Trang chủ > Uncategorized > TẬP SÁCH NÓI VỀ CHIẾN THẮNG

TẬP SÁCH NÓI VỀ CHIẾN THẮNG

Virgil Gheorghiu

TẬP SÁCH NÓI VỀ CHIẾN THẮNG

I

Đối với Pierre Pillat ngày Chiến thắng là ngày quân đội Xô Viết chiếm đóng thủ đô Bucarest. Lính Nga tràn vào nhà dân. Dân chúng ẩn nấp dưới những hầm chứa rượu, trong những vựa thóc. Những người khác tìm cách trốn thoát. Đàn bà bị hãm hiếp, cửa hàng bị đập phá, dân chúng bị bắn chết trên đường phố.

Pillat tìm cách cứu lấy thân, và người vợ tương lai của mình, một cô gái gia đình nông dân, đã từng theo học một vài năm ở một trường trung học phổ thông. Cô ta đã theo anh đến mọi nơi ẩn náu, và họ đã cùng nhau chờ đợi cơn sốt của những ngày đầu của Chiến thắng chấm dứt, để lại được nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Họ đã ẩn núp như bất cứ ai khi thấy cuộc sống của mình bị nguy cơ. Một tuần sau đó, Marie và Pillat đã có thể ra ngoài đường phố. Họ muốn mua một ít bánh mì. Trước những tiệm bánh mì dân chúng sợ sệt, chui từ những chỗ ẩn núp ra, đang sắp từng hàng dài chờ đợi. Nhưng chỉ có những người có giấy chứng minh nhân dân được công nhận hợp pháp mới được quyền mua.

Trước trụ sở công an, những hàng người khác đang chờ đợi.

Trên tường dán đầy danh sách những người đang bị công an truy lùng. Những danh sách này thật là dài. Người nhân viên từ chối đóng dấu vào giấy chứng minh nhân dân của Pierre Pillat. Đoàn thể pháp quan của giai cấp tiểu tư sản mà anh là thành viên đã hết thời, giờ đây công lý do “Tòa án nhân dân phụ trách”.

Pillat tiếc là đã không mua được bánh mì. Họ cảm thấy cơn đói cồn cào dữ dội.

– Anh chẳng làm gì bậy cả. – Marie nói – Tại sao họ lại từ chối hợp pháp hóa giấy chứng minh nhân dân của anh chứ?

Pillat âu yếm nắm lấy bàn tay người yêu, và muốn rời khỏi sở công an, nhưng cánh cửa phòng đã được đóng lại rồi. Người ta xô đẩy họ sang gian phòng bên. Ở đây người ta đang xem xét lại giấy tờ của những người bị từ chối quyền mua thực phẩm.

Không khí ở đây thật nặng nề. Người ta muốn tìm tên Pillat trong danh sách những người tội phạm chính trị, và họ đã không tìm thấy. Người cán bộ đã gạch chéo bằng mực đỏ lên tấm giấy chứng minh nhân dân của Pillat, rồi đưa trả lại chàng.

– Chừng nào ra khỏi đây, chúng ta sẽ có bánh mì. – Pillat thì thầm vào tai người yêu – Anh sẽ bán chiếc đồng hồ đeo tay của anh .

Anh tiến bước về phía cửa ra. Người cán bộ ra lệnh bảo anh dừng bước.

Những người không nghề nghiệp không có quyền có chỗ ở trong thành phố. Anh bị buộc phải rời khỏi nhà anh, và giao chìa khóa nhà lại cho phòng trưng tập, từ đây cho đến sáu giờ chiều là hạn chót.

Pillat nghĩ là từ ngày Chiến thắng, chàng và người yêu đã sống dưới hầm rượu. Chẳng ai có can đảm sống trong nhà mình, vì đêm bọn lính Nga vẫn thường hay cướp phá. Nhà cửa vì thế đã trở nên nguy hiểm.

– Vâng, tôi hiểu. – Anh vừa nói vừa tiếp tục tiến về phía cửa, nhưng người cán bộ lại bảo anh dừng bước.

– Anh không được phép mang đi bất cứ thứ gì trong nhà đấy nhé. Nếu không anh sẽ bị truy tố về tội ăn cắp tài sản của cộng đồng đấy.

Pillat biết rằng nhà của mình đã nhiều lần bị quân Nga cướp phá, và những gì không bị cướp đã bị đập phá tan tành.

Chẳng còn gì để lấy cả.

– Vâng, tôi hiểu. – Anh nói, tin chắc là mọi chuyện đã kết thúc. – Còn điều này nữa. Những người không công ăn việc làm bị nghiêm cấm tạm trú trong phạm vi 60 cây số chung quanh thủ đô.

– Vâng, tôi sẽ đi xa thủ đô. – Pillat nói.

Anh nắm chặt lấy bàn tay người yêu, nghĩ rằng họ sẽ về sống với gia đình cha mẹ vợ.

– Nhờ quân đội Xô Viết, – người cán bộ nói tiếp – nước Rumani đã trở thành một nước Xã hội chủ nghĩa, trong đó mọi người công dân đều phải lao động.

– Tôi sẽ kiếm việc làm. – Pillat nói. Tôi biết rằng trong một nước Xã hội chủ nghĩa, mọi người đều phải làm việc.

– Chính quyền sẽ bảo vệ mọi công dân chống lại nạn thất nghiệp. Chữ thập đỏ trên giấy chứng minh nhân dân là một điều có lợi cho anh đấy. Trường hợp nếu anh không tìm thấy được việc làm, thì nhờ chữ thập đỏ mà người cán bộ công an bảo vệ trật tự công cộng biết để giúp đỡ anh, bằng cách gửi anh đến một trong những trung tâm lao động Xã hội chủ nghĩa. Bây giờ thì anh có thể đi được rồi đấy.

Pillat và Marie bước ra khỏi phòng. Nỗi lo sợ bị gọi lại làm cho họ cảm thấy nghẹt thở.

– Chúng ta trở về Piatra thôi. – Anh nói – Chúng ta phải rời khỏi thủ đô càng nhanh càng tốt.

Vào lúc đó một người đặt tay lên vai Pillat. Anh nghĩ là mình đã bị bắt, và nỗi sợ hãi đã làm cho toàn thân anh như tê cóng lại.

– Đừng sợ. Tôi là Motok đây mà. Tôi chỉ muốn nói với anh hai câu thôi.

Người trưởng toa Motok kéo Marie và Pillat đến một nơi cách hàng người đói khát và sợ sệt đang chờ đợi trước sở công an vài thước.

Daniel Motok, không cà vạt, chỉ còn đúng một chiếc áo và một cái quần. Mặt mày anh ta đã thay đổi không còn nhận ra được, mắt phải còn dấu bầm tím.

– Ngày Chiến thắng, tôi bị bọn chùi ống khói đảng viên Cộng sản chặn bắt. Chúng nó đã hành hạ tôi mãi cho đến sáng hôm nay đấy. Tôi thật sung sướng được gặp lại các bạn để nói lời từ biệt. Thôi, tôi đi đây. Pillat như còn muốn giữ lại bàn tay bạn mình, nhưng Motok đã rụt tay về, và vội vã chào Marie.

– Nếu tôi còn ở lại đây, chúng nó sẽ giết tôi mất. – Anh ta nói – Tôi biết bốn ngoại ngữ, có thể tôi sẽ kiếm được việc làm ở Tây Âu. Xin Thượng đế phù hộ cho các bạn.

Người trưởng toa Motok khóc. Anh ta lẩn vào đám đông, áo quần anh vấy đầy máu đã khô cứng, và hai chân anh không vớ trong một đôi dép quai. Lưng anh ta còng lại, chẳng thể nào nhận ra được. Những sự hành hạ đã làm cho anh ta hoàn toàn biến đổi. Tội nghiệp Motok. Chẳng biết anh ta đang ở trong tình trạng như thế nào nữa ! Thật đáng thương! Vậy mà chỉ mới có bảy ngày kể từ ngày Chiến thắng thôi đấy.

Trên công trường, trước sở công an, những chiếc máy phóng thanh đang phát đi một bài diễn văn, Pillat đưa mắt nhìn theo Motok nhưng anh ta đã biến dạng. Bài diễn văn xoáy vào tai chàng với những âm thanh the thé:

“Tinka Neva tượng trưng cho vị nữ anh hùng của giai cấp vô sản. Cho đến sáu mươi tuổi đời. bà đã bị bà chủ bắt phải sống trong một phòng bếp không lớn hơn một phòng giam, thiếu không khí, thiếu ánh sáng. Ở tuổi sáu mươi, con người vô sản đang ngái ngủ trong bà đã thức tỉnh, và sẵn sàng chiến đấu. Bà đã leo lên những mái nhà cao nhất thành phố, và bằng cây đèn bấm của bà, bà đã chỉ cho những người phi công Xô Viết con đường Chiến thắng. Bà đã tìm thấy cái chết trên những chướng ngại vật cao nhất…”

– Chúng ta đi thôi. – Pillat nói Tụi Nga muốn dựng đầy những huyền thoại và chết chóc. Tinka Neva là một người đàn bà đáng mến thật. Đâu phải là bà phù thủy đêm đêm dạo chơi trên mái nhà. Bà ta chỉ là một hư cấu mà bọn Nga muốn gán cho những người mà chúng đã thủ tiêu. Chúng ta đi thôi.

Một vài giờ sau đó, Pillat và Marie đã đến nhà ga. Sợ hãi, họ đáp tàu đi về miền núi xứ Moldavia. Họ không ngừng nghĩ đến Motok. Hình ảnh của anh ta đã theo họ suốt cuộc hành trình. Trên sân ga, những chiếc máy phóng thanh khác đang kể lại cuộc đời của bà Tinka Neva.

– Tội nghiệp Motok. – Pillat nói – Chúng ta may mắn còn có chỗ nương thân.

Ngồi sát bên nhau trong toa tàu, tay trong tay, họ nghĩ đến Piatra. Đó là một làng nhỏ gồm khoảng một trăm nóc nhà, trong vùng núi Néamtz là quê hương của Marie, vợ chàng.

II

Sau Chiến thắng, Boris Bodnariuk xin được trở về lại với công việc biến đổi khí hậu, và cây trồng của vùng sa mạc, nhưng đơn xin của hắn không được chấp thuận. Người Xô Viết đang cần hắn tại Rumani để cải tạo nước này thành một nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa. Công tác này xem ra khó khăn. Thiếu cán bộ, chẳng có ai để thực hiện mệnh lệnh.

Boris Bodnariuk quyết định đến tận nơi, địa phương này đến địa phương khác để tổ chức chính quyền Cộng sản. Trước khi rời khỏi văn phòng, người thư ký đã trao cho hắn một bức thư riêng.

– Bức thư do một nhà tu hành tên là Angelo trao, và ông ta tự giới thiệu là em ruột của đồng chí. Thư có kèm một bức ảnh.

– Người Cộng sản chúng ta không có anh em ruột thịt. – Boris la lớn tiếng – Anh em của chúng ta là những người lao động trên toàn thế giới.

Hắn không thèm nhìn ngay cả bức ảnh của đứa em ruột, mà năm hắn lên ba đã móc hết một mắt. Angelo báo cho hắn biết là đã đi tu, đã cầu nguyện nhiều cho hắn, và cảm ơn Thượng đế đã gìn giữ Boris được yên lành.

Bodnariuk để tấm bản đồ của nước Rumani vào túi áo khoác ngoài bằng da, và quấn chặt lại chiếc khăn quàng cổ màu đỏ. Một vài ngày sau, dưới sự hướng dẫn của một chức trách địa phương, đôi bốt màu đen của hắn đã giẫm lên dải đất ẩm ướt của một làng phía bắc vùng Moldavia.

– Này Serghei Severin, làng này tên gọi là gì nhỉ? – Bodnariuk hỏi.

Severin là một người gốc Nga, sinh trưởng tại Rumani, người cao lớn, với một cái đầu tròn trĩnh. Đôi bốt của Bodnariuk cố tránh những vũng bùn trên đường bao nhiêu, thì Serghei Severin lại giẫm ngay đôi bốt của mình xuống những vũng bùn, không tránh né, tự nhiên như những con thú vật.

– Thưa đây là làng Piatra. – Severin nói.

Severin để một mình Bodnariuk bước vào sân của ủy ban nhân dân xã. Tất cả nông dân đã có mặt đầy đủ. Họ đứng dọc theo hai bên đường, nón cầm tay, gập mình trước người mặc áo khoác ngoài bằng da, với chiếc khăn quàng cổ màu đỏ, và đôi bốt đen đang đi về phía họ, mắt chẳng thèm nhìn ai. Bodnariuk bước vào văn phòng ủy ban nhân dân xã. Hắn ngồi trên một chiếc ghế bằng gỗ, trước một chiếc bàn được phủ bằng một tấm vải giấy màu xanh, bàn làm việc của chủ tịch xã. Từ cửa sổ, người ta nhìn thấy những ngôi nhà ẩn mình giữa những lùm cây, và những người nông dân đứng thành hàng dài đang im lặng chờ đợi dưới mưa.

Bodnariuk nhìn họ đầy thù hận. Giai cấp nông dân là một chướng ngại đối với việc hình thành quốc gia Cộng sản. Trên tường người ta dán đầy những hình ảnh được cắt từ những tạp chí. Bodnariuk nhìn một cách căm hờn ảnh của vị thống soái các quốc gia Slaves phương Nam. Vị thống soái du kích này có một con chó mà ông ta rất mực yêu thương. Người đảng viên Cộng sản mà có một đam mê nào đó, ngay cả đam mê đối với một con chó, thì cũng là người có nhược điểm rồi.

Boris nhìn thấy những người nông dân bước vào, nón cầm tay. Họ ngồi xuống những chiếc ghế dài đối diện với hắn, tay tỳ lên gối, mắt chăm chú nhìn hắn chờ đợi, như những chú bé ngày đầu năm học.

– Đưa danh sách dân làng đây. – Boris ra lệnh.

Hắn nhanh nhẹn giở từng trang của cuốn tập học trò, mà trên bìa có ghi: Piatra, thuộc quận Néamt 150 dân. Trên những trang giấy vở, tên, họ, tuổi của mỗi người dân làng Piatra đều được ghi rõ.

– Danh sách được phân hạng đâu? – Bodnariuk hỏi.

Chủ tịch xã đứng lên. Tóc ông ướt đẫm vì đã đứng đợi Boris dưới mưa.

– Làng chúng tôi không có ai thuộc thành phần thứ nhất cả Chúng tôi không có ai là tá điền, tư sản, đại điền chủ.

Thành phần thứ nhất không có trong làng Piatra.

Boris Bodnariuk không hài lòng. Trong mỗi lần xuất hiện, hắn có thói quen đưa ra trước dân làng được tụ họp lại, một đại điền chủ, mà hắn chửi rủa nhục mạ công khai.

Sau đó hắn ra lệnh tịch biên tài sản để phân phát cho nông dân. Làm như thế, đám đông dân làng thụ động sẽ bị kích động, và nhờ đó sự căm thù giai cấp mới bộc phát được.

Đưa danh sách của những người thuộc thành phần thứ hai đây. – Boris ra lệnh.

– Chúng tôi cũng chẳng có ai thuộc thành phần thứ hai. – Chủ tịch xã đáp.

Thành phần thứ hai bao gồm những nông dân có từ năm mẫu trở lên. ở Piatra chẳng có ai lại có nhiều đất đến thế.

Trên những chiếc ghế dài bằng gỗ, những người nông dân cảm thấy sung sướng khi nghe chủ tịch xã tuyên bố là trong làng không có người giàu hay tá điền gì cả. Họ chờ đợi sự khen ngợi của người mặc áo khoác ngoài bằng da, với vết sẹo dài trên trán.

Danh sách thứ hai bao gồm cả những chủ lò xay bột, chủ quán trọ, những cảnh binh trước đây, tất cả những người đã bóc lột nhân dân dưới chế độ tư sản.

– Người cảnh binh trước đây không phải dân làng. – Chủ tịch xã nói – Hắn đã biến mất từ ngày Chiến thắng. Ở Piatra chẳng có một chủ lò xay bột, vì chẳng có cối xay nào cả. Làng chúng tôi là một làng nghèo. Chúng tôi phải mang lúa và bắp đến làng khác thuê xay. Cà phê thì mua ở xứ kế cận đây.

Giọng nói của Bodnariuk trở nên nghiêm khắc. Hắn muốn khám phá kỳ được kẻ thù của nhân dân.

– Đưa cho tôi danh sách những thành viên của những tổ chức tiểu tư sản trước đây, và những xã trưởng cũ.

– Chúng tôi chỉ có một xã trưởng trong suốt hai mươi năm nay. Ông ta chết rồi. Chúng tôi đã đưa đám ông ta chỉ mới ba tuần trước đây thôi. Cầu Chúa phù hộ cho ông ta.

Trong sa mạc cát, Bodnariuk đã phải phấn đấu để chiếm ngự và cải tạo từng tất đất khô cằn. Thế mà công việc của một người lãnh đạo Cộng sản trong một làng thuộc nước Rumani còn cực nhọc hơn cả việc canh tác sa mạc. Như những làng khác của nước Rumani, làng Piatra đang ở trong trạng thái bất động, và sự bất động là kẻ thù nguy hiểm nhất của tiến bộ . Đã từ ba ngàn năm nay, người nông dân nước Rumani đã dùng cái quán lực này để đương đầu. Để làm cho họ khởi động, người lãnh đạo Cộng sản buộc phải ghim sâu lưỡi dao đến tận xương tủy. Họ giống như đất cát khô cằn của sa mạc, người ta không thể trồng gì trên đó cả. Bodnariuk nhìn với một vẻ căm hờn những người nông dân ngồi trên những chiếc ghế dài, đối diện với hắn, tay họ để tựa trên đầu gối.

Hắn lại giở từng trang cuốn tập. Thành phần thứ nhất: địa chủ: không có. Thành phần thứ hai: phú nông: không có. Những kẻ giúp việc cho thành phần tiểu tư sản: không có. Những người khai thác, bóc lột nhân dân: chủ tiệm cà phê, chủ lò bột, cảnh binh: không có. Những người đã du hành ra nước ngoài: không có. Những người có thân nhân ở ngoại quốc: không có.

Piatra không có một tên tuổi nào có thể gây được sự uất hận, và sự nổi dậy, đủ khả năng đưa dân làng ra khỏi trạng thái bất động này. Chỉ có một tờ giấy rời ghi: Mục sư. Thomas Skobai và trong ngoặc đơn: mù và 78 tuổi. Tiếp theo: dân mới ngụ tại làng: Pierre Pillat, nguyên thẩm phán, đã có gia đình, đảng viên Cộng sản địa phương.

Vành trán và đôi mắt của Bodnariuk bỗng rực sáng lên.

Hắn cảm thấy hài lòng. Hắn biết là chỉ cần một cây quẹt đủ để thiêu hủy cả một căn nhà. Chỉ cần một người có tội đủ để thiêu hủy cả làng. Trong đôi mắt của Boris Bodnariuk phảng phất niềm vui sướng của một thám tử, sau nhiều tuần điều tra, và nhiều đêm không ngủ được, đã tìm thấy dấu tay trên một tấm kính soi mặt, trên một chiếc ly, hay trên trái nắm của cánh cửa.

Dấu tay này đủ để đưa ra ánh sáng một tội ác, và bắt giữ những kẻ giết người.

Hắn liên tưởng đến những chỉ thị đã được chuyển cho từng chủ tịch xã: “Lập danh sách có đủ tên tuổi, nghề nghiệp của mỗi công dân, sắp xếp dân chúng theo thành phần xã hội, truy nã và khởi tố những giai cấp thượng lưu. Lập thành hồ sơ, và bản cáo trạng cho từng đối tượng thuộc hai thành phần đầu.”

Bodnariuk đã căn dặn phải lục tìm quá khứ của từng công dân thuộc những thành phần bị kết tội, vì rằng ai cũng có thể bị tố cáo vì một lỗi lầm gì đó. Tá điền nào mà đã không một lần tát tai người giúp việc của mình trong suốt cả cuộc đời.

Thằng cha trưởng giả nào lại không cách này hoặc cách khác chòng ghẹo cô nấu bếp của mình. Nghiệp chủ nào đó với chiếc xe hơi của mình lại chẳng có lần cán nhầm con chó của một người đáng thương nào đó. Tất cả những dữ kiện này sẽ phải được khám phá và biến thành những khoản tố cáo giai cấp. Bất cứ một xã trưởng nào cũng có khả năng phạm phải một điều bất công, và bất cứ chủ lò xay bột nào cũng là một thứ bóc lột, bởi lẽ họ đã buộc người nông dân phải tăng thêm chi phí cho mùa màng. Tất cả đều là những bất công xã hội. Mọi mục sư đều là người lợi dụng giai cấp công nhân, bởi lẽ họ không có những sinh hoạt chính trị. Họ có một cuộc sống ăn bám. Tất cả cái đó phải được dùng đến trong những phiên tòa truy tố những kẻ áp bức để đày ải hoặc tiêu diệt chúng.

Những phiên tòa như thế là một trường học cần thiết cho sự sáng tạo tinh thần chiến đấu của giai cấp.

Từ cửa sổ, Bodnariuk nhìn thấy những người nông dân đứng thành hàng, im lặng chờ đợi dưới mưa như những hình tượng bằng đất sét. Từ ngày Chiến thắng đến nay đã bốn tháng rồi mà hắn chưa làm được gì cả. Mỗi một làng được xem như một gia đình. Cái khối người nhu nhược cấu thành làng xã này phải được làm nổ tung ra, đập bể thành từng mảnh, chia thành từng loại.

– Đồng chí sắp phải học hỏi cách để làm nổ tung một làng. – Bodnariuk nhẹ nhàng nói với Serghei Severin – Đồng chí cứ dùng kỹ thuật đó áp dụng cho những làng khác trong khu vực của đồng chí. Không khó đâu.

Bodnariuk nhìn Pierre Pillat một cách chăm chú. Pillat định đến chào hỏi hắn khi hắn vừa bước xuống xe. Lúc bấy giờ anh muốn nói chuyện với hắn. Anh đã chào hắn, nhưng hắn đã tảng lờ như không nhìn thấy. Ngay cả khi Pillat đến ngồi trên chiếc ghế băng, ở hàng đầu, giữa những người nông dân, Bodnariuk cũng không thèm để ý đến anh. Nhưng lúc này đây hắn đang chăm chú nhìn vào mắt anh.

– Chúng ta đã từng là bạn học ở Học viện hoàng gia Kichinev. – Bodnariuk nói.

Pillat đứng lên. Bên cạnh chàng là Marie, vợ chàng. Một nông dân sạm nắng với đôi mắt lanh lợi ngồi bên cạnh Marie.

Đó là Ion Kostaky, bố vợ chàng. Ông già cảm động, xem việc con rể của ông là bạn hữu của một nhân vật quan trọng như một huy chương danh dự vậy.

Đáng lẽ Pierre Pillat muốn nói là cuộc gặp gỡ này đã làm cho chàng sung sướng biết bao, đáng lẽ chàng muốn nói với Boris Bodnar mà hôm nay người ta gọi là Boris Bodnariuk, là cái kỷ niệm của ngày chia tay, những điếu thuốc lá phì phèo trong giờ ra chơi, chiếc ảnh của cô nữ sinh trường quốc gia âm nhạc tên là Eddy Thall, vẫn còn sống động trong ký ức của chàng…

– Tôi đã tìm kiếm anh khá lâu. – Pillat nói.

Boris Bodnariuk cởi bỏ chiếc áo choàng bằng da ra. Hắn mặc một chiếc áo kaki, một chiếc thắt lưng với khẩu súng ngắn. Hắn tháo khẩu súng ngắn để trên bàn cùng với chiếc khăn quàng cổ màu đỏ. Pillat đợi cho hắn xong xuôi mọi thứ.

– Tôi đã cưới vợ ở Piatra. (Marie đứng lên chào). Đây là bố vợ của tôi. (Chàng giới thiệu Ion Kostaky). Bố vợ tôi còn có một ngôi nhà ở kế cận nhà của ông. Hiện nay tôi đang sống ở đó. Chúng tôi cùng làm nghề nông.

Những người nông dân mỉm cười sung sướng, tim họ rạo rực vui mừng như thánh đường ngày lễ Phục Sinh, khi người ta hát bài “Chúa đã phục sinh”. Thật là hạnh phúc khi nhìn thấy ai đó đã nói năng đầy nhân tính với Boris Bodnariuk. Hắn giống như người bằng đá, và chẳng ai có thể thân cận hắn được Và lúc này đây mọi nỗi sợ sệt đều biến mất. Pillat đã nói với hắn như với một người bằng xương bằng thịt. Những người nông dân nghĩ là nhờ ở tình bạn này mà làng Piatra sẽ có thể nhận được hạt giống, tiền cứu trợ, và gỗ để sửa sang lại những cây cầu đã bị phá hủy.

– Sẽ không có một ngoại lệ nào với anh cả. – Boris Bodnariuk nói với Pillat. – Anh đã hành động như những người tư sản phản động. Đến ngày chiến thắng anh đã về ẩn núp trong làng. Tôi báo cho anh biết là đối với những tên phản động, sẽ không có chỗ dung thân bất cứ nơi đâu, ở trong làng lại càng không thể được. Không có chỗ bất cứ nơi đâu cho kẻ thù của nhân dân.

Những người nông dân rướng cổ lắng nghe. Họ cứ tưởng là đã nghe nhầm.

– Tôi đấu tranh cho công lý của nhân dân. – Boris Bodnariuk nói tiếp. Bây giờ thì hắn nhìn về phía những người nông dân. – Tôi không muốn phản bội những người lao động nông thôn, và đây là một bằng chứng. Tôi đã từng là bạn hữu của người này. Hắn đã trở thành người trí thức tiểu tư sản, hắn đã phục vụ cho giai cấp bóc lột, như những trí thức tiểu tư sản khác. Vậy nên hắn phải lãnh nhận hình phạt dành cho hắn. Sự kiện hắn là bạn cũ của tôi không là điều quan trọng. Tôi sẽ không phản bội giai cấp nông dân nước Rumani vì một người bạn học cũ, đã trở thành đày tớ của những tên tư sản. Tôi hứa với các đồng chí là sẽ loại hắn ra khỏi làng.

Những người nông dân đã không vỗ tay reo hò. Họ không muốn một thứ công lý như thế. Họ không muốn tai biến đến với Pillat.

– Con rể của tôi không phải là một tên phản động. Ion Kostaky vừa nói vừa siết chặt hai nắm tay lại – Nếu đồng chí cứ cho rằng con rể của tôi là một tên phản động thì đồng chí đã lầm rồi đấy. Tôi biết nó lắm.

– Xin báo cáo để đồng chí rõ. – Chủ tịch xã nói – Anh Pierre Pillat là người đầu tiên gia nhập đảng Cộng sản địa phương. Anh ấy cũng đã khuyến khích chúng tôi ghi tên gia nhập. Anh ấy không phản động đâu. Hiện anh ấy đang nắm giữ sổ sách của đảng bộ tại Piatra. Mỗi buổi tối chúng tôi đã hội họp tại đây, văn phòng ủy ban nhân dân xã. Anh Pillat là ánh sáng của chúng tôi đấy.

Bodnariuk im lặng. Sự im lặng của hắn xem ra nặng nề và đe dọa. Người ta nghe thấy cả tiếng mưa rơi và tiếng thì thầm của gió. Mỗi người nghe thấy tiếng con tim mình đập.

Bodnariuk vẫn im lặng.

Hắn biết rằng sự im lặng của hắn đã giày vò đám nông dân, và hắn càng muốn kéo dài sự hành hạ đó. Rồi hắn lớn tiếng nói một cách rõ ràng:

– Hỡi các đồng chí nông dân, bổn phận của những người lãnh đạo Đảng là mang lại cho các đồng chí công lý và bảo vệ các đồng chí. Chúng tôi biết nhiều hơn các đồng chí. Các đồng chí chỉ là những người nông dân đáng thương một sớm một chiều vừa mới thoát khỏi xiềng xích nô lệ. Các đồng chí chưa biết cách bảo vệ mình đâu. Nhiệm vụ đầu tiên của chính quyền nhân dân là bảo vệ các đồng chí. Tất cả những tên phản động, những người đầu cơ, những tên gián điệp và những tên phản bội bị công lý theo đuổi đang ẩn lánh ở những vùng quê, như những con sói mang lốt cừu non. Hỡi các đồng chí nông dân, chính quyền sẽ không cho phép người ta lừa phỉnh các đồng chí, và nhất định sẽ bảo vệ các đồng chí. Những tên phản động này là những con sói chứ không phải những con cừu như các đồng chí đang lầm tưởng. Chúng ta sẽ lột mặt nạ chúng tất cả, chúng ta sẽ lột da chúng. Mọi tên tư sản là một con sói đã hút máu nông dân để nuôi sống mình. Pillat cũng là một con sói, chính quyền bảo vệ các đồng chí chống lại những con sói đó.

Boris Bodnariuk đứng lên. Những người nông dân im lặng.

Marie lặng lẽ khóc.

– Đồng chí hãy chọn những thanh niên, và biến họ thành những vệ binh nhân dân. Trang bị cho họ khí giới. Dạy cho họ hận thù. Bảo họ gieo rắc hận thù khắp mọi làng. Không hận thù, sẽ không khích động được dân chúng. Bao lâu người nông dân chưa học biết thù hận, chúng ta chưa thể tin cậy họ cho những yếu tố để xây dựng cho những quốc gia Cộng sản được.

Phải bạo động tối đa. Nếu chúng ta không kích động được làng xã, thì chẳng bao giờ người Xô Viết lại có thể thâm nhập vào tận đó được, làng xã sẽ ở trong tình trạng của ba ngàn năm trước đây, và chiến thắng của hồng quân chẳng có ý nghĩa gì cả. Hãy gieo vãi hận thù. Hận thù, đồng chí hiểu chưa, Serghei Severin? Hận thù trong mỗi làng.

III

Sau cuộc viếng thăm và những lời hăm dọa của Boris Bodnariuk dân làng Piatra đã chờ đợi những diễn biến quan trọng đến với họ, nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra. Sự yên tĩnh trở lại. Chỉ một mình Serghei Severin thỉnh thoảng đã đi ngang qua những con đường làng bằng xe gắn máy, xe hơi, hoặc cưỡi ngựa để đến văn phòng ủy ban nhân xã. Tên người Nga Severin không hề đá động gì đến bất cứ ai. Hắn đã qui tụ được mười hai nông dân trẻ, đã cung cấp cho họ áo quần và vũ khí. Hắn đã dạy cho họ bắn súng tiểu liên hoặc súng ngắn, và đã thuyết giải cho họ, ngoài ra không làm gì khác hơn. Cuộc sống trong làng đã trôi qua trong yên tĩnh. Mười hai thanh niên vệ binh nhân dân đã nội trú ở một phòng ngay cạnh ủy ban nhân dân xã. Những người nông dân ở đây đều biết là những tên vệ binh nhân dân này đã báo cáo lại với Severin tất cả những gì xảy ra trong làng, nhưng dân làng Piatra chẳng có gì phải giấu giếm.

Qua báo cáo của những tên vệ binh nhân dân này, Severin đã biết được ai đã cãi nhau với vợ mình, ai đã đi nhà thờ hay ra phố, ai đã ốm đau. Nhưng tất cả những cái đó không phải là điều bí mật. Tên người Nga Serghei Severin có thể quan tâm đến những thứ đó với điều kiện là để cho dân chúng yên lành.

Và hắn đã để họ yên lành. Ngay cả Pierre Pillat cũng cảm thấy yên tâm. Nỗi sợ hãi của chàng cũng đã tan biến.

– Bố Kostaky này, – chàng nói – nếu người Xô Viết để chúng ta yên, chúng ta chẳng có gì phải chống đối họ. Ngay cả thánh tông đồ Mathew cũng đã nói với ta ở chương V mục 25 rằng: “Con hãy hòa hợp với kẻ thù của con trong khi con cùng hành trình chung với họ… sợ rằng họ sẽ ném con vào chốn lao tù”. Chúng ta buộc phải chung sống với người Xô Viết, bởi vì người Nga đã giải phóng nước Rumani, với súng ống mang nhãn hiệu của Mỹ, với đạn dược của người Anh, và với lời chúc tốt lành của giáo hội Công giáo. Năm mươi hai nước trong những nước văn minh nhất của địa cầu đã dẫn dắt người Nga đến tận Piatra. Khi người Nga chiếm đóng nước Rumani, chuông của mọi giáo đường phương Tây đã vang lên, ở London, cũng như ở Paris, ở New York, cũng như ở Lisbonne để chúc mừng. Người ta nghĩ rằng chiến thắng của cây thập tự và của sự tự do đã được đảm bảo trên toàn thế giới.

– Thế là tự do đấy hả ? – Ion Kostaky vừa nói vừa nhổ toẹt xuống đất.

Ông ta cầm lấy chiếc nón, và tất cả gia đình đi về phía ủy ban nhân dân xã. Người ta tổ chức kỷ niệm ngày chết của vị nữ anh hùng Tinka Neva. Dân làng hiện diện không thiếu ai.

Trước khi ngồi vào những chiếc ghế gỗ dài, Ion Kostaky, vợ ông ta Ileana, Pierre và Marie Pillat đã hôn tay mục sư Thomas Skobai. Mục sư bị mù cả hai mắt, nhưng đã biết mọi người, và gọi tên từng người. Mắt ông ta hướng về phía lễ đài ngập đầy cờ xí, những bức chân dung, và màu xanh cây cối, nhưng ông ta chẳng nhìn thấy gì cả. Bốn mươi năm về trước, trong một đêm lễ Phục Sinh, một người nào đó đã để quên cây nến cháy dở trong nhà thờ Piatra, và nhà thờ đã bốc cháy. Mục sư Thomas Skebai dẫn đầu đám đông nhân dân dập tắt đám cháy.

Nhà thờ được xây dựng trên một ngọn đồi. Lúc bấy giờ vào khoảng ba giờ sáng. Trong khi leo lên về phía nhà thờ, mục sư Thomas đã không còn nhìn thấy gì nữa. Từ đêm lễ Phục Sinh năm đó, ông ta chỉ còn nhìn thấy một thánh đường bốc cháy trên đỉnh một ngọn đồi, và không còn gì khác. Sáng sớm hôm sau, vị mục sư mù lòa đã làm lễ ngay chính trên đám tro tàn còn bốc khói. Dân làng đã xây dựng lại ngôi thánh đường.

Tổng giáo chủ khi biết được mục sư đã bị mù cả hai mắt, đã muốn cho người thay thế ông ta, nhưng khi nghe thấy ông ta hành lễ, tổng giáo chủ đã ôm lấy mục sư và chẳng bao giờ nói đến chuyện thay thế nữa.

Mục sư Thomas Skobai nhìn Severin bước lên lễ đài, nhưng ông ta chỉ nhìn thấy một thánh đường bốc cháy. Severin bắt đầu nói về Tinka Neva. Hắn nói bằng một thứ tiếng Rumani ngọng nghịu. Những người nông dân thì nghĩ đến những cánh đồng của họ, mục sư Thomas Skobai thì nhìn ngôi thánh đường đang bốc cháy của mình.

Severin nói:

– Những tên tội phạm đang lẩn trốn tại Piatra. Chúng ta phải tận diệt chúng.

Những người nông dân bỗng giật mình, không còn nghĩ đến đồng ruộng, hay nhà cửa của họ nữa. Họ cảm thấy sợ hãi, và không ai bảo ai họ đều nhìn về phía Pierre Pillat.

– Không phải những tên tội phạm đã bị lột mặt nạ. Những thứ đó chúng ta có thể bất bất cứ lúc nào. Giờ đây chiến thắng của giai cấp công nhân đã đạt được, chúng ta phải lột mặt nạ những tên còn đang lẩn trốn. Tôi yêu cầu kẻ thù của nhân dân đứng lên ngay tức khắc.

Những người nông dân tái mặt. Tim họ bỗng trở nên bé bỏng, quặn thắt, không một ai cử động.

Hãy đứng lên, Marie Kostaky, để nhân dân nhìn thấy mày. – Serghei Severin ra lệnh.

– Tôi không phải là một tội phạm. – Marie nói.

Nàng đứng thẳng người. Pierre nắm lấy tay nàng.

– Mày đã phạm những tội tày đình chống lại nhân dân, – Severin nói – nhưng rồi sẽ đến phiên mày. Chúng ta phải lột mặt nạ một kẻ thù khác của nhân dân: Ion Kostaky.

Ion Kostaky đứng lên, nhưng người ta có thể nói là tất cả sự phẫn nộ và nỗi bất bình của dân chúng đã cùng đứng lên với ông ta. Kostaky siết chặt hai nắm tay, nghiến răng. Ông ta ước gì lời nói của ông là một hòn đá ném vào đầu tên người Nga đã dám gọi ông, Ion Kostaky, là một tên tội phạm.

– Ion Kostaky. – Severin nói – Trước nhân dân tao tố cáo mày là một tên phát xít. Trước khi bị treo cổ, mày hãy quay đầu lại để những người nông dân xem thử kẻ thù nhân dân ra làm sao.

Kostaky nghẹn lời. Ông ta nghiến chặt hai hàm răng lại.

Những người nông dân thì siết chặt hai nắm tay.

Severin lấy ra một tờ giấy và đọc:

Ngày 14 tháng 8 năm 1943 lúc 2 giờ chiều, 2 sĩ quan S.S đã đến nhà của Ion Kostaky để mưa đồ chống lại nhân dân.

Hai tên phát xít này đã bị một tòa án Xô Viết kết án, và đã bị treo cổ tại công trường Đỏ của thành phố Kiev.

Serghei Severin đưa cho những người nông dân xem một tấm ảnh. Trên tấm ảnh đó người ta nhìn thấy hai tên người Đức bị treo cổ. Dân chúng làng Piatra nhìn tấm ảnh, và chuyền tay nhau sợ hãi. Người ta không phân biệt được mặt mũi của hai tên sĩ quan Đức, nhưng chỉ nhìn thấy thân hình với những đôi bốt màu đen, cổ họ bị treo tòn ten ở đầu dây. Mục sư Thomas Skobai cũng cầm lấy tấm ảnh, mà chẳng nhìn thấy gì. Trước mắt ông ta là lửa đang thiêu đốt ngôi thánh đường.

Hai tên tội phạm mà các đồng chí nhìn thấy trên tấm ảnh đã khai trước tòa án Xô Viết là chính chúng đã giết rất nhiều người mà chúng không thể nhớ nổi con số chính xác của những nạn nhân này. – Sevenn nói tiếp – Hai tên tội phạm này vừa là bạn vừa là lãnh đạo của tên phát xít Ion Kostaky. Hai tên tội phạm này đã có lần vào nhà của Ion Kostaky để bàn chuyện với hắn. Để khỏi bị dòm ngó, chúng đã kéo màn che các cửa lại, nhưng nhân dân đã nhìn và nghe thấy hết mọi chuyện.

Mặt của Ion Kostaky cũng như của những người nông dân khác đã trở nên xanh mét. Chưa bao giờ một sự sợ hãi như thế đã giáng xuống làng Piatra.

– Hãy nhìn tấm ảnh đi Ion Kostaky, và hãy trả lời trước nhân dân: mày có nhận biết hai tên phát xít này không? Có phải mày đã hội diện với chúng để bàn tính mưu đồ không?

Kostaky nhìn tấm ảnh của hai tên Đức bị treo cổ.

Tôi không biết chúng. Ông nói – Người ta chẳng nhìn thấy mặt mày gì của chúng cả, làm sao tôi có thể nhận diện chúng được? Nhưng tôi biết tôi không phải là một tên phát xít, và tôi chẳng hề nói chuyện với ai khác… Cả đời tôi chưa nói chuyện với một tên Đức nào.

Ngay khi đó ông ta nhớ đến một sự việc mà ông ta đã chẳng mảy may quan tâm.

– Nói láo! – Severin la lớn – Tòa án nhân dân sẽ bắt mày khai tất cả sự thật. Trong khi mày đang mưu tính với tụi Đức, mặc dầu màn cửa đã được kéo kỹ, mắt nhân dân vẫn nhìn thấy mày, tai nhân dân vẫn nghe thấy mày. Đấy, tại sao mày lại có tên trong sổ đen. Ngày xét xử đã đến và chính là ngày hôm nay đây.

Ion Kostaky ngồi xuống, Severin lại nói tiếp:

– Hỡi các đồng chí nông dân, Ion Kostaky, nhân viên phát xít, sẽ nhận lãnh hình phạt của hắn. Pierre Pillat cam tâm làm tôi mọi cho bọn tư sản, cũng sẽ nhận lãnh hình phạt của hắn.

Marie Kostaky đã hiếp đáp những cô gái nghèo nàn, cũng sẽ bị trừng phạt. Các đồng chí hãy tin chắc là chính quyền Cộng sản sẽ không để một ai có tội mà không bị trừng phạt.

Marie đã nghe thấy những lời tố cáo cha và chồng mình, không còn có thể nghe người ta tố cáo chính mình là một tên khủng bố. Nàng vùng đứng lên như một mũi tên:

– Tôi không phải là một tên khủng bố. – Nàng la lớn tiếng – Mà tôi đã khủng bố ai mới được chứ?

– Xin mời công dân Sanda Apostol đứng lên, và kể lại cho dân làng nghe cô đã bị con gái của tên phát xít Kostaky hành hạ đến thương tích như thế nào. – Severin ra lệnh.

Sanda Apostol đứng lên.

– Xin đồng chí Sanda đừng sợ gì cả . – Severin nói – Đồng chí là con gái của một bần nông. Hiện nay những người nghèo khổ đang nắm chính quyền. Chính quyền sẽ bênh vực họ.

Đồng chí hãy kể lại cho chúng tôi nghe con gái của tên phát xít Kostaky đã đánh đập và hủy hoại bộ mặt của đồng chí như thế nào.

– Tôi cũng không còn nhớ nữa. – Sanda Apostol nói – Lúc bấy giờ chúng tôi còn bé, và đùa giỡn với nhau đó thôi.

– Bây giờ thì đồng chí đang mang trên mặt một cái thẹo.

– Serghei Severin nói – Đồng chí cứ lớn tiếng tố cáo một cách rõ ràng, bởi vì ngày công lý nhân dân đã đến. Đồng chí đừng sợ. Bây giờ thì chính các đồng chí, chính nhân dân đang nắm chính quyền, và các đồng chí phải phơi bày tất cả những ô nhục mà chính các đồng chí đã là nạn nhân. Đồng chí hãy nói người ta đã xử tệ với đồng chí như thế nào. Để tưởng niệm cái chết anh dũng của chị Tinka Neva, trong mọi làng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Rumani bắt đầu một cuộc vận động nhằm lột mặt nạ những tên phản động bọn phát xít, và những người đã áp chế nhân dân. Chúng ta sẽ tiếp tục lột mặt nạ chúng mỗi ngày, và sau đó chúng ta sẽ treo cổ chúng dọc theo những con đường cái.

– Tôi đã bảo với đồng chí là lúc bấy giờ chỉ vì đùa giỡn thôi. – Sanda Apostol nói.

– Thôi được, lần tới đồng chí sẽ kể cho chúng tôi nghe người ta đã xử tệ với đồng chí như thế nào, bởi vì bây giờ tôi thấy đồng chí đang sợ.

Lễ tưởng niệm ngày chết của Tinka Neva đã kết thúc với những lời nói đó. Những người nông dân ngồi yên bất động.

Sau khi Severin đã rời khỏi đó, họ ngước mắt nhìn về phía mục sư Thomas Skobai. Họ chờ đợi một dấu hiệu của ông ta, nhưng mục sư vẫn im lặng tiếp tục chiêm ngưỡng cái hình ảnh muôn thuở của ngôi thánh đường đang bốc cháy, và chẳng nói gì.

Những người nông dân lẳng lặng lên đường trở về nhà. Họ dẫn đàn súc vật đi uống nước, rồi trở về nhà sớm hơn thường lệ. Sự sợ hãi tràn ngập tâm hồn họ. Đó là lần đầu tiên mà những người nông dân làng Piatra đã thật sự sợ hãi. Họ nghĩ rằng nếu những người Cộng sản biết được những đứa trẻ đã nô đùa với nhau như thế nào cách đây mười lăm năm trước, và Sanda Apostol đã bị ngã và bị thương ở mặt trong lúc nô đùa với Marie Kostaky, thì những người Cộng sản biết hết mọi chuyện.

Những người nông dân, lòng đầy sợ hãi, thổi tắt những ngọn đèn dầu của họ. Sau đó họ lên giường ngủ với cảm giác là ai đó đang lắng nghe ở ngoài cửa, xuyên qua cửa sổ đang rình rập giấc ngủ của họ, đang nhìn xuyên qua tường, qua trần nhà, qua những cánh cửa đã được khóa chặt. Họ có cảm tưởng một con mắt nào đó đang theo dõi họ trong bóng lối. Dưới những lớp chăn, những người nông dân đã cầu kinh với một sự sợ hãi kinh hoàng, bởi vì đây là bắt đầu của giai đoạn khủng bố.

IV

Sáng sớm hôm sau, dân làng Piatra thức dậy thật sớm, nhưng không một ai rời xa khỏi nhà. Họ tìm những công việc trong sân, hoặc trong vườn để làm. Họ chú cả tâm trí để nghe, nhìn. Họ rình nghe tiếng động cơ chiếc xe gắn máy của Severin đi vào làng.

Severin đã xuất hiện như mọi khi, hắn băng qua làng và đến ngay văn phòng ủy ban nhân dân xã. Những người nông dân cũng chẳng biết họ sẽ phải có thái độ như thế nào nữa, nhưng họ vẫn chờ đợi với tất cả sự chú tâm. Họ không muốn bị khống chế bất ngờ, và họ chờ đợi đội vệ binh nhân dân đến bắt Ion Kostaky, Pillat và những người khác nữa. Sự sợ hãi mỗi lúc mỗi tăng. Cho đến trưa Severin vẫn không có hành động gì khác. Hắn chuyện trò với những tên vệ binh nhân dân như thường lệ, và huấn luyện các thanh niên.

Cho đến trưa, Pierre Pillat không còn kiên nhẫn đợi chờ nữa.

– Boris Bodnariuk hiện đang ở thành phố, ở Molda. – Pillat nói với Ion Kostaky – Con sẽ đến gặp anh ta. Con muốn nói chuyện với anh ấy một cách công khai, giữa những người đàn ông với nhau.

Ion Kostaky thắng ngựa vào xe, nhưng ông không muốn để chàng rể đi một mình. Ông đã lên xe ngồi cạnh Pierre Pillat và họ đã cùng nhau đến thành phố Molda.

– Ba phải mua ít đinh và ván. – Kostaky nói – Ba định sửa lại bờ rào. Ba đi với con. Chỉ có thế thôi.

Hai thanh niên trong đội vệ binh chờ sẵn trên đường cái, ở lối vào làng. Chúng chặn xe lại và hỏi xem họ đi đâu. Chúng làm như thế với mọi công dân rời khỏi làng. Sau đó chúng để họ đi.

– Con không muốn hạ mình – Pillat nói – nhưng con sẽ khẩn khoản xin anh ta để chúng ta yên. Chúng con đã từng là bạn học. Chắc thế nào anh ấy cũng nghe con. Con làm thế có được không?

Kostaky gật đầu và quất ngựa đi.

Khi đến thành phố, Kostaky đi kiếm mua đinh và ván để sửa chữa bờ rào, còn Pierre thì đến ngay chỗ làm việc của Boris Bodnariuk, ở ủy ban nhân dân huyện.

– Anh Boris này, tôi xin anh một điều, và điều đó sẽ không làm ảnh hưởng đến uy quyền người lãnh đạo Cộng sản của anh đâu. Tôi muốn trở thành một thành viên ưu tú của Đảng. Tôi muốn gia nhập Đảng với tất cả tấm lòng thành khẩn của tôi. Anh hãy cho tôi thời gian để chứng minh với anh điều đó bằng những hành động. Tôi muốn trở thành một yếu tố hữu ích đối với cộng đồng và đối với Đảng. Anh hãy nhìn thẳng vào mắt tôi và anh sẽ thấy là tôi chân thành, rất chân thành.

– Đúng thế, anh rất chân thành. – Bodnariuk nói – Nhưng anh đã đòi hỏi ở tôi một điều không thể được.

– Nếu tôi thành khẩn mong muốn điều đó, và nếu tôi hướng tất cả cố gắng của mình trong chiều hướng đó, anh tin là tôi sẽ không thể nào trở thành một người Cộng sản chân chính sao? – Pillat hỏi.

– Không, anh không thể. – Bodnariuk mỉm cười nói – Anh hãy nhớ lại những bài học thánh kinh hồi còn học ở học viện hoàng gia xem. “Con lạc đà chui qua lỗ kim khâu còn dễ hơn người giàu có vào nước trời”. Không ai nghĩ đến việc lên án giáo hội Công giáo là tàn ác vì đã loại trừ những người giàu có. Một trí thức tiểu tư sản không thể nào trở thành người Cộng sản được.

– Người giàu có có thể trở nên nghèo khó, nếu họ từ bỏ những của cải vật chất của mình. – Pierre Pillat nói – Họ không bị loại trừ một cách dứt khoát. Nhưng họ phải từ bỏ tất cả. Tôi đã từ bỏ tất cả, anh Boris à. Hãy để cho tôi cộng tác với anh, sát cánh bên anh. Tôi muốn trở thành một đảng viên Cộng sản. Anh hãy giúp tôi.

– Làm sao anh có thể chối bỏ nguồn gốc tiểu tư sản của anh được Anh có làm gì đi nữa thì anh cũng vẫn là một trí thức tiểu tư sản. Bây giờ thì nhân dân đang nắm chính quyền, và nhiệm vụ đầu tiên của một dân tộc đang nắm chính quyền là loại bỏ và trừng phạt giai cấp tiểu tư sản. Anh phải chịu những hình phạt đó.

– Để bị trừng phạt thì trước tiên phải bị truy tố về một tội gì đó – Pillat nói – Anh có thể trách cứ tôi điều gì nào?

– Trong cuộc cách mạng Cộng sản chúng tôi không cần biết đến cá nhân. – Bodnariuk nói – Nhưng xã hội không bao gồm những cá nhân, mà là những giai cấp. Cá nhân mà nói thì anh chẳng có gì lầm lỗi cả. Nhưng giai cấp tiểu tư sản đã làm nên tội ác, và chúng tôi trừng phạt giai cấp của anh. Anh thuộc giai cấp đó, anh đã mưu lợi với nó, thì anh sẽ phải chịu trừng phạt với nó. Chỉ đơn giản vậy thôi.

Bodnariuk cầm lấy chiếc áo choàng bằng da, và quấn lại chiếc khăn quàng cổ màu đỏ.

– Tôi xin anh một đặc ân ngoại lệ. Anh cho phép tôi được gia nhập khối vô sản. Anh sẽ không thất vọng đâu.

– Anh đã xin tôi một điều không thể được. – Bodnariuk nói – Nếu tôi cho phép anh điều đó, thì tôi sẽ phạm tội phản bội nhân dân và Đảng. Tôi có nhiệm vụ loại trừ những thành viên của những giai cấp thượng đẳng của mỗi thành phố hay làng xã, như thể người nha sĩ phải nhổ những chiếc răng sâu. Mọi thành viên tiểu tư sản là một cơ nguy truyền nhiễm đối với Đảng. Xã hội có luật lệ vệ sinh chính trị của nó, và nhân danh những luật lệ đó anh phải bị đào thải. Các anh, những trí thức tiểu tư sản, rất tự tin khi cần nắm bắt những vấn đề tế nhị, lẽ nào lại không hiểu được những quy luật này, thật là đơn giản.

Cuộc gặp gỡ chấm dứt. Boris Bodnariuk để Pierre Pillat ra về mà chẳng thèm bắt tay bạn cũ. Trước văn phòng ủy ban nhân dân huyện, Ion Kostaky đang chờ đợi với chiếc xe chở đầy ván. Pillat lẳng lặng trèo lên xe ngồi cạnh ông ta, không nói một lời. Ion Kostaky hiểu là chuyến đi thành phố đã trở nên vô ích.

V

Ngay chiều hôm đó Ion Kostaky bắt tay làm nhiệm vụ sửa sang lại bờ rào. Ông ta cảm thấy sự cần thiết phải có một bờ rào chắc chắn. Tất cả những người nông dân làng Piatra đã sửa chữa lại những chiếc khóa cửa. Pillat thì bới xới mảnh vườn trước nhà. Marie giúp đỡ chồng. Ở ngay giữa vườn, chàng đã vẽ một quả tim làm bằng những đám cỏ. Chàng bới đất một cách nhanh chóng. Trán của chàng ướt đẫm mồ hôi.

– Này Pillat, bao giờ thì mày thôi bày trò khiêu khích đây?

Pierre Pillat ngẩng đầu lên. Serghei Severin và đội vệ binh nhân dân đang đứng trước cửa. Pillat đánh rơi chiếc xẻng.

Anh tin chắc là người ta đến bắt mình. Severin bước vào sân.

– Tao cứ tưởng là mày thật sự muốn đứng với chúng tao chứ. – Severin nói.

Hắn nháy mắt ra lệnh cho đội vệ binh, và cả sáu tên vệ binh nhân dân mang những đôi giày đinh, đặt khí giới xuống mảnh đất vừa được cuốc xới. Chúng ùa vào trên những đám cỏ được sấp thành hình quả tim và bắt đầu nhổ phá, giẫm nát tất cả. Pierre Pillat chẳng hiểu gì cả. Chàng ngạc nhiên nhìn đám vệ binh nhân dân nhổ phá đám cỏ, và giẫm nát tất cả với những đôi giày đinh của chúng.

– Chúng mày là dân tiểu tư sản, chúng mày cho rằng người Cộng sản là ngu dốt, nhưng chúng tao biết tất cả những gì chúng tao muốn biết, và những gì kẻ thù của chúng tao muốn làm. Mục đích nào khiến mày vẽ ngay chính giữa vườn nhà mày một quả tim lớn bằng cả một bảng quảng cáo, nhìn từ ngoài đường vẫn thấy được?

– Chẳng ai nói với chúng tôi là cấm không được trồng hoa theo hình quả tim cả. – Marie nói.

– Quả tim là biểu thị của quyền sở hữu cá nhân. – Serghei Severin nói – Ngày mà chúng tao cố sức để tập sản hóa ruộng đất thì mày lại vẽ một quả tim ngay chính giữa vườn nhà mình để phản đối chống lại việc tập sản hóa ruộng đất của làng Piatra.

– Tôi thề với anh là chưa bao giờ lại có ý nghĩ…

– Chúng tao đã bắt được mật lệnh của bọn phản động gửi cho đồng bọn tại đây. Họ ra lệnh cho chúng chống lại chương trình tập sản hóa ruộng đất của chúng tao bằng cách vẽ những quả tim màu xanh ngay chính giữa vườn nhà chúng như dấu hiệu phản đối. – Serghei Severin nói – Chúng tao đã chú ý mọi cử động. Mày đã khổ nhọc một cách vô ích. Âm mưu chống phá cách mạng sẽ không thành công đâu.

Những tên vệ binh đã phá nát quả tim. Chúng nhìn Severin và lớn tiếng cười.

Theo dấu hiệu của tên người Nga, sáu người vây lấy Ion Kostaky và giật lấy cây rìu trên tay ông ta. Những đứa khác mang lại một chiếc búa, một cây cuốc. Chỉ trong một phút, bờ rào vừa được Kostaky sửa chữa đã bị phá hủy. Những tấm ván đã bị đập bể nát. Những cây trụ bằng gỗ sồi bị nhổ lên. Nhà của Ion Kostaky và của Pierre Pillat giờ đây không còn gì bao bọc chung quanh nữa.

Những tấm ván bị liệng ra đường, bị giẫm nát.

Đội vệ binh nhân dân đã hoàn thành công việc phá hoại.

Chúng phủi tay, vứt bỏ những dụng cụ, và lấy lại vũ khí.

– Ai đã ra lệnh cho mày sửa chữa lại bờ rào cho kiên cố hả? – Severin hỏi.

– Bờ rào đã mục nát, có gì lạ nếu phải sửa chữa lại? – Kostaky nói – Bây giờ các anh cấm cản chúng tôi sửa chữa lại bờ rào nữa à? Ông ta giận dữ.

– Chúng tao đã bắt được mật lệnh chuyển cho bọn phản động, ra lệnh cho chúng xây dựng lại bờ lũy cao và kiên cố để có thể ẩn nấp, và kháng cự một cách thụ động chống lại chương trình tập sản hóa ruộng đất.

Serghei Severin đọc lên những câu trong chỉ thị mà Bodnanuk đã gởi cho hắn:

“Bờ rào là một sáng tạo của xã hội phong kiên, của thế giới cá thể và là hình ảnh kiến trúc của xã hội phong kiến. Những tên đại tư bản, đại nghiệp chủ đã xây dựng những bờ tường cao, những cánh cửa có bọc sắt để có thể tự biệt lập. Chủ nghĩa Cộng sản đã sáng lập nên một cuộc sống chung. Chủ nghĩa Cộng sản kết hợp những con người lại với nhau, chứ không chia lìa họ.

Những bờ lũy ngăn cách những đồng chí của mình, không thể tồn tại ở giữa những cá nhân trong một cộng đồng. Thế mới hiểu tại sao phản ứng của thế giới đã ra lệnh cho nhân viên của chúng tại nước Rumani phải sửa chữa gấp rút bờ rào, tường lũy…”

Phong trào của những bờ rào và những quả tim xanh trong vườn đã được bắt đầu cùng lúc với sự phát động chương trình tập sản hóa của chúng tao vậy.

– Chúng tôi không có chủ tâm phải giấu giếm. – Pillat nói – Không có.

– Tao sẽ đưa cả ba đứa đến trình diện trước hội đồng nhân dân xã để khai báo đầy đủ, và nói cho chúng tao biết ai đã ra lệnh cho chúng mày. Phải tố cáo những nhân viên, những người lãnh đạo, tất cả những mạng lưới của âm mưu.

VI

Ba ngày trôi qua, kể từ khi quả tim màu xanh và bờ rào bị phá hủy, Pierre Pillat cảm ơn Trời vì đã không bị mời đi, và bị tra hỏi về những hoạt động chống phá cách mạng của mình. Chàng nghĩ cuối cùng rồi cũng yên ổn cả. Sự kiện phải hiện diện mọi ngày ở ngoài sân, để rồi chiều tối bước vào nhà, hai gian nhà nhỏ quét vôi trắng, kề cận bên vợ, đối với chàng là một niềm vui sướng. Sự hiện diện của bố mẹ vợ, Ileana và Kostaky trong cùng một khoảng sân gần cạnh bên là một niềm vui khác.

Công việc đồng áng cũng đã trở thành một nguồn khuây khỏa. Chàng đã khám phá được những niềm vui trong một sự việc nhỏ bé tầm thường nhất: trong sự nóng bức của mặt trời, trong sự mát mẻ của dòng nước, trong màu xanh của bầu trời, trong mọi chuyện.

Mỗi lần nghe tiếng động cơ xe gắn máy của Serghei Severin thì Pillat liền trở vào nhà, như trong lúc này chẳng hạn, nhưng lần này thì chiếc xe gắn máy dừng lại. Không còn bờ rào nữa, và từ ngoài đường, người ta có thể nhìn thấy hết.

– Tại sao mày lại lẩn trốn hả, Pierre Pillat? – Serghei Severin la lên lớn tiếng – Không ai có thể lẩn trốn người Xô Viết cả.

Severin bước vào vườn, theo sau là ba tên vệ binh nhân dân.

– Tao thấy là mày có một con chó. – Severin nói vừa nhìn con chó đang ngồi trước nhà.

– Đó là một con chó hoang. Nó đã đến sân nhà tôi từ ba tuần nay rồi.

– Ngay cả lũ chó cũng nhận biết được nhà của những tên phản động. – Severin nói – Sự kiện có một con chó trong nhà đã nói lên rằng chúng mày có quá thừa thức ăn, mày ăn uống quá sung sướng. Đúng thể không hả?

– Một con chó chỉ ăn đồ thừa thãi, xương xẩu. Người nghèo nhất trong thế giới loài người cũng có thể nuôi một con chó.

– Theo thống kê của đồng chí Boris Bodnariuk, – Severin nói – hiện nay trong nước Rumani có 30 triệu mèo, chó. Mỗi chủ gia đình phải chia xẻ lương thực của mình và của con cái với một con chó và một con mèo. Một khối lượng vô kể thực phẩm đã tiêu biến tại nước Rumani cho 30 triệu miệng ăn vô ích này.

Chỉ có chế độ áp bức nhân dân và giai cấp công nhân mới có thể hy sinh thực phẩm của những người lao động để nuôi chó mèo. Chừng đó đủ để chứng minh sự man rợ của giai cấp tiểu tư sản. Đó là chưa nói đến những bệnh hoạn mà những con thú ăn bám này truyền sang nữa. Chính quyền quyết định tiêu diệt chúng. Người ta sẽ khóa mỏ 30 triệu chó, mèo và chia lương thực của chúng cho những ai còn thiếu. Trong lúc mà chính quyền phê duyệt quyết định cơ bản này, thì mày lại kiếm nuôi một con chó. Mày giải thích thế nào hành động này đây? Mày không chống chế đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên chứ?

Marie, Ileana, Kostaky và một vài người láng giềng khác đã lắng nghe sự buộc tội mới mẻ này.

– Một trong những thích thú bệnh hoạn của những tên áp bức hôm qua, – Severin nói – là nhìn thấy con cái của những người lao động chết đói, trong khi thức ăn của chúng lại ném cho chó mèo. Đã từ lâu Liên bang Xô Viết đã quyết định tiêu diệt những thú vật vô ích. Một xã hội còn giữ lại những thú vật ăn bám là lạc hậu, suy tàn. Chúng ta sẽ bắt chước gương của nước Nga. Chúng ta sẽ rửa cái nhục mà nhân dân đã gánh chịu. Da của những con thú này sẽ dùng cho kỹ nghệ. Mỡ của chúng sẽ làm thành xà phòng dùng cho nhân dân. Nước Nga đã cung cấp cho chúng ta những máy móc thiết bị để dùng trong kỹ nghệ mới mẻ này.

Serghei Severin ra dấu cho những tên vệ binh nhân dân.

Bốn thanh niên liền giương súng lên và nhắm con chó. Rồi mạnh ai nấy bắn. Tiếng súng nổ hòa lẫn với tiếng rên xiết của con chó đang quằn quại trên đám đất vừa được cuốc xới của mảnh vườn. Máu dính đầy tường nhà của Pillat và trên đất khô của mảnh vườn. Tụi vệ binh vẫn tiếp tục bắn vào cái thân xác ngập đầy đạn.

Marie và Ileana Kostaky che mắt, bưng tai, chạy vào nhà để khỏi phải nhìn thấy con chó, nghe những tiếng rên xiết của con thú sắp chết và những tiếng súng nổ.

Pillat bỗng cảm thấy một ý thức tội lỗi sâu sắc. Anh đã tham dự cảnh tượng đó, sững sờ, không có một cử chỉ nào.

Anh sẽ chẳng cứu được con chó, tuy thế anh vẫn có thể có một cử chỉ phản đối. Nhưng anh đã chẳng làm gì, và điều đó giống như một sự phản bội.

Severin ra dấu bảo Ion Kostaky và Pillat lại gần.

– Hãy cầm lấy con chó và mang nó về ủy ban nhân dân xã. Severin ra lệnh – Sẽ còn có những con khác nữa. Một khi về đến ủy ban nhân dân xã, hãy đợi ở đó, sẽ có người chỉ cho cách lột da.

Tốp thanh niên lại nạp đạn vào súng để tiếp tục cuộc bố ráp tận diệt lũ chó, mèo của làng Piatra. Đàn bà thì trốn trong nhà để cầu nguyện, kêu xin sự trợ giúp của Đức Nữ Đồng Trinh. Khi Ion Kostaky đến bên con chó, Severin dùng chân mang bốt thúc vào lưng ông ta.

– Mau lên. – Hắn ra lệnh – Bộ gớm hả? Chó là bạn của tá điền kia mà. Nó đã sống với mày, trong nhà mày, vậy mà bây giờ nó làm mày ghê tởm à?

Kostaky muốn quay lại, một đạp thứ hai làm ông chúi về phía con vật đã chết.

– Vác nó lên vai đi nào. – Severin ra lệnh.

Kostaky dùng cả hai tay nắm lấy hai cẳng trước và để con chó lên vai. Máu chảy dài trên lưng của ông ta. Xác con chó vẫn còn nóng hổi như lúc còn sống.

Qua cửa kính, Severin nhìn thấy Marie và Ileana. Hắn ra dấu bảo họ lại gần.

– Chúng mày thì cầm lấy đuôi con chó. – Hắn bảo họ.

Marie và Ileana Kostaky khóc nhưng vẫn theo lời Severin.

– Đi về phía ủy ban nhân dân xã, đàng trước, bước. – Severin hô lớn.

Bọn vệ binh thì cười lên hô hố, còn bọn trẻ con thì khóc thét lên. Trong khi Ion Kostaky bước ra đường mang trên vai xác con chó, theo sau là vợ và con gái, tay vịn vào đuôi con chó, thì những người nông dân nghiến răng căm giận.

– Còn mày nữa, hãy đi theo họ. – Severin nói với Pierre Pillat – Bắt đầu từ hôm nay, tất cả những tên phản động sẽ lao động lột da chó mèo. Đó là một công việc tương xứng với chúng mày.

VII

Về đến nhà Ion Kostaky vẫn còn ngửi thấy mùi máu đẫm ướt cả áo quần, da thịt và trí nhớ của ông ta. Ion Kostaky, vợ ông, Pillat và con gái của họ, chẳng ai nghĩ đến cơm nước gì cả. Họ ngồi trong bóng tối và tìm kiếm một biện pháp. Ileana thì cầu nguyện.

Các cửa sổ mở toang để giảm bớt mùi hôi, nhưng mùi hôi của thịt chó, mèo chết đã thấm cả vào tường nhà. Một bóng người xuất hiện bên cửa sổ. Kostaky giật mình. Người láng giềng của ông, Nicolas Vornik, đang đứng trước sân.

– Người ta sắp đày chúng ta đi tối nay. – Vomik nói.

Ông ta bước vào nhà. Đầu ông sưng vù lên, chiếc áo sơ mi bị rách nhiều chỗ. Người ông ta bê bết máu.

– Đừng thắp đèn. – ông ta nói – Tốt hơn là nói chuyện trong bóng tối như thế này. Sáng nay chúng cho gọi tôi lên văn phòng ủy ban nhân dân xã. Chúng nhốt tôi vào hầm rượu, và đánh đấm tôi không ngừng tay cho đến bây giờ. Hãy nhìn tôi đây, chúng nó đã đánh tôi gãy cả xương.

Vornik run như một con vật bị săn đuổi.

– Tôi đã nghe được tên người Nga đọc chỉ thị mà hắn vừa nhận được. Bảy người dân làng Piatra sẽ bị bắt tối nay, và đày đi vào lúc ba giờ. Anh Kostaky à, anh, con gái anh và Pillat con rể anh đều có tên trong bảng danh sách đó. Ngoài ra còn có tên tôi và mấy người anh em họ hàng của anh nữa. Bảy người tất cả.

Ion Kostaky bảo vợ và con gái lui ra. Ông ta ngồi lại với Vornik và Pillat.

– Anh thử nói lại lần nữa xem. – Kostaky nói với Vornik.

– Đêm nay vào lúc ba giờ tụi vệ binh nhân dân sẽ đến bắt chúng ta. – Vornik nói – Tôi đã nghe được chính tai mình đấy. Lúc bấy giờ tôi đang ở phòng bên cạnh. Đó là tất của những gì tôi biết, và tôi lại đây báo cho anh hay. Chúng ta thử bàn bạc xem.

Ông ta ngồi trên một chiếc ghế, và hai tay ôm lấy đầu.

Kostaky bước ra khỏi phòng. ông ta bảo Ileana dọn ăn.

– Đêm nay chúng ta sẽ không ngủ trong nhà. – Ông ta nói.

Tiếp theo ông ta nói với con gái:

– Con sẽ cùng đi với ba và Pillat.

Ion Kostaky dừng bước lại bên cạnh Vornik.

– Chúng ta sẽ đi vào rừng. – Ông ta nói – Biến động rồi sẽ qua đi. Trong vài ngày nữa chúng ta lại trở về nhà.

Pierre và Marie lo sửa soạn hành trang. Vornik trở về nhà mình. Người ta báo tin cho những người anh em họ hàng của Ion Kostaky. Ileana chuẩn bị thực phẩm mang theo.

Vào lúc mà quyết định của ông ta đã dứt khoát, Ion Kostaky mới ý thức được tầm quan trọng của hành động mà ông sắp sửa thực hiện. Ông ta bước ra sân. Bằng đôi mắt, ông ta đã ôm lấy cây cối, vườn tược, những bức tường của ngôi nhà thân yêu, những mái nhà… ông ta bước vào chuồng ngựa vỗ về những con vật.

– Ta không đi đâu. Thà chết ngay trong sân nhà mình còn hơn. Ta không đi đâu hết.

Ông vuốt ve mồm chú ngựa. Ông ta lại thay đổi ý định.

– Không, ta phải đi chứ. Nhưng chỉ một đêm thôi, và ta sẽ trở về. Ừ, ta sẽ trở về. Chỉ một đêm thôi, để tụi nó không tìm thấy ta.

– Con có tin là tụi nó sẽ đến bắt chúng ta không? – Ông ta hỏi Pillat.

– Tốt hơn là không nên ngủ ở nhà. – Pillat trả lời.

– Như thế thận trọng hơn, Kostaky nói – thận trọng hơn. Và mắt ông bỗng đầm đìa nước mắt.

Kostaky đứng trước hiên nhà. Ông thở mạnh như thể muốn hít vào tất cả bầu trời của làng ông để mang theo. Nếu ông có thể, cùng lúc với không khí, mang theo vào phổi của mình, cả ngôi nhà, sân, súc vật. Tất cả.

– Ileana này, bà chạy đi kiếm mục sư Thomas Skobai về đây – ông ta nói với vợ – Xin ông ta đến ngay để cùng đọc với chúng ta một kinh cầu.

Sau khi Ileana đi, Kostaky nhìn ngôi nhà đối diện, trong đó Pillat và Marie đang chuẩn bị đồ đạc cho chuyến đi, nhưng tai ông vẫn lắng nghe động tĩnh báo hiệu sự hiện diện của bọn vệ binh.

– Ta chỉ cần mang theo vừa đủ bữa ăn sáng. – Kostaky nghĩ. Vì ta sẽ trở về ngay. Khó mà tin được là chúng sẽ tìm đến bắt chúng ta. Nhưng tại sao lại bắt chúng ta chứ?

Ion Kostaky trở lại vuốt ve bầy súc vật của ông. Những người anh em họ hàng của ông đã đến. Tất cả mọi người đều ngồi trong bóng tối. Mục sư cũng đã đến, và sau cùng là Vornik. Tất cả họ đều mang theo lương thực và những chiếc rìu.

– Thôi bà đừng khóc nữa. – Kostaky nói với vợ – Nếu không có gì xảy ra đêm nay, chúng tôi sẽ trở về ngày mai thôi.

Kostaky hỏi Vomik:

– Này anh Vornik, anh chắc chắn đã không nghe lầm là chúng nó sẽ đến bắt chúng ta trong đêm nay chứ? Anh có mơ không đấy?

– Đúng vậy, đêm nay lúc ba giờ. – Vornik nhắc lại.

Vợ ông ta đã băng bó đầu cho ông. Ông đã mặc một chiếc áo sơ mi khác. Chỉ có chiếc quần là vẫn dính đầy máu, vì không kịp thay.

– Thưa cha, xin cha cầu nguyện cho chúng con. Một kinh cầu ngắn thôi, cầu cho những người đang gặp hoạn nạn. Một kinh cầu cho một giai đoạn khó khăn, không gì khác hơn.

Mục sư đọc kinh cầu trong bóng tối. Ông ta đã thuộc lòng. Những người nông dân đều quỳ gối. Bên ngoài trời bắt đầu mưa. Sắp sửa nửa đêm. Thỉnh thoảng những ánh chớp chói sáng gian phòng của Ion Kostaky, và lúc bấy giờ người ta có thể nhìn thấy thân thể cao lớn, vành trán rộng, bộ râu và đầu tóc bạc của mục sư đang cầu kinh. Người ta cũng nhìn thấy sáu người nông dân đang quỳ gối. Và Marie tựa vào mẹ mình. Tất cả cảnh tượng đó đã kéo dài trong một giây, và rồi thì bóng tối tràn ngập tất cả. Người ta chỉ còn nghe thấy tiếng mưa rơi, và giọng trầm buồn của vị mục sư.

– Thôi chúng ta lên đường. – Kostaky nói.

Đi đột ngột như thế vẫn dễ dàng hơn, để khỏi nghe Ileana khóc lóc và khỏi ý thức việc ra đi của mình.

Chừng nào hết mưa, bà sẽ dẫn mục sư về. – Kostaky dặn dò vợ – Và bà chờ tôi. Tôi nghĩ là ngày mai chúng tôi sẽ trở về. Bà săn sóc nhà cửa nhé. Nếu chúng nó có hỏi tôi thì bà cứ bảo là tôi đi kiếm củi.

Những người nông dân cầm lấy đồ đạc của mình, hôn tay vị mục sư, từ biệt Ileana và ra đi.

Khi người cuối cùng đã ra khỏi nhà, Ileana mới bắt đầu rên rỉ. Bà đã khóc với một sự tuyệt vọng còn hơn khi có người vừa mới quá cố, rồi bà cầu nguyện.

Mục sư Thomas Skobai biết rằng điều lành hay điều dữ đều do Thiên Chúa gởi đến cả, tuy thế nỗi buồn gây ra bởi sự trốn chạy của những người nông dân đã làm cho ông khổ tâm.

Khi những người nông dân ra đi bỏ lại nhà cửa của họ, nỗi buồn còn to lớn hơn cả khi một người nằm xuống đã tràn ngập tất cả. Nhà cửa họ chìm đắm trong bóng tối.

Mục sư liên tưởng đến một bài kinh hay một bài thơ:

“Nên người nông dân từ bỏ ruộng đất của mình, những hạt lúa mà anh ta gieo vãi sẽ buồn bã vì chẳng ai đến để gặt hái những chẹn lúa.

Sự ra đi của người dân cày đã làm cho cây cỏ buồn rầu, vì anh ta sẽ chẳng còn phát cỏ nữa.

Đàn bò buồn bã và chú ngựa cũng vậy, bởi vì chúng đợi nước và thức ăn.

Nên người dân cày ra đi, chim trời sẽ buồn rầu vì chúng sẽ không tìm thấy những hạt thóc trong các luống cày.

Cơn mưa làm ướt những cánh đồng cũng buồn bã, cũng như những đêm mát trời.

Nên người nông dân từ bỏ những cánh đồng và làng xóm của họ. Cả vũ trụ sẽ buồn bã. Cả vũ trụ …”

Một nỗi buồn giống như thể đang bao trùm làng Piatra sau khi bảy người dân là-ng đã chạy trốn xuyên qua những mảnh vườn.

VIII

Trong khi Ion Kostaky và những người lánh nạn khác đi về phía rừng, thì ở văn phòng ủy ban nhân dân xã, tên người Nga cùng với bọn vệ binh nhân dân tổng ôn tập lại kế hoạch nhằm chặn bắt những người có tên trong sổ đen đúng với chỉ thị đã nhận được.

– Việc thực hiện chương trình đày ải bọn phản động được bắt đầu tại Piatra. – Severin nói – Các đồng chí phải hãnh diện về quyết định này. Ngày mai đồng chí Boris Bodnariuk sẽ đến đây để nhận định tiến trình của công việc.

Những tên vệ binh nhân dân được trang bị đầy đủ: áo choàng, nón sắt, súng trường. Serghei Severin đọc lại lớn tiếng một lần nữa chỉ thị:

“Việc chặn bắt những người có tên trong danh sách bị đày ải sẽ bắt đầu khoảng từ hai giờ sáng đến bốn giờ sáng. Công việc phải tiến hành nhanh. Những người vệ binh sẽ đột nhập vào nhà không gây tiếng động để khỏi làm hàng xóm láng giềng chú ý. Tù nhân sẽ được dẫn ra khỏi địa phương một cách bí mật. Việc sử dụng súng không được khuyến khích. Dùng mưu mẹo để dụ đối tượng ra khỏi nhà mà không cần tuyên bố là họ bị bắt.”

Serghei Severin cho lệnh khởi hành. Những tên vệ binh bước ra đường. Đèn vẫn cháy sáng trong văn phòng ủy ban nhân dân xã. Trời mưa, Severin đi trước, theo sau là mười hai thanh niên. Đến trước nhà của Pierre Pillat chúng dừng bước.

– Các đồng chí hãy bước lại gần nhà, người này sau người kia, ở khoảng cách một bước. – Severin ra lệnh – Hãy vây nhà lại chúng ta phải nắm chúng một cách bất ngờ.

Những tên vệ binh thi hành lệnh. Trước mỗi cửa sổ được bố trí một người có vũ khí để ngăn chặn Pierre Pillat và Marie trốn thoát. Từ cửa chính Serghei Severin lắng nghe động tĩnh.

Người ta nghe thấy tiếng đàn bà khóc than bên trong.

– Coi chừng. – Hắn nói nhỏ và mở cửa ra.

Hắn chiếu sáng gian phòng với cây đèn bấm của hắn.

Ileana đang quỳ gối khóc trước bàn thờ. Mục sư Skobai thì ngồi hai tai tì lên gối. Ông ta không nhìn thấy ánh sáng phát ra từ cây đèn bấm của tên người Nga, bởi vì những ngọn lửa của ngôi thánh đường bốc cháy còn mạnh hơn đang ngập đầy đôi mắt của ông.

Từ thềm nhà Severin chiếu sáng mục sư, rồi đến Ileana đang khóc mỗi lúc mỗi lớn tiếng, và vẫn tiếp tục cầu nguyện.

Hắn quan sát những bức tường rồi đến chiếc giường ngủ.

Những người kia đâu hết rồi? – Hắn hỏi.

– Đi rồi. – Ileana trả lời.

– Không có một mưu đồ nào mà không có một người cầm đầu – Serghei Severin nói – Những tên phát xít đâu rồi? Tụi nó đi lúc nào và về phía nào?

Mục sư không có tên trong danh sách những người bị đày ải, nhưng ông ta đã tự động đứng về phía những kẻ bị tình nghi.

Serghei Severin xích hai tay gầy guộc của vị mục sư lại.

– Chúng nó chạy trốn lúc nào và ở đâu? – Severin hỏi.

– Họ đi rồi, cách đây một tiếng đồng hồ.

– Đi đâu?

– Tôi không biết. Chỉ một người biết thôi.

– Ai? – Serghei Severin hỏi.

– Chúa. – Mục sư trả lời – Chỉ có Chúa mới biết được điều đó. Nhân Chứng này thì Serghei Severin không thể hỏi được.

Hắn lại càng không thể bắt hoặc nhất Nhân Chứng này được.

Hắn dùng nắm tay đấm vào khuôn mặt gầy gò của vị mục sư.

– Tao sẽ tra tấn mày cho đến khi mày nói chúng nó đi đâu. Bởi vì mày biết đều đó. – Sevenri nói.

Những giọt máu chảy xuống trên chòm râu trắng của Thomas Skobai. Bọn vệ binh nhân dân lục soát nhà . Chúng tìm khắp nơi. Ileana cũng bị xích tay lại. Ba tên vệ binh nhân dân bước vào nhà của Ion Kostaky, nhưng chúng cũng chẳng tìm thấy ai.

Severin nhớ lại là sáng sớm ngày mai, Boris Bodnariuk sẽ ghé qua đây để xem công việc có diễn tiến tốt đẹp không.

Việc chạy thoát của Pillat, Kostaky và Marie làm cho hắn tức đến chết được. Hắn lại đánh vị mục sư, hỏi ông ta những người chạy trốn ở đâu, nhưng vị mục sư không trả lời nữa. Ông ta nhận lãnh những cú đánh mà tâm trí hướng về Chúa, và mắt nhìn về ngôi thánh đường đang bốc cháy của ông ta.

– Hai người dẫn tội nhân về ủy ban nhân dân xã và nhốt chúng dưới hầm rượu. – Severin ra lệnh.

Vô ý hắn đã làm đổ cây đèn dầu đặt trên bàn. Ngọn lửa lan ra với một tốc độ khủng khiếp. Những tên vệ binh nhân dân chạy đi kiếm những chậu nước.

– Hãy dẫn tên mục sư và mụ già về ủy ban nhân dân xã. – Severin ra lệnh – Cứ để lửa cháy, đừng đụng vào.

Trong khi Ileana và vị mục sư bị dẫn về ủy ban nhân dân xã với đoàn hộ tống, ngọn lửa đã lan ra các cửa sổ. Nhà của Pillat lại làm toàn bằng gỗ như mọi nhà khác tại Piatra. Ngọn lửa lan ra một cách nhanh chóng.

– Đi bắt những tên khác. Chúng ta sẽ tính sổ với những tên chạy trốn sau.

Severin sắp rời khỏi sân nhà Pillat, nhưng trước mắt hắn, ngoài đường, tất cả nông dân đang tụ tập lại. Họ đã nhìn thấy đám cháy, và đàn bà, đàn ông, trẻ con đã vội vã chạy đến.

Qua ánh sáng của ngọn lửa đang thiêu hủy căn nhà, Serghei Severin nhìn thấy đám đông. Một nhóm nông dân tay xách những thùng nước đi ngang qua bên cạnh hắn mà chẳng thèm nhìn hắn, tiến thẳng về phía ngôi nhà đang bốc cháy.

– Không được ai đến gần. – Tên người Nga lớn tiếng la.

Những người nông dân tay xách nước dừng lại. Mọi con mắt đều chăm chú nhìn Severin và những tên vệ binh mang vũ khí đang đứng bao quanh hắn. Dưới ánh sáng của đám cháy, người ta nhìn rõ như ban ngày.

– Trong nhà này có một âm mưu của bọn phát xít. – Severin nói lớn tiếng.

Mưa vẫn rơi lất phất. Những người nông dân chờ đợi, những thùng nước trên tay, mắt căm phẫn.

– Tôi kêu gọi nông dân giúp sức để bắt tụi phản động. – Severin nói.

Hắn nhận thấy là đám đông sôi sục tức giận.

– Chúng ta hãy giập tắt lửa đã. – Một người đàn bà nói – Rồi hẵng lo đến bọn phản động sau. Chúng ta có đủ thì giờ.

– Ngôi nhà này phải bị thiêu hủy. – Severin nói – Đó là sào huyệt của bọn phát xít.

– Ngôi nhà không tham dự vào âm mưu phản động. – Người đàn bà lại lớn tiếng nói – Tại sao lại phải thiêu hủy nó?

Từ đường cái người ta đã cảm thấy sức nóng của ngọn lửa.

Những người nông dân từ từ đi lại gần ngôi nhà. Severin chĩa mũi súng vào đám đông, những tên vệ binh cũng bắt chước theo. Những người nông dân dừng bước. Họ thụt lùi lại một vài bước.

– Đồ chó Cộng sản, chúng mày muốn bắn cả mẹ ruột chúng mày sao? – Một nông dân la lớn tiếng về phía bọn vệ binh nhân dân đang chĩa súng vào đám đông.

– Nếu tụi bay vì nhân dân, tại sao tụi bây lại để căn nhà và những đồ vật bên trong bị thiêu hủy. Tại sao không cho nhân dân. – Một người đàn bà la lớn.

– Ngôi nhà và tất cả những gì bên trong đã bị bọn phát xít làm ô nhiễm. – Severin lớn tiếng trả lời – Người đầu tiên lại gần ngôi nhà sẽ bị bấn chết. Chính quyền nhân dân sẽ cho nông dân nhà cửa và bàn ghế, nhưng cái gì bị nhiễm độc đều phải đốt đi. Chúng tôi biết rằng nhân dân cần bàn ghế, đồ đạc, nhưng ở đây tất cả đều bị Ô nhiễm, phải thiêu hủy tất cả.

Ngọn lửa đã cháy đến mái nhà. Sức nóng đã đến cao độ.

Những người nông dân lùi lại. Severin hiểu rằng ngọn lửa là đồng minh của hắn. Ngọn lửa lên cao, buộc những người nông dân phải giữ một khoảng cách. Vả lại những gàu nước chắc sẽ không đủ sức dập tắt được ngọn lửa. Trận hỏa hoạn đã thiêu hủy tất cả. Chỉ còn lại một đống tro tàn.

– Hỡi các nông dân, cùng với ngôi nhà này, vi trùng của âm mưu phản động cũng đã bị thiêu hủy. Kỷ niệm nhục nhã của những tên tội phạm cũng đã bị thiêu hủy. Vi trùng của tội ác chính trị phải bị thiêu hủy. Ở đâu có bọn phát xít là ở đó có những vết tích, có máu của nhân dân. Đừng lại gần đó.

Những người nông dân làng Piatra lặng lẽ nhìn lửa cháy.

Không ai để ý nghe những lời của Severin. Họ nhìn đám cháy và những họng súng đang hướng về họ.

– Tôi ra lệnh cho nông dân theo tôi để đến bắt bọn tội phạm. Không ai được phép về nhà. Tất cả theo tôi.

Severin bước đi. Bỗng hắn chợt nhìn thấy một bóng người đằng trước hắn, núp giữa những lùm cây. Hắn nổ súng. Bọn vệ binh cũng bắn theo. Chúng tràn vào vườn và tiến về phía trước, giữa những lùm cây ẩm ướt. Bọn vệ binh la lớn tiếng:

– Bọn tội phạm đang ở đây, bắt lấy chúng. Chúng nó chạy về phía ngọn đồi xuyên qua những khu vườn. Đám đông theo sau một khoảng cách. Họ đi theo không để truy bắt những tội phạm mà vì tính hiếu kỳ. Trên đường họ đã đổ hết những gàu nước, và tiếp tục đi theo Severin và bọn vệ binh nhân dân.

IX

Bảy người đào tẩu đi đến đỉnh của một ngọn đồi. Họ đã bước đi một cách khó nhọc, như thể dưới chân họ mang nặng những khối chì. Họ dừng chân để nhìn lại làng cũ.

Vào lúc đó họ bỗng nhìn thấy một ngôi nhà trong làng bốc cháy.

Ngọn lửa cao vút trời. Mỗi người đều nghĩ đến ngôi nhà của mình và trong bóng tối mỗi người đều thử đoán xem nhà ai đang cháy.

– Đúng là nhà tôi rồi. – Kostaky nói.

Ông ta run lên. Những giọt mồ hôi chảy dài trên trán ông.

Ông cởi bỏ chiếc túi, giao lại cho Marie. Rồi ông chạy bổ về phía làng, về phía ngôi nhà đang bốc cháy. Những người khác muốn giữ ông lại, họ đã gọi ông nhưng vô ích. Kostaky chạy về phía nhà của mình. Ông nhìn ngọn lửa và cúi đầu chạy.

Những người khác tiếp bước theo ông ta. Marie bị té. Pillat dừng chân để đỡ nàng dậy. Trong thời gian đó Kostaky đã chạy xa. Ông ta đã biến mất trong đêm tối. Ông băng qua những khu vườn. Bây giờ thì ông ta có thể nhìn rõ. Chính là ngôi nhà của Pillat đang bốc cháy. Ông đi càng nhanh hơn. Khi ông đến gần, ông nhìn thấy lửa đã cháy đến mái nhà. Những người nông dân thì tụ tập đằng trước nhà và đứng nhìn. Chẳng ai buồn ra tay dập tắt lửa.

– Không thể thế được. – Kostaky la lên – Không thể thế được. Cả làng nhìn thấy nhà ta cháy mà chẳng ai thèm đến gần để chữa cháy. – Kostaky đưa tay lên dụi mắt, ông ta không thể tin được những gì ông đang nhìn thấy.

– Ngay cả nhà của kẻ thù cháy, người ta cũng chạy lại cứu chữa, người ta dám nhảy vào lửa để cứu vãn tất cả. Ta chẳng là kẻ thù của ai cả, ấy thế mà những người nông dân, bạn bè của ta lại cứ để cho nhà ta cháy.

Kostaky nhảy qua một bờ rào để đến nhanh hơn, nhưng vào lúc đó, ông nghe đạn bay vèo vèo chung quanh ông. Bọn vệ binh đã nổ súng. Người ta đã bắn vào Kostaky. Tiếp theo ông nghe giọng của những thanh niên la lên:

– Tên tội phạm đang ở trước mặt chúng ta. Bắt lấy nó.

Rồi trước tiên là bọn vệ binh, tiếp đến là những người nông dân, tất cả nông dân làng Piatra đã chạy băng qua những khu vườn, về phía Kostaky. Bọn vệ binh nhân dân thì bắn xối xả về phía ông.

– Ta là một-tên-tội phạm à? – Kostaky tự hỏi – Những người nông dân của Piatra đã gọi ta là tên tội phạm à?

Một viên đạn xẹt qua trong cành lá của cây bồ đào cạnh đó Kostaky bỗng cảm thấy một vết cháy nóng bỏng trên ngực, bên trên quả tim. Một thứ hôn mê đang xâm chiếm cả thân xác ông. Ông nhẹ nhàng buông mình xuống bãi cỏ ẩm ướt. Tai ông trước đó đã nghe thấy rõ ràng tiếng la thét của những người nông dân đuổi theo ông và la lớn tiếng: “Chính nó, kẻ sát nhân”. Giờ đây chẳng còn nghe thấy gì nữa.

Tai của Ion Kostaky chỉ còn nghe một tiếng gầm thét, như tiếng gầm thét của một chiếc chong chóng phát xuất từ đầu óc ông ta và càng lúc càng nhỏ dần lại.

Kostaky tự hỏi:

– Chính mình là tội phạm ư? Chính mình mà cả làng đã săn đuổi đó ư? Chính mình mà người ta đã muốn bắn hạ ư?

Vào lúc đó thân xác của Kostaky nằm duỗi ra đất, trong vũng bùn. Ông ta giãy giụa. Ion Kostaky muốn biết phải chăng chính ông mà cả làng đã đuổi theo vừa lớn tiếng la: “kẻ tội phạm đây rồi”, Ion Kostaky muốn biết tại sao nông dân làng Piatra lại để cho nhà ông cháy. Ông ta muốn biết tại sao cả làng lại săn đuổi ông như một tên sát nhân thật sự. Đó là ý nghĩ độc nhất trong khi thân xác ông còn giãy giụa. Kostaky cảm thấy hơi sức của mình đã tan biến cùng với máu của mình. Ông ta nằm sóng sượt trong vũng bùn, má phải úp xuống đất ẩm ướt. Hơi mát của đất làm cho ông cảm thấy dễ chịu. Đất làm thành một miếng băng trên má phải Kostaky. Ông cảm thấy miếng băng này bao choàng cả ngực và vai mình. Thân xác ông đấu tranh, giãy giụa như để càng lún sâu hơn xuống mảnh đất mát mẻ và dễ chịu. Đó là đất của làng Piatra, quê hương ông, một thứ đất có mùi vị lành lạnh và tươi mát. Mảnh đất đã in hình thái bộ mặt và hai bên thái dương của Kostaky như thể để chẳng bao giờ quên. Mảnh đất đã in và giữ lại dấu vết của đầu, vai, cằm và mắt của Ion Kostaky. Những dấu vết đã được đào sâu xuống đất, trộn lẫn với máu. Mảnh đất không muốn quên ông ta; nó muốn giữ lại hình hài đang giãy giụa đã được in sâu xuống đất. Và Kostaky ngất đi, mọi ý nghĩ của ông đều hướng cả về ngôi nhà đang bốc cháy của ông, mà chẳng ai làm gì để cứu chữa, về những người nông dân đang chạy trước mặt ông vừa la lớn: “Tên tội phạm đây rồi” và chẳng còn gì nữa.

X

Khi tỉnh dậy Ion Kostaky nhớ lại lời cầu kinh của mục sư Thomas Skobai, lúc nhóm bảy người của ông ra đi, lúc họ dừng chân trên đỉnh đồi, ngôi nhà bốc cháy, lúc ông hối hả trở về băng qua những khu vườn. Tất cả những sự kiện đó đều có thật. Tiếp theo ông nhớ những tên vệ binh đã bắn xối xả vào ông và những người nông dân đuổi theo ông vừa la lớn: “Tên sát nhân đây rồi”.

– Chuyện này thì không thể là sự thật được. – ông tự nhủ – Ta nằm mơ rồi.

Ông cảm thấy vết thương, vết thương thì có thật. Ông nghĩ đến nhà ông bị cháy mà chẳng ai buồn cứu chữa.

– Không thể thế được, không thể thế được, ta đã nằm mơ những chuyện đó thôi.

Trong bóng tối, ông lết đi trên cỏ. Ông bò lết đi. Ông nhìn thấy ngôi nhà của ông nhưng nhà của Marie thì đã biến mất. Chỉ còn lại một đống tro tàn.

“Vết thương có thật. Nhà của ta cũng cháy thật.” Ông buồn bã. “Thế thì tất cả đều có thật. Những người nông dân đuổi theo ta miệng la lớn: “Tên tội phạm đây rồi” cũng có thật.

Đúng là sự thật rồi. Tất cả. Đáng ra tất cả những sự kiện đó không thể là sự thật, nhưng lại là thật một trăm phần trăm.”

Kostaky suy nghĩ một lúc.

“Những người nông dân Piatra đã đốt nhà của con ta và đã săn đuổi để giết ta. Họ gọi ta tên tội phạm.”

Kostaky quay mình trườn về phía sau và hướng vào rừng.

Tất cả những vết thương của ông đều lở lói và chảy máu, nhưng vết thương lòng của ông càng chảy máu nhiều hơn.

Một ý nghĩ chợt đến trong đầu ông.

“Giờ này Marie và Pillat đang ở đâu ? Cả Vornik và những người anh em bà con của ta đang ở đâu? Còn Ileana đang ở trong tình trạng nào đây?”

Ion Kostaky trườn mình về phía rừng. Ông không muốn trở lại cái làng đã đốt nhà và săn đuổi để hãm hại ông.

Mặt trời đã mọc. Kostaky vẫn tiếp tục bò vào rừng.

Tại làng Piatra, những người nông dân suốt đêm không ngủ, nhìn thấy chiếc xe hơi của Boris Bodnariuk xuất hiện. Với đôi ủng màu đen, chiếc áo choàng bằng da và chiếc khăn quàng cổ màu đỏ, hắn bước vào văn phòng ủy ban nhân dân xã chẳng thèm nhìn ai, và cũng chẳng thèm trả lời trước những câu chào hỏi.

Hắn thản nhiên nghe Serghei Severin báo cáo tình hình.

Boris Bodnariuk không tỏ ra tức giận về những gì đã xảy ra hôm qua.

– Những kẻ chạy trốn rồi sẽ trở về lại. – Hắn nói – Và chúng ta sẽ bắt giữ họ. Những người nông dân luôn tìm về làng của mình. Nông dân là loại thú vật đần độn nhất trong vũ trụ. Họ là tôi mọi của chính đất đai của mình. Họ không thể sống xa chúng được.

– Đồng chí muốn tra hỏi tên mục sư không? – Severin hỏi.

– Không cần thiết.

– Còn Ileana Kostaky?

– Giải họ đến nhà giam thành phố Molda. Họ sẽ bị truy tố về tội giúp đỡ kẻ thù. Họ sẽ phải chết rục xương trong tù.

Những người nông dân nhìn thấy hai tên vệ binh nhân dân dẫn mục sư Thomas Skobai và Ileana Kostaky ra khỏi văn phòng ủy ban nhân dân xã. Hai tay bị còng, họ đi bộ hướng về phía thành phố. Mục sư bước đi, đầu ngẩng cao, bởi vì ông ta chẳng nhìn thấy gì cả, bên phải cũng không mà bên trái cũng không. Đi bên cạnh ông bà Ileana thì không ngớt khóc than, bởi vì cũng giống như vị mục sư, ông ta chỉ nhìn thấy ngôi thánh đường của ông, bà Ileana cũng chỉ nhìn thấy Ion Kostaky, Marie và Pierre. Bà là một người đàn bà. Tất cả những gì hiện hữu trên trái đất, Ileana Kostaky chỉ còn nhìn thấy ngôi nhà, chồng và các con của mình. Vị mục sư đui mù bên cạnh bà chỉ nhìn thấy ngôi nhà của Chúa, còn bà một người đàn bà yếu ớt, bà chỉ nhìn thấy ngôi nhà của chính mình.

Vị mục sư đui mù có thể mang theo mình vào chốn ngục tù ngôi nhà của Chúa Tối Cao mà không sợ ai bắt ông phải vứt bỏ lại đằng sau. Còn Ileana Kostaky thì mỗi bước chân đã làm cho bà phải rời xa ngôi nhà thân yêu của mình. Chính vì thế mà sự ra đi khỏi làng đã làm cho bà đau đớn như một vết thương trên chính thân xác mình vậy. Xiềng xích của bà thật nặng nề.

Đằng sau những chiếc cửa sổ nhà mình, những người nông dân lặng lẽ nhìn, sợ hãi. Những người đàn bà đã không cầm được nước mắt. Chỉ trong khoảng thời gian một đêm và một buổi sáng mà ba nông dân đã biến khỏi làng Piatra, và một số khác đã trốn thoát, không biết ở nơi đâu trong rừng núi.

Ion Kostaky đã biến mất. Ileana và mục sư Thomas Skobai bị dẫn đi khỏi làng, hai tay bị xiềng khóa. Marie và Pierre Pillat cũng biến mất vào rừng.

°

– Đồng chí để xe gắn máy lại cho người đến thay thế đồng chí. – Boris Bodnariuk nói với Serghei Severin vừa bước ra khỏi văn phòng ủy ban nhân dân xã – Bởi vì đồng chí sẽ không còn cần đến nữa. Tại quê hương của chúng ta, người ta sẽ bố trí cho đồng chí công việc đơn giản hơn, ít phức tạp hơn, bởi lẽ đồng chí cũng không hoàn thành công tác đày ải tội nhân.

Và những người nông dân đã nhìn thấy Serghei Severin ra đi không có chiếc xe gắn máy.

Đêm hôm đó, trẻ con của làng Piatra đã khóc trong giấc ngủ. Trong đêm khuya, một con mèo xuất hiện không biết là từ nơi đâu. Nó đến trên nền nhà cũ của Pierre và Marie Pillat. Nó dừng lại trong khoảnh khắc, nhưng tro tàn hãy còn nóng bỏng và con mèo vừa thoát khỏi cuộc tàn sát không biết bởi phép lạ nào, biến mất trong đêm tối.

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: