Trang chủ > Uncategorized > Chương 10

Chương 10

Còn một lần nữa những tảng băng trôi theo dòng nước, còn một lần nữa những cánh hoa tím xông hương dưới đám lá khô mục. Đan Thanh tiếp tục lang thang suốt mọi mùa, đôi mắt thèm thuồng không bao giờ thỏa mãn, ghi đủ cảnh rừng núi, mây trời, bước chân qua từ trại này sang trại khác, khu làng này qua khu làng khác, người đàn bà này qua người đàn bà khác. Đôi khi trong ngày chiều mát, ngồi dưới chân cửa sổ, lòng chàng se lại: bên kia ánh lứa lung linh, quyến rũ, tất cả những cái gì cổ thể gọi là hạnh phúc, là thân mật êm ấm, là an bình trên trái đất, tất cả đều hiện ra, tất cả đều không thuộc về chàng.

Những gì chàng tưởng đã biết rõ, tất cả đều hiện ra một lần nữa, bắt đầu lại, và mỗi lần mỗi biến đổi: những chuyến đi dài qua những cánh đồng, những bãi đất hoang hoặc trên những con đường lởm chởm đá, những giấc ngủ trong núi rừng mùa hạ, những buổi rong chơi vào các làng xóm, theo sau bầy con gái dắt tay nhau cắt cỏ trở về hoặc hái những cành hoa hốt bốt về nấu bia, cơn chớm lạnh đầu thu, những ngày đầu giá rét, tất cả đều trở lại một hai lần, trước mắt chàng khúc phim muôn màu mở ra liên miên không dứt. Đan Thanh đã trải qua nhiều ngày mưa rơi, nhiều ngày tuyết đổ, đến một hôm, chàng leo lên đỉnh của một ngọn núi cao, băng một khu rừng dẻ gai đã đâm chồi nẩy lộc xanh um, một cảnh sắc mới mẻ ngoạn mục đã đánh thức những làn ý nghĩ mù mờ hỗn tạp trong lòng chàng, những ước ao cùng hy vọng. Từ mấy hôm nay chàng biết mình đang lại gần miền này và chàng chờ đợi, vào giữa trưa, chàng bất chợt thấy nó. Những gì con mắt chàng thu nhận, những ý nghĩ trước đây của chàng và tăng thêm hy vọng. Giữa những thân cây xám và đám lá nhẹ lay, tia nhìn của chàng hướng xuống thấp, một thung lũng xanh, nâu lẫn lộn, một dòng sông rộng ở giữa, lóng lánh phản chiếu màu xanh lơ của cỏ cây. Giờ đây chàng đã vượt hết đoạn đường dài không có lối đi của những vùng đất mới, băng qua những bãi truông, những khu rừng và những hoang vu, họa hoằn lắm mới gặp một căn trại hay một xóm nghèo nàn khốn khổ. Dòng sông cuộn chảy dưới chân chàng và dọc theo hai bên bờ là một trong những con đường nổi tiếng nhất, ở đó trải dài một vùng đất trù phú, ở đó tàu bè qua lại dập dìu, con đường đưa tới những khu làng xinh xắn, những đền đài, những tu viện và những thành phố sung túc, ở đó ai muốn có thể đi lên trên nhiều ngày mà không sợ thình lình chúng biến mất như những con đường khốn nạn miền quê của những bác nông phu thường vạch ra bất cứ nơi đâu trong một khu rừng, nơi một bãi đầm lầy nước đọng. Đó là điều mới lạ làm Đan Thanh vui thích.

Ngay tối hôm đó, chàng đã ở trong một khu làng xinh xắn, ở ngay sông có những vườn nho đỏ dọc theo con lộ chính, những ngôi nhà với những cây cột đầu hồi sơn đỏ tuyệt đẹp, những vòm cổng uốn cong, những đường nhỏ có từng bậc thang bằng đá, một lò rèn chiếu ra đường chùm tia sáng đỏ rực, tiếng nện trên đe nghe chan chát. Người khách lạ đi khắp hang cùng ngõ hẻm, thở hít men rượu mùi trong các thùng chứa nơi các cửa hầm, mùi cá tươi mát ở bến sông, chàng đi thăm nhà thờ, rồi nghĩa trang, không quên tìm kiếm một vựa lúa thích hợp để có thể trú đêm. Nhưng trước tiên chàng muốn thử xin ăn ở nhà người mục sư, chàng gặp được một người to béo hồng hào. Lão cật vấn chàng một lúc, và chàng kể cho lão nghe cuộc đời chàng, giấu chuyện này, bày đặt thêm chuyện kia, rồi sau đó người ta nồng nhiệt tiếp đãi chàng. Đan Thanh tán chuyện gẫu với người chủ nhà suốt buổi tối ấy trước bữa cơm thật ngon, rượu ngọt tràn đầy trong tiệc. Hôm sau chàng tiếp tục con đường dọc theo dòng sông. Những chiếc bè gổ trôi qua, những con tàu chở khách, chàng bắt kịp những chiếc bè, có chiếc đã cho chàng quá giang một đoạn đường. Những ngày mùa xuân trôi đi với biết bao hình bóng, những khu làng, những thành phố nhỏ đón tiếp chàng, những người đàn bà cười tươi bên hàng giậu, những người đàn bà quỳ gối trên đất nâu để cấy những cây nhỏ, những người con gái hát vang trong phố chiều.

Trong một trại xay lúa, một cô bé đã làm chàng say mê và đã giữ chàng lại suốt hai ngày quanh quẩn bên nàng. Cô gái cười giỡn và trò chuyện cùng chàng: Đan Thanh có cảm tưởng chàng thích hơn hết được làm thằng thợ xay phụ để được ở đấy mãi mãi. Chàng cũng nhập bọn với đám dân chài, giúp những người chủ xe chăm sóc đánh chải con vật, đổi lại chàng được bánh và thịt, được quá giang xe. Sau một thời gian lâu sống cô đơn, giờ đây chàng sống với xã hội, với mọi kẻ đi đường, sau thời gian nghiền ngẫm những ý nghĩ đen tối, giờ đây chàng tìm ra niềm vui với đám người vui vẻ cởi mở. Sau những ngày dài thiếu đói, giờ đây chàng được thỏa thuê ngày này sang ngày khác. Mọi thứ đều thuận tiện cho chàng và chàng bỏ mặc niềm vui đưa đẩy mình đi, nó kéo chàng về phía nó và càng ngày chàng càng đi gần tới những thành phố lớn, những con đường càng đông hơn và vui vẻ hơn.

Đêm vừa buông, chàng đến một khu làng và đi dạo bên bờ nước có tàng cây phủ. Dòng sông mạnh mẽ trôi trong im lặng, nước rì rào kêu réo trong những đám rễ cây. Trăng đã lên đỉnh đồi chiếu sáng dòng nước, và những bóng đen của đám lá hiện ra. Chàng thấy một cô gái đang ngồi kia, cô nàng vừa cãi lẫy với người tình, y đã bỏ đi để cô gái ở lại một mình. Chàng đến ngồi một bên nàng, vuốt ve bàn tay cô gái và nghe những lời than thở, chàng kể chuyện rừng núi, những con mang, an ủi, làm nàng cười một chút, và nàng nhận một nụ hôn. Nhưng kìa người chồng đã tìm đến với nàng, y đã nguôi ngoai và hối hận về cuộc cãi vã. Khi thấy Đan Thanh ngồi cạnh cô gái, y nhảy xổ lại và đấm chàng; Đan Thanh khó mà né tránh, nhưng sau cùng chàng cũng thắng y, chàng trai kia bỏ chạy vào làng miệng chửi rủa, người con gái đã biến mất từ lâu. Nhưng Đan Thanh không tin là được bình yên như thế. Chàng bỏ dự định ngủ lại và lên đường ngay giữa đêm trăng sáng, chàng đi trong một phong cảnh yên lặng và sáng ngời như chạm bạc. Rất thích thú với đôi chân tốt của mình, chàng đi mãi cho đến khi sương đêm rửa sạch bụi giày. Cho đến khi bất chợt thấy mình mỏi mệt, chàng nằm xuổng ngay nơi gốc cây đầu tiên và ngủ vùi. Trời sáng đã lâu. Đan Thanh thấy nhồn nhột ở mặt đang ngái ngủ, chàng đưa tay lên dụi mắt và ngủ lại, một thoáng sau chàng lại choàng tỉnh vì cũng bị nhột trên mặt giống lúc nãy. Chàng mở mắt: một người con gái quê đang đứng đấy nhìn chàng và trêu chọc chàng bằng một cành liễu trên tay. Đan Thanh lảo đảo đứng dậy, cả hai cùng cười, tỏ vẻ đồng ý và cô gái dẫn chàng vào một căn trại để chàng có chỗ ngủ tốt hơn. Cả hai nằm bên nhau cùng ngủ. Một lát sau cô gái đi ra và trở lại với một thùng sữa tươi nóng hổi. Chàng tặng cô gái dải băng xanh để cột tóc mà chàng đã nhặt trên đường phố trước đó, rồi họ hôn nhau lần cuối trước khi chàng tiếp tục đường mình. Nàng tên Phượng và chàng thật buồn khi phải chia tay. Tối hôm đó, chàng trọ ngủ trong một tu viện và dự lễ sáng, hàng ngàn kỷ niệm khuấy động lòng chàng, không khí mát lạnh dưới vòm nhà bằng đá, tiếng dép lách cách ngoài hành lang, tất cả như thân thiết quen thuộc, chàng thấy lòng mình thắt lại.

Buổi lễ đã xong, gian nhà thở lại chìm trong im lặng. Đan Thanh vẫn quỳ gối, tim chàng cảm động dị thường. Đêm đó chàng mơ thật nhiều, chàng thấy mình cần phải thay đổi lối sống, tìm cách vứt bỏ quá khứ đi, chàng chẳng hiểu tại sao; có lẽ kỷ niệm ở Thánh Ân và lòng kính tín thuở nhỏ đã làm chàng xúc động. Chàng thấy mình cần phải xưng tội và cần phải rước mình Thánh. Những tội lỗi nặng nhẹ chàng đều cần thú nhận, nhưng đè nặng lên hồn chàng vẫn là cái chết của Viên, cái chết do chính tay chàng vấy máu. Chàng tìm một vị linh mục xưng tội, thú nhận tất cả và nhất là những nhát dao trên kẻ bạc mệnh. Đã lâu năm chàng chưa xưng tội, tội lỗi chàng không ít và cũng không phải là nhỏ. Chàng chờ được cứu chuộc bằng một hình phạt nặng nề nhưng vị linh mục tỏ vẻ cảm thông với kiếp

Sống lang thang, cha không giận dữ, ngồi bình lặng uy nghi như một người bạn, chả chê trách chàng, khuyến dụ chàng, nhưng không phải là không dung thứ. Đan Thanh đứng lên như đã trút được gánh nặng theo hình phạt do cha chỉ định, chàng cầu nguyện trước bàn thờ và sắp sửa bước ra, thì một tia sáng xuyên qua cánh cửa sổ. Chàng nhìn theo và trong một giáo đường nhỏ cạnh đấy, chàng thấy một pho tượng. Pho tượng đã làm chàng hồi hộp xúc động, đã kéo chàng phải xoay hẳn người về phía ấy với đôi mắt đầy thương yêu, chàng quan sát với vẻ trầm tư và một xúc cảm sâu xa. Đó là một pho tượng Đức Mẹ bằng gỗ nghiêng nghiêng một cách thật dễ thương trong một dáng điệu nhẹ nhàng, tấm áo choàng buông lơi từ đôi vai nhỏ nhắn, bàn tay trinh bạch đưa ra dưới vầng trán kiều diễm, đôi mắt ngước nhìn chàng, miệng lộ rõ nét thương đau. Tất cả đều thật sống động, thật đẹp như tràn đầy sinh khí luân lưu, pho tượng thật có hồn đến nỗi chàng tưởng chưa bao giờ được chiêm ngưỡng một tác phẩm tuyệt diệu đến thế. Chàng chiêm ngưỡng chiếc miệng ấy say mê không chán, vẻ duyên dáng quen thuộc của chiếc cổ. Chàng có cảm tưởng như điều chàng thấy trong mơ nay đã thành tựu, điều mà nhiều lần chàng hiểu rõ hay thoáng qua trong mơ, điều mà chàng đã xiết bao khao khát. Nhiều lần chàng quay lưng định đi nhưng hình ảnh ấy lại lôi kéo chàng.

Lúc chàng sắp rời pho tượng, vị linh mục mà chàng xưng tội đến đứng sau chàng. Bằng một giọng nhân hậu, người hỏi:

– Con thấy đẹp?

– Đẹp không thể tả, thưa cha.

– Đã có nhiều người khen như thế, cũng có kẻ bảo đấy không hẳn là Đức Mẹ đồng trinh, pho tượng có vẻ thế tục và kim thời quá, cái gì cũng quá đáng và giả tạo. Người ta bàn cãi nhiều về vấn đề đó, với con, cha rất sung sướng thấy con tỏ vẻ thích pho tượng, nhà thờ ta chỉ mới có một năm nay do một ân nhân, thầy Không Lộ, đã tạc ra và mang tặng.

– Không Lộ là ai thế cha? Ông ta ở đâu? Cha có quen với ông ta không? ồ, xin cha nói về người ấy cho con nghe đi! Hẳn phải là người tuyệt diệu, đầy tràn những thiên bẩm, mới đủ khả năng tạo nên một tác phẩm như thế.

– Cha không biết ông ta nhiều lắm. Ông ta là một điêu khắc gia nổi tiếng trong tỉnh ở cách đây một ngày đường, một nghệ sĩ rất được quý trọng, thường thì nghệ sĩ không phải Thánh, và ông ta cũng không phải Thánh nốt, dĩ nhiên, nhưng đó là một con người có tài, có bộ óc cao cả, cha đã gặp ông ta nhiều lần.

– Ồ! Cha đã gặp người ấy rồi sao? Ông ta như thế nào, thưa cha?

– Này, hình như con bị ổng thu hút hoàn toàn rồi đấy. Nào, con hãy tìm gặp ông ta đi và bảo cha Bách gởi lời chào nhé!

Đan Thanh cảm tạ không cùng. Vị linh mục cười và bỏ đi nhưng chàng vẫn còn đứng đó trước mặt pho tượng một hồi lâu, khuôn mặt huyền bí ấy, lòng ngực như phập phồng hơi thở, khuôn mặt đầy vẻ đau thương và hiền dịu làm lòng chàng se thắt.

Chàng rời nhà thờ, hoàn toàn đổi khác, những bước chân đưa chàng băng qua một thế giới đã thay đổi dáng hình. Từ khi nhìn thấy pho tượng dịu dàng, Đan Thanh bắt đầu có một cái gì chàng chưa bao giờ có , điều chàng vẫn luôn luôn chế giễu hoặc thèm muốn nơi những người khác: đó là một mục đích. Bây giờ chàng đã có một mục đích và có lẽ chàng sẽ đạt được, có lẽ toàn thể cuộc đời chàng, một cuộc đời phân tán, sẽ tìm ra ý nghĩa, một giá trị: cảm tưởng mới mẻ ấy khiến chàng vừa hân hoan vừa lo ngại, và như chắp thêm đôi cánh cho chàng. Con đường xinh đẹp vui tươi chàng đang tiến bước không còn là con đường của ngày hôm qua, nó không chỉ là nơi chơi đùa của đám người vui vẻ, không chỉ là nơi người ta dừng lại để cảm thấy vui thú, con đường đó dẫn vào thành phố, con đường đưa đến một vị thầy. Trong lúc hăm hở đến đích, chàng cắm đầu chạy. Đến nơi trời đã về chiều. Chàng thấy những đỉnh tháp hiện ra sau những bức thành, những huy hiệu chạm trổ vẽ trên cửa thành, chàng vượt qua, lòng hồi hộp không chú ý đến những tiếng ồn ào vui nhộn của đám đông trong đường phố, những tay kỵ sĩ đang ngất ngưỡng trên yên ngựa, những chiếc xe song mã lượn ngang, tất cả đối với chàng đều không quan trọng. Chàng hỏi thăm ngay người đầu tiên chàng gặp dưới cổng thành, và thất vọng vì ông ta chẳng biết gì về Không Lộ cả.

Đan Thanh đi đến một nơi chen chúc những ngôi nhà, phần đông đều vẽ vời trang hoàng lộng lẫy. Đi đến dưới một cánh cửa có vẽ một người lính đánh thuê bóng loáng, màu sắc thật sống động tươi vui, tuy không đẹp bằng pho tượng ở nhà thờ, nhưng nó có một dáng điệu độc đáo, một bắp chân lộ rõ, chiếc cằm đầy râu thật hiên ngang, và Đan Thanh tự nhủ có lẽ cùng một vị thầy đã tạc ra tượng ấy. Chàng bước vào nhà gõ cửa, rồi leo lên thang, cuối cùng chàng gặp một người đàn ông mặc một chiếc áo choàng lụa lót lông. Chàng hỏi thăm về Không Lộ. Anh muốn gặp ông ta làm gì? Ông ta hỏi lại thay vì trả lời. Đan Thanh phải dằn lòng và phải nói rằng chàng mang tin đến cho ông ta. Người đàn ông chỉ đường đi, sau một hồi hỏi thăm đường, chàng đã đến trước ngôi nhà vị thầy chàng ngưỡng mộ. Trời đã tối. Chàng thấy lòng mình se lại nhưng thật sung sướng. Khi đứng trước ngôi nhà, mắt nhìn lên cửa sổ. Chàng đã muốn vào ngay, nhưng nghĩ vì đã tối, mồ hôi và bụi đường bám đầy người sau một ngày vất vả, chàng cố nén chờ đợi nhưng vẫn đứng yên một lúc lâu trước ngôi nhà. Chàng thấy một khung cửa sổ sáng lên và ngay khi vừa dợm bước đi chàng thấy một bóng người lại gần cửa, một cô gái tuyệt đẹp tóc hung hiện ra, ánh sáng mờ dịu của cây đèn phía sau chảy dài trên suối tóc.

Sáng hôm sau, khi thành phố đã tấp nập ồn ào, Đan Thanh tắm rửa trong một tu viện đã cho chàng trọ qua đêm, giũ sạch bụi trần trên áo trên giày, và chàng trở lại con đường hôm trước, gõ vào cánh cửa lớn của ngôi nhà. Một bà già giúp việc bước ra nhưng không chịu dẫn chàng lên gặp ông thầy ngay. Chàng phải tìm cách nói khéo khiến bà ta phải xiêu lòng và dẫn chàng vào. Trong một gian phòng nhỏ dùng làm xưởng, nhà điêu khắc đáng kính khoác chiếc áo làm việc đang đứng đấy, đó là một người đàn ông to lớn, râu ria, chừng bốn năm mươi tuổi, ông ta nhìn người khách lạ bằng đôi mắt sắc như dao và lạnh lùng hỏi chàng muốn gì. Đan Thanh chuyển lại lời chào của cha Bách.

– Xong chưa?

– Thưa thầy ở tu viện kia, tôi đã thấy Đức Mẹ của thầy. Chàng nghẹn giọng nói tiếp, ồ, xin thầy đừng nhìn tôi cau có như thế, tôi chỉ đến đây với lòng yêu kính thầy. Tôi không nhút nhát, tôi đã sống cuộc đời lang thang khá lâu, tôi đã cọ sát cùng núi rừng, tuyết giá và cơn đói khát, không kẻ nào có thể làm cho tôi sợ. Nhưng với thầy tôi đã sợ. Tôi chỉ có một ước mong lớn lao, lòng tôi đã tha thiết với nó đến khổ sở.

– Ước muốn ấy là gì?

– Tôi muốn làm người tập sự và học việc bên cạnh

thầy.

– Cậu không phải là người độc nhất muốn điều đó. Nhưng tôi không thích kẻ tập sự, tôi đã có hai người thợ bạn. Vậy chớ cậu ở đâu đến và song thân là ai?

– Tôi không có cha mẹ, cũng chẳng từ đâu đến. Tôi là học trò trong một tu viện, tôi đã học hai thứ tiếng Hy Lạp và La Tinh, sau đó tôi trốn đi và từ mấy năm nay tôi lang thang mãi cho đến hôm nay.

– Sao cậu có ý nghĩ là cậu trở thành một nhà điêu khắc? Cậu đã thử làm lần nào chưa? Cậu biết vẽ chứ?

– Tôi đã vẽ rất nhiều, nhưng không còn bức nào cả, và điều đã khiến tôi khao khát học về nghệ thuật này, tôi có thể thưa rõ cùng thầy. Tôi đã thường nghiền ngẫm nhiều ý nghĩ, tôi thường thấy nhiều khuôn mặt và nhiều dáng vóc, và tôi đã nghĩ về chúng, có nhiều khuôn mặt luôn luôn ám ảnh tôi, không hở một phút giây. Tôi đã giật mình nhận ra rằng trong một con người, ta có thể bắt gặp lại một hình dáng, đường nét nào, bất cứ nơi đâu luôn luôn có một sự tương xứng giữa cái trán với chiếc đầu gối và đôi vai, với chiếc hông, và tất cả đều đồng thể với bản chất thâm sâu, với tâm hồn con người có đầu gối, vầng trán và đôi vai như thế. Và còn một điều nữa khiến tôi chú ý, một điều tôi đã khám phá trong đêm nọ khi tôi phải giúp cạnh một người đàn bà đang lâm bồn, điều ấy là cơn đau cùng cực và khoái lạc tuyệt vời của nhục thể, cả hai đều có những nét diễn tả như nhau.

Ông thầy nhìn đăm đăm vào chàng trai lạ mặt.

– Cậu biết rõ điều cậu vừa nói chứ?

– Thưa thầy vâng, đúng như thế, chính điều ấy đã làm tôi sung sướng và kinh ngạc khi thấy nó được biểu hiện nơi tượng Đức Mẹ của thầy và cũng vì thế mà tôi phải đến đây. Có một vẻ gì thật đau đớn trên khuôn mặt yêu kiều ấy, đồng thời tất cả đớn đau ấy đều như lột xác để biến thành hạnh phúc tinh thuần và thành nụ cười. Khi nhận thấy điều trên, một ngọn lửa như bừng lên trong tôi, tất cả những ý nghĩ, tất cả những giấc mơ tôi đã mang theo từ mấy năm qua, tất cả đều được xác nhận, chúng không còn là những điều hư hoặc nữa. Tức thì tôi hiểu ngay mình phải làm gì và phải đi đâu. Thưa thầy, tôi xin thầy với tất cả tấm lòng, hãy cho tôi được tập việc cạnh thầy.

Không Lộ vẫn chú ý nghe nhưng không tỏ vẻ niềm nở hơn.

Này cậu bé, điều cậu bàn về nghệ thuật rất hay, tôi đã ngạc nhiên về điều ấy. Tôi cũng kinh ngạc khi thấy cậu còn trẻ, thật quá trẻ mà đã chứng nghiệm được bí ẩn thâm sâu của sự khoái lạc cùng đau khổ. Tôi sẽ rất vui mừng được tiếp chuyện cùng cậu về những vấn đề ấy vào một buổi tối nào đó bên ly rượu ngọt. Nhưng cậu thấy đó, thích thú trò chuyện cùng nhau với làm việc bên nhau năm này qua tháng nọ là hai chuyện khác hẳn. Khi cậu ở trong xưởng nơi mọi người đang làm việc, sự tán gẫu sẽ không có ; điều đáng kể ở đây, không phải là ý nghĩa mỗi người có trong đầu để diễn tả ra, mà là điều mỗi người có thể sáng tạo bằng đôi tay mình, chỉ độc nhất có điều đó. Cậu có vẻ tha thiết thật sự, vì vậy tôi không muốn mời cậu ra cửa ngay, ta hãy xem cậu có khả năng làm ra một việc gì không. Cậu đã tập nặn đất hay sáp gì chưa?

Đan Thanh nghĩ ngay đến một giấc chiêm bao đã mơ từ lâu: chàng đang nặn những hình tượng nhỏ bằng đất sét, bỗng tự nhiên tất cả đều dựng đứng, biến ra thật to lớn. Nhưng chàng không nói đến những điều đó mà chỉ trả lời rằng chưa hề thử những công việc ấy.

– Thôi được, cậu thử vẽ một cái đi. Bàn nơi kia, có sẵn giấy và than đó, cậu hãy ngồi và vẽ đi. Cứ thong thả. Cậu có thể ngồi đến trưa, đến chiều cũng được. Có thể tôi sẽ thấy cậu khá về gì. Thôi, bây giờ nói đã khá nhiều, tôi phải làm việc của tôi, cậu vẽ đi.

Đan Thanh ngồi vào bàn nơi Không Lộ đã chỉ định. Chàng không hấp tấp bắt tay vào việc ngay; chàng ngồi yên chờ đợi như một chú học sinh nhút nhát, tò mò và yêu thích, nhìn theo ông thầy đang quay lưng về phía mình và tiếp tục đẽo gọt một khuôn hình nhỏ bằng thạch cao. Chàng ngắm người đàn ông nghiêm khắc, tóc đã lốm đốm bạc, đôi tay thành thạo cứng rắn nhưng thanh nhã và đầy hứng thú, có sức mạnh tạo ra những ma lực lôi cuốn. Người thầy điêu khắc không giống như con người chàng tưởng tượng, ông ta già hơn, khiêm cung hơn, nhưng kém hẳn vẻ tươi vui và thiện cảm, hình như không một chút nào sung sướng. Đôi mắt ông sắc bén không thể tả bây giờ đang chiếu xuống tác phẩm của ông, tia nhìn kia không còn đè nặng lên người chàng nữa. Chàng có thể tưởng tượng cả con người ông rõ ràng. Chàng tự nhủ, con người này rất có thể là một nhà thông thái, một người đi tìm chân lý trong yên lặng và nghiêm khắc đang để hết mình vào một tác phẩm đã được số đông người trước khởi công, và một ngày kia ông ta sẽ truyền lại cho những người khác, một công việc đòi hỏi lao tâm khổ trí, có khi không bao giờ hoàn tất. Những thế hệ đều phải tận tụy gắng công. ít ra đó là điều mà chàng đã đọc được trên những đường nét của ông thầy bằng nhiều kiên nhẫn, nhiều khả năng và suy tưởng, nhiều khiêm tốn và ý thức về sự bất lực trong mọi tác phẩm nghệ thuật loài người nhưng đồng thời còn có niềm tin vào sứ mệnh mình, tất cả đều in dấu trên những đường nét đó. Đôi tay của nhà điêu khắc tuyệt vời lại nói lên một ngôn ngữ khác. Những ngón tay nặn thạch cao như đôi tay ve vuốt người yêu đã buông thả toàn thân nóng bỏng, những ngón tay run rẩy với những cảm giác yêu đương, với sự dịu dàng không phân biệt, những ngón tay vừa nhiệt tình vừa kính cẩn, chúng có vẻ nắm vững chắc chắn một kinh nghiệm thâm sâu xưa cũ như mặt đất. Đan Thanh thích chí chiêm ngưỡng đôi tay giáng phúc ấy. Nếu không có sự tương phản giữa khối óc và đôi tay làm tê liệt nó thì đấy hẳn là một hình ảnh chàng ưa thích phác họa.

Sau một giờ ngồi nhìn ông thầy làm việc, không bận tâm đến những điều khác, chăm chú dò xét người đàn ông; một hình ảnh khác từ đáy lòng bắt đầu hiện ra, trở nên rõ rệt trong chàng, bóng dáng của người chàng quen biết hơn tất cả, người chàng yêu mến và thán phục; và hình ảnh này không một rạn nứt, không một sự lỗi nhịp nào dù rằng nó cùng chứa nhiều nét rất khác biệt nhau, nhắc chàng nhớ đến những xung đột. Đó là hình ảnh của người bạn chàng, Huyền Minh. Mỗi lúc hình dáng mỗi cô đọng và Huyền Minh hiện ra như một toàn thể, quy luật thiết thân của người chàng yêu mến mỗi lúc một đậm nét trong trí chàng: chiếc đầu thanh nhã biểu lộ thông minh, chiếc miệng xinh đẹp, cao quý bởi phụng sự, tri thức và tuân phục kỷ luật, đôi mắt thoáng vẻ sầu tư, hai vai mảnh dẻ, chiếc cổ dài và đôi tay thanh tú dịu dàng biểu lộ một nỗ lực thấng vượt ra ngoài vật chất. Đã lâu kể từ khi chàng rời tu viện Thánh Ân, chưa bao giờ chàng thấy bạn rõ ràng như vậy, chưa bao giờ chàng nắm vững bóng hình bạn sống trong chàng mãnh liệt đến thế.

Như trong mơ, như có một cái gì khẩn thiết buộc chàng phải ngoan ngoãn vâng theo, Đan Thanh bắt đầu vẽ. Với lòng trìu mến kính cẩn, những ngón tay chàng phác họa những nét đại cương hình ảnh đang ngự trị trong tim chàng. Chàng đã quên tất cả, quên luôn nơi chàng ngồi. Chàng chẳng biết ánh sáng đang từ từ di chuyển trong căn phòng; chàng chẳng thấy ông thầy thinh thoảng liếc mắt vào tác phẩm của chàng. Đan Thanh hoàn thành công việc như một nghi thức thiêng liêng buộc chàng phải làm công việc mà trái tim chàng đã ra lệnh, đó là bức chân dung Huyền Minh, để giữ mãi trong lòng chàng bóng hình thân yêu sống động trong hồn chàng ngày hôm đó. Chàng có cảm tưởng làm công việc ấy là để trả một món nợ, để bày tỏ một tấm lòng tri ân.

Không Lộ lại gần chàng và bảo:

– Trưa rồi, tôi phải đi ăn, cậu có thể dùng bữa với chúng tôi. Cho tôi xem một chút nào, xem cậu đã vẽ được gì rồi?

Nhà điêu khắc đứng sau lưng chàng, khẽ đẩy chàng ra để nhìn vào tấm giấy lớn, đôi tay khéo léo cầm lấy bức họa một cách thận trọng. Đan Thanh đã tỉnh cơn mơ mộng và ngước nhìn thầy bằng cặp mắt lo âu, chờ đợi. Giữ bức họa trong hai tay, ông ta đứng ngắm hai con mắt xanh nghiêm khắc và long lanh sáng. Một lát sau ông hỏi:

– Cậu vẽ ai đây?

– Đó là một người bạn của tôi, một tu sĩ trẻ, một nhà thông thái.

– Được rồi, cậu hãy rửa tay, bồn nước ngoài sân kìa. Sau đó ta sẽ đi ăn. Những ông thợ bạn của tôi không ở đây, họ làm việc ở ngoài.

Đan Thanh ngoan ngoãn đi ra, chàng rửa tay và ước ao được biết ý kiến của thầy. Khi chàng trở lại phòng, ông ta đã đi đâu mất. Chàng nghe tiếng ông khua động ở phòng bên; khi ông trở ra, ông cũng đã rửa tay xong, chiếc áo làm việc đã thay vào bộ đồ dạ rất đẹp khiến ông có vẻ đường bệ, oai phong. Ông đi trước, cả hai leo lên cầu thang có tay vịn bằng gỗ hồ đào tạc tượng đầu thiên thần, họ qua gian phòng ngoài chứa những pho tượng cổ điển lẫn tân thời, rồi bước vào một căn phòng rất đẹp; sân, vách và trần nhà đều lót gỗ tốt, chiếc bàn ăn được đặt trong phòng cạnh cửa sổ. Một cô gái chạy ra: cô gái chàng đã nhìn thấy hôm trước.

– Ly Phương, con dọn thêm bát đũa, cha có một người khách, đó là, à cha cũng chưa được biết tên.

Đan Thanh nói tên mình.

– À, cậu Đan Thanh, chúng ta ăn được chưa?

– Vâng, xin cha chờ một lát.

Cô gái tìm một cái đĩa rồi đi ra, sau đó trở vào với mụ đàn bà giúp việc mang theo các món ăn: thịt heo, đậu và bánh mì. Trong bữa ăn hai cha con nói chuyện này chuyện kia luôn miệng. Đan Thanh ngồi im lặng, chàng ăn không được nhiều và cảm thấy tù túng, khó chịu. Nhưng cô gái rất hợp nhãn chàng, dáng nàng đẹp khỏe mạnh, cao gần bằng cha, nhưng nàng giữ một thái độ nghiêm trang cách biệt như đàng sau một tấm gương, nàng không nhìn, không trao đổi một lời nào với người khách lạ.

Bữa ăn đã xong, ông thầy bảo:

– Tôi muốn nghỉ ngơi nửa giờ. Cậu hãy vào trong xưởng mà dạo chơi, sau đó chúng ta sẽ bàn vào chương trình của cậu.

Đan Thanh kiếu từ đi ra. Ông thầy đã xem bức vẽ của chàng cả tiếng đồng hồ mà chẳng nói gì về chuyện đó cả. Và bây giờ còn phải đợi nửa giờ nữa. Không làm sao hơn, chàng đành đợi vậy. Đan Thanh không vào xưởng, bây giờ chàng không muốn xem lại tác phẩm chàng. Chàng đi ra sân, ngồi trên thành giếng, nhìn dòng nước con con tuôn ra không ngừng từ chiếc máng xuống đến bệ đá sâu, dòng nước đổ tạo thành đợt sóng li ti, kéo theo những bọt không khí chìm sâu xuống rồi nổi lên như từng chuỗi ngọc trắng. Chàng nhìn thấy bóng hình in trong gương nước, chàng nghĩ tên Đan Thanh đó, tên đang nhìn chàng từ đáy nước sâu không còn là tên Đan Thanh của tu viện hay tên Đan Thanh của cô gái Liên Đài, cũng không là tên Đan Thanh của rừng thẳm. Chàng tự nhủ là mình, cũng như tất cả mọi người, sống trôi lăn, biến chuyển không ngừng để sau cùng vở tan trong khi hình ảnh do người nghệ sĩ sáng tạo vẫn không đổi dời, vẫn trường tồn mãi mãi.

Có phải chăng căn nguyên của mọi nghệ thuật và có lẽ ngay cả của mọi tư tưởng chính là sự sợ hãi đối với cái chết. Chúng ta sợ chết, chúng ta rùng mình trước cuộc đời dâu bể, ta buồn nhìn cánh hoa tàn úa, lá rụng mỗi năm; hiển nhiên trong lòng chúng ta cảm thấy mình cũng là sinh vật phù du, chẳng mấy chốc sẽ tàn tạ rã rời. Khi là nghệ sĩ, ta sáng tạo những hình dáng, hoặc là nhà tư tưởng ta tìm ra những định luật hay lập thành những ý nghĩ, chúng ta đều hành động như thế để cứu vãn một cái gì trong trò đùa ma quái ấy, để giữ lại một cái gì tương đối dài lâu hơn chúng ta. Người đàn bà mẫu pho tượng Đức Mẹ có lẽ nhan sắc đã tàn tạ, hoặc đã chết, ngay chính ông thầy không lâu ông cũng sẽ chết, những kẻ khác ở trong ngôi nhà này, ăn ở chiếc bàn kia, nhưng tác phẩm của ông vẫn còn đó, trong nhà nguyện lặng lẽ, nó sẽ còn rạng rỡ hàng trăm năm sau với nụ cười buồn trong tuổi thanh xuân bất diệt.

Chàng nghe tiếng ông thầy bước xuống thang và đi nhanh về phía xưởng. Không Lộ đi qua đi lại, thỉnh thoảng nhìn vào bức họa của chàng, sau cùng ông ta dừng lại bên cánh cửa sổ và ngập ngừng nói với giọng khô khan:

– Ở đây kẻ học nghề thường mất ít ra là bốn năm và phụ huynh phải trả thù lao cho thầy.

Khi ông ta ngừng nói Đan Thanh tưởng nhà điêu khắc sợ chàng không có tiền trả. Chàng vội lấy con dao trong túi, nhanh tay cắt đường chỉ khâu trong áo để rút đồng tiền vàng đưa ra. Không Lộ ngạc nhiên nhìn chàng và bật lên cười khi chàng đưa đồng tiền cho ông.

– À, ra cậu hiểu như thế? Không phải đâu. Cậu hãy giữ nó và nghe đây. Tôi đã nói đó là thông lệ trong phường thợ của chúng tôi. Nhưng tôi không phải như những thầy khác, và cậu cũng chẳng phải như nhúng đứa bé tập sự kia. Cậu phải biết, một thằng bé học nghề từ mười ba mười bốn cùng lắm là mười lăm, suốt một nửa thời gian học nghề, nó chỉ được dọn dẹp và chạy vặt. Nhưng với cậu, cậu đã lớn quá, với số tuổi của cậu, cậu có thể đã là thợ bạn hoặc thầy từ lâu. Một người học nghề râu ria như cậu thật tôi chưa từng thấy. Ngoài ra, tôi không muốn có ai tập sự trong nhà tôi cả. Cậu không có vẻ là một kẻ chịu để người ta sai vặt. Đan Thanh đã sốt ruột đến cùng cực, mỗi lời nói quanh co của ông thầy như mỗi đòn tra tấn, ông ta có vẻ dạy đời quá đáng, chàng kêu lên:

– Nếu thầy không muốn dạy nghề cho tôi sao thầy lại nói với tôi những lời như thế?

Không bối rối, ông ta vẫn giữ nguyên giọng như trước.

– Tôi đã suy nghĩ một tiếng đồng hồ về lời thỉnh cầu của cậu, giờ đây cậu cũng nên kiên nhẫn mà nghe tôi nói. Tôi đã nhìn bức họa của cậu, có nhiều nét sai, nhưng tuy vậy cũng rất đẹp, nếu không tôi đã cho cậu ít tiền rồi mời cậu ra cửa và quên cậu đi. Tôi không muốn nói nhiều đến công việc của cậu. Tôi chỉ muốn giúp cậu trở nên một người nghệ sĩ. Có lẽ đó chính là thiên tính của cậu. Nhưng cậu không thể làm một kẻ học nghề được nữa và hễ ai chưa từng làm kẻ tập sự và hoàn tất bổn phận của họ trong bấy nhiêu, kẻ đó không thể là thợ bạn hay thầy trong phường được. Cậu nên biết trước điều ấy. Nhưng cậu cố thử xem sao. Nếu cậu có thể ở lại đây, trong thành phố này một thời gian, cậu có thể đến nhà tôi học một vài điều. Chuyện đó không có gì bắt buộc, không có gì ký kết cả; cậu có thể bỏ đi tùy thích. Cậu có thể làm gãy vài con dao khắc, làm hỏng vài miếng gỗ và khi cậu thấy mình không phải là một nghệ sĩ điêu khắc, cậu sẽ xoay sang việc khác. Cậu có bằng lòng như thế không?

Đan Thanh đã lắng nghe, hổ thẹn và cảm động, chàng

nói:

– Tôi xin cám ơn thầy với tất cả tấm lòng. Tôi sống không nhà không cửa và tôi có thể xoay sở sống ở thành thị cũng như trong rừng. Tôi hiểu rằng thầy không muốn nhận lấy lo âu và trách nhiệm về tôi như một kẻ tập việc. Thật vô cùng may mắn cho tôi được học với thầy, tôi rất cám ơn thầy đã vui lòng cho tôi học.

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: