa. Gương mặt cậu không nói lên điều gì, nhưng dáng điệu nằm ngang ngạch cửa và hàm răng cắn chặt đã biểu lộ nhiều ý nghĩa: nỗi đau khổ không tưởng được, sự chiến đấu vô hiệu với nỗi đau đớn không tránh được. Phía trên đầu cậu bé là một lỗ mèo chun trong cánh cửa. Đan Thanh rất chăm chú quan sát mọi vật. Túp lều này đầy vẻ ma quái và mùi hôi tử thi, song tất cả vẫn hấp dẫn chàng. Quang cảnh đã nói lên một cái gì cao cả và định mệnh của kiếp người. Đây là sự thật không lý giải. Có một cái gì nơi đó xé nát tim chàng và thâm nhập vào tận đáy lòng.

Nôn nóng và lo sợ, Lỗ Bình đã lên tiếng gọi chàng phía ngoài. Đan Thanh vẫn quý mến Lỗ Bình nhưng trong giây phút này chàng lại xem thường và coi nhẹ hắn, một con người còn sống lại lo sợ, tò mò và khờ dại trước cảnh chết chóc cao cả thì thật là hèn kém. Chàng không trả lời Lỗ Bình; tự buông thả tất cả vào cảnh tượng trước mắt, với lòng bi mẫn xót xa pha lẫn một sự quan sát lạnh lùng của người nghệ sĩ. Chàng thu nhận hết mọi chi tiết: dáng nằm sóng sượt, những cái đầu và bàn tay, kiểu chết cứng lạnh. Túp lều như bị ma ám và cái mùi quái lạ khủng khiếp! Sao căn nhà nhỏ ảm đạm và ma quái thế! Với tàn lửa cháy đỏ trong lò sưởi, những thi hài còn đó, chết chóc thâm nhập và vây phủ. Không lâu thịt sẽ rữa ra từ những gương mặt thầm lặng, chuột bọ sẽ đục khoét. Và bao kẻ khác nằm trong cổ quan tài chôn kín dưới huyệt mộ âm u, một sự biến đổi cuối cùng và khốn nạn nhất: rữa ra rồi tan nát. Nơi căn nhà này, cả năm người cũng đang chịu nát rữa ra như vậy trong phòng riêng của họ, giữa ban ngày, sau cánh cửa không khóa; không có gì băn khoăn, hổ thẹn hoặc che đậy. Đan Thanh đã trông thấy nhiều tử thi nhưng chưa bao giờ giống tình huống này, những tác phẩm nghiệt ngã của tử thần và là bài học in sâu vào tâm trí chàng.

Cuối cùng Lỗ Bình hét to phía ngoài, ngôi nhà đã bắt đầu làm hắn lo lắng, rồi hắn bước ra. Người bạn đồng hành nhìn hắn hãi hùng.

– Việc gì đấy? Hắn hỏi nhỏ giọng, run sợ như có ai bóp cổ. Có ai trong nhà không? Trời ơi! Mặt anh sao vậy?

– Nói đi!

Đan Thanh nhìn dò xét hắn một cách lãnh đạm. “Hãy vào trong và nhìn qua, một trang trại thật là kinh dị! Rồi chúng ta sẽ vắt sữa con bò ngoài kia. Bước tới đi!”

Lỗ Bình ngập ngừng đi vào trong lều. Khám phá bà lão ngồi bên lò sưởi, hắn hét to kinh hoàng cho biết bà lão đã chết. Hắn bước trở ra, mắt tròn xoe hãi hùng:

– Chúa ơi! Một bà lão ngồi chết bên lò sưởi. Tại sao vậy? Sao không có ai ở với bà ta vậy? Sao họ không chôn bà ta? Chúa ơi! Bà ta đã có mùi!

Đan Thanh mỉm cười:

– Em là một đấng anh hùng, Lỗ Bình ạ, nhưng em trở ra quá sớm. Một bà lão ngồi chết trên ghế hẳn là một cảnh tượng hãi hùng, nhưng nếu em tiếp tục vài bước xa hơn, em sẽ thấy càng thêm hãi hùng hơn nữa. Có năm thây ma, Lỗ Bình ạ. Ba người nằm trên giường, một cậu bé nằm vắt ngang ngạch cửa, và một bà lão. Tất cả đều chết, trọn một gia đình. Mọi người giúp việc đều đi mất, cho nên không ai vắt sữa bò.

Kinh khiếp, Lỗ Bình nhìn chàng đăm đăm và bỗng nhiên hét lên, giọng như nghẹt thở:

– Bây giờ tôi hiểu tại sao đám nông dân không cho chúng ta vào làng hôm qua. Chúa ơi! Bây giờ tôi đã rõ tất cả. Bịnh dịch! Tôi thề chắc là một bịnh dịch, Đan Thanh, anh đã ở trong ấy từ nãy, có lẽ anh đã sờ vào các xác chết! Đi xa ra! Anh đừng đến gần tôi, tôi chắc rằng anh đã bị nhiễm trùng. Tôi rất tiếc, Đan Thanh, nhưng tôi phải đi, tôi không thể ở với anh.

Hắn quay lại định chạy, nhưng vướng chiếc áo choàng. Đan Tha nh nhìn hắn nghiêm khắc, thầm trách cứ, và túm

lấy hắn, kéo hắn lại.

– Cậu bé yêu quý, chàng nói giọng mỉa mai thân ái, em rất thông minh, ít ai ngờ được, có lẽ em có lý. Hay lắm, ta sẽ đi tìm nơi khác, một trang trại hoặc làng nào kế tiếp. Phải, có thể đây là bệnh dịch. Chúng ta sẽ biết chúng ta có thoát khỏi an lành hay không. Nhưng cậu Lỗ Bình, tôi không thể để em đi xa ngay bây giờ. Hãy nhìn, tôi rất mềm yếu, quá mềm yếu, và khi tôi nghĩ em có thể bị nhiễm bệnh nơi ấy, tôi không thể để em đi xa, nằm một nơi nào đó trên cánh đồng rồi gục chết chỉ có một mình, không ai vuốt mắt em hoặc đào cho em một nấm mộ và ném cho em một hòn đất. Không, bạn yêu quý, như vậy quá thê thảm. Hãy lắng nghe và nhớ những gì tôi nói, vì tôi sẽ không nói lại lần thứ hai. Chúng ta cùng chung trong hiểm nguy, em cũng như tôi, đều có thể bị quật ngã. Vì thế chúng ta hãy sống bên nhau, sẽ cùng chết với nhau hoặc cùng thoát khỏi bệnh dịch tai ách này. Nếu em nhiễm bệnh và nằm xuống, tôi sẽ an táng em, tôi hứa như vậy. Và nếu tôi có chết, thì tùy em, em có thể chôn tôi hoặc bỏ đi, tôi không màng đến. Nhưng cho đến lúc đó bạn ơi, không ai đi đâu cả, em hãy nhớ như vậy! Chúng ta đều cần cho nhau. Và bây giờ hãy câm miệng, tôi không muốn nghe một lời nào cả. Bây giờ em đi tìm một cái thùng nơi nào đó trong chuồng bò để chúng ta vắt sữa.

Họ đi làm việc và kể từ lúc ấy Đan Thanh ra lệnh và Lỗ Bình chấp hành cái sống êm thuận. Lỗ Bình hết còn tính bỏ trốn đi nơi khác. Hắn chỉ dịu dàng nói:

– Anh đã làm em hết hồn. Em chẳng thích khuôn mặt anh khi vừa bước ra căn nhà chết chóc. Em đã tưởng anh bị truyền nhiễm. Và nếu anh không bị đi nữa, khuôn mặt anh cũng đã biến dạng hoàn toàn. Những gì anh thấy trong đó khủng khiếp lắm sao?

– Không có gì khủng khiếp lắm, Đan Thanh nói chậm rãi. Tôi không thấy gì cả, đó là cái gì đang chờ em hoặc tôi hoặc bất cứ người nào, dù chúng ta không bị truyền nhiễm đi nữa.

Và khi họ lên đường đi lang thang, bệnh dịch vẫn lan rộng khắp nơi họ đến và hoành hành cả vùng đất này. Có làng không cho khách lạ ghé vào, có làng cấm cản họ trên đường đi qua. Nhiều trang trại vắng ngắt, nhiều xác chết chưa chôn sình thúi ngoài đồng, trong nhà. Những con bò không được vắt sữa la rống và bị bỏ đói trong chuồng. Súc vật chạy rong trên đồng cỏ. Họ được uống nhiều sữa vắt từ bò, dê; họ ngã dê lợn và nướng thịt nơi bìa rừng, uống rượu nho và rượu tần dưới hầm nhà vắng chủ. Đời sống họ thật no đủ. Nơi nào cũng sung túc. Nhưng họ chỉ tận hưởng một nửa. Lỗ Bình sống trong sợ hãi thường trực bệnh tật, cảnh tượng những xác chết cũng đủ làm hắn nhuốm bệnh. Luôn luôn hắn tự đặt mình sát với nỗi sợ và cứ mãi nghĩ là mình đã mắc bệnh. Hắn hơ đầu và tay khá lâu trong khói lửa của trại như để ngừa bệnh, và sờ khắp người xem hạch có mọc ở chân tay hoặc vai không.

Đan Thanh nhiều lần la mắng và giễu cợt hắn. Chàng không chia xẻ với hắn nỗi lo sợ và kinh tởm. Say mê và chán nản, chàng băng hết vùng đất bị nhiễm dịch, tấm màn chết mênh mông đối với chàng thật quyến rũ, hồn chàng được tiết thu ấp ủ, tim chàng trĩu nặng vì bài ca lưỡi hái tử thần. Đôi khi hình ảnh người Mẹ đại thể hiển hiện trong chàng, một gương mặt xanh xao cao vĩ với đôi mắt “Medusa” và nụ cười đậm nét đau khổ tử mệnh.

Một hôm họ đến một ngôi làng nhỏ canh gác kiên cố. Bên ngoài cổng thành lũy phòng vệ, chạy dài những ngôi nhà cao tầng chung quanh trọn bức tường thị trấn, nhưng không có lính gác bên trên, cả nơi cổng mở cũng không. Lỗ Bình từ chối không chịu vào trong thị trấn và yêu cầu chàng đừng bước vào bất cứ nơi nào. Ngay lúc ấy một hồi chuông vang lên. Một linh mục từ bên trong cổng đi ra, tay cầm thập tự giá và sau lưng ông ba cỗ xe, hai chiếc do ngựa kéo và chiếc kia do cặp bò, xác chết chất đầy trong xe. Có hai người y phục thật lạ, mặt họ liệm kín trong chiếc mũ choàng đầu, họ chạy dọc theo bên hông xe.

Lỗ Bình biến mất, mặt hắn trắng bệch. Đan Thanh bước theo cỗ xe tang một đoạn đường. Họ tiếp tục thêm khoảng trăm bước nữa và cũng không gặp một nghĩa trang nào, ngay chính giữa bãi trống, có đào một miệng hố chỉ sâu bằng ba cán cuốc nhưng rộng bằng một căn phòng. Đan Thanh dừng lại và quay mặt ra những người kéo xác chết từ cỗ xe tang với gậy, móc và quăng xuống cái hố to. Chàng thấy vị linh mục lâm râm cầu nguyện, tay đong đưa cây thánh giá rồi bước ra xa; người ta đặt một ngọn lửa lớn chung quanh nấm mộ bằng phẵng rồi lặng lẽ cúi đầu trở về thị trấn. Không ai buồn ném một hòn đất xuống mộ huyệt. Đan Thanh nhìn vào trong: hơn năm mươi người nằm đó, kẻ nọ chồng lên người kia, nhiều người trần truồng cứng đơ và như để cáo giác, một cánh tay hoặc chân của họ đưa lên trời, mảnh áo phất phơ trước gió.

Khi chàng trở lại, Lỗ Bình quỳ lạy xin chàng rời bỏ nơi đây. Hắn có lý khi van lơn, chàng thấy rõ trong hai mắt Lỗ Bình cả một nổi kinh hoàng và khủng khiếp; tò mò và lạc lõng hoàn toàn xâm chiếm hắn. Hắn không thể buộc chàng trở lại. Một mình Đan Thanh đi vào thị trấn.

Chàng đi qua chiếc cổng không người gác, và mỗi bước chân vang lên đã gợi lại trong ký ức biết bao phố thị, biết bao cổng rào. Chàng nhớ lại đã băng qua cổng như thế nào, chàng đã được đám trẻ cười rộ đón nhận ra sao, những cậu bé đang nô đùa, các bà mẹ đang gây gỗ; tiếng búa người thợ rèn chan chát trên mặt đe trong như pha lê, tiếng xe chạy lọc cọc và biết bao tiếng động khác, vi tế hoặc thô sơ; tất cả đan kết vào nhau như một tấm vải dệt mang chứng cớ biết bao hình thái của con người lao động, của niềm vui, sự ồn ào và giao cảm. Ở đây, dưới chiếc cổng màu vàng này, trên con đường vắng hoang, không một tiếng động vang lên, không ai cười, không ai thét, mọi vật đều băng giá trong sự yên lặng tử khí, tất cả đều bị cắt ngang bởi tiếng la siêu âm, tiếng réo rắt của nguồn nước chảy. Sau một khung cửa sổ còn mở chàng thấy một người thợ bánh giữa những ổ và cuộn bánh mì; người thợ cẩn thận xúc bánh với cái xuổng rồi đưa cho chàng và vẫn giữ nguyên cái xuổng đợi chàng trả tiền. Anh ta nổi giận đóng cánh cửa vì người khách lạ cầm mẩu bánh quay gót nhưng không trả tiền. Phía trước khung cửa một ngôi nhà xinh xắn, một hàng chậu đất nở xong mùa hoa bây giờ lá đã úa tàn rơi rụng trên miệng chậu. Từ một căn nhà khác vọng ra tiếng nức nở của lo trẻ khốn khổ. Trên đường phố kế tiếp, Đan Thanh trông thấy một cô gái duyên dáng đang đứng chải tóc sau khung cửa sổ tầng lầu trên. Chàng chăm chú nhìn vào cho đến khi nàng cảm nhận tia mắt của chàng nhìn xuống, bẽn lẽn, và khi chàng tặng nàng một nụ cười thân ái, một lúc sau trên gương mặt thẹn thùng của nàng nở một nụ cười e ấp.

– Chải tóc xong chưa? Chàng gọi to, tươi cười, nàng đưa gương mặt ra khỏi bóng tối khung cửa sổ.

– Không bị bệnh chứ? Chàng hỏi và nàng khẽ gật

đầu.

– Vậy hãy rời bỏ phố thị chết chóc này, đi vào rừng với tôi. Chúng ta sẽ sống một đời hạnh phúc.

Đôi mắt nàng nhìn Đan Thanh như dò hỏi:

– Đừng nghĩ ngợi quá lâu, tôi rất mong muốn – Đan Thanh gọi nàng tiếp – Cô ở với cha mẹ hoặc giúp việc cho người lạ? Người lạ, tôi biết rồi. Hãy đến, cô bé yêu mến. Hãy để cho những người già đó chết quách đi, chúng ta còn trẻ, còn khỏe và chúng ta muốn có một thoáng vui chơi; ta còn đủ thời gian. Đến đây cô bé tóc nâu, tôi rất mong muốn.

Nàng nhìn chàng dò xét, lưỡng lự và kinh ngạc. Chàng bước đi chậm chạp thơ thẩn từ con đường vắng hoe này đến con đường khác. Chàng thong thả trở về chỗ cũ. Cô gái vẫn ngồi nơi khung cửa vui mừng thấy chàng trở lại. Nàng ngoắc chàng. Chàng lại bước đi chậm chạp, và không bao lâu nàng bước theo sau, bắt kịp chàng trước cổng với một gói nhỏ trên tay và một khăn nhỏ đội đầu.

– Cô tên gì? Chàng hỏi.

– Lan, em sẽ đi với anh. Nơi đây thật kinh khiếp, trong thành phố này tất cả đang dẫy chết. Hãy đi, chúng ta hãy đi!

Không xa cổng thành, Lỗ Bình đang buồn bã ngồi co ro dưới đất. Khi Đan Thanh ló dạng, hắn nhảy cẫng lên và nhìn đăm đăm cô gái. Lần này hắn không nhịn nữa, hắn lên tiếng càu nhàu. Tại sao lại mang thêm một người nữa từ cái hố bệnh dịch nguyền rủa này? Và để cho người ấy làm bạn đồng hành? Đúng là loạn óc không bằng. Hắn, Lỗ Bình không thể tiếp tục sống với Đan Thanh lâu hơn nữa, hắn đã kiên nhẫn hết mức.

Đan Thanh để yên cho hắn chửi rủa và than vãn cho đến khi hắn không còn lời nào để nói nữa. Chàng nói:

– Giờ đây em đã ca xong bài hát của em. Hãy đến với chúng tôi và vui lên vì ta có một bạn đồng hành duyên dáng. Tên nàng là Lan và nàng sống với tôi. Nhưng tôi cũng cho em một ân huệ, Lỗ Bình ạ. Nghe đây, trong một thời gian ta sẽ sống an ổn và mạnh khỏe và xa hẳn nơi có bệnh dịch. Ta sẽ tìm một chỗ tốt đẹp cho chúng ta, một túp lều trống, hoặc ta tự xây lấy nhà và tôi sẽ là gia trưởng, Lan là bà gia trưởng, và em là bạn của chúng tôi, sống chung với chúng tôi. Cuộc sống của chúng ta sẽ rất thích thú và thân mật, được chứ?

– Vâng được lắm, Lỗ Bình bằng lòng. Miễn là không ai bảo hắn bắt tay Lan và chạm vào y phục nàng…

– Không, Đan Thanh nói, không ai bảo em cả. Thật ra phải cấm triệt để, dù với một ngón tay. Em không nên nghĩ đến chuyện ấy nữa.

Cả ba lại lên đường, lúc đầu im lặng, từ từ cô gái bắt đầu lên tiếng. Cô ta vui thích được nhìn bầu trời và cây cỏ. Thật là ghê rợn trong thành phố bị dịch, nàng không thể nào kể hết nỗi khủng khiếp. Giờ đây tim nàng bắt đầu trong sáng vì thoát khỏi những cảnh tượng hãi hùng. Nàng đã kể biết bao chuyện ghê sợ. Thành phố nhỏ này chắc là một địa ngục. Một trong hai y sĩ đã chết, còn lại ông duy nhất chỉ bám theo kẻ giàu. Trong nhiều ngôi nhà xác chết nằm rữa nát vì không ai mang đi. Trong những nhà khác, là nơi tụ tập của kẻ cướp, gái điếm. Thường khi chúng đẩy người bệnh ra khỏi giường, chất lên xe tang rồi quăng luôn xuống hố. Nàng đã kể nhiều chuyện khủng khiếp và không ai ngắt lời. Lỗ Bình lắng nghe, trong nỗi hoảng sợ thích thú, Đan Thanh im lặng không chút bối rối; chàng để cho nàng trút hết nỗi sợ và không luận bàn. Rồi họ ở đâu? Cuối cùng Lan thấm mệt, nàng không nói nữa.

Đan Thanh bắt đầu bước chậm lại. Dịu hiền chàng cất tiếng hát, một bài hát có nhiều điệp khúc và ở mỗi điệp khúc giọng chàng càng trở nên trầm ấm. Lan lại mỉm cười. Lỗ Bình lắng nghe thích thú và rất đỗi ngạc nhiên. Chưa bao giờ hắn nghe Đan Thanh ca. Tên Đan Thanh này làm gì cũng được. Con người kỳ lạ này đang hát, anh ta hát rất hay, giọng ca trong trẻo, mặc dù hơi trầm. Đến bài thứ hai, Lan hát theo nho nhỏ và rất nhanh nàng bắt giọng kịp. Chiều xuống dần. Xa xa, phía sau cánh đồng, hiện lên khu rừng đen thẫm, và nhô lên khỏi khu rừng là đỉnh núi xanh tím, càng lúc càng xanh hơn. Lúc này mọi người đều vui vẻ, trang nghiêm, nên tiếng hát nhịp nhàng ngân vang theo bước chân họ.

– Hôm nay trông anh thật vui vẻ, Lỗ Bình nói.

Dĩ nhiên tôi rất hân hoan, tôi vừa tìm được hình như là một tình yêu tốt đẹp. Lan ơi! Không biết con ma dễ thương nào đưa đường dẫn lối em đi theo anh. Ngày mai chúng ta sẽ tìm một căn nhà nhỏ để sống một cuộc đời tốt đẹp và mãi mãi hạnh phúc bên nhau vì xương thịt ta còn nguyên vẹn. Lan, em có bao giờ thấy những cây nấm người ta không ăn được mà loài ốc bưu ưa thích?

– Có chứ, Lan cười bảo, em thấy hằng đám.

– Mái tóc em màu nâu như màu nấm Lan ơi! Và mùi nấm rất dễ chịu. Ta hát một bài nữa nhé! Mà em đã đói

chưa? Anh chỉ còn một ít trong túi da.

Ngày hôm sau họ đã tìm được điều mong muốn: một mái chòi chơ vơ trong khu rừng bạch hoa nhỏ. Có lẽ những bác tiều phu đã dựng nên. Chòi vẫn trống không, và cánh cửa ra vào đã sắp hỏng. Lỗ Bình vui mừng vì đó là mái chòi tốt trong khu vực không lây bệnh. Trên đường đi họ gặp đàn dê lạc bầy và đã bắt một con tốt mang theo.

Đan Thanh nói:

– Tốt lắm Lỗ Bình, dù chưa từng cất nhà, em sẽ làm thợ mộc cất chòi một phen. Chúng ta định cư tại đây. Em phải xây một vách ngăn đôi lâu đài của chúng ta, một căn phòng ngủ cho tôi và Lan, một cho em và con dê. Chúng ta không còn gì nhiều để ăn, hôm nay chúng ta tạm dùng sữa dê cũng không được bao nhiêu. Em sẽ xây một bức vách, và chúng tôi dọn chỗ ngủ cho tất cả. Ngày mai tôi sẽ ra ngoài kiếm thức ăn.

Mọi người đều bắt tay vào việc tức khắc. Đan Thanh và Lan cùng đi tìm rơm, cỏ dương xỉ và rêu để làm chỗ ngủ, và Lỗ Bình mài bén con dao của hắn trên tảng đá lửa để chặt cành cây làm vách. Nhưng hắn không thể xong hết việc trong một ngày và tối đến họ phải ngủ ngoài trời. Đan Thanh đã tìm được nơi Lan một người bạn tình ngọt ngào, tuy bẽn lẽn không kinh nghiệm nhưng yêu đương thật nồng cháy. Thật dịu dàng, chàng ôm nàng vào lòng và nằm thao thức khá lâu, nghe nhịp đập tim nàng thật lâu sau khi thấm mệt và thỏa mãn, nàng đi vào giấc ngủ; chàng ngửi mái tóc nâu, và tất cả giây phút này chàng lại nghĩ đến miệng hố to rộng mà những tên độc ác trùm đầu kín mít đã trút xuống từng xe xác chết. Đời sống cũng như tuổi trẻ thật đẹp và phù du nong manh. Vách ngăn trong mái chòi thật xinh.

Cả ba đều phải giúp nhau. Lỗ Bình rất thèm nói đến việc xây cất, nếu hắn có được một cái ghế hẹp bằng phẵng và dụng cụ cạnh thật sắc và nhiều đinh, hắn sẽ làm tốt đẹp hơn. Nhưng hắn chỉ có con dao và hai bàn tay, hắn chỉ chặt được khoảng chục cây bạch hoa và dựng một vách ngăn kiên cố thô sơ trong căn chòi. Nhưng rồi hắn muốn các loại cửa phải ghép bằng cây đỗ tùng. Việc này tuy đòi hỏi nhiều thời gian, nhưng rất vui và dễ chịu, mọi người đều giúp đỡ hắn. Lan đi thu nhặt các loại trái nhỏ và trông nom con dê, còn Đan Thanh đi khắp vùng để tìm thức ăn, thám hiểm khu láng giềng chung quanh, và trở về được chút ít lương thực. Hình như cả vùng không có người ở. Lỗ Bình lại thích được như vậy: họ sẽ an lành, không sợ truyền nhiễm cũng như khỏi sợ cãi vã lôi thôi; nhưng lại có một điểm bất lợi: thức ăn quá ít. Họ tìm được một túp lều của nông phu bỏ hoang không xa lắm, lần này không chứa xác chết, và Đan Thanh đề nghị dọn về túp lều thay vì ở trong mái chòi chơ vơ nhưng Lỗ Bình đã ghê rợn từ chối. Hắn không thích thấy Đan Thanh đi vào trong căn nhà trống và món gì chàng mang về phải xông khói và rửa sạch trước khi Lỗ Bình đụng đến. Đan Thanh không kiếm được gì nhiều – hai chiếc ghế đẩu, một thùng tròn đựng sữa, vài cái đĩa sành sứ, một rìu nhỏ, nhưng một hôm chàng bắt được hai chú gà đi lạc ngoài đồng. Lan vui mừng và rất thích. Cả ba đều trở nên vui vẻ hơn trong mái nhà nhỏ của họ, mỗi ngày họ càng tô điểm thêm xinh xắn. Họ không có bánh mì, nhưng họ nuôi thêm một con dê và cũng tìm được một đám rẫy nhỏ trồng toàn củ cải. Ngày qua ngày, bức vách đã hoàn thành, giường ngủ đã tốt hơn, họ lại xây một lò sưởi. Cách đấy không xa, có một con suối nhỏ nước

mát thật trong lành. Họ thường ca hát khi làm việc.

Một hôm đang cùng ngồi uống sữa và ca tụng cuộc sống êm đẹp, bỗng nhiên Lan nói lên như trong mơ: “Rồi ta phải làm gì khi mùa đông tới?”

Không ai trả lời. Lỗ Bình cười khan; Đan Thanh đăm đăm nhìn ngay mặt hắn. Sau cùng Lan nhận xét là chẳng ai nghĩ đến mùa đông, chẳng ai lo bảo toàn cuộc sống lâu dài ngay tại nơi đây, căn nhà này thực thụ không phải là một mái ấm, và nàng đang sống giữa những kẻ giang hồ. Nàng xấu hổ cúi đầu.

Rồi Đan Thanh nói với nàng, tươi vui và đùa cợt như nói với một đứa trẻ:

– Em là con của một nông phu, Lan ạ, nông phu lúc nào cũng lo lắng. Đừng sợ. Em sẽ biết đường trở về nhà một khi bệnh dịch đã chấm dứt, bệnh dịch không thể còn mãi được. Rồi em trở về với cha mẹ em hoặc với người mà em đang sống, em quay về với thành phố để sinh sống. Nhưng hiện giờ còn đang mùa hạ. Chết chóc đang bò lê khắp nơi, nhưng ở đây thật thoải mái và chúng ta sống an lành. vậy ta cứ sống ở đây lâu mau tùy nơi ý thích của ta.

– Rồi về sau này, khi mọi thứ đều hết? Rồi anh lại ra đi. Còn em thì sao? Lan hỏi giọng gay gắt.

Đan Thanh nắm dải băng buộc tóc và dịu dàng kéo nàng lại. Chàng nói:

– Cô bé hay nói dại này, em đã quên mất ma quỉ với những ngôi nhà bỏ hoang rồi sao, và cái hố to bên ngoài cổng thành, nơi ngọn lửa bừng cháy. Em phải sung sướng lên vì không bị nằm dưới hố, không bị mưa rơi lên chiếc áo dạ của em. Hãy nghĩ rằng em đã vuột thoát tử thần, vui mừng lên vì nhựa sống quý báu của em còn tuôn chảy trong

mạch máu, vì em còn cười được, còn ca hát được.

Nàng vẫn chưa được thỏa ý, và than phiền:

– Nhưng em không muốn lên đường ra đi nữa. Em cũng chẳng muốn để anh đi, không ai có thể sung sướng được khi biết rằng chẳng bao lâu tất cả sẽ hết và không còn gì nữa!

Một lần nữa, Đan Thanh trả lời nàng, giọng thân mật nhưng không che giấu sự hăm dọa:

– Về vấn đề này, hỡi Lan bé nhỏ người có trí tuệ và các bậc Thánh cũng đã bể đầu.

Không có hạnh phúc nào không đi đến tận diệt. Nếu như những gì ta đang có không đủ cho em, không làm cho em vui thích lâu hơn, thì tôi sẽ châm lửa mái chòi ngay phút này và mỗi chúng ta có thể ra đi mỗi đường. Hãy giữ nguyên trạng mọi sự vật, Lan ạ; ta đã bàn bạc đủ rồi.

Nàng đi vào trong, và họ cũng bỏ đi, nhưng bóng tối bắt đầu phủ lên niềm vui của họ.

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: