Trang chủ > Uncategorized > Giờ thứ 25 – D

Giờ thứ 25 – D

Gheorghiu, Constantin Virgil

Darmstadt: trại giam thứ mười lăm. Cũng giống như các trại giam trước, nhưng có thêm một nhà thờ chính thống giáo. Một nhà thờ nhỏ lâm thời dựng lên. Traian và Moritz đội mũ. Nhà thờ ở dưới lều vải, cũng có bàn thờ chúa. Tượng thánh làm bằng giấy cứng, vẽ bằng phấn màu và than.
Trong nhà thờ không có ván rầm; nền bằng đất.
Đêm qua trời mưa, nước chảy vô lều, đất trở thành bùn.
Giữa nhà thờ, có một tượng thánh giá cỡ người lớn, Traian quỳ dưới bàn thờ chúa. Đức Jesus làm bằng giấy cứng, vòng gai trên đầu làm bằng thiếc đồ hộp cắt mỏng.
Traian ngó lên vết thương ở tay và nương long chúa Ki-tô. Họa sĩ không có màu đỏ để tô màu máu, nên chỗ nào là vết thương thì lấy giấy đỏ ở bao thuốc Lucky Strike dán lên. Chữ đen không thể bôi nên còn đọc được. Traian nói:
– Không bao giờ con thấy Chúa bị đóng đinh đau thương nhường này! Con đến để cầu nguyện cho vết thương của con, nhưng con không còn cảm thấy còn can đảm nữa, xin Chúa tha tội cho con. Con xin cầu nguyện các vết thương, bằng Lucky Strike, đẫm máu ở đùi, ở chân bàn tay Chúa. Các vết thương ấy còn đau đớn hơn các vết thương bằng máu thịt của con. Con xin cầu nguyện vòng gai bằng chiếc đồ hộp trên đầu chúa nữa.
Traian nhìn lên mình Chúa, thấy ở trên ngục đấng Cứu-thế một chữ “M” bằng chữ in. Chữ M đó trong hộp “Menu Unit”; giấy hộp này dùng để cắt thành thân thể Chúa.
Traian đứng dậy, hôn bàn chân Chúa và nói:
– Bây giờ con mới thấy đồng điệu với thân thể của Chúa. “Thực đơn” đời đời của chúng con là hi vọng. Chúa là “Menu Unit” của con, không lúc nào bằng lúc này, con mới hiểu rõ thân thể Chúa là món ăn bồi dưỡng của chúng con. Làm sao người tù họa sĩ lại có sáng kiến làm thân thể Chúa bằng hộp “Menu Unit”. Hiện giờ Chúa tượng trưng tất cả lòng khát khao thành kính các thánh, lòng khát khao bánh mỳ và tự do của con.
Traian đang trầm mặc thoát tục, chẳng còn thấy ai xung quanh.
Moritz ngắm nhìn mấy thiên thần bằng giấy láng bao điếu thuốc, tượng thánh đồng trinh theo dây chuyền bằng nắp hộp mạ vàng của hộp thịt dồi.
Moritz làm dấu thánh giá trước tượng thánh Nicolas, ông thánh giống mục sư Koruga.
Đoạn anh đến quỳ gần Traian và nhìn mấy vết thương của Chúa Ki-tô. Traian cầu nguyện:
– Lạy Chúa, con không xin Chúa cất ly trên môi con. Con biết rằng việc ấy không được. Con khẩn cầu Chúa giúp con uống cạn ly ấy. Từ một năm nay con ở cạnh lề cuộc sống và cái chết. Từ một năm nay con ở lằn ranh giữa thực tế và cõi mộng.

Con đã vượt khỏi thời gian nhưng vẫn tiếp tục sống. Sinh lực thoát lìa thể xác con, nhưng con còn sống, vẫn thở, vẫn lê lết thân tàn, vẫn ăn uống dẫu rằng con không muốn nữa. Bao nhiêu đau khổ ấy là do nơi con không còn hiểu biết là con bị tù hay còn tự do.
Con thấy bị giam cầm nhưng con tin rằng chưa bị giam cầm.
Con thấy con được tự do nhưng linh hồn con nhủ rằng không lý nào con chẳng tự do. Cái khổ hình không hiểu biết này còn nặng nhọc gấp mầy lần cảnh làm thân nô lệ. Những kẻ giam nhốt con không thù ghét con, không muốn phạt vạ con và không muốn con chết.
Họ chỉ muốn cứu thế giới.
Nhưng họ hành hạ, giết dần giết mòn con… Họ hành hạ và giết dần giết mòn tất cả nhân loại. Nhưng dưới cái bay thợ hồ của họ, chẳng phải bịnh viện, mà là những ngục thất được dựng lên.
Chuyện xảy ra như một định mạng, con không hiểu được nữa!
Sức con không đủ để chịu khổ não nữa. Giờ mà con đang sống đây không thuộc về cuộc sống nữa, con không đủ năng lực để trải qua giờ này, với thân xác máu thịt con. Đó là giờ thứ hai mươi lăm, cái giờ rất trễ để được cứu vãn, rất trễ để chết và để sống. Tất cả đều trễ rồi!
Lạy Chúa biến con thành đá nhưng đừng bỏ con lại cõi đời này.
Nếu Chúa bỏ con con sẽ không chết được. Xin Chúa nhìn thể xác và linh hồn con, chúng tha thiết muốn chết nhưng con, con vẫn còn sống. Thế gian đã chết và còn sống mãi, con không phải một bóng ma, mà cũng không phải một con người, con đang dở chết dở sống.
Traian ôm đầu buồn thảm bi thương, Moritz rờ nhẹ vai chàng như vỗ về, nhưng Traian không hay biết.
Một mục sư vô nhà thờ, ông mặc áo nhà binh Mỹ có chữ P.W như tù nhân.
Moritz lại ôm hun tay ông.
Traian vẫn quỳ gối.
Mục sư hỏi Moritz, hai người từ đâu lại và dân ở xứ nào. Khi nghe vợ Traian cũng bị bắt, ông khoanh tay trước ngực và cầu nguyện cho nàng. Ông ban pháp lành cho Traian còn quỳ gối trước thánh giá, không hay có ông.
Mục sư nói:
– Mỗi ngày, lối sáu giờ sáng, cha làm lễ mi-xa tại đây. Cha là đại chủ giáo Varsovie. Tất cả đoàn mục sư của cha đều bị bắt giam tại trại nầy. Nghi thức làm lễ trọng thể lắm, các con nên tới dự. Có một mục sư xứ Roumanie nữa, hiện ông ấy đang nằm nhà thương.
Moritz ngó sững vị đại chủ giáo. Ông nói:
– Cha sẽ viết ít chữ vô nhà thương mời mục sư. Chắc ông sẽ đến khi biết có người dân xứ Roumanie nằm trại nầy. Ông sẽ đến để ban pháp lành cho các con.
Lối sáu giờ, đại hội giáo sĩ khởi sự làm lễ mi-xa. Các mục sư đều choàng khăn làm lễ trên bộ quân phục tù binh.
Traian và Moritz đứng kề nhau, vị đại giáo chủ mặc áo tế lễ trắng, đội mũ giám mục, cố nhiên không có gắn kim cương.
Tiếng ông hiền lành và êm dịu như ngọn đờn.
Traian bước vào nhà thờ nhưng vừa bước đến thánh giá thì ngã quỵ. Moritz tưởng Traian té, chạy lại đỡ dậy, nhưng thân hình Traian mềm nhũng dường như xương cốt đều tiêu tan, mặt mày nhợt nhạt như sáp ong.
Trong lều nhà thờ chẳng có ai ngoài mấy mục sư. Moritz ngó lên nhờ các vị đỡ phụ nhưng anh chợt hiểu vì sao Traian té xỉu. Anh kêu: “Cha Koruga!”, chỉ được bấy nhiêu rồi quỳ xuống trước mục sư, như muốn ôm đầu gối ông. Nhưng mục sư đâu còn hai chân, chỉ đi bằng cặp nạn ông tiến lại gần hai người.
Traian và Moritz đứng im. Tóc mục sư Koruga bạc thêm nhiều. Ông mỉm cười, vẻ thật hiền lành và đầy hạnh phúc. Xuyên qua cái cười, cái ngó của mục sư, người ta tưởng thấy thiên đàng…
Mục sư nói:
– Traian! Con!
Vừa nghiêng mình, một cây nạn rời. Ông không té, ông còn đứng được, chống trên một cây nạn.
Rồi ông bỏ luôn cây nạn ấy, ông đứng gần Traian, ngay như mũi tên, trên cái gì còn lại của hai chân ông. Ông bỏ luôn cặp nạn để hai tay thong thả, ôm chầm lấy con ông.
Moritz lượm cặp nạn cầm tay, đứng gần hai cha con mục sư Koruga.

——————————————————————–

Cả ba: mục sư Koruga, Traian, Moritz đều ở chung lều trong trại giam Darmstadt.
Sau một năm chờ đợi, tội nhân được phép tiếp thơ từ.
Moritz đầu tiên nhận được thư của mẹ Hilda.
“Hans con,
“Ngày 9 tháng 5 năm 1945 nhà con bị cháy, chắc con chưa hay. Buổi chiều lúc quân đội Nga vào thành phố, Hilda và thằng Frantz đều ở trong nhà. Mấy bữa đầu má chưa biết mẹ con nó bị chết thiêu. Nhưng bữa kia má bới đống tro tàn xem còn sót gì lại không thì thấy thây chúng nó thành than. Hilda chết còn ẵm thằng Frantz trên tay. Má không hiểu tại sao Hilda không chạy ra lúc nhà cháy. Chắc nó còn ngủ, nhưng má không tin Hilda có thể ngủ vào giờ đó, nhứt là ngày đó quân đội Nga kéo vô thành. Tất cả đều chạy trốn hết nhứt là đàn bà. Con biết Hilda có bao giời ngủ buổi chiều đâu. Hồi còn ở bịnh viện, trưa về là nó làm việc nhà liền.
“Má gom góp hài cốt hai mẹ con Hilda để trong một cái quách, chôn ở nghĩa địa gia đình, má không thể làm được hai cái quách vì đắt quá. Thiên hạ ở đây chôn người chết không hòm, ván kiếm không ra mà đinh thì đắt quá! Má phải nhổ đinh ở vách tường và mấy khung hình đưa cho bọn thợ đóng hòm Hilda. Nhưng thợ mộc không muốn làm, viện cớ đinh nhỏ và ngắn không đóng được. Má phải cho một cái nón của con, thợ mới bằng lòng. Con đừng giận sao má không xin con trước, nhưng nếu không có chiếc nón ấy thì thợ không chịu đóng hòm và đống xương lấy gì mà chôn. Má để nó trong nhà một tuần nay rồi, má có để một thánh giá làm bằng cây. Chừng con về con sẽ làm bằng đá. Gia đình ta, tại nghĩa địa, mà nào cũng có thánh giá bằng đá.
“Má còn thấy trong đống tro xác một sĩ quan cháy thiêu nữa. Chắc ông này xin nghỉ nhờ hoặc thay quân phục mặc thường phục. Sĩ quan nào cũng làm như thế lúc quân đội Nga tới. Nhưng cặp da ông không cháy trọn. Má đọc giấy tờ, thấy tên ông là Iorgu Iordan, ở xứ Roumanie như con. Má viết chuyện này cho con hay vì má cho đây là một người bạn hoặc thân quyến đến thăm con.

——————————————————————–

Mục sư Koruga nói:
– Có thể như vậy là tốt hơn.
Ông để tay lên vai Moritz và an ủi:
– Con thử tưởng tượng Hilda còn sống, và một ngày kia con được thả ra con sẽ về với vợ nào? Làm sao lựa chọn.
Moritz hỏi:
– Vậy thì Suzanna không có ly dị con sao? Và nàng vẫn chờ con ở nhà sao?
Nhờ thế anh mới biết Suzanna vẫn chung thủy với anh.
Mục sư nói:
– Suzanna chờ con và sẽ chờ con tới ngày cuối cùng. Lúc nào nàng cũng là vợ con. Nàng kí giấy ly dị là để giữ lại cái nhà và khỏi bị đuổi ra đường với mấy đứa nhỏ thôi. Nàng hành động như vậy vì không còn cách nào khác nữa, chớ nàng chẳng hề nghĩ đến việc xa lìa con.
– Vậy ra cuộc ly dị láo, mà con ngu dại cứ tưởng nàng lấy chồng khác rồi. Cho nên mới cưới Hilda, con tưởng Suzanna bỏ con. Làm sao chẳng tin được khi trước mắt con đọc tờ ly dị. Tội lỗi con nặng lắm, Chúa không tha con.
– Chúa sẽ tha tội, chuyện đã xảy ra thật nghiêm trọng con à, nhưng không phải con hoặc Suzanna có lỗi, chỉ một mình quốc gia với các luật lệ chịu trách nhiệm. Quốc gia không thể tha thứ được, quốc gia sẽ bị trừng trị như thành Sodome và Gomorrbe. Lưỡi sét thần nộ sẽ chẳng những trên quốc gia mà trên tất cả xã hội hiện đại đã phạm những trọng tội cho Chúa thấy cũng đau lòng.

——————————————————————–

Traian bị kêu đi thẩm vấn lần đầu tiên, viên sĩ quan hỏi:
– Anh cho rằng không biết tại sao mình bị bắt và bị giam hơn 1 năm nay? Trong 25 000 tù binh không một ai thú nhận mình bị bắt. Tất cả đều nói chúng tôi xâm chiếm Âu châu và bắt người một cách vô cớ, may rủi. Anh lầm rồi, mỗi lần bắt ai đều đúng sắc lệnh ban hành.
Traian mỉm cười, viên sĩ quan nhìn thấy, nói tiếp:
– Anh muốn nói luật lệ chúng tôi không phù hợp với nguyên lý pháp luật. Không ngày nào tôi khỏi nghe câu trách móc này. Tất cả các anh đều viện cớ chỗ thiếu giá trị căn bản pháp lý về sự bắt giữ các anh, các anh thật buồn cười. Thứ nhứt mỗi nước đều có quyền lập luật lệ riêng, thích ứng cho nước đó tuân theo, thứ nhì, pháp luật không có nguyên tắc vĩnh cửu bất di bất dịch. Công lý do người bày ra và không có gì của người mà được vĩnh viễn. Đại để, một đạo luật cũng có giá trị tương đương với một đạo luật khác và tất cả các đạo luật đều có thể vừa tạm thời vừa vĩnh cửu. Kẻ nào có chủ trương nghịch lại chỉ làm cho mình lầm lạc mà thôi.
– Theo luật hiện hành tại vùng Mỹ chiếm đóng thì anh bị bắt vì anh là một công chức của một nước nghịch. Luật ấn định như vậy.
– Vợ anh bị bắt cũng chiếu theo luật ấy, do điều khoản định rằng vợ công chức cao cấp đương nhiên bị bắt. Cha anh cũng vậy, ông đương nhiên bị bắt vì ông là công chức nước nghịch.
– Tôi nhìn nhận như thế là nghiêm khác với anh nhưng đó là luật định. Suốt thời gian lịch sử, luật pháp nào cũng nghiêm khắc cả, không lẽ anh biểu tôi phải hỏi anh mỗi khi thiết lập luật lệ nước tôi sao?”
Traian đứng dậy, muốn đi ra, lúc khởi sự viết quyển tiểu thuyết chàng đã chắc chắn, giai đoạn mà con người bị luật lệ cấm không cho đi theo đời sống của mình đã gần đến. Khi bị bắt anh biết các luật đó đã được thi hành, nhưng còn nuôi ảo vọng đoán sai.
Bây giờ chính thức được biết các luật lệ ấy phải được kính trọng và triệt để thi hành, chàng không còn nghi ngờ gì nữa!
“Theo luật cũng có những người không phạm tội có thể bị bắt, bị tra tấn, bị bỏ đói, bị tước đoạt và bị thả tiêu!”
Viên sĩ quan nói tiếp:
– Tôi cũng chắc anh không phạm tội, lần thứ tư rồi, tôi có xin thả cho anh, vợ anh và cha anh mặc dầu tôi bị cấm ngặt không được phép xin tha riêng từng người, những tội nhân đương nhiên phải bị bắt. Tôi chưa nhận lời phúc đáp. Lịnh trả tự do cho riêng từng người không được chấp nhận, mà chỉ được chấp nhận cho toàn thể hạng người thôi.
– Vậy từng cá nhân vô hay phạm tội không cần xét đến trong vấn đề này sao? Ông có chú ý đến chắc chỉ vì tọc mạch mà thôi.
– Chuyện ấy tôi không quan tâm. Dẫu có chạm lòng tự ái của anh là người đã sống theo quan niệm cá nhân, với tất cả tư tưởng thần học, thẫm mĩ hoặc nhân đạo đi nữa, cũng không phải tự tôi có thể thay đổi được. Vả lại, cần gì thay đổi, hệ thống tổ chức xứ tôi có vẻ khô khan máy móc, tinh xác như toán học nhưng nó đúng lắm! Vũ trụ vận hành dường như đã theo con đường lý số và không ai nghĩ đến việc đổi dòng hay xoay hướng nó!
– Cuộc thẩm vấn này không ích gì cho ông sao ông không bỏ phứt nó đi vì không có nó cũng được. Chẳng phải những gì thuộc về cá nhân đều không ích gì cho ông sao?
– Không, những gì chúng tôi muốn biết về một cá nhân là những gì thực sự thuộc về mỗi người: tên, họ, chỗ ở, ngày sinh, nghề nghiệp, các bằng chứng ấy để ghi trong phiếu dùng của bản thống kê.

– “Vả lại cuộc thẩm vấn là để kiểm chứng lại vài sự thực, hoặc để phân tù nhân ra từng loại hạng. Bắt hoặc thả đều chỉ phụ thuộc vào từng loại hạng, phận sự của chúng tôi là sắp xếp từng loại người vào loại hạng của họ. Một công việc nghiêm khắc, rất công minh, rành mạch.
– Vậy ông không thấy vô nhân đạo khi xóa bỏ con người và đối xử với con người như một loại hạng hay sao?
– Không, tôi không thấy gì là vô nhân đạo cả, phương pháp này thực tế, mau lẹ và công bình hơn hết. Sự công bình chỉ có thể thực hiện dưới phương pháp này. Sự công bình theo phương pháp của toán học và vật lý học, nghĩa là theo phương pháp tinh xác hơn hết.
– “Chỉ có thi sĩ và các nhà thần bí mới phản đối phương pháp ấy.
– “Nhưng xã hội ngày nay đã loại bỏ thần bí và thi văn rồi. Chúng ta đang trong thời kì toán học và khoa học chính xác, chúng ta không thể thoái lùi vì lí do tình cảm. Vả lại tình cảm chỉ là sáng tác của thi nhân và nhà huyền học.
Viên sĩ quan ra dấu rằng cuộc thẩm vấn đã kết thúc và nói:
– Thôi anh đừng buồn.
Traian mở của đi ra, viên sĩ quan lạnh lùng gọi: “Người kế”.

——————————————————————–

Moritz có ý định trốn đi, từ lúc biết Suzanna không xin ly dị và hiện đang nuôi con, trung thành chờ anh, anh đứng ngồi không yên.
Traian nói:
– Anh đừng trốn vô ích, anh chưa tới hàng rào kẽm là có lính Ba Lan bắn anh rồi.
Moritz ngắm mấy tên lính canh Ba Lan mặc quân phục Mỹ màu xanh, chúng im lặng ngắm anh như đoán được ý nghĩ của anh, và cầm sùng ghìm nơi tay, sẵn sàng bắn, Traian nói:
– Và nếu lính canh Ba Lan có bắn trật anh thì anh cũng bị lính tuần tra Mỹ hoặc Đức bắn. Trước khi về đến Roumanie, anh còn gặp bao nhiêu là lính tuần thành đủ các nước: Áo, Tiệp, Hung-gia-lợi, Pháp. Và rốt lại chẳng bao giờ anh về đến nhà hết. Họ sẽ bắn anh trên dọc đường về, nếu anh tránh được đạn của dân nước này thì đạn của dân nước khác sẽ bắn ngã anh. Giữa anh và nhà anh, giữa anh và gia đình anh, anh Moritz à, còn có tất cả các nước trên thế giới, các nước võ trang hoàn bị muốn giết anh.
– Giữa mỗi người và mỗi cá nhân chí thiết của họ còn có đạo binh quốc tế ấy. Con người không được phép sống đời sống của họ, nếu toan làm thử thì bị bắn ngay. Xe tăng, súng máy, rào kẽm gai, đèn rọi để làm gì?
Moritz nói:
– Dù sao tôi cũng trốn!
Tên lính Ba Lan càng ngó anh lườm lườm.
Cùng lúc ấy có hai sĩ quan Mỹ đi vào sân, Moritz ngó theo.
Thình lình anh không nói gì, bỏ Traian, chạy ra đứng trước mặt hai sĩ quan. Họ đứng lại, ngó Moritz và Moritz cũng ngó họ. Viên sĩ quan mập và có tuổi, hai tay ôm lấy đầu Moritz như người anh ôm em. Bọn tù bao quanh chung quanh, lấy làm lạ. Chưa bao giờ họ thấy sĩ quan Mỹ ôm người tù.
Moritz đi với sĩ quan tới nhà thương, ông này vẫn choàng vai Moritz. Hai người vô nhà thương.
Traian đến gần và đứng ngoài cửa chờ, chàng tò mò muốn biết chuyện gì, thế nào Moritz cũng thuật lại nhưng anh ta lâu ra quá!
Một lát, Traian nghe tiếng Moritz, anh thò đầu ra cửa mắt sáng ngời, nói với Traian:
– Sĩ quan Mỹ đó là ông bạn Abramivici của tôi. Tôi nhìn biết ông liền, hồi trước tôi vượt ngục xứ Roumanie với ông, bây giờ thì tôi chắc được thả rồi!
Moritz đóng cửa lại, bạn anh kêu anh để nói chuyện.

——————————————————————–

Hồi ở trại giam Roumanie và Hongrie, Moritz chỉ nói bằng tiếng Do Thái với bác sĩ Abramivici nên bây giờ hai người dùng thứ tiếng ấy. Trung úy bác sĩ vui mừng được gặp Moritz và lắng nghe từng tiếng nói của anh.
Moritz thuật lại những gì đã xảy ra từ ngày chia tay tới nay, bác sĩ tỏ ra thương hại nhất, là khi nghe anh kể vể nỗi thống khổ của anh trải qua 15 trại giam và bị nhốt trong trại giam chót này.
Bác sĩ coi đồng hồ tay và nói:
– Tôi phải đi, anh cần được giúp đỡ, tôi biết lắm anh Iankel à. Ấy là lẽ thường, anh cho tôi biết anh cần dùng món gì tôi se giúp cho. Tôi không quên anh đã trải qua nhiều lúc khó khăn.
Ông vỗ vai Moritz nói tiếp:
– Bây giờ tôi có thế lực lắm, còn anh lại cơ cực như vầy, anh cần gì: thuốc hút, đồ ăn hay quần áo, anh muốn món gì?
– Tôi muốn được ra khỏi chốn này, tôi muốn được về nhà, gặp lại vợ con tôi.
Bác sĩ phật ý, nói:
– Đừng nên đòi chuyện gì không thể được, thứ nào thuộc quyền tôi tôi mới giúp được, thả anh ra là khi nào có lệnh chung. Đừng nghĩ tới chuyện này nữa, phải kiên nhẫn chờ đợi Moritz à!
– Tôi vô tội, tại sao giam cầm tôi?
Bác sĩ hơi giận, nói:
– Việc phạm tội và sự thả ra không cần xét đến, ai dám quả quyết rằng anh có tội, anh Iankel? Chuyện được thả ra anh phải ráng chờ!
– Tôi đã chờ lâu rồi.
– Đó là theo ý anh thôi, anh còn quê mùa, mộc mạc quá. Anh tưởng sĩ quan nào cũng có quyền thả tù nhân vì họ vô tội hay sao? Nếu thế thì trại giam sẽ trống lốc trong nay mai. Mỗi tù nhân quốc xã đều có thể trưng bằng chứng vô tội. Được thả ra là khi nào có lịnh của Bộ Tư lịnh Frantcfort. Tại đó giấy tờ gởi đi Washington và lịnh quyết định sẽ chuyển tới Wiesbaden, một ủy ban chuyên môn ở Esslingen sẽ cứu xét quyết định ấy và gửi tời Berlin. Lịnh thả ra được ban từ Berlin và gởi tới Heidelberg, nơi đây phiếu cá nhân của anh được rút ra khỏi thùng phiếu của cả trăm phòng và chừng đó anh mới được thả về, nhưng mấy việc này lằng nhằng lắm vì có một máy điện làm việc tự động. Mỗi tội nhân có một phiếu cá nhân. Bên Mỹ có lập những cơ sở chứa phiếu, to lớn bằng thành lính trước mặt ta đây. Khi lịnh được gởi tới Heideiberg thì người ta cho rút phiếu đương sự ra khỏi thùng phiếu của những nơi nầy: Washington, Stuttgart, Ludswigsburg, Munich, Kornwestheim, Paris, Berlin, Francfort.
“Tên anh có ghi cùng khắp thế giới, ở Phòng liên bang Thông tin Mỹ, ở bộ tư lệnh tối cao của Đồng Minh ở Ba-lê, ở ủy ban kiểm soát Berlin, trong các trại giam, các khám đường, các văn phong C.I.C, C.I.D, M.P, S.P, S.Q.S. ở khắp nơi.
“Những cử động của anh, dầu nhỏ nhặt, tỉ dụ anh bị chuyển từ trại giam này sang trại giam khác đều bắt buộc đổi phiếu của anh trong thùng phiếu những nơi nói trên, chuyện ấy anh biết chăng?
Moritz tưởng tượng tên anh trong các thành phố lớn nhất thế giới, tên anh được lặp đi lặp lại trong các thùng phiếu to, lúc cháy sáng, lúc tắt như mấy cây đèn rọi trên dây kẽm gai ở các trại giam. Từ đây anh đã biết mỗi cử động của anh đều bị chụp hình, bị ghi sổ và bị soi sáng, anh nói:
– Tôi không biết chuyện ấy!
– Phải, nếu anh biết thì anh đâu nhờ tui xin cho anh, tui không phiền anh đâu, anh tưởng một mình tui mà kéo được guồng máy khổng lồ ấy à!
Bác sĩ Abramocivi cười vang lên và nói:
– Đến tổng thống Huê kì cũng không làm được chuyện đó, anh phải bình tĩnh chờ tới phiên anh.
– Nhưng trong khi tôi vô tội, tại sao phải ở mãi trong tù? Tại sao cái máy ấy thù oán tôi trong khi tôi chẳng làm gì hại nó. Cái máy ông nói đó chắc để dùng cho những kẻ trộm cướp, giết người, và kẻ bất lương thôi chớ!
– Anh ráng tập đừng xét đoán như một thôn dân lạc hậu nữa anh Iankel à! Các vấn đề anh đều xét trong quyền lợi cá nhân, xã hội văn minh chẳng chuyên chú đến quyền lợi cá nhân. Chuyện anh phạm hay vô tội là chuyện của anh, chỉ quan hệ tới vợ anh, láng giềng anh và các nông dân khác trong làng anh. Chỉ mấy người ấy mới chú trọng đến việc cá nhân, mấy xứ văn minh họ xét người với tầm bao quát trọng đại hơn, họ không xét đến trường hợp từng người.
– Nhưng tại sao lại bắt tôi?
– Chúng tôi đã theo thủ tục bắt bớ dự phòng và từng loại hạng, nếu chúng tôi cần dùng một phạm nhân, một tội phạm chiến tranh chẳng hạn, thì sẽ có liền không cần phải tìm kiếm, đuổi bắt khắp làng mạc, mất biết bao thì giờ? Với lối bắt bớ dự phòng này, chỉ nhấn nút hiện những chữ tương ứng với chữ khởi đầu của tên người tội nhân, thì chưa đếm đến số ba đã có trước mặt chúng tôi tấm phiếu có dán hình với những chỉ dẫn về bề cao, màu tóc, ngày và nơi sinh đẻ, cân nặng, mấy cái răng, và những gì cần ích cho chúng tôi. Kế đó chúng tôi chỉ cần cầm máy gọi bằng vô tuyến truyền thanh nói khám đường hoặc trại giam có tội nhân bị nhốt thì vài giờ sau, tên ấy có mặt, bằng xương bằng thịt trước tòa án quốc tế Nuremberg. Anh coi có phi thường không, kết quả của kĩ thuật đó. Thảy thảy đều tự động, đều chạy bằng điện cả. Như vậy làm sao anh muốn nó thả anh được, có họa chăng là anh điên, anh cũng như một sợi chỉ chạy trong máy dệt. Hễ mắc vô khung cửi rồi thì không sao gỡ ra được nữa. Anh phải chờ tới khi nó ra khuôn – dệt chung với mấy sợi khác – phải chờ đến giờ của nó. Không thể làm khác, máy móc tinh vi lắm, phải nhẫn nại!
“Và anh hiện anh đang ở giữa guồng máy, anh có thể vùng vẫy, khoa tay múa chân cũng vô ích, anh không thể nào vượt tung ra khỏi dàn máy được. Cơ khí điếc mù, không nghe, không thấy, chỉ làm việc. Nó làm việc hoàn hảo và đạt tới chỗ hoàn thiện mà con người không đạt được. Phải chờ vì chắc chắn phiên mình phải tới, máy móc không quên như con người đâu, nó đúng giờ đúng khắc lắm, anh biết chưa?
Moritz rùn vai nói:
– Vậy ông không thể dùng cách nào thả tôi ra sao?
– Tôi đang cắt nghĩa cho anh, anh đang trong guồng máy và không còn cách nào khác là chờ đợi.
– Nhưng nếu ông muốn can thiệp dùm tôi thì chắc chắn có hi vọng, vì chuyện này có thể điều đình được. Cấp chỉ huy ắt phải những người như ông và tôi, và họ sẽ hiểu. Nếu ông giải thích cho họ nghe, rằng tôi đã có vợ con, và đã chịu đau khổ hàng mấy năm trường trong các trại giam, mà không làm gì quấy, chắc mấy ông đó sẽ thả tôi ra.
Bác sĩ nổi giận nói:
– Thật như nói chuyện với con lừa không khác. Anh cứ đem chuyện cá nhân và riêng tư ra nói mãi, anh không thể quên được anh, đặc tính của người cổ lỗ thật. Anh cần món gì nói đi: thức uống, đồ ăn hay quần áo?
– Tôi muốn được xử công bằng, nhưng công lý nhân loại đã mất hết trên quả đất rồi, tôi không muốn gì hết.
– Anh cũng nên hút một điếu thuốc.
Bác sĩ đưa một gói Lucky Strike cho Moritz, cười và nói:
– Chúng ta là bạn đau khổ của nhau mà!
Moritz thò tay lấy điếu thuốc nhưng chỉ còn gói không, bác sĩ kiếm gói khác nhưng không có, ông nói:
– Tôi sẽ biếu anh điếu thuốc, lần tới, khi tôi tới lại đây.
Bác sĩ đi ra.

——————————————————————–

Mục sư Koruga ngồi ghế, cặp nạn để trên đầu gối, viên sĩ quan hỏi ông:
– Nếu ông không phải thuộc phái độc tài quốc xã, hoặc cộng tác viên thì ông tới nước Đức làm gì? Chuyện của ông thuật lại rằng lúc tỉnh dậy thấy trong quân y viện của Đức mà không hiểu tại sao chỉ dùng để nói với trẻ con. Những chuyện quái dị như vậy chỉ có thể xảy ra trong các truyện ở miền Balkan của các ông chớ chẳng khi nào có trong thực tế. Với một sĩ quan Mỹ đó là một chuyện thêu dệt vụng về, giấu đầu lòi đuôi, nó giống chuyện hoang tàn, chuyện thần thoại. Quân Đức giữ ông làm gì trong nhà thương, nếu ông không phải là bạn, là cộng sự viên của họ? Tại sao họ lại săn sóc ông trong sáu tháng trường và cưa hai chân ông? Vì ông là kẻ nghịch à? Hay là vì lòng nhân đạo của họ? Họ nhân đạo hồi nào vậy, họ bắt người và giết bằng hơi độc tất cả. Ông cộng tác với họ nên được họ săn sóc. Chắc ông buồn lắm khi thấy Hitler không thắng trận à?
Mục sư Koruga giữ làm thinh. Mặt ông tái xanh, mồ hôi đọng từng giọt trên lông mày. Ông ngồi ghế không vững từ khi bị cưa chân, ông chỉ nằm. Ông trông cho cuộc thẩm vấn được sớm chấm dứt, để ông được phép rời khỏi cái ghế ấy.
Viên sĩ quan nói tiếp:
– Chắc ông sẽ vui mừng khi Hitler thắng trận phải không? Chừng đó Hitler sẽ cử ông làm đại chủ giáo xứ Roumanie, và ông sẽ toại nguyện.
– Không, tui không vui mừng.
– Càng không nữa.
Viên sĩ quan cau mày, mục sư nói:
– Không cuộc thắng trận nào bằng võ khí làm tui vui mừng được cả.
Mục sư vừa nói vừa nhìn lên hình ảnh các trại giam Đức quốc xã treo trên tường và ông nhớ đên xác ông biện lý George Damian, của chàng thanh niên Vasile Apostol và của mấy thôn dân khác trong làng Fantana bị Marcou giết hại cùng một đợt với ông, và quăng bỏ trong hầm phân, sau chuồng ngựa của tòa thị sảnh. Ông nghĩ đến thây các trẻ nít thành Dresden, Francfort, Berlin. Ông nghĩ đến các xác chết còn ngổn ngang ở Dunkerque, Stalingrad. Và ông không tài nào vui sướng khi nghĩ đến các thây ấy đã giúp cho cuộc đắc thắng được:
Nhất tướng công thành vạn cốt khô.
Muốn đạt đến chiến thắng, mặt đất bằng lấp đầy thây của bao kẻ vô tội… Ông đọc một đoạn văn:
“Dầu chiến thắng, đâu có tốt đẹp
“Mà là cho tốt đẹp
“cho những kẻ thích giết người
“Phàm kẻ vui thích giết người
“Ắt không thỏa mãn ý muốn thống trị ở việc phục lòng thiên hạ
“Giết người nhiều lấy cảm thương khóc đấy
“Chiến thắng được lấy tang lễ mà xử lấy”.
(Lão Tử)
Viên sĩ quan nói:
– Bài thơ hay quá, ông sáng tác phải không?
– Bài thơ này do một hiền triết Trung Hoa sáng tác hơn 2000 năm nay.
– Ông chép lại cho tôi đi, tôi muốn gởi về gia đình tôi, ở Mỹ.
Viên sĩ quan tươi cười, hình như đang nghĩ tới gia đình. Nhưng rồi cau mày ngó mục sư, nghi ngờ hỏi:
– Ông chắc mấy câu thơ đó do 1 người Trung Hoa nghĩ ra không?
– Chắc chắn vậy. Mấy câu thơ làm cho ông thích thì cần gì của người đó hay người khác. Cốt nhất là thơ hay, chuyện khác không quan trọng.
– Sao lại không quan trọng, tôi vui mừng được biết tác giả là người Trung Hoa, Trung Hoa là một đồng minh của Mỹ. Gia đình tôi sẽ hoan hỉ tiếp được bài thơ nầy. Nếu tác giả là một thi sĩ nước nghịch tôi không thể gởi về nhà được. Ngày mai ông viết lại cho tôi nghe! Tôi đưa viết chì và giấy cho ông, ngoài thần học ông còn biết gì khác nữa không?
– Tôi học những gì tôi thích vào lúc tôi có thì giờ.
– Ông biết viết chữ Trung Hoa không?
– Không.
– Uổng quá! Tôi định nhờ ông viết bài thơ ấy bằng chữ Trung Hoa, để gia đình tôi ngạc nhiên chơi vì nhận được chữ Trung Hoa tui gởi về, nhưng không sao, nếu không viết được bằng chữ Trung Hoa ông cứ viết bằng chữ Anh. Tác giả bài thơ ấy có giọng trào phúng quá, vì là dân đồng minh của liên hiệp quốc.
Khi trở về trại giam mục sư mệt đừ.
Moritz đặt ông lên giường, đắp khăn ướt lên trán ông và nói:
– Họ có nói chuyện thả Cha ra không?
– Không.
– Vậy họ hỏi cha chuyện gì?
– Họ bảo cha viết dùm một bài thơ của Lão Tử, họ muốn cha viết bằng chữ Trung Hoa và tiếc hùi hụi khi cha không viết được.
– Cuộc thẩm vấn có bi nhiêu thôi sao.
Mục sư gật đầu.

——————————————————————–

Traian được thơ của Nora, chàng cầm bao thư có đề hai chữ “Tù Binh” trên góc, và nói:
– Tôi biết Nora cũng bị bắt nhưng tôi hi vọng vài ngày sau được thả ra. Bây giờ không còn nghi ngờ gì nữa, nàng cũng bị nhốt trong trại giam như chúng ta, nàng cũng bị lưu đày từ trại này sang trại khác, có lính Ba Lan gác ngoài kẽm gai như chúng ta chẳng khác tí nào, tôi không thể chịu đựng được nữa.
Nora không biết địa chỉ cua Traian nên đề trên phong bì tên chàng và tất cả các trại giam vùng Mỹ chiếm đóng. Bức thư đã đi cùng khắp trại giam trước khi về tay chàng.
Chàng nói:
– Chúng nó không cho nàng biết tôi ở đâu và cũng không cho tôi biết nàng ở trại giam nào.
Mục sư cố an ủi chàng, ông nằm trên giường, đầu đắp khăn ướt. Traian không nghe những lời khuyên can, chàng đứng dậy nói:
– Mọi đau khổ đều có giới hạn, tôi thấy đến chỗ tột cùng rồi, không ai đến đó mà còn sống được.
Traian bước ra khỏi lều, Moritz kinh hoàng nói:
– Ông Traian đi tự tử.
Mục sư nằm nắm mắt, ông không nghe Moritz, ông cầu nguyện. Chẳng những cầu nguyện cho Traian và Nora, ông cầu nguyện cho tất cả những người bị xã hội kĩ thuật phương Tây dồn hãm vào đường cùng, không ai vượt qua mà còn sống được.
Moritz nói:
– Ông Traian sẽ tự sát nếu tôi để ông một mình.
Mục sư mở mắt, rờ tay Moritz và để cho anh ra đi.

——————————————————————–

Mục sư nói với Traian:
– Con đưa tay cho ba.
Ông nằm dài, mắt mở hí, trán ông xám ngắt, máu mặt không còn. Ông già nắm tay Traian, không nói lời nào, hơi ấm trong hai bàn tay như san sớt với nhau, máu cũng như truyền qua truyền lại. Chỉ có tình ruột thịt mới cho hai cha con gần gũi nhau như lúc này. Hai quả tim cùng một nhịp, nhưng tim mục sư nhảy càng phút càng yếu.
Moritz muốn thay khăn đắp nhưng mục sư ra dấu không cần. Anh bèn ngồi bên mép giường, mục sư nói:
– Hiện giờ Cha thấy tay Cha ấm không do hơi ấm của người mà do nơi lửa sống của đời người. Tay con nóng đúng như nhiệt độ của đời sống cần có.
Traian siết chặt tay cha.
Bàn tay đã lạnh nhưng mục sư vẫn tươi cười, ông nói:
– Cha mơ ước hai chuyện ở thế gian: làm mục sư ở Mỹ quốc và lúc chết được chôn trong đất thánh láng Fantana. Con nhớ không Traian, cái đất thánh không có tường, không bờ rào, đầy hoa và cỏ dại đó.
“Đất thánh đó giống như đồng ruộng, cha tha thiết được nghĩ giấc ngàn thu ở đó, để chiêm thưởng cuộc du ngoạn trong cảnh vĩnh cửu của cha. Nhưng hai chuyện mơ ước lại thành tựu một cách buồn cười. Cha chưa từng đi Mỹ quốc thì Mỹ quốc tìm đến cha, cha sẽ chết trong trại giam nơi phấp phới ngọn cờ ngôi sao Mỹ quốc. Cha cũng không được chôn trong đất thánh làng Fantana, nhưng đất thánh này đã trở nên to rộng hơn làng Fantana và xâm chiếm cả đất Âu châu.
– Lang Fantana xứ Roumanie và tất cả xứ Âu châu hiện giờ chỉ là một vết đen trên bản đồ thế giới, chỉ là một vết mực. Toàn đại lục Âu châu đều im lặng và hết sức vui tươi, nét vui tươi đã rời khỏi Âu châu như rời khỏi đất thánh Fantana. Rồi chẳng bao lâu, hoa dại cỏ hoang sẽ bao phủ khắp địa cầu như đã bao phủ làng chúng ta. Chỗ nào chôn cha cũng được, ở nơi nào cha cũng tưởng như trong đất thánh không bờ rào của làng ta.
Traian nói:
– Tại sao ba nói chi chuyện ấy, ba nên nằm nghỉ cho khỏe là hơn.
– Con nói có lý nhưng cha cần tỏ ít lời với con, Traian con à, con nên biết rằng: “Cuộc đời chẳng bao giờ có tôn chỉ khách quan, trừ phi sự chết mới có mục đích khách quan, tôn chỉ thiết thực và chân chính nào cũng vẫn chủ quan.
“Xã hội kĩ thuật phương Tây lại muốn hiến cho đời người một tôn chỉ khách quan nhưng đó là phương tiện hay nhứt để tiêu diệt đời người. Họ đã thâu hẹp đời người thành một bảng thống kê, nhưng mỗi thống kê lại bỏ sót lại một trường hợp đặc biệt duy nhứt. Và nhân loại càng tiến hóa thì chính cái đặc tính duy nhứt của mỗi cá nhân và mỗi trường hợp đặc biệt lại càng đáng kể hơn.
“Cái xã hội tiến triển đúng theo một chiều hướng ngược chiều: nó bao gồm và nhứt luật tất cả, nó ban hóa tất cả. Và càng muốn nhứt ban hóa, càng tìm kiếm, càng sắp xếp các giá trị vào cái chỗ toàn nhứt thể mà nhân tính phương Tây đã mất hết ý thức về các giá trị của bản vị, tức đời sống cá nhân. Do đó, cái họa lập nảy sản ra, dầu hiểu theo lối Nga, hay lỗi Mỹ cũng thế!
“Và cũng chính tại đó mà chúng ta tin chắc cái xã hội kĩ thuật phương Tây sẽ sụp đổ, vả lại chính con, con cũng nói tới nó trong một buổi tối tại làng Fantana, cái xã hội kĩ thuật Tây phương không còn hạp với đời sống cá nhân, nó bóp ngẹt con người đến chết như đã chết ngộp mấy con thỏ bạch trong cuốn tiểu thuyết của con. Chúng ta sẽ chết ngộp trong bầu không khí đầy chất độc của xã hội ấy, một xã hội chỉ có những tên nô lệ kĩ thuật, những máy móc và những công dân sống được mà thôi, đúng như con viết trong sách con. Loài người, như thế sẽ phạm tội nặng và sẽ đắc tội với Chúa trời.
“Chúng ta đem hết sức lực để chống lại chính chúng ta và chống lại Chúa trời. Thật là một mức trụy lạc chưa từng đạt tới trong xã hội loài người. Và cái xã hội ấy rồi sẽ bị diệt vong như bao xã hội khác bị diệt vong trong suốt thời gian lịch sử, và trước thời kì có nhân loại nữa.
“Người ta muốn dùng một trật tự luân lý để cứu vớt của Xã Hội ấy, nhưng chính cái trật tự đó lại giết chết nó.
“Tội trạng của xã hội kĩ thuật phương Tây là ở chỗ đó. Cái xã hội đó giết người đang sống, hy sinh họ cho lý thuyết, cho trừu tượng, cho kế hoạch, đó là hình thức tân thời của lễ hi sinh cúng người, giàn lửa và hỏa hình ngày xưa được thay thế bằng văn phòng và bảng thống kê. Hai thần tượng của xã hội hiện đại đang đốt tiêu mòn con người làm vật hi sinh.
“Thí dụ như nền dân chủ là một chế độ lương hảo hơn nền độc tài, nhưng nó chỉ tiêu khiển cho khuôn khổ xã hội của đời người mà thôi. Nhầm lẫn dân chủ với đời sống là giết chết con người và làm thâu giảm đời sống xuống còn một mặt, một khuôn khổ. Đó là lỗi lầm to tát, một lỗi chung cho phe độc tài quốc xã và phe cộng sản.
“Đời sống con người thật có ý nghĩa khi nào nhận xét và đã sống trong toàn thể, vật chất lẫn tâm hồn. Và muốn thấu đáo ý nghĩa sâu xa của lẽ sống phải dùng một thứ dụng cụ mà ta dùng để hiểu mỹ thuật và tôn giáo: đó là dụng cụ sáng tạo mỹ thuật, những dụng cụ của mọi sáng tạo. Trong cuộc tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của lẽ sống, lý trí giữ vai trò phụ thuộc. Toán số, thống kê, luận lý cũng vậy, cũng có giá trị phụ thuộc trong sự thấu hiểu và tổ chức đời sống con người. Hoặc trong sự thấu hiểu cuộc hòa nhạc của Beethoven hay Mozart, cần có tình cảm và tâm hồn cao cả.
“Nhưng xã hội phương tây cứ muốn tìm hiểu nhạc sư Beethoven và họa sư Raphael bằng những con số toán học. Cái xã hội ấy muốn tìm hiểu và nâng cao đời sống con người bằng những bảng thống kê.
“Thử đem áp dụng những phương pháp ấy thật phi lý và bi đát.
“Với phương pháp đó trong vài trường hợp tốt nhứt, con người có thể đạt tới chỗ tuyệt mỹ về phương diện xã hội. Nhưng chuyện ấy không cứu vớt được con người chút nào. Chính đời sống con người sẽ hết tồn tại, khi bị tiết giảm theo khuôn khổ xã hội, theo từng động tác cơ giới tự động, theo luật lệ của máy móc. Các luật này chẳng bao giờ tạo được ý nghĩa cho đời người và khi đã truất bỏ ý nghĩa của lẽ sống- cái ý nghĩa duy nhất, hoàn toàn vô cớ và hơn hẳn mọi luận lý mà đời sống có được- thì lúc ấy chính đời sống con người cũng sẽ mất tiêu luôn. Cái lẽ sống của mỗi người phải hoàn toàn thuộc về cá nhân, thuộc về cái tâm của mỗi người.
“Xã hội kĩ thuật ngày nay đã vứt bỏ từ lâu cái chân lý ấy và đã đi sâu vào con đường khác với một tốc lực cao độ và tuyệt vọng. Bởi thế nên các dòng sông Rhin, sông Danube, và sông Volga mới cuồn cuộn nước mắt của quần chúng nô lệ. Dòng nước mắt ấy cũng sẽ chảy đầy các dòng sông châu Âu và thế giới này, cho đến khi biển cả trùng dương đều tràn ngập nỗi đắng cay thảm khổ của con người, con người trở thành nô lệ cho kĩ thuật, cho quốc gia, cho chế độ văn phòng, chế độ quan liêu, chế độ tư bản.
“Sau rốt, Chúa sẽ phải xót thương con người như Chúa từng thương hại nhiều lần. Và giống chiếc thuyền của Noé trên lượn sóng của đại hồng thủy vài người thật là người, còn giữ được chân tính sẽ trôi nổi trên vòng xoáy nhiễu loạn của đại tai ương tập thể này. Và chính nhờ mấy người đó mà loài người được bảo tồn cứu vãn, như đã bao nhiêu lần xảy ra trong lịch sử.
“Tai nạn chỉ qua khỏi cho những người thật là người chân chính, nghĩa là cho cá nhân. Và lần này, chẳng phải cả loại hạng được cứu thoát.
“Không một quốc gia, một giáo hội, một đất nước nào có thể cứu tế được chúng dân của mình, cả đoàn lũ hoặc từng loại hạng. Chỉ là những người, riêng từng, cá nhân không kể đến tôn giáo, chủng tộc, loại hạng chính trị hay giai cấp xã hội của họ, chỉ mấy người ấy được cứu tế mà thôi. Và vì thế chẳng nên xét đoán con người theo loại hạng của họ.
“Loại hạng là một sai lầm dã man và quái đản hơn hết, do trí não con người tạo ra. Đừng quên rằng kẻ nghịch ta cũng là người chứ không phải một loại hạng.”
Thừa lúc mục sư ngừng nói, Traian hỏi giọng lo âu:
– Bây giờ ba đem cắt nghĩa với con mấy chuyện ấy làm chi, tốt nhất ba nằm nghỉ cho khỏe.
– Cha sắp làm đây, cha sẽ nghỉ yên giấc, nhưng trước khi đi nghỉ, cha muốn tỏ hết mấy chuyện ấy, mà con đã biết và cảm thông như cha. Mà ai cũng đều cảm thông như thế, cả Moritz nữa. Song cha thấy khoan khoái và nhẹ nhàng được lập lại, bằng không nói ra trước khi nghỉ, cha sẽ không yên giấc.
– Tay ba lạnh.
– Cha biết rồi con ạ, chắc tại một sự lo sợ lạ lùng mà cha không kiềm chế nổi, một nỗi lo âu mãnh liệt hơn thân xác.
– Con không hiểu ba muốn nói gì, ba thấy trong mình không yên sao?
– Không.
Mục sư đau đớn mím môi lại, dường như thân hình ông có luồng điện chạy ngang qua. Traian cúi đầu nhìn cha, mặt mục sư vàng lên, với nụ cười nồng nàn, đầy yêu đương. Sau vừng trán ông, dường như có ngọn “đèn rọi” vụt lên! Traian đã biết là phút cuối cùng, chàng quỳ gối xuống, thổn thức.
Moritz đứng dậy hỏi:
– Tôi nên đi kêu bác sĩ không?
Traian không đáp, cứ xiết chặt tay cha và khóc thảm thiết, một cách tuyệt vọng chưa từng có.
Moritz đã hiểu nên quỳ xuống bên Traian và làm dấu thánh giá.
Vài phút sau Moritz đứng dậy, tù nhân từ các lều khác đều vây quanh mục sư. Moritz lách người qua đám tù đầu trần đang đứng lặng yên. Một lát anh trở về, tay cầm đèn cầy làm bằng sáp, mó máy trên các hộp chocolate. Anh đốt đèn, cắm trong hộp thiếc không, và để gần đầu mục sư Koruga. Bác sĩ trại giam bước vô lều với hai y tá khiêng chiếc cán. Traian hỏi:
– Các người muốn gì?
– Khiêng xác đi, bác sĩ trả lời.
– Đem đi đâu?
– Đem ra khỏi trại nhưng không biết chỗ nào, chúng tôi phải cho thượng cấp hay để xe Mỹ đến chở đi.
– Dầu sao tôi cũng có quyền biết các người chôn cha tôi ở đâu.
Bác sĩ gắt giọng:
– Còn nhiều việc chúng tôi cũng muốn biết lắm nhưng vô phương.
Hai y tá đến gần giường, định khiêng xác mục sư để lên cán nhưng bác sĩ ngăn lại, nói:
– Để tôi khám nghiệm đã, biết đâu chừng ông còn sống.
Bác sĩ nắm tay mục sư hồi lâu, đoạn áp lỗ tai vào ngực xác chết hồi lâu rồi nói:
– Hai người có thể khiêng đi.
Traian la lớn:
– Không được!
– Anh chống lại làm gì, chúng tôi cũng là tù nhân như anh và không thể làm gì khác hơn là vâng lịnh.
– Tôi muốn biết trước hết các ông đem xác cha tôi đi đâu? Ít nhứt tôi phải có quyền hỏi vì tôi không được phép dự lễ tang cha tôi kia mà. Tôi muốn biết chắc coi người được chôn theo đạo không? Dầu là tù nhân tôi vẫn có quyền được biết; khi thác rồi cha tôi đâu còn là tù nhân nữa; các người phải kính nể như mọi người chết mới được.
– Ai nói với anh rằng người chết không được kính nể?
– Không phải tôi nói như thế, nhưng cha tôi là mục sư chính thống giáo nên tôi muốn được chôn cất theo nghi lễ của nhà thờ thuộc về đạo của người.
– Anh viết đơn xin phép bộ chỉ huy Mỹ đi.
– Ông có đảm bảo rằng ngày mai không quá trễ hay không?
– Tôi không đảm bảo gì hết vì tôi cũng là tù như anh.
– Vậy thì xác cha tôi phải ở đây. Tôi muốn trước khi lìa người, được biết chắc chắn người được mai táng theo nghi lễ chính thống giáo.
– Anh chống lại cũng vô ích.
– Có thể ông có lý, nhưng tôi vẫn chống!
– Chúng tôi phải đem xác đi vì lịnh cấm để trong trại giam.
– Ông có thể dựt lấy xác nhưng ông sẽ hối hận.
Hai y tá giựt mạnh tay Traian rồi lôi ra khỏi giường, xác mục sự được để lên cán. Traian vùng ra khỏi tay những người nắm cứng anh. Khi trán khiêng gần anh anh chỉ thấy trán cha, vừng trán cao, tinh khiết và sáng như vầng trăng.
– Đây là một trọng tội mà các người sẽ phải trả giá đắt. Có nhiều hành động không thể tha thứ được, bác sĩ, đừng quên rằng chính ông cấm tôi đem xác cha tôi ra khỏi của trại giam nhé!
– Chẳng phải tôi cấm, tôi chỉ tuân kỉ luật.
Viên trưởng trại đứng gần Traian, khuyên:
– Anh nên bình tĩnh, nếu chúng nghe được, chúng sẽ nhốt anh trong hầm tối.
– Từ rày về sau không có gì làm tôi bình tĩnh được nữa. Không có xà lim, khám đường nào trấn áp được tiếng kêu la của tôi. Kể từ bữa nay tôi sẽ nhịn đói cho đến chết. Tôi sẽ tuyệt thực giữa hai mươi ngàn người giữa trại giam này, cái chết của tôi sẽ là một tiếng hét căm hờn, phản kháng. Nó sẽ đi sâu vào tai, vào mắt, vào mũi của những người xung quanh tôi, của những người bị nhốt một lượt với tôi, của những kẻ đã giam cầm tôi. Tiếng phản kháng ấy sẽ vang dội khắp bốn phương trời, không ai tránh khỏi nghe nó. Không một ai, không ai tránh khỏi, dù sau khi chết.

——————————————————————–

Moritz hỏi Traian:
– Ông thực tình muốn chết sao, ông không ăn, không uống gì hết.
Bốn ngày qua từ bữa Traian quyết định tuyệt thực. Trời nóng, Traian nằm giữa bóng lều, đi cũng mệt, ngó trời cũng mệt và chính sự hiện diện của thân xác chàng cũng làm chàng mệt nốt.
Còi báo hiệu buổi ăn trưa, Moritz cầm cà-mên của Traian, ráng thuyết phục chàng lần nữa, nói:
– Ông muốn tôi đem phần ăn ông về không? Ông có chết cũng chính bọn chúng vui mừng, nhưng ý muốn chết là tội lỗi lắm!
Traian nói:
– Nếu anh muốn cứ lấy phần tôi chớ tôi không cần chi nữa!
Moritz lấy đầy một cà-mên xúp đem về. Anh đặt xuống đất gần Traian, lấy muỗng trong túi ra lau. Đoạn anh để cà-mên trên đầu gối, xúp còn nóng, anh phồng mũi hít hơi xúp bay lên. Traian hỏi:
– Sao anh không lấy luôn phần của tôi, phần của anh ăn không đủ no, vả lại khẩu phần nào cũng không đủ cho ai hết!
– Tôi không ăn phần ông được, Chúa sẽ phạt tôi, lúc ông đang đau tôi lại ăn phần ông thì tội tình lắm, tôi không thể làm được.
Kèm cà-mên giữa hai đầu gối, Moritz ngước nhìn mặt trời đang nhuốm màu nặng nề, nhìn mấy một lát sau, môi mấp máy, rồi làm dấu thánh giá.
Traian theo dõi từng cử chỉ của anh. Moritz chậm rãi để cái muỗng trong xúp, trịnh trọng như một người đang hành lễ.
Anh múc nữa muỗng xúp và nghiêm trang đưa lên môi, như rước lễ thánh. Nuốt xong anh nghĩ một chặp. Anh cầm muỗng ngay thẳng trên tay, không cục cựa như muỗng còn đầy.
Mắt anh to và đen chăm chú trong cõi xa xăm một vật mà chỉ riêng anh thấy, ở ngoài kia nơi ngoài biên giới chân trời của mặt đất.
Moritz múc muỗng nữa, không bao giờ anh múc đầy muỗng. Mỗi lần không bao giờ anh ăn hơn một muỗng, anh đưa muỗng lên môi cũng bằng cách chậm rãi và trang trọng như trước.
Moritz ăn cũng như người ta hành lễ mi-xa, đều đặn và tiết độ. Ăn, đối với anh cũng là một cử chỉ thiêng liêng- lễ thụ hưởng- phải giữ đúng nghi lễ thiêng liêng, không được hấp tấp, phải thận trọng nghiêm trang. Một giọt xúp không dính môi, đổ, hoặc bỏ sót.
Các cử chỉ của Moritz khi ăn làm tê liệt mọi thuyết hoài nghi và bắt buộc phải im lặng
Không vẻ gì đóng kịch, không có gì vô cớ, không có gì vô ích. Tới giờ ăn, Moritz đặt mình vào tiết niệu thiên nhiên, anh tu dưỡng cũng như loài thỏa mộc sinh dưỡng, rút nhựa sống trong lòng đất. Toàn thân anh hòa điệu với cử chỉ ấy, không biết gì xung quanh, anh hoàn toàn thuộc về bản ngã anh, anh hòa mình mật thiết với tạo vật thiên nhiên.
Khi ăn xong, không một giọt xúp nào dính trên cà-mên, anh ngồi lặng yên một hồi, nhìn quang cảnh trước mắt, quang cảnh chỉ mình anh thấy. Rồi, với ba ngón tay nhập lại, anh làm dấu thánh giá một lần nữa.
Day qua Traian, anh nói:
– Ăn của người khác là một tội lớn.

——————————————————————–

Traian nói:
– Tôi khướt từ mọi sự săn sóc, thuốc men.
Chiều ngày tuyệt thực thứ tư của Traian, trung úy Jacobson, chỉ huy trưởng trại giam được cho hay phái đoàn phóng viên Mỹ đến thăm viếng các tù binh và trại giam ở Đức, vừa mới tới Struttgart. Ông ra lịnh cho bác sĩ Schmidt điều đình với bác sĩ giám đốc đem Traian ra khỏi trại giam một thời gian, đừng cho báo giới biết trường hợp của chàng, trường hợp thật đáng chú ý. Thực vậy, Traian không phải đảng viên Đức quốc xã, cha chàng vừa chết, lại là mục sư cụt hai chân, vợ chàng là Do Thái, bao nhiêu yếu tố để báo chí làm rùm lên. Trung úy không muốn bị tai tiếng vì hễ có loạt bài công kích về vụ này, chắc ông sẽ bị kêu về Mỹ ngay lập tức, lúc mà ông đang sưu tập bộ đồ đồng bằng sứ rất quý giá. Ông mua tất cả những thứ đó với vài bịch thuốc hút và đã gởi vô thùng cất ở hầm vùng chiếm đóng của quân đội Anh, chỉ còn chở về Mỹ là xong. Nếu ông tìm mua đủ trọn bộ vốn bị tản mác ở nhiều nơi: ở tỉnh, làng và hầm chứa bên Đức thì ông sẽ sống sung sướng trọn đời không cần làm gì hết.
Nhưng muốn được như vậy ông phải ở lại đây tới chừng mua được đủ cả.
Nếu mấy kí giả không đến Struttgart thì ắt trung úy không lo sợ vỡ lở, chuyện của Traian rồi sẽ ém nhẹm đi, ông không nhắc đến trong bảng phúc trình. Trong trại giam bọn tù chết đói hàng bữa, và cái việc phần đông tù nhân chết vì thiếu ăn, có gì hệ trọng đâu? Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, chuyện xảy ra ngoài chương trình trù tính của ông, ông muốn làm sao tránh cho kì được; vì cả triệu bạc bị thiệt trong đó.
Xã trưởng Schmidt, cựu đại tá S.S, và chỉ huy trưởng sở cảnh sát thành Weimar, hứa với trung úy Jacobson lo xong vụ này gấp gấp và rất kín nhẹm.
Đã mười giờ đêm, ông Schmidt tới nói với Traian:
– Bác sĩ phải săn sóc bệnh nhân dù người bện không bằng lòng. Anh bị sốt rét phải chở đi nhà thương của trại.
Moritz nằm gần giườngTraian, anh giật mình mỗi khi nghe giọng nói của xã trưởng Smchidt, anh tưởng như nghe tiếng Iorgu Iordan, cũng y một giọng đó.
Traian nói:
– Tôi không rời khỏi chỗ này, có phải vì tôi đau đâu, mà vì các người sợ tôi ở đây thì sẽ gây mối ác binh của báo chí, nên mới dời tôi khỏi trại đó thôi. Nhưng các người không ém nhẹm được, các người cho là tôi chết mau quá hay sao? Cả hai chục ngàn thây ở trại này không làm bận lòng mấy người. Mấy tù khác chết êm thấm hơn và khi chết êm thấm như vậy thì không gây chuyện lôi thôi. Họ không gây rắc rối vì chết lần mòn và chắc chắn. Tại sao mấy người không chở họ vô nhà thương như tôi.
Hai y tá khiêng bổng Traian lên cáng như một món đồ. Moritz nắm chặt tay, nghiến răng, anh muốn bênh Traian nhưng thấy thua trước nên đành chịu. Traian nói:
– Nhân danh cho thuyết bất chính để làm một việc phải là một trọng tội.
– Thôi ta đi, bác sĩ bảo y tá.
Hai y tá khiêng cáng ra khỏi lều, bọn tù đứng dang hai bên để tránh đường. Không ai ngủ hết và cả thảy đều im lặng. Giống cảnh im lặng báo hiệu cái chết, tất cả đều hiểu có chuyện xảy ra, nhưng không ai biết gọi là gì?
Trời sáng trăng, Moritz đi theo sau cáng, đầu cúi xuống như đi đưa tang. Anh ôm quần áo, giày, mắt kiếng và ống điếu của Traian. Nước mắt anh tuôn trào nhưng anh chợt nhớ người nằm trên cáng, bạn anh, vẫn còn sống:
Tới của nhà thương Moritz bị cấm không được bước vô, xã trưởng Schmidt nói:
– Anh không được phép theo chúng tôi vào trong, lính nghiêm ngặt lắm, không ai được phép nói chuyện với Traian và y cũng không được phép gặp người nào. Anh đưa quần áo, đồ vật của y tôi đem vô cho.
Đêm đó Moritz đi một mình chung quanh nhà thương, anh không đành lòng rời bỏ Traian.

——————————————————————–

Traian bị nhốt trong phòng có sáu giường nhưng không ai nằm. Họ đã dời mấy bịnh nhân đi, để chàng một mình.
Hai y tá được cắt phiên canh gác.
Traian nằm dài, mặt day vô vách, môi chàng khô khan như tro bếp. Nhiều cảnh mơ mộng, huy hoàng thoáng qua đầu chàng như một phim hình màu.
Tuy nhắm mắt nhưng vẫn bị chói lòa bởi một ánh sáng chói gắt như đèn neon. Ánh sáng ấy từ tâm não chiếu ra, một thứ ánh sáng làm nóng chảy cả mí mắt, tư tưởng chàng cũng rực rỡ, đầy màu sắc. Và toàn thân chàng cũng sáng rạng, nhẹ nhàng và nồng cháy như giấc mê sảng của chàng.
Chàng thấy như lơ lửng trên không trung.
– Bây giờ ta mới hiểu tại sao các nhà khổ hạnh, các đạo sĩ nhịn đói, khi ta đói ta cách lìa mặt đất dễ dàng hơn, ta thấy thượng đế gần ta hơn và dường như trán ta đụng trời.
Traian ở trong trạng thái thoát trần này một lúc lâu, thình lình nhận thấy có ai mang đồ ăn tới.
Một y tá để trên ghế, gần giường Traian một mâm đầy. Traian xoay lưng ra, không thấy nhưng đã biết trong mâm có thức gì:
Trước hết chàng đoán có mùi khoai lang tây chiên bơ, kế đó mùi café, chàng nhận thất các món ăn trên mâm như đã nếm rồi. Mũi chàng trở nên thính hơi hơn lúc nào hết, chàng phân biệt chắc chắn mùi nầy của món nào, mùi kia của món khác.
Trên mâm có một chén sữa nóng lên hơi, mùi sữa cũng nồng nặc như mùi café, lại mùi thịt cũng dai dẳng lâu tan. Traian nghe nó nồng gắt như trong bức tranh nhiều màu, một màu đậm nổi rõ bật. Mùi thịt ram bơ còn bắt thèm hơn các món khác, nó thấm vào mềm, vào áo sơ mi, vào vách, vào tóc chàng.
Traian nghe mùi thịt gà ram già lửa, mùi bơ, sữa, café dính sát vào mình như chất thuốc dán, nó theo hơi thở vào tận buồng phổi và dạ dày. Chàng có cảm giác như đang ăn, hết còn tuyệt thực được nữa. Chàng cố gắng loại đồ ăn ra khỏi không khí chàng thở nhưng không được, và mùi thơm thức ăn càng lúc cành thấm sâu hơn.
Traian liền phân tích mùi vị ấy một cách sáng suốt, như người ta phân tích bảy màu của ánh sáng với tam lăng kính. Chàng nói thầm:
– Đây là một lối kiểm soát năng khiếu khứu giác của mình.
Rồi trí óc chàng bị lôi cuốn theo công việc ấy, tưởng như mình đã kiềm chế được và đang dùng các vật thực làm đối tượng khảo cứu.
Khám phá được nhứt của chàng là thịt nầy không phải thịt heo hay thịt bò, dẫu là thịt đồ hộp, nghĩa là đã trộn nhiều gia vị rồi, chàng nhận ra đây là thịt gia cầm, có lẽ là thịt gà tây. Chàng có ý muốn dòm xem có đúng không nhưng kiềm chế lại, cứ quay mặt vô vách. Chàng đoán tiếp và nhận ra mùi sữa, hơi khê, chắc là do sữa bột khuấy đặc và nấu sôi mau, mùi mứt nhẹ phớt như một màu thật lợt. Nhận ra được mùi mứt, Traian thấy tự hào, sảng khoái tinh thần như mình đã phá được kỉ lục tối cao, hoặc đã phát minh ra chuyện gì trọng đại trong phòng thí nghiệm. Nhưng một chuyện chàng không biết rõ là có bánh mỳ hay không, nếu có chắc là bánh mỳ trắng làm bằng bột ở Mỹ, rây nhuyễn còn chất bột lọc, và bánh đã nguội, hết xốp.
Viên y tá đến gần nói:
– Anh nên ăn liền đi, để nguội thì còn mùi vị gì?
Traian không đáp, chàng muốn tiếp tục đoán trong mâm còn lại những gì nhưng không thể thêm được nữa. Chàng đã mất trớn, không còn tập trung trí não, và không thể tìm lại bình tĩnh cần thiết nữa.
Bây giờ thì các mùi pha trộn và nhập lại làm một như bảy màu của ánh sáng hợp thành một màu trắng. Lời nói của y tá xáo trộn các mùi như hòn đá ném vô hồ nước, đánh tan gợn sóng lăn tăn trên mặt nước.
Traian buồn bã thấy không được phân tích mùi đồ ăn nữa để tận hưởng trọn vẹn nó. Chàng liền ngủ thiếp.
Ngày sau, mâm đồ ăn vẫn y nguyên tại chỗ, Traian không ngó ngàng đến. Mùi vị đã lạc mất, các món ăn đều đã lạnh như chết rồi.
Traian mệt, không xoay sở trên giường cũng không mở mắt. Chàng liếm môi nhiều lần và buồn rầu nhận thấy môi đắng chằng và khô khan.
Viên y tá đem mâm khác để lại gần giường và bưng mâm trước đi. Lần này có trứng, mùi nó nặc nồng như màu sặc sỡ in trong quảng cáo. Thấy có mứt cam, sữa, café và bơ nữa, tất cả mùi vị ấy làm thương tổn Traian như những mũi tên ghim vô da thịt chàng.
Traian nhắm híp mắt lại, chứng tỏ chàng đau đớn đến dường nào. Chàng lầm thầm cầu nguyện: “lạy Chúa giúp con được chết gấp, thật rất khổ sở cho linh hồn khi còn ở trong thân xác mà mãi mãi chống lại sự cám dỗ của lòng ham muốn.”
Chàng tự an ủi, cho rằng hai, ba ngày nữa thân xác chàng sẽ chịu thua.
“Trong ba ngày nữa ta sẽ chết”, nghĩ đến đó chàng ngủ tiếp.

——————————————————————–

Traian ngồi dậy ngó ra cửa sổ. Trời đúng ngọ, ngoài sân, toàn thể tù nhân sắp thành hàng ba, mình trần truồng. Trọn sân của trại giam chật ních những người trần truồng như nhộng.
Dưới cửa sổ nhà thương, một xe Jeep có lính cầm ma-trắc đứng bao quanh, bọn lính nhai sing-gum. Tù nhân lần lượt đứng trước mặt bọn chúng. Họ đi khúm núm vì người trần truồng đi có vẻ sợ sệt lắm. Traian biết cảm giác này, chàng từng trong hoàn cảnh như thế. Chàng nghĩ thầm, “Lại khám xét nữa, chúng định tìm cái gì nữa đây?”
Mỗi tháng đều có khám xét nhiều lần.
Một ông gì đứng trước mặt bọn lính. Traian nhìn ra đức đại chủ giáo thành Varsovie. Ông cao lớn, lưng hơi khòm, ốm tong teo. Từ xa có thể đếm được xương sườn ông, một bộ hài cốt bọc da. Râu ông bạc phếu, trọn sân trại chỉ có một vật trắng phau này. Mắt dòm đến thấy có ánh ngời, một ánh sáng chói rạng dịu dàng. Bọn lính cười rộ khi thấy ông đến.
Nhưng đại chủ giáo làm như không thấy chúng. Ông dòm trời, nhóm lướt trên cái nón pi-kê của chúng, và hôm ấy vòm trời xanh biếc như nóc vòm nhà thơ chính thống giáo xứ Byzance.
Quân lính khám xét đại chủ giáo, viên thông ngôn bảo:
– Xòe mấy ngón tay ra.
Ông già vảnh bàn tay, bọn lính xem kĩ từng ngón nhưng không có cà-rá.
– Đưa tay lên!
– Ông già đưa tay ra, lúc đầu ngang ngược như ban lễ thánh, rồi sau đưa thẳng khỏi đầu, ông không ngó viên thông ngôn cũng không ngó bọn lính nhưng bọn chúng lại nhìn ông kĩ lưỡng, để xem có dấu trang sức vàng bạc dưới nách hay không?
Bọn chúng xét cả mái tóc sau ót ông, tóc dài và bạc trắng có thể dấu đồ được, chúng vạch từng lọn, ban đầu dùng cây baton, sau lấy cây vạch tìm, chúng xem xét từ đỉnh đầu xuống tới ót, rồi chúng sờ thêm hàm râu để xem ông có dấu cà-rá chăng?
Viên thông ngôn bảo:
– Xây lại coi!
Ông già xây lại đưa lưng cho lính, viên thông ngôn nói:
– Cúi xuống.
Ông cúi xuống và khom lưng như quỳ trước tượng thánh, viên thông ngôn nói:
– Dang hai chân ra.
Đại giáo chủ dang hai chân và ốm khẳng khiu, viên thông ngôn và tên lính cúi xuống dòm trọn cả hai cẳng coi ông già có dấu nhét hoặc cà-rá hoặc đồ vàng gì chăng, một tên lính nói nhỏ chuyện gì với bạn nó.
Ông già vẫn đứng khom, dang hai chân và xây lưng.
Viên thông ngôn bảo: thôi được rồi, ông đi đi.
Và bọn lính khám xét người kế.
Đại chủ giáo đi dang ra, bước ngập ngừng. Gió thổi tung tóe râu tóc bạc của ông như ngọn cờ trắng mượt bay phấp phới.Traian có cảm tưởng ông đại chủ giáo không trần truồng như mấy người khác, chàng ngó theo cho đến khi ông về đến chỗ trong hàng người trần truồng. Bây giờ ông như mấy tù khác song vẫn không lẫn lộn với đám đông. Hình như có vật gì phấp phới xung quanh đầu ông, vật gì bắt ta phải dòm ngó, có thể là râu tóc bạc phơ của ông, có thể là phong độ, cốt cách của cái đầu ông, một vật gì bắt ta phải nhìn như cung chiêm tượng thánh.
Thình lìnhTraian giựt mình nói: thôi tôi biết rồi.
Hai y tá quay lại ngó chàng nhưng Traian không biết đến họ, mãi nhìn ra cửa sổ, chàng nói thầm: “Đầu của đại chủ giáo có một vòng hào quang sàng rỡ. Sau vầng trán ấy có một ánh hào quang mãnh liệt tỏa sáng xung quanh đầu ông, ánh sáng còn mãnh liệt hơn ánh đèn neon hoặc ánh điện quang, một hào quang sáng chói”.
Khi đứng vào hàng, viên đại chủ giáo ngước mắt nhìn đăm đăm cửa sổ nhà thương, hào quang trên đầu ông lại càng chói rạng hơn nữa. Traian nghĩ: “Vòng hào quang không phải tưởng tượng của các họa sĩ và các thánh”. Chàng xem xét đến mấy tù nhân khác, cũng có những đầu khác chiếu hào quang mà chàng không biết hết, như viện trưởng viện đại học thành Vienna, một kí giả ở Berlin, một tổng trưởng Hy Lạp, vị đại sứ Roumanie tại Berlin, mỗi vị đều có vòng hào quang trên đầu, và nhiều người khác nữa. Trán mấy vị ấy phát những tia sáng rạng ngời như lửa đỏ hoặc nguồn điện phản chiếu. Nhưng mấy tia hào quang lại đẹp đẽ hơn tất cả thứ ánh sáng do điện hoặc lửa phát ra. Ánh sáng phát ra từ trán các vị như tỏa khắp vũ trụ, chẳng còn màu đen tối nào đè nặng trên địa cầu.

——————————————————————–

Trung úy Jacobson vô phòng Traian bảo bác sĩ và xã trưởng ra ngoài, để ông một mình với Traian, ông nói:
– Tại sao anh không muốn ăn? Anh muốn gì? Đừng nên lấy trại giam này làm một cái hội chợ nhé!
Traian nói:
– Tôi không ăn vì tôi hết biết đói, hết muốn thèm ăn. Tôi buồn mửa, nôn mửa dữ dội đến lộn ruột lên, mửa tới mật xanh, còn trung úy có nôn mửa không?
Jacobson làm thinh, ông hối tiếc đã ở một mình với Traian. Chắc tên này điên, mắt nó đổ hào quang, ông tự nghĩ thầm: “Nó có thể bóp cổ mình chết”. Ông liếc nhìn ra cửa, rồi mỉm cười, nói:
– Anh nên bình tĩnh lại, anh bị kích thích quá nhiều. Phải, từ sáu ngày rày, anh không ăn uống chút gì hết.
Traian nói:
– Ông khoan đi, tôi không điên đâu. Ông đừng sợ, câu nói của tôi tuy ngu xuẩn thực, làm sao ông buồn nôn được. Đúng ra ông không thể nào bị nôn mửa, nếu như ban đầu cứ nhắm mắt và bịt mũi thì không có sao. Con người tập quen dần với mọi thứ luôn có sự nôn mửa. Đây chỉ là vấn đề ý chí thôi. Tôi không có nghị lực nên mới bị nôn đây, có nhiều người thợ mỗi ngày ngồi ăn sớm, ăn trưa và ăn chiều gần miệng cống và cầu xí, họ quen miệng rồi, không thấy gì khó chịu. Chính mắt tôi nhìn thấy họ ăn khúc dồi với bánh mì thoa bơ gần lỗ cầu tiêu mà còn liếm môi. Họ rất vui vẻ, vừa ăn vừa nói đùa với nhau. Mũi có thính mấy đi rồi cũng quen dần. Quân sĩ Đức thiêu xác tù nhân mấy trại giam, và khi đóng cửa lò thiêu họ thơ thớ đi ăn, không chút nôn dạ. Có nhiều người dồn nệm bằng tóc đàn bà trong trại giam rồi chính họ nằm trên nệm ấy với tình nhân họ. Chính trên nệm ấy, nệm dồn tóc đàn bà bị giết và bị thiêu ấy, mà vợ họ mang thai mà họ cũng không chút gì gớm ghiếc, không nôn mửa. họ coi như thường mà còn vui vẻ nữa. tôi có ở chung khám với một người đàn bà, phòng ngủ của cô ta có cái chụp đèn bằng da người, ánh sáng xuyên qua thành một màu vàng. Lẳng lơ, dưới ánh sáng của chụp đèn da người ấy, nàng ăn uống, khiêu vũ, tình tự, ngã người qua vòng tay người đàn ông choàng tay qua ôm nàng, và nàng sung sướng cười như thường. Con người quen lần với sự nôn mửa. Chỉ là vấn đề thói quen và nghị lực. Quân lính Nga sô cưỡng bức vô số đàn bà, bà già tám mươi, luân phiên nhau, cả chục tên mỗi người thế mà chúng nó đâu ghê tởm, chúng không nôn mửa, vẫn uống vodka. Ông thì chẳng khi nào làm chuyện ấy, tôi biết, các ông không hãm hiếp đàn bà, mà còn cho chocolate, còn lo phòng ngừa mỗi khi ăn nằm với họ. Các ông cũng không làm như dân Đức. Mỗi xứ có một phong tục riêng. Nhưng ông cũng vậy ông không sợ nôn mửa, dầu ông có làm chuyện gì ông cũng không bị hại, tôi tin chắc như vậy. ông nên tin tôi, nôn mửa là một thứ đau đớn vô ngần, ông xem tôi đây, khổ sở nhường nào. Ruột gan tôi lộn tùng phèo, tôi thấy nó lên tới miệng. Mật tôi chảy ngược đường, bao tử bị đảo lộn vì nôn mửa. Và tôi thương hại cho con người quá, hết sức thương hại. Với mấy điều kiện như vậy làm sao ông muốn tôi ăn cho được. Làm sao tôi ăn ngon miệng trong hoàn cảnh này. Từ nay về sau tôi hết biết đến thức ăn nữa, ông biết tại sao rồi chớ?
Trung úy Jacobson xích lại gần cửa, ông rất hối hận vì đã đến đây. Viên xã trưởng và bác sĩ không cho ông hay trước rằng Traian điên, họ nói bệnh nhân vẫn sáng suốt nhưng những lời ông vừa nghe chứng tỏ ngược lại, họ đã nói láo. Người bịnh điên thật, ông nói với Traian:
– Anh nói có lý. Trong hoàn cảnh này làm sao bắt anh thèm ăn được.
Traian tiếp lời:
– Ông khoan đi, tôi ngồi dậy khó nhọc lắm. Ông dòm qua cửa sổ coi dùm sự tra xét đã xong chưa.
– Chưa.
Traian lạnh lùng nghĩ thầm: “Làm sao một người vừa nhìn những gì ngoài sân lại có thể ngồi vào bàn ăn được như trung úy Jacobson được”.
Trời đã trưa.
Traian nói:
– Cuộc khám xét chưa xong. Nó chưa chấm dứt liền. Nó chỉ mới khởi sự. Trước hết các ông tìm xét vàng trong vali, trong nhà lều, trong quần áo, trong túi giày trong vải lót, trong quần đùi, bây giờ các ông tìm trong mồm miệng, trong nách, trong háng, nơi khu **** người ta, tìm kiếm cùng khắp cả. Ai ai cũng trần truồng hết, rồi ngày mai các ông sẽ lột da xem có vàng bạc cất dấu dưới đó hay không. Kế đó các ông sẽ rứt từng xớ thịt để tìm vàng, các ông sẽ đập nát từng lóng xương xem có dấu vàng trong đó hay không. Các ông sẽ nặn óc con người ra xem có dấu vàng trong đó hay không, các ông sẽ moi móc ruột già ruột non, cắn xé con người ra cốt để tìm vàng. Tiền vàng, cà rá vàng, nhẫn vàng. Các ông sẽ còn đập nát quả tim ra từng mảnh đẻ tìm vàng. Vàng! Vàng! Vàng! Chưa hết đâu, bây giờ mới chỉ khởi đầu: các ông mới chỉ lột ngoài da, rồi lớp da sẽ bị lột, cuộc tra tấn lại tiếp tục.
Trung úy Jacobson không còn trong phòng, Traian quay mặt vô vách.

——————————————————————–

Đơn thỉnh nguyện số 6: đề tài: Kinh Tế: – Đồ vật có giá trị có thể tìm được trong cơ thể tù binh.
Trong cuộc khám xét tù nhân người ta thu hết cà-rá, nhẫn cưới, vàng ròng, đồng hồ, viết máy, tiền bạc và tất cả những đồ vật có giá trị khác.
Dù cuộc khám xét ấy có tới tận da non vẫn chưa hoàn toàn trọn đủ.
Tôi nhận thấy hiện giờ vài tù nhân có xung quanh đầu một vòng sáng, giống vòng hào quang vẽ trên đầu các tượng thánh. Tôi biết các thánh có vòng miện bằng vàng. Vòng trên đầu tù nhân thì không phải bằng vàng, hay kim loại quý giá nào khác, và nếu phải như thế thì các vòng ấy đã bị tịch thu rồi. Nhưng dẫu không có kim thuộc quý, giá trị của nó không phải là đồ bỏ.
Tôi không phải nhà khoa học nhưng theo tôi nghĩ các hào quang ấy chắc có giá trị to tát lắm, vì nó được kết thành từ những phát quang của tinh thần tù nhân.
Việc đáng quan tâm là trong khi xã hội kĩ thuật Tây phương hiện nay, những hiện tượng đó không phải là không phát sinh. Dường như các vật ấy chỉ là đặc hữu của xã hội không văn minh mà thôi. Nhưng chuyện ấy không quan trọng. Một khi các hào quang ấy có giá trị thì không nên để tù nhân chiếm giữ. Luật nghiêm cấm các tù nhân có đồ vật quý giá.
Tôi nhớ lại trong lịch sử loại vòng miện hào quang này có lần bị tịch thâu, bọn xâm lược hung tàn cỡ Thành Cát Tư Hãn xưa kia đã biết giá trị hào quang trên một số đầu tù nhân nên đã giựt lấy. Hồi thời đó chưa có đủ phương tiện giao thông như bây giờ. Thành Cát Tư Hãn muốn có các vòng hào quang ấy trong triều đình của hắn mà đừng hư mất hình dạng và ánh sáng bèn ra lịnh lấy luôn thủ cấp tù nhân đem về một lượt với hào quang. Những đầu có hào quang của tù nhân Trung Quốc hoặc Ai cập đều được xâu vào yên ngựa và mang về Mông Cổ. Nhưng dọc đường chắc vì thời tiết và khí hậu đổi thay nên mấy hào quang đã mất dạng và các thủ cấp không còn vật trang sức bị vứt bỏ đi, vả lại nó cũng có mùi sình rồi.
Để tránh mất những vật báu như thế, tốt nhất các người đừng dùng lối chặt đầu như Thành Cát Tư Hãn đã làm. Nên để những tù nhân có hào quang vào một nồi hấp, có không khí điều hòa và nhiệt độ cố định rồi gửi về quê hương các người. Xã hội chúng ta được diễm phúc vô song là nhờ khoa học, có những phương tiện cần ích cho giữ gìn bảo vật mà kẻ xâm lược hung bạo khi xưa không giữ được. Nghe đâu có nửa triệu hào quang bị mất đi hồi thời kì đó.
Xin nhận nơi đây lòng khâm phục của tôi như thường lệ, hoan hỉ.

——————————————————————–

Xã trưởng Schmidt chắp tay đi dạo quanh phòng Traian, ông nói:
– Trong năm phút nữa anh sẽ được gửi đi bịnh viện, tại đó anh sẽ bị bắt buộc ăn uống. Tôi rất tiếc phải làm việc ấy, tôi đã cố hết sức để anh ăn, trung úy Jacobson cũng vậy. Nhưng anh không muốn hiểu chúng tôi, chúng tôi làm vệc lợi cho anh, mà anh cứ xây lưng với chúng tôi.
Traian vẫn nằm im trên giường, xây mặt vô vách.
Xã trưởng giận nói:
– Anh làm như thế là tỏ ra không thân thiện, bác sĩ và trung úy đã rất mất thì giờ với anh. Chúng tôi phải lo cho hai chục ngàn người chứ đâu phải mình anh đâu. Chuyện cá nhân phải bỏ sang một bên, mỗi người chúng ta đều có gia đình, chuyện lo buồn. Nếu ai cũng bắt chước như anh hết rồi sẽ ra sao. Anh ích kỉ quá, anh chẳng bao giờ nghĩ tới toàn thể. Tôi vì tuân lịnh trung úy Jacobson vốn là người có đầu óc lãng mạn và dân chủ như mấy người Mỹ nên trong mấy ngày rày, tôi phải mất ít nhất năm giờ đồng hồ để lo cho một mình anh, làm thiệt hại chung cho hai mươi ngàn người trong trại, thật là điên rồ.
Traian đáp:
– Ông chẳng lo cho một tù nhân nào trong trại nầy hết. Ông chỉ lo cho guồng máy hành chính, nghĩa là vật vô tri, tất cả những người trong trại giam nầy không thể lẫn lộn với guồng máy ấy, nghĩa là sổ sách, máy đánh chữ, con số tính toán. Ông chỉ lo mấy chuyện sau chớ có bao giờ ông lo cho hai chục ngàn người trong trại nầy đâu. Hai chục ngàn người bằng da thịt, máu tim, trí óc. Họ biết đau khổ, tin tưởng, tín ngưỡng, ham muốn, đói khát, thất vọng và mơ ước.
“Ông chẳng lo cho máu thịt, là yếu tố cá nhân của họ, ông chẳng lo gì đến lòng mong mỏi và nỗi thất vọng, là những chuyện riêng tư của họ hơn nữa. Ông mải lo đến con số, giấy tờ, ông chẳng lo đến một người tù. Làm sao ông có thể quả quyết ông lo cho hai chục ngàn người. Thật là buồn cười, ông với trung úy Jacobson, các ông chỉ quan tâm đến những điều cương yếu, trừu tượng, chớ không lo nghĩ đến con người. Đến tôi đây, cho đến giờ ông quan tâm đến không phải vì một con người. Đối với ông tôi chỉ là một phân số trong hai chục ngàn người đó thôi, và vì vậy mà ông mới nổi giận khi nghĩ là đã mất thì giờ vì tôi. Ông cũng chẳng xem tôi như một cá nhân nữa, cho đến vợ ông cũng vậy, ông không nhận định là một con người xét riêng ra. Ông chỉ coi vợ ông như một người đàn bà, như người mẹ của mấy đứa con và như một người nội trợ mà ông không xét theo toàn thể cá nhân. Trong khi ấy vợ ông chỉ hiện hữu trong toàn thể mà thôi.
“Và cho đến cả ông, ông càng không biết nữa.
“Ông không biết một người nào hết trên địa cầu này, vì nếu ông chỉ biết một người thôi, ông không thấy phí mất thời giờ để lo cho người đó. Ông chỉ biết con người thâu hẹp còn có một mặt, một khuôn khổ. Những dạng ấy không phải con người nữa. Cũng giống như hình khối bao chiều, nếu thâu rút còn một chiều một mặt thì không còn là hình khối nữa.
Viên y tá cho xe chở bịnh nhân đã tới trong sân, Traian nói:
– Tôi muốn từ giã anh bạn Moritz của tôi.
– Anh bị cấm nói chuyện với người tù nào khác.
Traian xoay lưng không thèm nói, viên y tá liền quấn anh trong mền và ôm như món đồ ra xe.
Cửa xe có che tấm màn, Traian biết chắc Moritz đang chờ ở cổng bệnh viện nên mỉm cười với Moritz trong tưởng tượng: “Vĩnh biệt!”

——————————————————————–

Viên y tá vào báo tin:
– Có hai người Mỹ đưa một tù nhân điên tới.
Viên giám đốc bịnh viện khám đường thành Karisruhe bước xuống giường, bật đèn điện và xem đồng hồ. Đã một giờ khuya viên y tá đến báo tin phụ với ông mặc đồ, bác sĩ ra phòng, mặt quạu quọ.
Tù nhân bị bịnh được chở từng đoàn đến bịnh viện. Ở trại giam tù nhân chờ đủ con số một trăm mới được chở đi. Dầu bịnh nặng cũng phải chờ, có khi ba, bốn tuần lễ tới khi nào đủ. Số mới được đem đi, lần này là lần thứ ba.
Bác sĩ bước vô văn phòng, hỏi:
– Điên bịnh gì mà chở tới một mình đêm hôm khuya khoắt như vầy.
Viên y tá đáp:
– Chắc bịnh nặng lắm nhưng tôi chưa thấy, người bịnh còn ngủ trong xe. Nếu hai người Mỹ chịu khó đích thân chở đến thì chắc bịnh nguy kịch.
Bên ngoài trời lạnh, bác sĩ vừa bước ra khỏi giường ngủ ấm áp, gặp lạnh khi ông kí giấy cho bịnh nhân vô nằm bịnh viện.
Hai người Mỹ lên xe đi, bác sĩ ra lịnh cho bịnh nhân lên giường nằm, rồi đi ngủ liền không chịu xem bịnh nhân ngay lập tức, vì trời lạnh quá!
Traian không biết mình ở đâu cũng không biết xe bị banh dọc đường, phải đến trễ nửa đêm. Chàng không biết là mấy giờ. Người ta khiêng chàng nằm trên cáng băng ngang bịnh viện chàng mời giựt mình mở mắt ra. Lúc thấy trời đầy sao và trong xanh, chàng nói: “Kìa dải ngân hà!”
Chàng mỉm cười với bầu trời rạng sáng trên bầu trời. Đoạn nhớ lời xã trưởng nói: “Chúng tôi sẽ đưa anh tới bịnh viện; tại đó anh sẽ bị bắt buộc ăn uống”. Chàng quyết định không chịu thuốc men. Chàng nói thầm: “Hễ còn tỉnh táo thì ta từ chối không ăn uống”.
Hai y tá nghe Traian nói “dải ngân hà” liền cười. Họ để cáng xuống vai, một người lại gần chàng nói mỉa mai: “Chúng ta sắp đến dải ngân hà rồi đây”.
Traian không thích lời giễu cợt, rồi chàng thấy người ta bồng chàng để lên giường.

——————————————————————–

Traian nhìn xung quanh phòng mình nằm. Nơi trần nhà một bóng đèn có mang lưới sắt. Cửa sổ cũng bọc song sắt chắc chắn. Phòng có bốn giường, hai bịnh nhân nằm gần nhau đang trò chuyện, họ mặc quân phục Đức.
Khi Traian bước vào phòng họ không quay đầu lại, cứ nói chuyện. Hai người có vẻ còn trẻ, một người bịnh thứ ba nằm trùm mền, Traian thấy đôi giày to tướng ló ra ngoài. Chàng tự hỏi sao người bịnh có thể ngủ vào giờ này.
Gần cửa một y tá mặc áo choàng trắng ngồi gác. Đầu hắn giống xã trưởng Schmidt. Đầu vuông và to lớn, đầu bằng cây. Thớ thịt trên mặt không cử động như chết đơ, hai cặp mắt lờ đờ không tinh thần, cũng không phải đầu người chết, mà là cái đầu của kẻ chẳng linh hoạt, kẻ mất tinh thần.
Viên y tá đến gần Traian, véo vào má chàng như đưa trẻ và nói:
– Mầy muốn kể câu chuyện của mầy không?
Traian hất tay hắn ra, không trả lời.
Viên y tá nói:
– Mầy không muốn nói gì à! Vậy mầy thuộc về hạng làm thinh.
Hắn tát nhẹ gò má Traian rồi nói tiếp:
– Thôi cứ nằm chơi một mình, nằm nhìn con nhện nơi trần nhà nến chuyện ấy làm mầy thích.
Đoạn, hắn đi lại ngồi gần ghế, gần cửa phòng.

——————————————————————–

Traian cắn môi hối hận, quên cả mệt nhọc. Lòng phẫn uất xâm chiếm chàng, chàng lẩm bẩm: “Chúng nó nhốt mình trong một nhà thương điên vì tôi tuyệt thực, trời ơi, tôi đang trong nhà thương điên! Kế của chúng chẳng phải dở, tôi không thể ngờ được và chưa gặp từ trước giờ. Cả trong những tiểu thuyết tả cảnh tra tấn trong khám đường Nga sô! Cả thảy tù nhân, từ bác sĩ đến giáo sư đại học, tù binh trong trại nầy đều kí giấy chứng nhận tôi điên. Họ muốn chứng tỏ rằng sự tuyệt thực của tôi là một hành động điên cuồng. Nhưng ở đời không có chuyện kết thúc dễ dàng như thế và nhất là mau lẹ như vậy đâu. Tôi sẽ tiếp tục tranh đấu.
Traian nắm chặt bàn tay.
Chàng nói: “Bây giờ ta phải cho chúng thấy ta còn tỉnh trí”.
Traian đi lại gần viên y tá, lảo đảo, tay vịn vào vách tường.
Hắn cười, nói:
– Mầy đến thuật chuyện của mày với tao hả. Tao biết thế nào mầy cũng đến đặng thuật chuyện của mầy cho tao nghe. Ai vô đây cũng có chuyện riêng để thuật lại hết. Nhưng giờ tao không có thì giờ để nghe mày. Để mai mốt, bữa kia hoặc một tháng, một năm nữa không chừng, mầy còn thiếu gì thì giờ để thuật chuyện mà.
Viên y tá cầm tờ báo, muốn đọc, hắn bảo Traian:
– Giường mầy ở cuối phòng, vào đó nằm yên. Đừng nằm giường người khác nghe, mày hiểu không?
– Tôi muốn hỏi một chuyện. Traian nói.
Viên y tá cau mặt nói:
– Tao biết mầy muốn hỏi chuyện gì rồi nhưng giờ tao không rảnh, về giường nằm đi, mầy phải nghe lời như đứa trẻ ngoan, nếu không tao cho trận đòn với cái roi da này đây.
Hắn kéo hộc tủ lấy cái roi da đánh ngựa ra cho Traian thấy rồi hắn cất lại.
Traian biết có nói cũng vô ích, không ai nghe mà còn cho là lời của kẻ điên, chàng trở lại giường, nằm dài.

——————————————————————–

Traian nhắm mắt, suy nghĩ: “Ở tù chưa đủ, bây giờ nằm nhà thương điên”
Chàng còn muốn dự một chương trình hành động vào ngày mai, nhưng tự thấy không tính nổi, đành nắm chặt hai tay, ngủ vùi.
– Đứng dậy coi.
Chàng giựt mình, chàng vừa thiu thiu ngủ, chàng thấy viên y tá đã khiêng chàng hôm qua và nói câu “Tới thiên hà rồi” đứng trước mặt, chàng nhận ra hắn. Hắn bảo:
– Đưa cho tao những gì mầy có trong túi coi.
Traian đứng dậy thọc vô túi lấy chiếc khăn tay đưa cho viên gác phòng. Rồi móc cái ống điếu trong túi khác, đưa luôn. Trong túi có cái tượng nhỏ hình thánh Antoine, chàng lấy ra xem rồi cũng đưa luôn.
Viên y tá nói:
– Không còn thứ gì trong túi nữa hả?
– Tôi chỉ có bấy nhiêu thôi.
– Giơ tay lên.
Traian đưa tay lên ngực, mắt chàng bị mờ, chàng không thể đưa tay lên cao hơn nữa.
Viên gác phòng bảo:
– Cao hơn tí nữa.
– Tôi không làm được, tôi đau quá, tôi nghe choáng váng.
Viên y tá nắm hai tay Traian đưa lên khỏi đầu, chàng thấy hai tay nặng như đá để trên đầu mình, chàng không ngờ tay chàng nặng thế, dở không nổi nữa.
Viên y tá lục soát túi chàng, Traian không cảm thấy hai tay đó đang mò túi mà đang mò vào tận da thịt anh.
– “Thôi để tay xuống”, viên y tá vừa nói vừa lấy hai tay Traian bỏ xuống, hắn bảo:
– Tháo dây giầy ra.
Viên gác phòng nói:
– Thôi để nó yên, xem đi, nó vàng như nghệ rồi đấy.
Traian bị đặt nằm dài trên giường. Hai y tá tháo dây giày rồi cởi quần, rút sợi dây quần đùi. Sau rốt chúng lột cặp mắt kiếng của chàng rồi cất luôn.
Traian van lơn:
– Xin đừng lấy cặp mắt kiếng tôi tội nghiệp.
Chàng bị cận thị nặng.
– Bộ mầy muốn dùng mắt kiếng để cắt gân mầy sao?
– Tôi không thấy đường nếu không có cặp mắt kiếng.
– Ở trong nầy mầy không cần xem gì hết.
Viên y tá gói mắt kiếng, khăn tay, tượng thánh, ống điếu của Traian rồi cầm đi. Đó là tất cả gia tài của chàng trên thế gian này.

——————————————————————–

Buổi sáng đầu tiên ở nhà thương điên.
– Ngồi dậy ăn đi.
Traian ngó chén cháo đầy do viên y tá bưng đến rồi nói:
– Vô ích, tôi không ăn.
– Đừng cứng đầu mất thì giờ, bộ mầy nghĩ có thể làm theo ý mầy được à.
Viên gác phòng để chén cháo gần giường Traian rồi đi lại giường kế, Traian nói.
– Tôi bãi thực sáu ngày rồi.
– Ở đây đứa nào cũng nói bãi thực hết có phải mình mầy đâu.

Viên y tá lại gần giường bệnh của người đã trùm mền ló đôi giày đóng đinh to lớn ra ngoài. Hắn tốc mền, đó là một ông già đầu tóc bạc phơ, ông sợ sệt ngó viên gác phòng rồi úp mặt vô gối, nói:
– Anh muốn gì? Nói rồi ông lại úp mặt dưới gối.
Viên y tá nói:
– Ngồi dậy tía nhỏ, chúng tôi phải cho ăn mới được.
Hai thanh niên điên cũng đến gần ông già, họ đứng sát nhau như sợ bị chia rẽ. Viên y tá gọi chúng là bouledougues- loại chó đầu to, mõm ngắn, rất dữ. Hắn bảo, như ra lịnh với chó:
– Hai bouledougues nhảy chụp ổng đi.
Hai gã nhảy ôm lưng, xóc nách ông già, gã kia đỡ đầu ông ngước lên và dựng ông ngồi dậy.
Viên y tá mỉm cười nói:
– Nhè nhẹ đa, đừng làm gẫy xương ổng đa.
Ông già khóc, cúi gằm xuống ngực và ngó ghì dưới đất. Viên y tá nói:
– Há miệng ra, tía nhỏ, viên y tá đem bình bú lại đây.
Ông già càng áp chặt cằm vào ngực và cắn cứng hàm răng lại.
Viên y tá ra lịnh cho hai gã điên:
– Cạy miệng ổng ra, nhưng nhè nhẹ vậy.
Hai gã quỳ gối lên giường, thọc hai ngón tay vô miệng ông già và vạch hàm ổng hả ra.
Viên y tá, một tay nắm bịt hai lỗ mũi, một tay đổ cháo vào miệng ông già.
Bịnh nhân khạc cháo vào mình hai gã thanh niên làm chúng cười ầm lên. Viên y tá đổ muỗng cháo thứ nhì vào miệng, lần này ông già không nhổ ra được. Cháo đến cổ họng bắt buộc ông phải nuốt kẻo bị ngộp. Ông không thở bằng mũi được vì bị viên y tá bóp nghẹt, ông phều phào.
– Ngộp tôi.
Cách cho ăn tiếp diễn. Ông già thỉnh thoảng la ngộp và vùng vẫy trong tay hai gã thanh niên kèm cứng ông.
Viên y tá nói:
– Rồi cũng xong, tía nhỏ thấy chưa?
Ông già vàng như nghệ. Traian bịt mắt lại để không phải thấy cảnh tượng ấy.
Viên y tá hỏi:
– Mầy sợ phải không, trong vài phút nữa là tới phiên mầy.
Hai gã bouledougues đều nói một lượt.
– Chúng tôi cũng cho hắn ăn nữa sao?
– Nếu nó không ngoan ngoãn thì sẽ làm.
Hai bouledougues không ngó ông già nữa. Chúng ngó trừng trừng quai hàm và cần cổ Traian.
Traian liền cúi xuống húp cháo lia lịa, không cần nhai, ăn xong, chàng nói:
– Anh có lý, kẻ nào bị nhốt trong bịnh viện này mà không ăn là điên. Nếu điên thiệt thì đâu thể bãi thực vì đâu có hiểu biết gì. Còn tôi tôi không phải điên nên tôi ăn. Nhưng chưa phải tôi bỏ cuộc tranh đấu đâu.
Traian nghĩ thầm, “Mình phải làm sao chứng tỏ mình tỉnh trí mới được”.
Traian bị nhức đầu, đồ ăn vừa nuốt vô nặng như chì trong bao tử chàng. Nhưng chàng cũng ráng đứng dậy, đến gần viên y tá nói.
– Tôi muốn nói chuyện với bác sĩ cai quản xứ nầy.
– Hãy chờ ông đi thăm bịnh, chừng đó gặp bác sĩ sẽ nói chuyện.
– Gặp ông ngoài giờ thăm bịnh không được sao?
– Bịnh nhân sở này không được phép gọi bác sĩ ngoài giờ thăm bịnh.
– Tôi hiểu, bác sĩ đâu có mất thì giờ với một bịnh nhân điên. Nhưng tôi thề với anh rằng tôi không điên.
– Vậy sao người ta gởi mầy tới đây.
– Để tôi khỏi bãi thực nữa như tôi đã nói với anh. Bây giờ thì tôi đã ăn thì không còn lý do gì để nói tôi điên nữa. nếu tôi cự tuyệt không ăn thì anh có thể coi hành vi của tôi là điên cuồng chớ không phải vì phản đối, bây giờ chuyện đã rõ ràng.
Traian thấy viên y tá đang đọc báo và không để ý tới chàng, chàng hỏi, giọng run run:
– Dầu đã thấy tôi ăn rồi anh vẫn còn cho tôi điên sao?
– Đi ngủ đi để tao đọc báo.
– Nhưng tôi đã nói rằng tôi không điên.
– Biết rồi, thôi đi ngủ và nằm im, ở đây phải ngoan mới được. Đứa nào biểu không nghe lời thì bị ăn roi da cho coi.

——————————————————————–

Suốt buổi sáng bác sĩ không đến thăm bịnh. Gần trưa viên y tá dẫn 1 trong hai thanh niên bouledogues đi. Độ nửa giờ sau đem hắn về, nằm dài trên cáng ở giữa phòng. Lỗ mũi hắn bị nhét bông gòn, còn run. Mặt hắn tái nhợt, giống bọt mép chó điên. Môi hắn run cầm cập, Traian hỏi:
– Họ làm gì hắn vậy?
Gã bouledogue kia cười nhạo khi thấy thân mình cứng đơ của bạn bị giựt từng chặp. Ngực nhô lên xẹp xuống như ống bễ lò rèn. Các cân nhục ở tay và ở chân run lên như tách khỏi thân mình. Nước da cũng đổi màu, hết còn là da người sống. Xương sống cứng đờ, ngay đơ như vật chết. Cho đến cơn giựt từng chặp cũng giống như cơn giựt từng chặp của búp bê bằng máy cử động. Chỉ có bọt mép xanh từng đợt trào ra miệng, tuôn xuống ngực và vải bố của càng khiêng là vật cho biết hắn còn sống thôi.
Traian hỏi lần nữa:
– Họ làm gì hắn vậy.
Viên y tá đáp:
– Có gì đâu, họ chích thuốc.
– Thuốc gì vậy, tại sao hắn giãy tê tê như vậy.
– Đừng tọc mạch, người ta cũng chích cho mầy nữa. Tới phiên mầy, trễ lắm là ngày mai.
– Ngày mai?
Traian ngó thân hình bịnh nhân đang giãy trên sàn, viên y tá nói:
– Mầy thấy lạ lắm hả, mầy không tin sao? Ở đây ai cũng chích thuốc hết.
Viên y tá thay bông gòn cho lỗ mũi tên bouledogue rồi véo vào má hắn. Hắn không phản ứng, viên y tá nói:
– Mầy có lấy dao chặt nó thành từng khúc nó cũng không biết. Đương cơn hành như vầy mà biết gì được. Tụi bây cũng cần chích thuốc để khởi động gân cốt. Ngó coi gân cốt nó tập thể thao đẹp quá kìa.
Traian leo lên giường nằm, cửa mở, chàng giật mình. Không phải bác sĩ mà là một viên y tá tới nắm tay tên bouledogue thứ nhì dẫn ra khỏi phòng.
Một lát sau, gã bouledogue ấy cũng được khiêng về, cũng nằm trên cáng, để giữa phòng gần bạn hắn. Gã cũng có bông gòn nơi lỗ mũi, có bọt mép trắng và xanh dợt ở miệng, như bọt mép con chó điên. Thân hình gã cũng giãy giụa từng cơn.
Rồi ông gia cũng bị dẫn đi chích thuốc và khiêng trở về trên cán, một lát sau.
Traian nhìn ba thân người bị thuốc hành nằm giãy giụa một điệu như nhau, mặc dù họ rất xa lạ nhau.
Chàng hỏi:
– Thuốc gì vậy?
– Thuốc “Cardiazol”, chích cho giựt gân, cho kích thích óc não, cho tan lớp màn tối che mờ trí óc. Viên y tá nói rồi cười xòa.
Traian ngó lần nữa ba người nằm dài gần chàng. Thân hình họ bị giựt như tự động, như hình máy cử động. Lỗ mũi họ phồng lên và di chuyển cùng lúc, một điệu và một cường độ như nhau. Ba bộ ngực cũng nhô lên, xẹp xuống đều đều như ống thụt trong dàn máy.
Sinh lực của con người chỉ còn thâu gọn trong mấy cử động của gân cốt. Ý chí, bản năng, trí óc đều chết. Có sống chăng chỉ là những phản ứng đã khuếch xung thành những chứng động kinh.
Traian có một ảo tưởng về đời sống con người trong xã hội kĩ thuật ngày nay. Căn phòng chàng đang ở, mở rộng vô biên tới bao trùm Âu châu, cả phương Tây, cả mặt đất. trong phòng không những chỉ có ba người bị thân giảm theo phản ứng cử động giống như người máy, mà tất cả loại người trên địa cầu.
Ảo tưởng kinh ngạc, quá đáng nhưng nó vẫn ám ảnh Traian, hình như chàng thấy xã trưởng Schmidt nhảy múa một điệu quái đản ấy, cùng với trung úy Jacobson, thống đốc Brown, bác sĩ Abramovici, và tất cả đang nhảy múa theo điệu Jazz, điệu máy móc và điệu phong giựt do mấy viên thuốc Cardiazol kích thích tạo nên. Trọn một xã hội đều giãy giụa vùng vẫy, trong những cơn động kinh, phong giựt như nhau.
Traian bịt mắt lại, la lớn lên:
– Tôi không muốn, tôi không muốn.

——————————————————————–

Bác sĩ nghi ngờ, ngó Traian nói:
– Trong phiếu cá nhân anh, không thấy khoảng nào nói bãi thực hết. Nếu anh có bãi thực thì chuyện ấy đã ghi vào phiếu. Thay vì bãi thực, tôi đọc thấy: “Loạn óc, ý muốn tự tử, nổi cơn hung bạo, có ý tưởng bị ngược đãi”. Hết rồi, chẳng còn nói gì tới bãi thực cả. Tuyệt thực để phản kháng là hành vi sáng suốt và có ý thức nhưng lại không thấy ghi trong phiếu này. Hai giáo sư đại học chứng nhận cho anh đều kí tên chứng nhận phiếu này. Hai giáo sư Đức, vậy tôi phải tin ai, anh hay hai vị giáo sư?
Bác sĩ quả quyết là Traian đã bịa đặt ra chuyện của anh từ đầu chí cuối, ông nói:
– Anh có chắc vợ anh bị bắt không? Riêng tôi tôi còn không tin anh có vợ nữa, nhẫn cưới của anh đâu?
– Bị tịch thâu trong khi khám xét tại trại tạm giam rồi.
– Có thể lắm nhưng tôi không có một chứng cớ nào về chuyện nầy. Tôi phải căn cứ vào phiếu bịnh trạng của anh mà xét đoán. Anh chẳng nên giận, chừng nào có chứng cớ rõ rệt sẽ hay, hiện giờ tôi bắt buộc phải lập luận khởi đầu như vầy: hiện vợ anh không bị bắt, có thể anh chưa có vợ, cha anh không chết trong trại giam và anh không bị bắt vô cớ. Còn những chuyện anh thuật tôi buộc lòng phải loại ra không kể đến.
Traian nghĩ thầm: “Làm sao chứng tỏ được mình còn tỉnh trí? Mỗi hành động, mỗi lời nói mà ta đã cho là hợp vẻ thông thường, nếu đem phân tách lại trở thành những cử chỉ có vẻ điên rồ. Cũng những lời nói ấy, những câu ấy, những ý kiến ấy theo cuộc sống hàng ngày, thì dường như hợp lí và sáng suốt thông minh nữa là khác, mà ở trong nhà thương điên lại trở thành những triệu chứng điên cuồng. Giới hạn trạng thái tỉnh trí và điên cuồng không thể định rõ. Nhưng phải ráng chứng minh không điên mới được. Chàng nói:
– Tôi van lơn bác sĩ, xin bác sĩ cứu giúp tôi với.
– Bằng cách nào?
– Tin lời tôi.
– Chuyện ấy không tiến ích cho anh bao nhiêu.
– Tôi không yêu cầu ông nói với tôi là ông tin tôi, nhưng tôi yêu cầu ông tin tôi thực tình mà thôi. Và tôi xin ông khám lại sức khỏe và trí óc tôi một cách xác đáng.
– Lời yêu cầu thứ hai của anh vô ích, khám bịnh là chuyện tất nhiên rồi. Còn tin anh thì không thể được, tôi là nhà khoa học. Tôi chỉ tin những gì tôi nhận thấy, không bằng cớ tôi không thể tin được.
– Xin ông tin tôi theo tư cách tôi là con người.
Bác sĩ gằn từng tiếng:
– Tôi là nhà khoa học, lương tâm nhà nghề cấm tôi không tin lời nói suông của ai mà không có chứng cớ làm bằng.

——————————————————————–
Traian được khám bịnh kĩ lưỡng, chàng bị chích lấy máu ở hai gân tay; lần thứ nhì ở đầu các ngón tay và lần thứ ba, nơi một cánh tay, mà nhiều hơn. Chàng nhẫn nại cho má0u, con người phải hiến máu luôn, luôn luôn và cùng khắp! Vậy mà còn chưa đủ, họ còn chích máu ở sau đầu chàng, chỗ xương ót, lấy vài giọt nước óc nữa. Chàng kiên nhẫn chịu đau đớn, chích như vậy là đau lắm. Và phải chích như vậy nhiều lần, Traian cam chịu, chàng biết rằng não con người chẳng những phải hiến máu mà còn phải cho tủy não. Bằng không thì quyền sống của chàng không được thừa nhận.
Họ kích thích mấy bộ hạch trong người chàng. Họ lấy tinh dịch dể trên miếng kiếng và phân chất dưới ánh đèn. Nước tiểu, nước miếng, nước dịch trong các hạch ruột phèo, đều được xem xét dưới kính hiển vi, được vô ống chai, khám, lọc trong phòng thí nghiệm của khám đường.
Mấy bác sĩ rọi phổi, rọi đầu; trọn bộ xương Traian được quang tuyến soi ra từng lóng, từng khớp. Họ tìm kiếm khớp xương đã gây ra tiếng kêu tuyệt vọng của con người tìm kiếm công lý. Vết thương ở chỗ khác nhưng bác sĩ cứ mò tìm mãi trong khắp châu thân Traian, trong phổi, trong xương, trong óc, trong tủy của chàng, Traian cứ để cho họ tìm kiếm. Họ lại xem xét từng cân nhục, từng gân thần kinh để coi cách phản ứng. Đầu gối, bàn tay, dạ dày đều được gõ, nắm bóp, xem qua. Trái tim cũng được nghe tiếng đập. Họ thử bắt chợp từng cử động nhỏ nhặt, bất chợt của hai lá phổi. Bác sĩ lắng nghe từng bộ mạch nhảy phù trầm trong châu thân.
Traian được cân, đo chiều cao, đo bề ngực, xương cốt, cánh tay, ống cẳng. Họ bảo chàng há miệng ra để xem răng, đếm từng cái, gõ coi có hư hỏng hay không, lưỡi cũng bị khám kĩ lưỡng. Toàn thân Traian như có vật gì đáng nghi ngờ, chàng có thể hữu dụng được hay không?
Kế đến các bác sĩ chuyên bịnh thần kinh hạch hỏi, tra gạn chàng ngày đêm, mỗi câu trả lời đều được ghi chú kĩ lưỡng. Mấy bác sĩ tìm đặc tính của bịnh điên cuồng cũng như mấy nhà trinh thám theo dõi một vụ án mạng trong nhà phạm nhân. Họ gợi Traian kể chuyện hồi nhỏ, nói chuyện về cha mẹ, anh em và những người đàn bà mà chàng quen biết. Traian đã biết rõ nỗi thầm kín tận thâm tâm mình, cái tâm trạng u uất mà bác sĩ buộc lòng tìm hiểu, nên chàng giúp họ hết lòng.
Tâm hồn chàng bị mổ xẻ, phân tách khắp chỗ, họ lột trần, mở ra như một cái tủ đựng đầy quần áo dơ cũ. Mấy bác sĩ cứ dí mũi vào, không sợ nôn mửa, để dò xét, đánh hơi từng lằn xếp của cuộc đời đầu thầm kín ấy.
Cuộc khám xét đã xong, bác sĩ kết luận.
– Anh rất lành mạnh, chỉ có bịnh thiếu sinh tố, ăn không đủ và cân dưới mức bình thường thôi. Ngoài các bịnh ấy, cả thảy đều tốt, điều hòa, lành mạnh. Vì thiếu ăn mà bị bịnh thiếu máu, các khớp sưng và răng nhức. Mạch chảy không đều do cơ thể suy nhược; vài đốm đen vô hại trên phổi; bịnh phong thấp nhẹ, nhưng tất cả đều không quan hệ, chỉ là các bịnh bình thường.
Traian đã mệt đừ như Chúa Ghê-su trên núi Oliviers, chàng hỏi:
– Ông có tin là tôi không điên chưa? Bây giờ ông làm ơn cho tôi ra khỏi nhà thương điên giùm đi.
– Anh phải lưu trong phòng y dược vì anh đang yếu lắm!
– Tôi muốn trở về trại giam liền.
– Chuyện anh đòi không hợp lẽ chút nào.
– Tôi muốn được trở về Trại giam, gấp chừng nào hay chừng đó.
Tuần sau Traian được trở bề trại giam, có đủ giấy tờ chứng nhận chàng không điên và chẳng bao giờ bị điên. Mắt chàng sáng ngời vì hân hoan thắng cuộc nhưng thân xác chàng lảo đảo như bóng ma chán nản khổ đau.

——————————————————————–

Khi Traian về trại giam, trung úy Jabcobson gọi anh lên phòng văn, Traian nói:
– Bắt bớ tự động là một phương pháp nhưng không làm nên một duyên cớ bắt bớ được. Muốn bỏ tù một người phải coi họ như tội phạm và muốn giết họ lần mòn bằng mọi cách phải có một duyên cớ nào chớ. Họ phải được xác nhận như phạm tội mới được, vậy tôi phạm tội gì? Vợ tôi có tội gì, cha tôi đã can án nào? Moritz đã làm gì? Lúc mà tôi hỏi ông câu ấy một cách tuyệt vọng và rất thông thường, sau mười lăm tháng bị tù đày thì ông coi đó là lời kêu ca của một cơn điên. Từ khi mà sự khát khao công lý và tự do của con người bị cho là điên cuồng thì con người không còn tồn tại nữa. Dầu cho con người ấy có một nền văn minh tân tiến nhất trong lịch sử, nền văn minh đó cũng không giúp họ được phần nào.
Trung úy Jacobson châm điếu thuốc hút, bây giờ hối hận, ông nói:
– Người châu Âu các anh đều coi chuyện gì cũng bi đát hết. Tưởng như các anh chỉ biết bi nhiêu đó thôi.
– Có thể ông có lý, không chừng đó là một tật xấu. Nhưng chứng kiến cảnh lố bịch, nhìn cảnh đau thương quằn quại của con người là một chuyện càng hết sức nghiêm trọng hơn mọi chuyện nghiêm trọng không bì được, còn hơn một thói xấu xoàng, hay một tội nhỏ nữa.
– Tôi có muốn giúp ích cho anh nhưng không được, tôi có xin họ thả anh ra.
– Tôi nhìn nhận rằng ông đã làm hết sức ông nhưng chuyện ấy không dùng vào được chuyện gì, ông không thể và cũng chẳng bao giờ thành công được. Từ rày về sau không người nào có thể thành công trong việc giải thoát người khác hoặc tự giải thoát. Từ nay về sau con người thuộc về thiểu số và tay chân bị trói buộc không thể nào giải cứu cho mình hoặc đồng loại. Con người mang xiềng xích của máy móc, ông cũng có nữa, xiền xích của văn phòng kĩ thuật trói buộc tay chân ông. Những gì văn minh phương Tây hiện đại có thể hiến cho nền văn minh của chúng ta là đôi còng.
– Thôi anh về trại đi, nằm nghỉ cho khỏe tùy thích, nhứt là đừng làm chuyện bậy bạ nữa.
– Tôi chỉ còn làm những gì xã hội kĩ thuật cho phép con người làm thôi.
– Đấy! anh lại trở lại nỗi buồn của anh rồi. Tôi không muốn thấy anh có giọng điệu đó, anh hút thuốc chớ.
– Xin vui lòng.
Traian cầm điếu thuốc, rồi chàng hỏi:
– Ông trung úy có nghĩ rằng chúng ta là khán giả còn ở lì trong rạp trong khi vãn hát rồi không? Nhưng sự ương ngạnh ấy không ích gì, rồi khán giả cũng bị đuổi ra hết. Tất cả, cho tới người chót, rạp hát cần phải thoáng khí; ghế đặng xếp lại để chốc lát khai diễn lớp tuồng mới. Mặt đại cầu cần có thoáng khí, lịch sử tiếp tục diễn trò. Hôm qua yết bảng tuồng “Đơn Thỉnh nguyện”. “Đơn thỉnh nguyện” là những tiếng van lơn của con người vầu xin các công dân văn phòng để yên cho họ sống. Nhưng đơn của người bị tử hình xin ân xá bị bác bỏ. Vả lại đơn ấy cũng không được đọc tới. Lớp tuồng này không có kết quả tốt đẹp vì nó không có chung cuộc hạnh phúc. Ngày mai sẽ diễn tuồng tổng kết, nhan đề là “Vũ khúc cơ khí”, một tuồng không có người đóng kịch, toàn là người máy, cơ khí và công nhân không có mặt mày. Tôi không còn sống để xem tuồng diễn mới vì đã quá trễ song ông sẽ có ghế dành cho ông nhưng chỉ dành cho những buổi diễn đầu. Ông đi xem đi và chúc ông được vui thích! Ông nên nhớ ghế chỉ dành cho ông xem mấy buổi đầu thôi nhé!
Traian để điếu thuốc cháy trong dĩa tàn thuốc trên bàn trung úy Jacobson và rời khỏi phòng.

——————————————————————–

Traian gặp Moritz ở giữa trại giam, anh rất buồn và khi thấy Traian, anh òa khóc, hỏi:
– Phải ông Traian đó không? Tôi tưởng không còn thấy được ông nữa!
– Rồi anh có thương tiếc tôi chăng?
Moritz siết tay Traian nói:
– Thương tiếc cho tới chết, tôi không nói được lời giã từ nào lúc ông bị chở đi, không ai cho tôi vô nhà thương thăm ông, họ đem ông đi đâu?
– Ở chung với mấy người điên.
– Trời ơi! Nhà thương điên, không lý nào?
– Vậy mà thiệt đó, tôi có đem thuốc hút về đây.
Traian mở khăn tay lấy thuốc hút vụn ra. Hai bạn ngồi gần nhau trên nền đất nóng cạnh cửa trại, vấn thuốc hút. Moritz hỏi:
– Người ta nhốt ông với người điên à, thương hại ông quá!
Anh chưa hết lạ lùng về chuyện nầy.
Traian hỏi:
– Anh thích cái ống điếu của tôi lắm phải không?
– Có ống điếu thì chắc chắn sẽ luôn có gì để hút, có thể nhét thuốc nát, thuốc tàn, thuốc vụn không vấn được, bởi thế tôi rất tiếc không có ống điếu. Nhứt là ở trong trại giam, không có ống điếu thì bực lắm.
– Tôi cho anh cái ống điếu này đây.
Traian đưa ống điếu cho Moritz, cái ống điếu chàng ngậm luôn trong miệng hơn 1 năm nay, mặc dầu nhiều khi chẳng có thuốc, Moritz nói:
– Không thể được, ở đây ống điếu là một gia tài, rồi ông lấy gì ông hút.
– Tôi sẽ không hút nữa, điếu này là điếu chót của tôi.
– Bác sĩ cấm ông hút thuốc sao?
– Không, chính tôi không còn muốn hút nữa.
Moritz cầm ống điếu, mồi thuốc vô, rồi nói:
– Cảm ơn ông, nếu ông hút trở lại thì tôi sẽ trả cho, ông tin tôi, toi chỉ nhận là khi ông bỏ hút.
– Chắc chắn là không hút nữa.
Moritz cười.
– Tôi cũng thường tự hứa bỏ hút nhưng không giữ được, không dễ gì bỏ hút đâu.
– Tôi biết lắm nhưng lần này thiệt chớ không phải chơi đâu.
Traian đốt điếu thuốc, Moritz châm ống điếu, rồi cả hai im lặng ngồi hút.
Traian lấy cặp mắt kiếng xuống, săm soi, trìu mến lắm. Kiếng gọng đồi mồi. chàng chú ý nhìn như sắp từ giã nó. Tất cả các vật dụng luôn có bên mình chàng chỉ giữ lại đôi kiếng này. Bốp đựng thuốc hút, chiếc ví tiền, nhẫn cưới, viết máy và viết chì đều lần lượt bị tịch thâu hết, chàng chỉ còn cặp mắt kiếng mà thôi.
Cây thánh giá chàng đeo trên cổ, chàng đã đặt lên ngực cha lúc ông chết để chôn luôn với xác mục sư. Theo đạo chính thống, mục sư phải được chôn với áo lễ và một tượng thánh trên ngực. Cha chàng không được mặc áo lễ trước khi chôn, hồi chết ông còn mặc áo tù binh Mỹ có hai chữ P.W. ở lưng và tay.
Ông cũng không có áo sơ mi vì áo mới giặt, chưa khô. Moritz vừa đem đi giặt hồi sáng và lúc chết thì bị khiêng đi liền, Traian không kịp lấy mặc cho ông. Nhưng chàng kịp để dưới áo, nơi ngực ông, cây thánh giá chàng đeo nơi cổ. Và cha chàng được chôn cùng cây thánh giá. Chắc mục sư được thiêu cùng cây thánh giá trong lò thiêu.
Hiện giờ Traian chỉ còn cặp kiếng. Vật sở hữu duy nhất ngoài thân xác chàng, chàng chỉ có thân mình với cặp mắt kiếng mà thôi. Đó là vật hữu hình lưu dấu dĩ vãng duy nhất chàng còn giữ được. Chàng ngắm xem nó với chút mến tiếc, buồn rầu. Rồi chàng đưa cho Moritz và hỏi:
– Anh muốn giữ cặp kiếng này không?
– Bộ giờ ông thấy rõ, không cần mang kiếng sao?
Moritz cứ cho rằng ai đeo kiếng suốt đời là bị một tội hành phạt nặng nề, nên anh thật vui mừng thấy Traian không cần mắt kiếng nữa.
Traian đáp:
– Không phải, tôi bỏ kiếng thì không thấy đường song thấy khỏe khoắn hơn. Tôi sẽ không bao giờ đeo kiếng nữa.
– Tôi luôn lấy làm lạ thấy ông mang kiếng trọn ngày. Ông chỉ lấy xuống ban đêm, chẳng lúc nào tôi thấy ông không mang kiếng.
– Nếu may ra anh được thả trước tôi, nhờ anh đem cặp kiếng này cho vợ tôi. Chắc anh không gặp nàng nữa nhưng anh cứ cất trong mình. Không biết chừng nào và chỗ nào anh gặp nàng, có thể về tới Roumanie mới gặp được. Vậy anh ráng giữ gìn cẩn thận, đừng để gẫy.
Moritz cầm cặp kiếng săm soi, anh chắc Traian dấu anh chuyện gì. Việc chàng cho anh ống điếu và gửi cặp kiếng này có ý nghĩa lắm.
Traian nói:
– Anh đừng sợ, tôi chỉ muốn anh cất giùm cặp kiếng vì tôi không mang nữa và tôi cũng không muốn nó lạc vào tay kẻ lạ khác. Nhờ nó mà tôi thấy bao nhiêu chuyện trong đời tôi. Anh hiểu vì sao tôi yêu quý nó không?
“Với đôi kiếng ấy tôi thấy vợ tôi lần đầu tiên, tôi trông nhìn muôn ngàn gái đẹp, tôi ngắm nhìn bao nhiêu tranh ảnh, hội họa, điêu khắc, các viện bảo tàng, thành phố, đô thị. Với đôi kiếng ấy tôi ngắm nhìn khắp trời, biển, núi non. Với nó, đã bao đêm ròng tôi thức đọc hàng trăm quyển sách. Với nó, tôi thấy cha tôi chết, với nó, tôi thấy cơ đồ châu Âu nghiêng đổ, con người chết đói, bị tù rạc giam cầm, bị đánh đập, tra khảo tàn bạo và chết rũ trong các trại giam.
“Với cặp kiếng này, tôi thấy các thánh, người hiền, kẻ điên. Với nó tôi thấy một lục địa tắt thở dưới sức nặng của loài người, của luật lệ, của tín ngưỡng và hi vọng- tắt thở mà nó không biết nó đang chết- vì lục địa ấy bị giam hãm trong các trại giam và luật lệ kĩ thuật của một xã hội đã trở nên nghiêm khắc dã man.
“Anh Moritz à, đôi kiếng này là cặp mắt của tôi đó, nhiều lúc tôi nhầm lẫn cả hai, cặp mắt với cặp kiếng bất khả phân ly. Với cặp kiếng này tôi đã nhìn thấy tất cả những gì phải thấy cho tới giờ này.
“Kể từ nay tôi không muốn thấy nữa, tôi đã chán rồi, màn biểu diễn đã kéo dài quá mức.
“Nếu tôi giữ cặp kiếng này thêm tôi sẽ chỉ thấy toàn cảnh đổ nát, thành phố, loài người, xứ sở, nhà thờ, hi vọng đều sụp đổ cả.
“Chính với cặp kính này mà tôi thấy sự sụp đổ của đời tôi, cảnh đổ vỡ trong các cuộc đổ vỡ. Tôi không phải thích làm người khác đau khổ, nên tôi không thể thấy những cảnh đau khổ điêu tàn. Chỉ thấy toàn cảnh sụp đổ rộng khắp, tôi không thể chịu nổi nữa.
“Trên cảnh hoang tàn ấy có những người tiên phong tiến bước. Đó là các công dân của xã hội đột khởi trong lịch sử này. Họ xây dựng theo một nhịp điệu điên cuồng, để xây đắp văn minh họ khởi sự từ nhà tù! Dầu thế nào cũng mặc họ, riêng tôi, tôi không thể nào xây dựng chung xã hội với họ. Tôi phải đóng vai khán giả trọn đời. Nhưng sống như một khán giả, nghĩa là như một người chứng, thì không phải sống. Cái xã hội kĩ thuật Tây phương chỉ chỉ để dành chỗ khán giả cho con người mà thôi.
“Sự mỉa mai chua cay làm sao, vật dụng duy nhất mà tôi không bị tịch thu trong mấy kì khám xét là đôi mắt kiếng này. Như vậy chứng tỏ tôi còn được phép giữ lấy cử chỉ khán giả duy nhứt. Lắm khi tôi thấy bọn quân lính cũng có lòng nhân, còn để cho tôi cặp mắt kiếng nhưng đó không phải sự rộng lượng. Đó là tánh thích làm người khác khổ. Vì không những chúng hạn định tôi trong vai trò khán giả mà còn chỉ cho tôi những gì phải nhìn thấy, đó là những trại giam. Tôi không được nhìn thấy cảnh gì khác ngoài cảnh các trại giam, nhà thương điên, khám đường, quân lính, và cả ngàn cây số kẽm gai, vì thế mà tôi bỏ cặp kiếng.
“Tôi từ bỏ vật duy nhứt mà tôi còn quyền giữ trên thế gian này. Cặp kiếng như đôi mắt, là một bảo vật kì diệu, khôn bì trên mặt đất. Nhưng với điều kiện phải sống thật mới được. Khi con người không còn sự sống nữa, hay chỉ sống với vài giọt sinh lực, hay tạm thời tham dự vào một kiếp sống tạm thời thì đôi mắt kiếng trở thành một vật giễu cợt hiểm ác. Anh có thấy người chết đeo kiếng không?
– Mà ông đâu có chết, ông Traian?
– Đấy là hi vọng duy nhứt chúng ta còn giữ được, hi vọng chưa chết. Nhưng hi vọng không thể thay thế cuộc sống, hi vọng chỉ là ngọn cỏ giữa các nấm mồ.
– Nhưng chúng ta còn sống đây, ông Traian!
– Chúng ta vẫn tin tưởng và hi vọng còn sống thôi!
Moritz ngó Traian hồi lâu. Anh nhớ lại chính Traian vừa ra khỏi nhà thương điên, chính Traian đang nói chuyện với anh.
Traian nói:
– Bạn Moritz đừng sợ, Traian không điên đâu. Nếu anh mà cũng cho tôi điên nữa thì kể như hết rồi. Anh cho rằng tôi còn sống là bởi anh chưa thấy tôi tắt thở, nhắm mắt, tim ngừng đập, thanh thể lạnh ngắt, thây xác cứng đờ. Nhưng anh nên biết có nhiều cái chết mà không có xác. Lục địa chết đâu có xác, nhiều nền văn minh, tôn giáo, quốc gia chết mà đâu thấy xác. Con người cũng vậy, thỉnh thoảng có người chết trước khi họ trở thành thây ma. Anh hiểu tôi không?
Moritz vùng khóc òa.
Traian hỏi:
– Tại sao anh khóc?
– Ông đau rồi, ông Traian à!
– Anh muốn nói tôi nhảm nhí và điên cuồng hay sao?
– Không, tôi không muốn nói như vậy ông Traian à! Làm sao tôi có thể nói như vậy được.
– Anh tưởng tôi điên anh mới òa khóc. Nhưng anh khóc vô ích Moritz à, tôi không điên đâu, tôi tỉnh táo hơn lúc nào hết.
– Thật vậy sao ông Traian?
– Đúng vậy, tôi sáng suốt lắm!
– Tôi không tin ông bị điên nhưng tôi nghĩ chắc ông bị nhức đầu vì không ăn uống nhiều ngày và biết đâu lúc ông ở đằng ấy, người ta đánh khảo ông, ông xanh quá, tôi không bao giờ tưởng ông…
Moritz muốn tránh chữ “điên”.
Traian vấn thuốc và nói một mình: “Những người đau khổ vì nền văn minh Tây phương sụp đổ sẽ sụp đổ va bị tiêu diệt cùng với nó. Những người chứng kiến sự sụp đổ ấy sẽ đứng ngoài vòng thảm kịch. Họ thuộc về, hoặc nhóm văn minh kĩ thuật như trung úy Jacobson chẳng hạn, đã cho mình là một người điên, hoặc những người cổ lỗ như Moritz, còn tin dị đoan và sống theo bản năng, và cũng cho mình là điên nữa. họ không cần lo nghĩ tới châu Âu. Moritz, cũng như Jacobson, đã cho là điên, một kẻ đau khổ đến tột mức về tinh thần.
Con người duy nhứt không cho là điên mà đã đau khổ đến tột cùng đó là Nora, vợ chàng. Chỉ một mình nàng sẽ vượt khỏi thảm trạng này, vì nàng đã đào luyện với truyền thống mấy ngàn năm nô lệ và khuất phục. Chủng tộc của nàng đã quen chịu cảnh đau khổ và nô lệ ở Ai cập lúc xây dựng kim tự tháp, cũng đã chịu hành hạ về tôn giáo ở Bồ Đào Nha, bị cuộc tàn sát ở Nga, và trải qua các trạm diệt chủng bên Đức. Nòi giống của Nora sẽ chịu đựng được nền văn minh kĩ thuật mới này. Chàng mỉm cười, nói với Moritz:
– Anh đốt ống điếu hút thuốc đi, rồi đem cặp kiếng này vô lều cất. Nên nhớ, lúc đưa cặp kiếng này cho vợ tôi anh đừng làm gãy nhé.
– Tôi đi liền đây, ông Traian.
Moritz chậm chạp bước đi, hai vai còm, miệng ngậm ống điếu hút từng hơi dài.

Traian có cảm tưởng không phải thấy Moritz đi qua sân trại, mà đi suốt mấy thế kỉ trong lịch sử, cũng với mấy bước lơ đãng ấy, xa lạ với mọi vật xung quanh, bàn chân cắm sâu xuống đất, mắt đăm đăm nhìn cảnh vật luôn luôn biến chuyển trên nền trời xanh biếc nhưng không bao giờ tự hỏi tại sao trời xanh dường ấy.
Traian nói thầm thầm: “Moritz và Nora sẽ sống sót sau khi Âu châu bị mất, và cũng sẽ sống được trong xã hội kĩ thuật Tây phương này, nhưng không thể sống lâu trong xã hội ấy. Không người nào có thể sống lâu trong xã hội ấy. Có thể hai người sẽ dự kiến được mấy buổi biểu diễn đầu tiên. Rồi sau khi các đàn ông mạnh khỏe chết hết, thì con người máy của phương Đông, phương Tây, phương bắc và phương nam sẽ tràn lan trên mặt đất.”

——————————————————————–

Moritz vừa khuất sau dãy lều thì Traian đứng dậy, quăng điếu thuốc, bước ra cửa chánh của trại giam. Tù nhân không được phép vô sân để đưa ra cửa chánh. Traian đã biết nhưng vẫn đi tới xa, bước mạnh dạn, không hấp tấp, không chậm chạp. Giống như bước đi của người đi về nhà, buổi chiều sau một ngày làm lụng, chắc ý, không nên vội vàng và cũng không muốn dần dà.
Bọn tù ở trong sân, lối ba bốn ngàn, thấy có người bước vô đường cấm. Họ liền lại gần hàng kẽm gai để xem cho rõ. Họ tưởng một viên thư kí hay một vị bác sĩ vì chỉ có mấy người này mới được phép vượt qua lối cản ấy.
Bọn tù muốn xem chuyện gì sắp xảy đến, trong trại giam không có chuyện gì xảy ra mà không được hàng ngàn cặp mắt chăm chú ngó theo, dò xét.
Mỗi ngày, bị bắt buộc nhìn thấy bấy nhiêu cảnh vật, nên họ thích thú tìm chuyện mới lạ, dù nhỏ nhặt, miễn là khác chuyện thường ngày. Nhu cầu thiết yếu của tâm lý con người là muốn thoát khỏi lề lối máy móc thông thường để tìm cái mới lạ, cái khác thường của cuộc đời.
Một tù nhân đi vào đường cấm là một biến cố đáng chú ý. Tên tù với tư cách là nhân viên, hoặc bác sĩ của trại dù có được quyền cũng bị bọn tù nhân khác theo dõi như một vai kép trong tuồng, vì anh ta dám làm một chuyện bị nghiêm cấm.
Traian biết cả trăm ngàn cặp mắt đang theo dõi, chàng cũng biết mấy tên lính Ba Lan đứng trên chòi cao vượt trên hàng dây kẽm gai, phải ngó theo chàng và lấy làm lạ tự hỏi, chàng định đi đâu.
Chàng đã biết nhưng cứ thẳng bước tới, không ngó bọn tù đang chú mục nhìn chàng, và cũng không dòm mấy lính canh trước mặt, trên chòi cao. Bước đi của chàng chẳng những như bước chân mạnh dạn, xăng xái của người giận giữ muốn đạp mọi trở ngại mà còn như bước lanh lẹ, dẻo dai của người thích thú ra đi.
Traian không thấy thích thú bước đi, nhưng biết rõ bước đi của chàng làm thỏa mãn tâm hồn chàng. Vì thế bước đi của chàng không nặng nhọc mà cũng không buồn chán như một điệu cử động đều đều của máy móc hoặc những người can đảm chạy theo sở thích. Bước đi của Traian không phải bước đi của một kẻ cuồng tín.
Chàng bước đi, hai mắt mở to, chàng không trông rõ vì không có cặp kính. Nhưng mắt của tâm trí, của tinh thần chàng mở rộng và chàng thấy rõ đường đi của chàng, thấy rõ ý nghĩa, nỗi sung sướng và thảm kịch của con đường này.
Ai hiểu được sẽ nhận thấy bước đi của Traian, trong bước đi trên cát và thẳng đến hàng kẽm gai và lính canh, nỗi buồn sâu thẳm, cố nén và thầm kín. Nỗi buồn của kẻ xa nhà, xa xứ sớm, nỗi buồn của thủy thủ khi tàu tách bến.
Ai biết được sẽ đọc được chuyện ấy trong bước đi của Traian. Những chuyện ấy có ghi trong dấu chân của chàng in trên cát. Nhưng người hiểu được không có ở đây.
Mắt của tù nhân cà và lính canh chỉ đơn giản thấy bước chân của Traian càng lúc càng lại gần hàng kẽm gai. Đó là điều cấm nhặt, không ai được phép lại gần hàng rào kẽm cách một thước rưỡi. Nhưng Traian lại đang làm.
Bọn tù che tay lên mắt để xem cho rõ từng cử chỉ của chàng. Có người đưa nắm tay lên miệng hồi hộp chờ xem kết cuộc, như cử chỉ lúc xem một trận banh quyết liệt, một phim chớp bóng cảm kích, hoặc đọc một tiểu thuyết trinh thám.
Lính Ba Lan chòi canh không ngờ, tưởng anh nhìn lầm, có lẽ cũng định giơ bàn tay lên miệng nhưng tay đã cầm súng. Lúc anh giơ tay lên thì bá súng cũng giơ lên. Lính canh nhớ ra bổn phận là phải bắn bất kì tên tù nào lại gần hàng rào kẽm gai và anh liền bấm cò.
Tiếng súng nổ, tên lính Ba Lan chợt nhớ ra mình đã phạm lỗi: bắn không nhắm. Khi bắn súng phải nhắm trước, luật lệ quy định như vậy anh đã biết. Nên một cánh tự động, anh mau lẹ sửa lỗi, và trước phát súng thứ nhì, anh đưa súng lên má, bóp cò.
Traian nghe tiếng súng thứ nhất và tiếp liền tiếng thứ hai, chàng thấy một lắn sáng xẹt ngang trước mắt, rồi nghe toàn thân nóng ran, một thứ mệt mỏi cảm thấy khi nằm trong phòng sưởi ấm, uống cốc nước sôi pha rượu với chanh.
Chàng nghe trên tay có nước gì nóng đang chảy, rồi chàng lảo đảo, té xuống nền đất nóng, cạnh hàng kẽm gai. Chàng té không có tiếng động, như chiếc áo khoát móc trên giá áo, rơi một đống xuống đất.
Traian thấy động lòng thương hại cho thân thể chàng nằm lịm như vậy, thân này là bạn chí thiết của chàng, bây giờ chàng nhận ra và yêu mến nó nhường nào! Chàng nghĩ tới Nora và cha chàng mà chàng cũng yêu mến như thân này. Hình ảnh của Nora, của mẹ chàng, của Moritz, của ông biện lý Damian và vài người bạn nữa thoáng qua tâm trí chàng một chút, rồi rơi xuống như mấy bức tranh nhỏ xíu treo trên tường bị nhổ đinh rơi xuống đất.
Mấy tấm tranh có hình ảnh những người thân yêu nhứt của Traian đều rơi xuống đất cùng một lúc với thân xác chàng và chồng chất lẫn nhau.
Tâm trí chàng không kiềm giữ nổi nó trước mắt, chàng đã kiệt lực. Vật chót còn đứng vững, một lát, không chịu ngã ngay, là đầu chàng.
Trán chàng còn đưa lên khỏi mặt đất.

Nhưng giây lát sau, trán chàng rồi cũng nặng dần.
Chàng đặt má xuống nền đất nóng như muốn bấu víu một vật gì.
Trí nhớ chàng, như một lá cờ, bao phủ các tranh ảnh thuở xưa và một thân xác, giờ đây mềm nhũn, mà dòng máu vừa chảy hết.
Traian biết phải nói một lời nhưng không thốt ra, đó là lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện mà chàng ưa thích, song lời cầu nguyện ấy, cũng như bao sự vật trong đời, đều không được thổ lộ. Nếu còn sống thêm vài giây thôi, chàng có thể đọc lời cầu nguyện ấy.
“Hỡi đất thân yêu!
“Tôi nguyện hiến mình mãi mãi
“Tôi, một kẻ lạ vô danh, từ phương xa tới đây.
Má và môi chàng dính trên đất nóng trong một cử chỉ âu yếm, thân tình, một cử chỉ hoàn toàn quên mình, nồng nàn yêu thương.
Việc xảy ra rất giản dị, trang nghiêm, toàn vẹn với cách chậm rãi oai nghi của ngọn đèn đang tắt.
Trong sân trại giam, Moritz muốn la lớn lên nhưng bụm miệng lại kịp. Anh cúi đầu ngó xuống và làm dấu thánh giá.

——————————————————————–

Bốn ngày sau khi Traian chết, Moritz nhận được thơ của Suzanna, thơ như vầy.
“Anh Iani yêu dấu!
“Chắc anh tưởng em đã chết, chín năm rồi chúng ta không có tin tức gì của nhau. Nhiều lúc em tự hỏi, hay anh đã chết và em muốn xin nhà thờ cầu nguyện cho anh, như lễ cầu nguyện cho những người chết. Nhưng luôn luôn, tới giờ chót em đều tránh không làm, vì lòng em nói cho em biết rằng anh chưa chết. Bây giờ em thấy vui mừng không có làm lễ cầu hồn cho anh, vì làm lễ cầu hồn cho những người chưa chết thì xui lắm!
“Ông Perusset, trong ban thập tự Thụy Sĩ cho em địa chỉ của anh và nói anh bị giam ở đây từ ba năm nay.
“Em liền cảm ơn đấng thiêng liêng che chở cho anh còn sống và cầu nguyện ngài ban phước mở mắt giùm những kẻ đang giam cầm anh vô cớ. Em biết anh không có làm gì bậy, không trộm cắp và cũng không giết người.
“Em có nhiều chuyện muốn nói với anh, trong chín năm qua, biết bao chuyện đã xảy ra, trong bức thơ này không thuật lại hết được.
“Anh sẽ giận em khi biết bây giờ em đang ở nước Đức, bỏ nhà cửa đất đai và những gì chúng ta có ở quê nhà, để đem con sống với người xa lạ, thế nên em thuật chuyện xảy ra như thế nào để anh rõ.
“Anh ra đi vào ngày thứ nhì sau lễ Pentecote. Người trong làng cho em hay anh bị lính bồng súng dẫn đi. Em không tin, vì anh không có tội chi thì không có lí gì họ bắt giam và dẫn anh đi, như một tội phạm với lưỡi lê bên hông.
“Bồn tuần lễ sau, em nướng một ổ bánh mì và chờ anh, em biết anh trở về đói khát, khi ổ bành mốc meo, em cho con ăn rồi nướng một ổ bánh khác để anh về có bánh sốt. Em không hiểu tại sao nhưng lòng em tin chắc anh sẽ về nên em lo từng ngày một. Em lo anh về lúc tối, nên em không khóa cửa, để anh khỏi kêu và khỏi chờ em ra mở cửa. Em biết anh trở về mệt mỏi, đau chân, vì thế em không muốn anh đứng đợi ngoài cửa, nhưng anh Iani yêu dấu của em không có trở và em cũng không làm bánh mì cho anh nữa, vì em hết bột, song em vẫn chờ anh hằng bữa.
“Một ngày kia, vào khoảng lễ Pectecote, viên quản đồn đến cho em hay anh là Do thái và y có phận sự tịch thâu nhà cửa mình. Vậy để có nhà cửa để nuôi con, y chỉ em kí tên một tờ giấy: tờ ly dị. Em kí, mà không ly dị với anh và vẫn chờ anh như trước.
“Khi quân Nga tới chiếm đóng, chúng bắn mục sư Koruga và mấy người lương hảo trong làng. Em với mẹ trong đêm đó, đã cứu mục sư bị bắn mà chưa chết ra khỏi tòa thị sảnh, định đem dấu trong rừng. Dọc đường, gặp một xe lính Đức, liền đưa cho họ đem mục sư vô nhà thương. Em không biết làm vậy phải lẽ hay không nhưng mẹ và em không đành lòng để ông chết được. Ngày sau, mẹ bị Marcou xử bắn vì đã cứu mục sư. Hắn cũng muốn giết em nữa nhưng em đã dẫn con trốn khỏi làng. Em đã cực khổ làm lụng nhiều nơi, em sợ quân Nga bắt được sẽ bắn em như chúng đã bắn mẹ, nên chạy xa được chừng nào hay chừng ấy. Nhưng rồi quân Nga cũng bắt được em ở nước Đức sau khi hết giặc. Chúng không bắn em mà lại xử tốt với em, chúng cho con bánh mì, kẹo và quần áo vì mấy đứa nhỏ không phải dân Đức. Chúng cũng cho em vật thực và quần áo. Bây giờ em hối hận, tại sao bỏ làng Fantana, trốn quân Nga làm chi.
“Như thế được bốn ngày, em đang bịnh nên chờ mạnh để trở về nhà.
“Một tối có ai đó gõ cửa sổ, đó là quân lính Nga, chúng tông cửa, vô nhà, lục soát coi có đàn bà con gái nào khác không, rồi bắt em với con gái chủ nhà mới mười bốn tuổi, kéo đi. Bọn chúng cho chúng em uống rượu, chúng móc súng ra, dọa bắn nếu tụi em không chịu uống. Rồi chúng ra lịnh bảo tụi em lột trần. Em thà chết chứ không trần truồng trước mặt trẻ nít. Bọn lính bèn giựt và xé nát áo ngoài và áo sơ mi của em rồi cưỡng hiếp chúng em tới sáng. Tất cả bọn chúng đều lần lượt thay phiên thi hành những thủ đoạn dã man. Đoạn chúng đổ rượu vào miệng và lỗ tai em vì đã không chịu uống, rồi hãm hiếp em nữa.
“Anh Iani, anh thứ lỗi cho em, sao thuật cho anh nghe những chuyện ấy, vì em không muốn giấu giếm anh chuyện gì. Khi em tỉnh dậy, quân Nga mất dạng; các con thì xúm quanh em khóc, như em đã chết rồi.
“Đêm sau, cũng bọn lính cũ trở lại. Chúng bắt cô con gái chủ nhà và cưỡng hiếp chúng em nữa.
“Em mới dẫn con trốn dưới hầm để quân lính Nga không còn gặp được em, nhưng đêm thứ ba, chúng lại bắt gặp em dưới hầm và tái diễn chuyện tồi tệ mấy đêm trước, song em không biết gì cả, vì em đã ngất xỉu lúc chúng nắm lấy em.
“Thảm cảnh kéo dài hai tuần lễ không sót đêm nào. Em trốn trong vườn, trong nhà người lân cận, trong vựa lúa nhưng chúng đều tìm được, không bữa nào em thoát khỏi. Em nhứt định tự tử, song nhìn lại đàn con thơ em không nỡ bỏ chúng không mẹ, cha chúng nó không có đã là nhiều rồi. Chúng nó sẽ ra sao khi bơ vơ giữa đất lạ này? Vì con em không tự tử nhưng em đã chết từ lúc ấy. Để lánh xa quân Nga, em chạy về hướng tây, tới cùng chiếm đóng của quân Anh, rồi của quân Mỹ mà em ở hiện giờ, nhưng dọc đường quân Nga bắt được em nhiều lần và chúng cưỡng hiếp em ngay trước mặt trẻ con như với tất cả đàn bà chúng bắt được. Trước khi qua vùng quân Anh, em còn bị quân Nga giữ lại ba ngày ở biên giới. Chúng đã hãm hiếp em ngày và đêm, lần chót em mang thai. Đã năm tháng nay, em mang con chúng trong bụng.
“Em hỏi anh em phải làm sao, anh trả lời cho em rõ? Sự việc xảy ra như thế anh còn nhìn nhận em là vợ anh không, và chừng nào anh về với em? Em khóc, em viết thơ nầy cho anh, nóng lòng chờ tin tức anh để biết em làm thế nào?
SUZANNA

——————————————————————–

Đọc xong thơ, Moritz nắm chặt tờ giấy, im lặng hồi lâu. Anh nghe tiếng văng vẳng báo hiệu tới giờ ăn nhưng anh nằm ngửa, không nhúc nhích. Cái nhìn của anh, thân thể anh cho tới cách anh nằm đều thay đổi. Chẳng phải anh Moritz hồi nãy, anh Moritz thường ngày. Một người khác hẳn, tâm hồn và thể xác anh như bị nguồn điện chạy qua, anh không chịu đựng nổi, chỉ còn là đống tro nóng. Anh không còn là Moritz nữa, có ai lấy kim chích anh, anh cũng không hay biết. Anh tuy sống mà không đói, không khát, cũng không vui, không buồn.
Anh có thể khóc và cười một lượt vì anh không biết gì và cũng không còn thấy mình còn sống nữa.
Anh ngồi dậy, ra khỏi lều và bước đi nhưng anh không biết là đi đâu.
Anh đến gần hàng kẽm gai như thường lệ mà cũng không hay. Nếu anh có đi quá lằn mức cấm và bị bắn như Traian, anh cũng dửng dưng. Song anh không muốn đi lố mức, anh cũng không muốn vượt qua. Anh không muốn và anh cũng không mong muốn gì cả.
Một lát sau có hai người lính Mỹ cầm máy anh tới gần và muốn chụp ảnh anh.
Moritz không cử động và cũng không ngó họ, nhưng chừng thấy người thứ ba, anh giựt mình, kêu nho nhỏ.
– Strul! Sao anh lại tới đây?
Người lính Mỹ dừng lại, cầm máy ảnh ngó anh. Chính là Strul, tên Do Thái coi việc lương phạn ở Trại giam Roumanie, đã trốn qua Budapest với bác sĩ Abramovici và Moritz. Hai người ngó nhau và nhìn biết nhau.

Khi Moritz kêu Strul lần thứ hai thì gã vội lấy máy ảnh lên che mắt, như để chụp hình Moritz, rồi đi liền, không trả lời.
Moritz đứng đằng sau hàng kẽm gai ngó theo hai tên lính Mỹ với Strul bước lên xe Jeep chạy đi.
Lúc xe khởi chạy, Strul ngó lại Moritz nhưng ngượng ngịu, liền đưa mắt ngó chỗ khác.
Moritz không giận, nếu ngày khác chắc anh tức sôi lên vì một người bạn trong gian khổ lại làm mặt lạ với anh.
Nhưng bây giờ Moritz kệ tất cả.
Anh đứng một minh, cạnh hàng rào hồi lâu.
Có người vỗ vai anh, anh không quay lại.
– Anh Moritz vô sửa soạn đi.
Moritz xây lại, tưởng được thả ra, mắt sáng lên, mừng rỡ hỏi viên trưởng trại đã vỗ vai anh.
– Họ thả tôi ra phải không?
– Không đâu, anh bạn à!
– Vậy đi tới một trại giam khác sao?
– Đi Nuremberg.
Moritz lắc đầu, tỏ vẻ không cần. Đã từ lâu anh biết anh đương nhiên bị coi như một chiến phạm, như tất cả các quân sĩ S.S, đi tới Nuremberg để ở chung với các chiến phạm khác, như thống soái Georing, Rudolf Hess, Rosenberg, Von Papen, là sự thường tình. Có thể anh bị xử tử hình, bị xử giảo, cũng mặc.
Và anh vẫn đứng ngó ngoài kia hàng rào, tận chân trời xa xăm.
Viên trại trưởng đập mạnh vai anh và nói:
– Anh sẽ đi trong nửa giờ nữa.
Moritz không nhúc nhích.
Viên trại trưởng bảo:
– Đi gói đồ của anh đi, chỉ còn đủ thì giờ thôi, tới mười ba giờ phải sẵn sàng để tập hợp.
– Tôi không có đồ đạc.
– Anh không lấy gì theo hết sao?
– Không.
– Cũng không cần lấy mền anh nữa à?
– Không cần.
Viên trại trưởng có ý nghĩ, nếu Moritz không lấy mền thì hắn sẽ có hai cái, ngủ ấm hơn, song hắn gạt bỏ ngay ý nghĩ ấy, hắn nói:
– Anh nên lấy theo mền, tại khám đường tòa án Nuremberg lạnh và ẩm ướt lắm, anh phải có mền mới được.
– Tôi không cần gì hết.
– Thôi, anh đừng trễ nải. Giờ khởi hành nhứt định là một giờ trưa.
Moritz đứng yên, mũi giày để trên lằn trắng, chỗ mà tù nhân chỉ được phép bước tới đó thôi. Mũi giày cẳng mặt của anh bước tới giữa lằn trắng, Moritz nhìn tên lính Balan đang nhìn anh trên tháp canh. Tên lính đã đưa súng lên má và sắp sửa bắn. Nhưng Moritz không vượt qua lằn mức đó, anh cứ đứng, mũi giày dí qua dí lại một hồi.
Nửa giờ sau, anh đi Nuremberg với các chiến phạm khác.
Bức thư của Suzanna để lại trong lều, cùng với tất cả các vật dụng của Moritz, các bạn anh muốn đọc nhưng đành chịu vì thư viết bằng tiếng Roumanie, họ không hiểu gì.
Giấy của bức thư thật mỏng, họ bèn xé ra, chia nhau làm giấy hút thuốc.
Rồi họ ráp lại hút thuốc.

——————————————————————–

Đơn thỉnh nguyện số bảy, đề tài: Sự Công bình, hình phạt chiến phạm Iohann Moritz. (Đơn văn phòng nhận được sau khi người chứng đã chết)
Tòa án quốc tế Nuremberg đã quyết định, nhân danh 52 quốc gia, cho bạn tôi, Iohann Moritz là một chiến phạm.
Thật là một việc hay, từ khi ấn hành bản phán quyết, tôi không đi dạo chơi cùng anh trong sân nữa. Thật không đẹp mà lại còn bị khinh rẻ nếu làm bạn, hay đi chơi với kẻ chiến phạm.
Song Moritz coi thường bản án của tòa án quốc tế và coi thường tội ác của anh.
Vì thế nên tôi có đơn trạng này.
Moritz quả quyết trong đời anh không giết ai, dẫu là một con ruồi, thì không thể phạm tội được. Vậy là anh lầm to, trong lúc 52 nước đã chứng nhận tại tòa án quốc tế rằng anh phạm tội kia mà! Mortiz lại cho là anh không biết 52 nước nầy thì làm sao anh can gián được với 52 nước ấy. Luận điệu của anh ngớ ngẩn thật, tôi có đọc đến danh sách 52 quốc gia kết án anh. Có nhiều nước anh mới nghe lần thứ nhất trong đời anh và cũng không biết các nước ấy có mặt trên mặt đất nầy. Nhưng chuyện ấy đâu phải một cớ để chữa lỗi.
Moritz nổi giận lên khi thấy trong 52 nước kết án anh, có nước Pháp và Hy Lạp. Anh giận tái xanh và không tin những tội người ta gán cho anh, anh nói lúc trước anh có biết sáu người Pháp và đã cứu họ vượt ngục, anh biết một người Hy Lạp bị giam cùng trại với anh và anh đã chia bánh mỳ với hắn. Ngoài chuyện ấy ra anh không giao thiệp gì với nước Hy lạp, nhưng đây là mấy chuyện riêng tư, của cá nhân anh.
Hai nước ấy kết án anh là chiến phạm, lời phán quyết đã rõ rệt và xác thực.
Muốn cho Moritz nhận tội lỗi của mình, tôi đề nghị cho anh ở tù một năm trong mỗi nước, như thế anh sẽ biết tội phạm chiến tranh của anh và không còn thờ ơ nữa.
Nhưng chưa chắc anh đã sống thêm được 52 năm vì như các chiến phạm khác, anh đã yếu lắm rồi. Nếu anh chết trước thời hạn thì những nước chưa giam tù anh sẽ bị thiệt thòi, tôi đề nghị giảm xuống sáu tháng khổ sai của anh trong mỗi nước. Như vậy anh phải ở 26 năm tù cả thảy.
Nếu sau 26 năm ấy anh vẫn còn sống và thật đáng tiếc nếu anh chết không trả được nợ tù cho 52 nước đồng minh, tôi đề nghị còng anh dẫn đi mỗi nước một tháng trước khi đi vòng trở lại.
Như thế nước đồng minh nào cũng có phần mình, không ai bị thiệt thòi.
Và sự công bình được giải quyết, sự công bình là nền tảng trên đó thiết lập nền văn minh kĩ thuật Tây phương.
Tuy nhiên có vài xứ như Nga, Balan và Yougoslavie, không săn sóc tù nhân cho chu đáo, có khi còn bỏ quên họ trong khám nữa, tôi đề nghị trước khi dẫn đi, nên cân Moritz và kê khai rành mạch các bộ phận trong châu thân anh còn nguyên vẹn.
Mỗi xứ lãnh Moritz nơi tòa án Nuremberg và khi trả anh cũng phải trao cho tòa án nầy y như trong bản nhận lãnh, cân đúng số và các bộ phận y như trong bản kê khai.
Được như thế, Moritz sẽ còn nguyên vẹn cho mỗi nước trong 52 nước đồng minh dùng.
Xã hội kĩ thuật phương Tây có nguyên tắc không để vật gì hư hỏng.
Bổn phận của chúng ta phải đòi hỏi những nước kém văn minh hơn chúng ta, đừng sử dụng vật gì chúng ta giao phó như những kẻ dã man.
Sứ mạng của chúng ta là văn minh hóa toàn thế giới! Đó là trách nhiệm của chúng ta và chúng ta rất hãnh diện như thế.

PHẦN PHỤ
Rốt cuộc rồi Moritz cũng được ra khỏi trại giam.
Anh đã vắng mặt trong mười ba năm trường, trong thời gian ấy anh bị giam trong hàng trăm trại giam của nhiều quốc gia.
Hiện anh đã tìm được vợ con.
Lúc bấy giờ đã mười giờ tối. Đêm sum họp đầu tiên, Moritz ăn xong, chống tay lên bàn, ngó con cái.
Petre, thằng đầu lòng đã mười lăm tuổi rồi, Moritz ngắm nó một hồi lâu. Anh giụi mắt để chắc ý rằng anh không chiêm bao và anh cũng không làm sao tưởng được nó là con trai anh.
Thằng Petre mặc bộ đồ Mỹ, vải xanh, nó hút thuốc và cũng có cặp mắt giống cha.
Thằng Petre cũng vậy, nó không làm sao ngờ được người đàn ông ốm yếu, tóc hoa râm, ngồi trước mặt nó, mà từ trước tới giờ nó chưa hề thấy, lại là cha đẻ nó.
Nhưng đã ở chung một nhà, nó kiếm cách làm thân, nói:
– Tôi sẽ nói chuyện với ông chủ tôi và không chừng ông sẽ kiếm được việc làm cho ba trong hãng.
Moritz mỉm cười, Petre nói tiếp:
– Nếu tôi giới thiệu thì chắc chắn ông chủ bằng lòng, ông chẳng khi nào nhận người không thạo việc mà ba thì không rành nghề nào. Song nếu tôi nói là ba tôi, chắc ông sẽ cho một đặc ân.
Moritz ngó qua Nicolae, đứa con thứ của anh. Nó giống Suzanna, cũng trắng hồng và có cặp mắt dịu dàng như nhung.
Anh ngó tới đứa thứ ba, được bốn tuổi, nó không phải con anh, Suzanna có thai với lính Nga. Song, Moritz đã tha thứ cho nàng vì không phải lỗi ở nàng.
Moritz châm điếu thuốc khác, điếu thuốc Petre cho anh nguyên gói, để mừng anh trở về.
Anh đã mệt nhưng chưa buồn ngủ, trong phòng có hai cái giường, Suzanna ngủ với thằng bé trong cái giường nhỏ, Moritz ngủ một mình trong cái giường kia, hai đứa lớn trải mền ngủ dưới đất.
Thằng Petre nói:
– Hiện giờ tạm được, chúng ta sẽ kiếm thêm buồng hoặc mua thêm giường nữa.
Mấy đứa nhỏ trải mền và sửa soạn thay đồ ngủ.
Moritz ngồi tại bàn ăn, hai tay ôm đầu, ngó Petre và Nicolae đang thay đồ ngủ, chúng nó chúc anh ngủ ngon bằng tiếng Đức, anh muốn chúng nó nói tiếng Roumain hơn, nhưng chúng không rành.
Suzanna đặt đứa nhỏ trong giường, Moritz nghĩ thầm, “nó là con quân Nga”. Thằng nhỏ dễ thương đáo để, tóc có lọng, hung hung vàng.
Moritz không muốn ngó nó tuy hồi còn ở trại giam anh có viết thư nói sẽ coi nó như con.
Suzanna cũng không muốn anh ngó thằng bé, nàng thay đồ cho nó rồi đẩy nó vô giường, như muốn giấu diếm.
Nàng đứng giữa phòng một hồi, không biết làm gì.
Đoạn nàng lại ngồi tại bàn ăn, đối diện với chồng. Nàng biết Moritz mệt nhưng không dám bảo anh đi ngủ, nàng thấy có lỗi nhiều trong nhứng gì đã xảy ra, chồng nàng bị bắt, bị giam trong trại bao nhiêu năm cũng tại nàng. Tuy suy nghĩ vô lý, nhưng ý nghĩ quá mạnh, nàng không thể bỏ qua được.
Và còn chuyện quân Nga cưỡng hiếp nàng, lỗi cũng tại nơi nàng, vì thế nàng không dám nhìn cặp mắt Moritz và không dám mời anh đi ngủ.
Nàng đã biết Moritz về nên lo bữa ăn, giường ngủ. Anh về đến nhà, đói quá, ăn hết sạch đồ ăn trên bàn, hút hết nửa gói thuốc Petre vừa biếu. Bây giờ các con ngủ rồi, Suzanna đưa mắt ngắm chồng, gặp lúc Moritz đang ngó nàng, bốn mắt gặp nhau một hồi lâu không thể rời được.
– Phải cái áo em mặc đêm đó hay không?
Moritz ngó chiếc áo dài xanh, cổ hở, mà Suzanna đã mặc đêm cha nàng đánh chết mẹ nàng, chiếc áo nàng đã mặc lúc anh dẫn nàng về nhà nhưng cha mẹ không nhận, anh phải dẫn tới nhà mục sư Koruga xin ở đậu trong nhà bếp. Lúc đầu Suzanna chỉ có chiếc áo độc nhứt nầy. Chẳng có chiếc nào khác, cũng chẳng có áo sơ mi. Suốt mấy tuần lễ, nàng phải mặc chiếc áo nầy, ban đêm phải cởi ra để dành, ngủ trần. Về sau nàng may được mấy cái khác nhưng chỉ có cái nầy nàng cho là đẹp hơn hết và chồng nàng cũng thích nó nhứt. Chính lúc nàng mặc nó, hai vợ chồng mấy tuần lễ yêu đương sung sướng trong đời, Suzanna nói:
– Em không hề mặc nó từ khi anh bị bắt đi khỏi Fantana. Lúc anh bị chúng bắt, em thề khi nào anh về tới cửa, em mới mặc nó. Từ mười ba năm nay, đo đâu em cũng luôn mặc nó bên mình và trong mười ba năm nay em chờ anh mãi mãi, nhưng chưa bao giờ em mặc nó trước bữa nay.
Suzanna hổ thẹn cúi xuống, lúc sau nàng nhìn lên, bắt gặp Moritz đang ngó nàng. Anh định đặt nàng lên bắp vế và thủ thỉ bên tai nàng: “Anh mòn mỏi vì em”.
Nhưng anh không nói gì với nàng hết.
Anh đốt thêm điếu thuốc, ngó mấy đứa con lần nữa, rồi ngó Suzanna lần nữa.
Nàng không thay đổi nhiều, mặt hơi nhăn, da mất vẻ tươi thắm, tóc đã phai giống màu chỉ gai, vú xệ, nhưng nàng vẫn như ngày xưa, nàng Suzanna ở làng Fantana của anh. Mười ba năm, ví như một khoảng thời gian cho thuê. Moritz nói:
– Tôi muốn đi chơi một chút.
Nhưng anh không đứng dậy, muốn đợi Suzanna đứng trước, nàng hỏi:
– Em đi với anh được không?
Moritz không trả lời, song đợi Suzanna thay đồ, rồi hai người nhón gót ra ngoài, sợ tụi nhỏ thấy.
Họ hẹn thầm.
Xuống thang lầu, họ chạm nhau vài lần, không ai nói lời nào.
Trời xẩm tối, Moritz muốn đi xem đường cái, thị tứ hơn. Nàng dẫn anh đi.
Trước một của hiệu, Suzanna nắm tay Moritz chỉ cho anh đôi giày nàng muốn mua cho anh, rồi họ đi xa hơn, hai tay còn nắm nhau. Họ nhìn nhiều tủ kiếng khác, không nói đến chuyện chiến tranh, chuyện trại giam, chuyện nhà của ở Fantana hay các chuyện đã qua. Họ muốn hưởng một đêm đầy đủ cho riêng họ, không nhắc lại những kỉ niệm đau buồn.
Moritz nói:
– Anh chỉ nghỉ khỏe trong hai ngày rồi đi kiếm việc làm, thằng Petre chắc xin giúp anh vô hãng được.
– Anh cứ nghĩ vài tuần lễ rồi hẵng hay, anh còn yếu lắm. Em và thằng Petre kiếm sống đủ rồi, em giặt đồ và cũng có mối nhiều.
Nàng vừa nói vừa siết chặt tay Moritz, anh thích lối nàng khéo lựa lời nói để anh yên lòng nghỉ ngơi.
Hai người đến cửa ra khỏi thành phố, hai bên là đồng cỏ rộng rãi. Trời tối đen, Moritz nói:
– Giống ở làng Fantana quá!
– Thật vậy!

Họ tiếp tục đi dạo, cả hai đều nghĩ tới làng Fantana, đến tiếng chim mèo, Moritz nói:
– Đau chân quá, ta ngồi nghỉ một lát.
Hai người vô trong một vuông vườn và ngồi xuống. Moritz nằm dài, hai tay gối đầu, khoan khoái nói:
– Thật giống làng Fantana, lúc anh lăn qua, úp mặt xuống cỏ, và nói:
– Em hửi mùi cỏ coi, Suzanna! Giống mùi cỏ sau vườn sau nhà ba em. Em còn nhớ chớ? Miếng vườn mà chúng ta gặp nhau trong đêm.
Suzanna cúi xuống hít cỏ. Tim nàng đập mạnh, nàng không trả lời được, tiếng nàng quá run.
Moritz đặt tay lên vai nàng. Suzanna vẫn cúi xuống.
Họ yên lặng một lúc lâu, không cử động, hình như họ cách xa nhau, họ không xích lại gần.
Chỉ có Moritz còn để tay trên vai Suzanna. Moritz nói:
– Em biết không? Ở trại giam anh đã tưởng nhớ tới em nhiều.
Vài ngôi sao lấp lánh trên trời. Suzanna dòm theo, rồi cúi xuống gần Moritz mà anh không hay, nàng e thẹn, Moritz tiếp:
– Em thứ lỗi cho anh, anh ở trại giam mơ màng tới em luôn. Anh thú thật với em, vì ai có bị giam cầm mới thấy sự đó là thường. Anh mơ thấy em y như hồi hai ta trong vườn, sau nhà ba em. Mùa hè ấy là đoạn đời tươi đẹp nhất của chúng ta.
Suzanna cúi thêm lần nữa và đặt vai lên đầu Moritz, anh vuốt ve nàng, rồi nói:
– Em không sợ nhàu nát cái áo đẹp mà em đã giữ mười năm nay sao?
Nàng định nói cái áo không nhàu, nhưng Moritz nói tiếp:
– Tốt hơn em cởi nó ra, để trên cỏ như em đã làm ở Fantana.
Suzanna cởi áo, mau lẹ như không muốn để Moritz không nhìn thấy rõ nàng. Nàng nằm trần trên cỏ xanh, vóc mình nổi bật như tượng đá cẩm thạch. Nàng nằm cách xa Moritz, anh ôm ngang lưng nàng và lấy làm lạ, nói:
– Em cũng như lúc nào? Không thay đổi gì hết, vẫn còn là Suzanna của anh, như trong vườn làng Fantana. Làm cách nào em giữ được nguyên như vậy!
– Anh nói không đúng! Em già rồi, chỉ anh không thay đổi mà thôi.
Suzanna dang ra, Moritz ôm sát nàng lại.
– Em cũng dang ra như lúc xưa. Dường như không có mười ba năm xa cách lúc nào.
Nàng cũng có cảm tưởng như thế về Moritz.
Như thuở nọ, anh cũng vòng tay ôm ngang lưng nàng, anh cũng ôm nàng vào lòng, hôn hít lấp miệng nàng như ngộp thở. Nàng cũng cảm thấy ngực anh đè nặng nàng như cái áo giáp. Tất cả đều giống như thuở nào.
Suzanna nói:
– “Anh thơm mùi cỏ làng Fantana quá, anh còn giữ mùi cỏ rơm ấy luôn.
– “Em cũng vậy, em chỉ nhớ tới anh mà thôi. Em xin thề, ngày đêm em nhớ tới anh luôn, với tất cả tâm hồn, em xin thề với anh. Anh là vừng đông, là mặt trời, là chồng yêu quý của em. Chỉ một mình anh mà thôi.
Moritz biết nàng không nói dối, nàng chỉ riêng cho anh, một mình anh mà thôi, anh đoán điều này trong nguồn hơi nóng khắp châu thân nàng, trong nhịp tim thổn thức của nàng và lời nói đầy yêu thương nồng cháy của nàng bên tai anh.
Moritz cảm biết anh là mặt trời, là vừng đông của nàng và nàng chỉ biết tưởng nhớ và trông chờ anh. Moritz cảm thấy những gì xảy ra trong mười ba năm qua vụt tan đâu mất. Và vợ chồng sum họp, giống như trước, chỉ hai vợ chồng với nhau. Và một tương lại rực rỡ hiện ra trước mắt họ là cuộc đời.
Mortiz không còn lo sợ cho kiếp sống mình nữa.
Trời chưa ngừng sáng hai người đã dậy, họ thấy bẽn lẽn, Suzanna nói:
– Ta không còn trẻ như mười hai năm trước, ta nên về nhà sớm hơn.
Moritz cười, hai người đồng ý đêm sau sẽ trở lại chỗ nầy, Moritz nói:
– Và các đêm kế tiếp nữa, chúng ta nên trở lại chỗ nầy. Chỉ nơi đây mà thôi, nơi đây thật giống làng Fantana. Anh có cảm tưởng như chúng ta ở tại quê nhà và trong khoảng thời gian đã qua không có chuyện gì xảy ra.
Vợ chồng tươi cười về nhà, họ hết xa lạ với nhau và họ cũng hết hổ thẹn, nhiều lúc anh vòng tay ôm ngang lưng nàng và nàng vẫn để yên. Moritz nói:
– Em biết không, anh không thấy mệt mỏi chút nào. Sáng mai, anh sẽ theo thằng Petre đi kiếm việc làm. Chờ đợi làm chi? Ta có thể mướn được hai căn phòng. Anh đi làm có tiền, chúng ta sẽ được sung sướng.
Suzanna muốn Moritz nghỉ ngơi cho khỏe đã, nhưng Moritz đã nhứt định, anh nói:
– Ngày mai anh đi với thằng Petre, mười ba năm nay anh có nghỉ ngơi gì đâu, mà toàn làm công việc nặng nhọc, anh quen rồi.
Trước một cửa hàng, hai người dừng lại, cửa kiếng còn sáng trưng.
Moritz nói:
– Tiền anh làm được kì đầu, anh sẽ mua cho em xâu chuỗi hột trai này, xâu đỏ đó, em đồng ý không?
Nàng ngó xuống giá tiền, rồi nhìn Mortiz, không biết trả lời làm sao. Giấc mộng Moritz được trở về, mua cho nàng một xâu chuỗi để thành sự thật. Nàng nói:
– Nếu mai anh làm liền được, thì thứ bảy này anh mua xâu chuỗi cho em.
Khi hai người về đến con đường vô nhà thì trời sáng, Moritz ôm ngang Suzanna vào lòng rồi nói:
– Anh không hôn em ở nhà được vì có mấy đứa nhỏ, chúng nó sẽ cười mình. Chúng nó tưởng mình già rồi, nhưng chúng mình chưa già. Có phải mình chưa già không em.
Trước nhà có xe cam nhông, đèn pha sáng chói.
Tim Moritz đập mạnh, anh sờ giấy tờ trong túi, tuy anh có giấy tờ hợp lệ nhưng anh hơi lo. Chiếc xe cam nhông giống xe trại giam và đèn pha cũng sáng như vậy.
Moritz biết tất cả giấy tờ anh đều đủ phép, anh cất đủ trong lòng mình, và tất cả đèn pha đều chói sáng như nhau, nhưng anh sợ.
Suzanna hơi:
– Tại sao anh run vậy nè?
Moritz không đáp, kéo nàng bươn bả vào nhà, khi lên nấc thang, gặp hai viên hiến binh vừa trong phòng anh đi xuống. Họ đã đánh thức mầy đứa nhỏ và dặn thằng Petre lo sẵn đồ đạc, chừng 50 kí mỗi người, đúng bảy giờ sáng, đứng chờ ở trước nhà.
Nhưng lúc gặp Moritz ở ngoài, sẵn dịp đó, họ nói:
– Đúng bảy giờ sáng ngoài cửa nghen.
– Các ông định đưa chúng tôi đi đâu? Suzanna hỏi.
– Vì biện pháp chính trị, các ngoại kiều ở miền đông châu Âu đều bị giam giữ, bởi mấy nước này đang gây chiến tranh với đồng minh Tây phương. Nhưng không sao đâu, các người sẽ được sống sung sướng trong trại, ăn uống như dân Mỹ. Chỉ một sự đề phòng thôi, đừng sợ gì hết, không ai bắt bớ các người đâu.
Trong đêm đó, Mortiz muốn trốn.
Anh đã được mời một lần để thuật lại vụ anh cứu mấy tù binh Pháp cho thiếu tá đô trưởng nghe. Lúc đó anh tin thiệt. Và vì thế anh bị bắt giam trong mười mấy năm vừa rồi. Bây giờ anh không tin ai nữa hết, anh đeo túi dếch anh vừa mang từ trại giam về mười tám giờ trước, và đánh thức mấy con dậy để từ giã.
Thằng Petre cười khi thấy cha nó muốn trốn, nó nói tiếng Anh thông thạo và là một kẻ thân Mỹ nhiệt liệt.
– Ba muốn đi đâu? Ba thiệt thà quá, tôi biết rõ người Mỹ, tôi có một số đông bạn Mỹ; mỗi buổi chiều chúng tôi đi chơi với nhau. Khi người Mỹ nói không phải là bắt bớ, ta nên tin họ. Và nếu chỉ là một biện pháp chính trị, chúng ta sẽ có lương thực Mỹ để ăn, có cafe ngon, thuốc lá điếu, bánh kẹo. Chúng ta sẽ không bị bắt làm việc, ai dại gì đi trốn, ba chưa hiểu người Mỹ mà.
Moritz nghĩ tới những điều anh đã biết, đã đau đớn chán chường và đã thấu khổ sở, anh ngó thằng Petre. Anh không muốn phá tan ảo mộng của nó và không muốn nói thiệt với nó những gì mình đã biết.
Anh cởi túi dếch, để trên bàn, anh tự nghĩ không biết trốn đi đâu? Trốn quân Mỹ thì gặp quân Nga, mà ở với quân Nga còn khổ sở hơn, không phải anh tin lời thằng Petre, anh hiểu thế nào rồi, nhưng anh đã mòn sức, không còn đủ lực để đi trốn. Anh không còn cách nào khác hơn là ở lại, ở lại để bị bắt một lần nữa. Anh nói:
– Mầy có lý, ai dại gì đi trốn.
Petre vỗ vai anh, thân mật nói:
– Cha con ta sẽ tình nguyện xin nhập ngũ trong quân đội Mỹ. Chừng đánh quân Nga xong ta sẽ trở về Roumanie. Trận giặc văn minh chống dã man mà, ta phải tình nguyện mới được.
Moritz không nghe thêm, trí anh đang nghĩ tới những hàng dây kẽm gai ở Dachau, Zicgelheine, Koruwestem, Darinstadt, Ohrdruf, Ziegelheim, những hàng kẽm gai của ba mươi tám trại giam mà anh bị giam cầm trong mấy năm chót nầy, những nơi mà mục sư Koruga, Traian đã chết và anh suýt bị chết đói.
Anh cảm thấy như mấy dây kẽm gai đảm thấu tim anh. Anh nghĩ thầm: “Mới tự do chỉ được có mười tám giờ, bây giờ phải vô trại giam trở lại. Lần này không phải bị bắt bởi là dân Do Thái, Roumanie, Đức, Hong grois, hoặc lính S.S., mà vì là kiều dân một nước Đông bán cầu”. Nước mắt Moritz tuôn trào.
Thằng Petre hỏi:
– Sao ba không sửa soạn hành lý đi?

Nó vui thích được ra đi lắm. Moritz đáp:
– Ba sẵn sàng. Từ mười ba năm nay, ba dời chỗ nầy đến trại giam khác biết bao lần rồi, nên lúc nào ba cũng sẵn sàng. Rồi con cũng sẽ tập quen với mấy trại giam. Ba thương hại cho con, song làm đàn ông, ai ai cũng phải chịu như vậy, vì từ rày về sau, họ chỉ thấy toàn trại giam, hàng rào dây kẽm gai, và có xe nhà binh hộ tống, ba đã trải qua một trăm lẻ năm trại giam, sắp tới đây là trại giam thứ một trăm lẻ sáu. Khổ thân ba làm sao! Vừa mới được thả có mười tám giờ! Biết đâu ba không có lấy một giờ tự do trước khi chết.
Moritz ngó Suzanna và nói:
– Nếu như thế thật tốt đẹp, bây giờ anh có thể chết được, không luyến tiếc. Anh không ngờ anh được sống những giờ tươi đẹp, hạnh phúc như thế, thật như hồi ở làng Fantana, phải không Suzanna?

ĐOẠN KẾT

– Bà West, tôi muốn nói chuyện riêng với bà!
Eleonora để tập hồ sơ trên bàn, ngó trung úy Lewis. Ông đang ngồi tại bàn giấy, chân tréo mảy, ưỡn ngực dựa lưng ghế, hút thuốc.
Trung úy Lewis là trưởng phòng Phòng tuyển mộ ngoại kiều đến tình nguyện xin vô quân đội Mỹ, Eleonora là nhân viên và là thông dịch viên tại phòng nầy. Nàng làm việc từ sáu tháng nay, dưới quyền trung úy Lewis.
Nora ngó đôi vớ cuốn kèn quanh ống quyển trung úy, rồi nghĩ thầm:”tại sao hắn không mang giày kẹp vớ? Và tại sao hắn ngồi ghế như ngồi ngựa vậy? Giống bọn thủy thủ ở bến tàu. Vậy mà hắn cũng là con nhà có giáo dục, cũng xuất thân từ đại học, dầu hắn có tự do quá mức đi nữa hắn cũng không được phép ở phòng văn, đưa cặp giò trước một người đàn bà như thế này!”
Nàng thấy như bị tát tai khi trung úy bắt tay nàng mà miệng còn ngậm điếu thuốc, hoặc mỗi lần quăng một hồ sơ lên bàn cho nàng, như ném miếng xương cho một con chó.
Trung úy Lewis không bao giờ nghĩ Nora nghĩ gì tới mình, trái lại còn tưởng nàng phục mình lắm. Nhưng đôi mắt nhìn của ông vẫn còn ngượng nghịu.
Nora đáp:
– Tôi xin nghe ông!
– Bà West có bằng lòng làm vợ tôi không?
Trung úy ngồi bật ngửa, xích đong đưa trên ghế, chiếc ghế chỉ còn lại hai chân. Nora trả lời:
– Tôi không ưng làm vợ ông!
– Vậy bà có dự tính nào khác sao?
– Không có, nhưng câu trả lời của tôi là: không bằng lòng.
Nora dở tập hồ sơ ra song không làm việc được, mắt ngó giấy tờ mà trí ở đâu đâu.
Nàng ở tù trong hai năm, rồi vô cớ được thả ra, cũng vô căn có, như lúc bị bắt.
Khi ra tù nàng hết tiền bạc, chẳng còn áo dài, nữ trang nào, đến nhẫn cưới cũng không, tất cả đều bị khám xét lấy hết. Tiền gửi các ngân hang nước ngoài cũng bị tịch thu. Nàng nghèo xơ xác, nàng được cho hay, Traian chết, tự tử, chỉ có thế. Nàng tuyệt nhiên không biết gì khác hơn, nàng không thể trở về Nga, cũng không đi đâu xa hơn được, vẫn còn ở Đức. Nàng làm việc cho một tờ báo, giữ phần biên dịch bài vở. Rồi có lịnh bắt giam tất cả kiều dân ở Đông bán cầu, chiến tranh tuyên cáo, nàng đương nhiên bị bắt giam lại. Nhưng không phải như trước, hiện giờ nàng làm tại văn phòng tuyển mộ dân ngoại quốc tình nguyện nhập ngũ. Nàng ở trong trại giam, có tiền lương và được nuôi ăn. Ngoài ra lúc rảnh nàng tiếp tục viết tiểu thuyết “Giờ thứ hai mươi lăm” của Traian chưa hoàn thành. Nàng có tìm giữ được trong vali bốn chương đầu, mà nàng cho là phần chính của quyển sách. Nàng không nghĩ gì tới tương lai, chỉ cốt viết cho xong truyện. Đúng ra đây không phải một kế hoạch tương lai. Nàng để hết tâm trí vào việc mà nàng ưa thích. Nàng ráng viết theo giọng văn của chồng và ráng hoàn thành cuốn tiểu thuyết như chính Traian làm công việc này.
Như thế, tại mỗi trang nàng viết, nàng có cảm giác lúc nào cũng gần Traian, cũng ở kế bên chàng, và nàng có cảm tưởng như hai người cùng viết chung. Lúc trước Traian có phác họa kĩ càng đại ý cuốn tiểu thuyết, nàng cố gắng theo đúng y hệt ý tưởng của chàng.
Trung úy Lewis suy nghĩ một chặp rồi nói:
– Được, nhưng tôi có thể biết tại sao bà không bằng lòng không?
– Nếu ông tha thiết lắm thì tôi xin trả lời, tại chênh lệch tuổi tác.
Trung úy thật tình cười lớn và nói:
– Thật vô nghĩa, tôi lớn hơn bà có một năm, tôi đã xem giấy tờ của bà. Có chênh lệch gì đâu nào, trái lại là khác, bà khéo vẽ chuyện!
– Ông lầm rồi!
– Bà nói chơi sao? Bà mấy tuổi?
– Nói chuyện khác đi ông!
– Không, bà phải nói tuổi thật của bà trước đi.
– Không ai lại hỏi tuổi người đàn bà bao giờ, nhất là gặn đi gặn lại như vậy! Song tôi có thể nói cho ông nghe. Tôi được chín trăm sáu mươi chín tuổi. Và ông nên nhớ về tuổi tác, đàn bà thường nói ít hơn số tuổi thực sự của họ. Đúng ra, tui còn già hơn nữa.
Trung úy cười ngất rồi nói:
– Phải đấy, thưa bà Bành tổ.
Nhưng Nora không cười, trung úy tưởng nàng sắp ưng thuận, song nàng quả quyết lặp lại tiếng không, nàng nói:
– Ông Lewis đừng giận, tôi không thể nào ở chung với một người như ông trong hai bốn giờ.
– Tôi đã nói vì chênh lệch tuổi tác. Ông là một thanh niên hiền hậu, dễ thương và ích kỉ, nói tóm lại, như tất cả thanh niên Mỹ. Còn tôi là người đàn bà của một thế giới khác.
– Tôi không hiểu.
– Tôi biết ông không hiểu nên mới không giải thích. Tôi có với tôi cả ngàn năm kinh nghiệm của giống nòi, đã hi sinh, đau khổ, một ngàn năm đã đạo luyện cho tôi trở thành như ngày nay, còn ông, ông chỉ có cái hiện tại và tương lai, và có lẽ tương lai. Tôi thêm tiếng có lẽ không phải vì tôi nghi ngờ, nhưng vì chưa ai chắc chắn nơi tương lai được.
– Thật là ngụy biện.
– Thì ông nghe tôi đây, ông Lewis. Sau khi nghe được lời tỏ tình văn hoa của Petrarque, Goethe, Lorord Byron, Pouchkine, sau khi nghe tiếng nói yêu thương của Traian, sau khi nghe lời ca ngợi tình ái của những chàng thi sĩ thời xưa của nước Pháp, và thấy họ quỳ gối dưới chân tôi, như với một bà hoàng, sau khi thấy vua chúa, chàng hiệp sĩ chết vì tôi, sau khi nói chuyện tình ái với Valery, Rilke, D’Annunzio, Eliot, làm sao tôi có thể coi nghiêm trang được chuyện ông xin cưới tôi, mà ông thốt ra như tạt vào mặt tôi, cùng một lúc với làn khói thuốc nơi miệng ông?
– Vậy một người muốn cưới bà thì phải là Goethe, lord Byron hoặc Petrarque sao?
– Không phải vậy, cũng không phải đợi là Rilke hoặc Pouchkine mới hỏi cưới một người đàn bà. Song muốn kết hôn với một người nào, điều nhất thiết là phải yêu họ.
– Mà chúng ta đã hoàn toàn đồng ý về điều này rồi, ai nói là tôi không yêu bà?
Nora mỉm cười nói:
– Yêu thương là một tình say mê, ông có nghe tôi nói đến, hay ít nhất đọc ở đâu rồi chăng?
– Phải, tôi hoàn toàn đồng ý, yêu đương là một tình say mê.
– Nhưng ông tuyệt nhiên chẳng thấy say mê, và không phải một mình ông, không một người nào của xã hội văn minh có được một mối tình say mê cả. Ái tình là mối tình cao quý nhất, chỉ có được trong xã hội mà mỗi người đều được kính trọng, mỗi cá nhân được xem là độc nhất và không thể thay thế. Xã hội của ông lại cho con người có thể thay thế dễ dàng. Ông không cho mỗi cá nhân, mỗi người đàn bà mà ông yêu là một con người duy nhất do tạo hóa tạo ra đâu. Ở xã hội các ông, mỗi người chỉ được phân ra từng loại hạng. Dưới mắt ông, người đàn bà nay hay người đàn bà khác đều như nhau cả.
“Với quan niệm đó, ông không thật tình yêu thương được. Những tình nhân của xã hội chúng tôi biết rằng nếu họ không chiếm được trái tim người đàn bà họ yêu quý, thì họ không thể yêu người khác được. Vì thế, lắm khi họ tự tử vì người yêu. Tình yêu của họ bị từ chối thì không thể thay thế được bằng tình yêu của người khác. Người đàn ông nào yêu tôi thật tình phải cho tôi cảm giác tôi là người duy nhất đem được hạnh phúc cho họ. Chỉ một mình tôi thôi, họ phải chứng tỏ tôi là người độc nhứt, không còn người thứ hai trên mặt đất này và tôi phải được xác nhận chuyện ấy. Người đàn ông nào không làm cho tôi có cảm tưởng tôi là duy nhứt, không thể thay thế được là chưa thật yêu tôi. Và người đàn bà nào chưa được sự xác nhận của người mình yêu thì chưa phải là yêu thực sự. Và nếu tôi không được người đàn ông thực sự yêu tôi thì tôi không kết hôn với người đó. Ông có chứng tỏ được như thế không, ông Lewis? Ông có tin chắc đối với ông tôi là người đàn bà duy nhứt mà không người đàn bà nào thay thế được chăng? Không, ông tin chắc nếu tôi từ chối ông sẽ kiếm người khác làm vợ ông, mà nếu người ấy từ chối nữa thì ông sẽ tìm người thứ ba, phải vậy không?
– Phải, nhưng tôi sẽ tiếc bà đã từ chối tôi, bà nên tin lời nói danh dự của tôi. Tôi vẫn tiếc mãi.
– Thôi! Tốt hơn là ta nên làm việc đi ông.
Nàng mở hồ sơ ra và nói:
– Trong trại giam ai cũng xin đăng tên, luôn cả con nít, đàn bà và ông già nữa, họ đều xin tình nguyện, họ muốn chiến đấu bên cạnh ta.
Nàng mỉm cười, nàng nhớ đến hàng ngàn công nhân ngoại quốc ở Tây Âu. Tất cả đều xa lánh sự tàn bạo của quân Nga, chạy trốn bên phía Mỹ, Anh hoặc Pháp. Họ cũng không nghĩ chạy theo hướng nào họ chỉ biết chạy trốn quân Nga, trốn sự tàn bạo dã man, tránh khủng bố hoặc giết chóc. Họ nhắm hướng nào không có quân Nga nữa và họ nhắm mắt chạy theo hướng ấy. Họ chỉ biết không được quay gót trở lại, bởi sau lưng là đêm tối, là đẫm máu. Sau lưng họ, là khủng bố, chém giết. Họ ôm chằm lấy vùng đất này, nơi không còn quân Nga nữa. Họ quỳ gối ôm chằm vùng đất đã bao dung họ và gọi đó là lãnh thổ của hứa hẹn, của hi vọng, họ ôm chằm lấy nó, không cần biết là nơi nào, cũng không cần biết nó sẽ ra sao?
Hễ là đất không có quân Nga là được, không kể dân nước nào ở hoặc chiếm đóng.
Họ không còn muốn thấy người Nga nữa.
Người Mỹ bắt giam họ nhưng họ không oán hận, vẫn yên lòng ở vùng đầy hứa hẹn bởi họ chẳng đòi hỏi gì hơn là tránh khỏi móng vuốt của quân Nga. Và khi đã thoát được, kiếp sống họ có ra sao nữa họ cũng không cần. Vì thế họ không giận khi quân Mỹ bắt họ, dầu quân Mỹ có giết họ, họ cũng không phản kháng. Và bây giờ trận giặc thứ ba vừa mới khai hấn. Dân tị nạn đã mệt mỏi, đói khát và bị giam cầm.
Họ muốn lương thực, được nghỉ ngơi, có công ăn việc làm và được tự do. Họ không phản đối chẳng được mấy nhu cầu kể trên, vì họ được xa lánh quân Nga là điều cần thiết nhất cho họ rồi.
Người Mỹ hứa trả tự do cho những ai tự nguyện nhập ngũ vào đạo binh Tây phương, nên tất cả đàn ông đều tình nguyện, chẳng phải để đánh giặc, mà để khỏi bị nhốt, khỏi bị chết đói.
Trung úy Lewis nói:
– Họ hoan hôn nhiệt liệt! Chính nghĩa của trận giặc Tây Âu chống dã man Đông Âu được cả thế giới này chấp nhận. Ai ai cũng nhận định giờ quyết liệt đã đến với họ, hoặc chết hoặc thắng trận. Chiến tranh này sẽ đánh dấu cho kỉ nguyên mới trận giặc duy nhứt của lịch sử! Tây Âu văn minh chống Đông Âu dã man. Thật là thế giới chiến tranh, trận thế giới chiến tranh đầu tiên trong lịch sử nhân loại.
Trung úy xoa tay nói:
– Thật là hạnh phúc và danh dự được tham gia trận giặc nầy. Phần thắng chắc về ta rồi, cả thế giới được văn minh hóa. Chẳng còn chiến tranh nữa; từ rày về sau, chỉ còn thịnh vượng, tiến bộ và tiện nghi an lạc thôi.
Nora mỉm cười, trung úy hỏi:
– Hình như bà không hoan nghinh? Tôi thấy bà không hăng hái tán thành chính nghĩa của Tây phương. Bà có cảm tình với cộng sản sao? Bà là người duy nhứt còn dè dặt, người duy nhứt không hoan nghinh.
– Không ai hoan nghinh cả, chỉ có ông thấy họ hoan nghinh thôi!
– Mấy người tình nguyện kia không phải là hoàn toàn chống cộng sao?
– Phải, chống cộng, nhưng chỉ có bấy nhiêu thôi, nghĩa là họ muốn có tự do, muốn không còn cảm thấy không khí khủng bố, không còn muốn bị tra khảo, tù đày, đói rét, tàn sát nữa. Nhưng họ không phải vì chính trị, họ chỉ lẫn trốn cảnh giết chóc, khủng bố và nô lệ thôi.
– Bà còn muốn gì nữa, như thế họ hoàn toàn hoan nghinh chính nghĩa của Tây phương rồi; nên họ mới tình nguyện đăng tên, cùng chúng ta chiến đấu để đem lại tự do, yên ổn, sự che chở và nền dân chủ.
– Ông đừng say sưa với những danh từ, ông Lewis à! Chiến tranh mà ông cho là trận giặc thế giới thứ ba này không phải là trận giặc Tây Âu chống với Đông Âu. Và thật ra không phải là trận giặc, dẫu rằng trận tuyến trải ra khắp thế giới, từ Tây sang Đông. Trận giặc này chỉ là một cuộc cách mạng trong nội bộ xã hội kĩ thuật Tây phương mà thôi; một cuộc cách mạng riêng cho Tây phương.
– Nhưng chúng ta chống Đông Âu, chống cả cùng châu Âu miền Đông.
– Ông nói sai rồi! Tây phương các ông chỉ xung đột với một ngành trong nền văn minh các ông thôi.
– Chúng tôi chiến tranh với nước Nga.
– Nước Nga, sau cuộc cách mạng cộng sản đã trở thành một ngành tiên tiến nhứt của nền văn minh kĩ thuật Tây phương. Nước Nga mượn tất cả lí thuyết của Tây phương và chỉ đem thực hành mà thôi. Nước Nga đã tiết giảm con người xuống con số không, như đã học của Tây phương. Nó đã biến xã hội thành một bộ máy khổng lồ như đã học của Tây phương. Chỉ có nước Nga mới bắt chước Tây phương được, như một giống dân dã man mọi rợ có thể làm. Trong xã hội cộng sản những chuyện hoàn toàn do quân Nga đem tới là sự cuồng tín và dã man, và chỉ có thế thôi. Ở Nga sô trừ đặc tính khát máu và cuồng tín ra tất cả đều do Tây phương hết. Và các ông chỉ chống lại phương diện ấy của nền văn minh Tây phương, chống ngành cộng sản của xã hội kĩ thuật mà thôi. Và vì thế trận chiến tranh thế giới thứ ba này chỉ có thể là một cuộc cách mạng nội bộ, nó đã bùng nổ và tiếp tục diễn tiến trong xã hội kĩ thuật Tây phương. Nhóm Đại Tây dương và Âu châu trong xã hội kĩ thuật Tây phương chống với nhóm cộng sản Tây phương. Đây là một cuộc chiến nội bộ phe phái, hai giai cấp trong một xã hội, hoặc nếu ông muốn một cuộc cách mạng giai cấp, y như cuộc cách mạng giai cấp trung sản năm 1848. Đông phương không dự vào cuộc cách mạng nội bộ Tây phương. Trừ xã hội Tây phương, không ai dự vào cuộc cách mạng nội bộ này cả. Ông Lewis à, một khi cuộc cách mạng ấy hoàn toàn Tây phương thì nó không phục vụ con người. Vì xã hội Tây phương không có con người.
– Tôi không hiểu.
– “Dễ hiểu lắm, quyền lợi của xã hội Tây phương không phải là của con người, mà là ngược lại. Trong xã hội kĩ thuật Tây phương, con người sống như mấy giáo đồ đầu tiên thuở xưa trong hầm mộ, trong khám đường, ngục tối, ngoài lề xã hội. Họ trốn tránh lẩn lút, không được phép ra giữa công chúng. Họ không được phép giữ chức vụ hành chánh ở bất kì đâu, nhứt là trong văn phòng vì xã hội văn minh các ông đã thay thế bàn thờ bằng văn phòng.
“Người mà còn thật là người thì phải trốn tránh, kẻo không sẽ bị bắt buộc phải hành động theo luật lệ kĩ thuật, theo luật lệ của máy móc.
“Con người bị giảm còn một khuôn khổ xã hội và bị biến thành công dân, nghĩa là không còn là con người nữa.
“Xã hội kĩ thuật không biết đến con người, mà chỉ biết đến họ trong hình thức công dân mà thôi.
“Và một khi không biết tới họ thì làm sao có cuộc cách mạng vì họ được.
“Vì tính cách đặc biệt Tây phương, nên cuộc cách mạng hiện tại xa hẳn với quyền lợi con người về phương diện cá nhân.
“Con người từ lâu đã trở thành một thiểu số vô sản trong xã hội văn minh các ông, cho nên dầu phe nào thắng trận đi nữa, thì con người vẫn là phần tử vô sản trong khung cảnh xã hội.
“Trận giặc hiện tại là cuộc xung đột giữa hai hạng người máy, kéo theo sau chúng những nô lệ sinh hoạt, những người nô lệ sống bằng xương bằng thịt.
“Con người ngày nay không thể kể như có tham gia vào chiến tranh đang xảy ra, cũng giống như người nô lệ chèo các chiến thuền La Mã thời xưa, ta không thể kể họ đã tham gia vào chiến tranh đế quốc La Mã được. Họ chỉ làm công việc mang xiềng xích của trận giặc, mà mắc bị xiềng thì làm sao đánh được.
– Tù nhân ở trại này đến đăng tình nguyện không phải tự ý họ sao? Bà quả quyết liều lĩnh quá, tôi không phải hăm dọa bà nhưng tôi kịch liệt phản đối bà. Mỗi người tình nguyện tới đây đều do họ muốn cả. Bà có dám chắc chúng tôi ép buộc một ai làm chuyện đó không? Bà đã chứng kiến cảnh thất vọng của những kẻ chúng tôi buộc phải từ chối, họ hăm dọa sẽ tự tử nếu không được đăng tên. Vây không phải tự ý họ sao? Không phải họ hoan nghinh à. Họ còn cuồng tín hơn chúng tôi nữa. Họ coi như bị hình phạt nặng nề, khi chúng tôi từ chối thâu đơn họ. Có phải vậy không bà West?
– Họ không còn lối thoát nào nữa, họ bị nhốt trong xà lim khám đường, tứ bề lửa cháy và chỉ còn một cửa ra được. Cửa ấy là những đơn trạng mà ta tiếp hàng ngày tại phòng này. Mỗi lá đơn là một tiếng kêu vang tuyệt vọng để được ra ngõ còn lại của họ. Tất cả đều gởi đơn, không phải chỉ dân Đông Âu tị nạn, mà cả châu Âu.
– Không đúng, đơn ấy đâu phải lối duy nhứt thoát ra khỏi biển lửa, họ có thể qua bên Nga, tại sao họ không chịu đi mà lại đến ở với chúng tôi?
– Không, chỉ đường cho họ qua Nga nghĩa là biểu họ nhào vô vách tường cháy đỏ, họ chỉ có thể nhảy vào ngọn lửa và vào cõi chết mà thôi, và không một người nào muốn nhảy vào đống lửa, khi còn thấy cửa ra. Cửa đó, là chúng ta, họ xin chạy thoát nhưng không tìm xem cửa ấy dẫn tới đâu, họ không quan tâm tới, họ phải chạy vì ngộp thở. Thà chạy ra cửa còn hơn ở trên vách lửa cháy. Mà dầu biết qua khỏi ngưỡng cửa gặp lửa nữa, họ vẫn chạy ra, ít nhất cũng tránh bị cháy được một chút. Họ cố giữ hi vọng, một ảo vọng, như thế hơn không. Một ảo vọng, tuy vô lý cũng quan trọng lắm chớ.
– Bà xem tất cả ở khía cạnh bi đát, các người tình nguyện có nghĩ như bà đâu? Đơn được chấp nhận là họ mừng, họ liều thân chiến đấu cho chính nghĩa của chúng ta mà cũng là của họ nữa. Họ sẽ là những quân nhân ưu tú nhất của chúng ta đó. Bà mở cửa ra và xem họ tranh nhau trước văn phòng thì biết.
“Có cả trăm, cả ngàn người xin tình nguyện. Tất cả đều hăng hái chiến đấu vì đại nghĩa của nền văn minh. Tất cả đều muốn xả thân cho cuộc đại thắng ngày mai.
– Không, họ tin tưởng nơi trận giặc này. Có thể họ không nghĩ như tôi, họ đau khổ quá nhiều. Họ không muốn nghĩ ngợi thêm, song họ cũng cảm thông, cũng đau đớn, cũng thất vọng như tôi.
– Thôi để cho thực tế trả lời bà West ạ. Tôi sẽ cho bà thấy cách họ hân hoan đăng đơn xin tình nguyện. Tôi sẽ lấy ví dụ, lựa đại trong đám đông nầy.
Trung úy đứng dậy, mở cửa, chỉ đám đông đang chờ chực phía trước, nói với Nora.
– Bà xem, hôm nay có 500 người chờ đợi, thử kêu người đứng đầu xem.
Trung úy cho người đứng đầu vô phòng văn. Người đàn ông không đi một mình mà có cả vợ và ba con, y đứng tuổi, tóc đen, hơi hoa râm hai bên màng tang, má hõm, cặp mắt to và đen, nhưng buồn và đẹp.
Nora ngó cặp mắt người nầy, rồi nói thầm: “Nỗi buồn nơi tâm hồn cao cả của y”.
Người đàn ông đứng trước mặt nàng là một người thợ nhưng đôi mắt lộ vẻ thông minh, có tinh thần.
Thứ tinh thần của một tâm hồn cao cả, nỗi buồn không phải riêng về thân xác, mà nhứt là về tinh thần.
Thiếu phụ đứng bên, mặc áo dài xanh, hơi rộng, tóc hung hung vàng đã điểm sương. Nàng còn đẹp lắm, đẹp chẳng những ở vóc điều mà còn vẻ anh hoa rực rỡ khắp làng da.
Nora muốn cười với nàng, như một người chị em song nàng cúi mặt xuống. Xem nàng buồn và sợ sệt.
Đứa con trai lớn có đôi mắt đen, giống mắt cha nó, nhưng không buồn mà láo liên, táo bạo nhìn Nora.
Đứa kia ngó xuống, lơ đãng như suy nghĩ chuyện gì, nó trắng hồng.
Đứa nhỏ hết, độ bốn tuổi, tóc quăn mắt xanh, Nora không biết nó là con trai hay gái nhưng nó đẹp như một thiên thần.
Trung úy nói với Nora.
– Đây là một gia đình muốn tình nguyện. Bà hỏi họ coi có nghĩ như bà hay không? Bà sẽ thấy không phải vì tuyệt vọng mà họ tới đâu, họ đến vì khao khát tự do và công bình, họ xin nhập ngũ vì muốn chiến đấu cho hòa bình và văn minh, họ ý thức lắm. Cứ hỏi họ những gì bà muốn biết, rồi bà xem.
– Không cần thiết, tôi không tìm thấy họ cảm nghĩ gì trong tâm khảm. Nỗi khổ tâm cả tôi cũng đủ rồi, xin đừng bắt tôi phải gợi chuyện đau lòng của kẻ khác. Ông cứ hỏi han họ như thường lệ, tôi không chú tâm đến.
– Tôi yêu cầu bà hỏi những gì bà muốn hỏi, chắc chắn bà sẽ đổi ý kiến.
– Cũng được.
Câu chót của trung úy như một lịnh truyền, Nora ngó người đàn ông cầm nón đứng trước cửa. Cặp mắt anh ngó lên, nàng hỏi:
– Anh tên gì?
– Iohann Moritz. Tôi xin tình nguyện với tất cả gia đình tôi. Xin bà chấp nhận cho. Tôi cầu xin chuẩn miễn vì tuổi tôi đã quá hạn như trong bảng quy định. Nhưng tôi thấy tôi còn khỏe mạnh, mấy đứa con tôi còn khỏe quá chưa đủ tuổi nhập ngũ nhưng chúng ngay thật và siêng năng. Chúng tôi chống cộng như quy định trong bảng yết thị. Chúng tôi tin tưởng vào sự chiến thắng của nền văn minh như yết thị đã rao, song chúng tôi không đủ tuổi như quy định trong yết thị. Vì vậy chúng tôi xin bà cho chúng tôi được chuẩn miễn. Vì bà không thâu nhận chúng tôi, chúng tôi sẽ chết mất. Chúng tôi không thể chịu đựng được nữa.
Thằng con trai lớn, có cặp mắt đen, nắm cùi chõ ba nó ra hiệu, nó muốn nhắc ba nó nói nhiều quá.
Moritz làm thinh, đỏ mặt, anh tự hối, phải chi đừng nói câu sau cùng.
Anh đã vụng về, có thể vì lẽ đó mà người ta không thâu nhận anh, anh tiếp:
– Chúng tôi thiết tha cầu khẩn bà cho chúng tôi được ghi tên. Chúng tôi làm lụng siêng năng và tính tình ngay thẳng lắm!
Thằng Petre dặn anh nói nhiều chuyện khác nữa nhưng anh không muốn. Anh không có lòng nào nói được là anh tin tưởng nơi Tây phương, nói văn minh và chi chi nữa. Anh không thể nói mấy chuyện ấy, miệng anh không thốt nên lời. Lúc ra về thế nào anh cũng bị thằng Petre giận hờn, nặng nhẹ với anh. Anh đưa cặp mắt van lơn ngó thiếu phụ, tóc hung hung đỏ, ngồi ở bàn viết, và thấy nàng cũng ngó anh.
Cả phòng im lặng.
Thiếu phụ có đôi mắt long lang, cái nhìn ấm áp, hiền hậu.
Vợ và con Moritz cũng đưa mắt ngó nàng, chờ đợi, nhưng nàng vẫn ngồi im, nhìn họ.
Trung úy Lewis ra khỏi phòng. Thiếu phụ lặng im một hồi, ngó người đàn ông trước mặt, rồi nói:
– Anh biết Traian Koruga không?
Moritz giật mình, đáp:
– Chúng tôi ở chung với nhau.
Anh không muốn nói ở chung một trại giam, thằng Petre nói dặn kĩ ở nhà rồi.
– Chúng tôi ở chung nhau cho tới ngày chót. Với ông Traian và mục sư Koruga. Tôi ở kề bên ông ấy lúc tai nạn.
Ngừng một lát, Moritz nói thêm:
– Thật là một người hoàn toàn tốt mà tôi được biết. Như một ông thánh sống vậy, bà cũng biết ông Traian nữa sao?
– Tôi là vợ Traian.
Moritz tái mặt, đứng dựa vào cửa. Anh muốn lấy khăn tay trong túi nhưng không có khăn, lại đụng một vật bằng thủy tinh, cặp mắt kiếng của Traian.
Hồi sớm mai nầy, anh lấy nó ra để làm cái bao da, sợ để trong rương cấn bể.
Anh cầm mắt kiếng trong tay giây lát rồi suy nghĩ, thấy không cần bao da làm chi vì anh không cất trong vali nữa.
Anh để cặp kiếng trên bàn, trước mặt Nora, nói:
– Đây là cặp kiếng của ông Traian.
Moritz nghẹn ngào, giọng khàn khàn, anh tằng hắng lấy giọng, rồi nói tiếp.
– Ông ấy đưa tôi, trước lúc chết, dặn tôi kiếm bà trao lại. Ông đưa cho tôi đúng trước khi ông……
Tiếng Moritz run run, không nói thêm được lời nào. Anh vội móc khăn tay, nhưng chỉ có miếng da để làm bao kiếng. Anh cầm lên, không biết để làm gì, nhưng cũng phải làm một cử động gì, anh liền để miếng da lên bàn, gần cặp kiếng, rồi nói:
– Tôi muốn làm cái bao kiếng, cho khỏi bẻ gẫy, trong trại tôi sẽ có thì giờ làm. Bà sẽ cất kiếng trong bao da, sẽ kĩ lưỡng hơn, nó không thể nào bể gẫy được.
Trung úy Lewis vô lại phòng, nói:
– Thế nào, bây giờ có nhận ra họ thiệt lòng và sốt sắng nhập ngũ hay chưa?
Giọng Nora nghẹn ngào, nàng tằng hắng rồi trả lời quả quyết:
– Đúng vậy, bây giờ tôi hoàn toàn công nhận ông có lý. Mấy người này đều khẩn khoản xin cho họ được chuẩn miễn về tuổi tác. Họ muốn xin nhập ngũ cả gia đình.
Trung úy thích chí, cười đáp:
– Bà cứ cho họ được miễn tuổi và làm giấy tờ cho họ đi. Tôi chụp ảnh tất cả gia đình nầy để đăng báo.
Trung úy bước lại gần đứa nhỏ hơn hết, vuốt tóc nó, rồi hỏi Suzanna:
– Đứa nhỏ nầy cũng chống Nga nữa phải không?
Suzanna cúi đầu, nhưng nghĩ phải trả lời một câu, nên đáp:
– Thưa phải, nó cũng chống quân Nga.
Nàng sợ Moritz nghe, nhưng anh đã nghe, nàng hối hận.
Nora điền vào mẫu đơn nhập ngũ rồi nói với Moritz:
– Chiều nay anh lại chỗ tôi ở, tôi cũng ở trong trại, chúng ta thong thả uống trà, nói chuyện yên tĩnh hơn. Anh sẽ thuật tôi nghe những gì anh biết về Traian.
Mắt Nora mờ lệ.
– Bây giờ anh trả lời câu hỏi của tôi để tôi ghi đủ trong sổ. Từ năm 1938 tới nay, anh ở đâu? Anh cứ nói thật hết đi, đơn anh sẽ được chấp nhận.
Thằng lớn hơn hết mỉm cười, sung sướng, thấy việc đã thành.
Đứa bé cũng vui vẻ ăn kẹo của trung úy cho, cười đưa hai hàm răng trắng nõn.
Suzanna thì cúi gằm mặt xuống.
Trung úy Lewis sửa soạn máy ảnh để chụp gia đình Moritz, trong lúc anh đứng biên thể thức nhập ngũ. Ông muốn tất cả phải có bằng chứng xác thật.
Moritz nói:
– Từ năm 1938 tôi ở trong trại giam Do Thái xứ Roumanie. Từ năm 1940, ở trong trại giam dân Rouman xứ Honggie. Năm 1941, ở Đức trong trại giam Hongrois. Năm 1945, ở trong trại giam của Mỹ. Tôi vừa được thả khỏi trại giam Dachau hôm kia. Mười ba năm trong trại giam, tôi được tự do mười tám giờ, rồi bị dẫn tới đây.
Trung úy Lewis xây máy ảnh về phía gia đình Moritz, kêu to lên:
– Cười đi!
Moritz ngó Nora, nghĩ đến trăm ngàn thước dây kẽm gai mà anh đã thấy. Anh tưởng như bao nhiêu cuộn kẽm đó quấn xung quanh mình anh.
Anh không ngó lên khi trung úy nói với anh, anh không hiểu tiếng Anh.
Anh nói tiếp:
– Đó là tất cả những gì xảy ra cho tôi, từ năm 1938 tới nay, toàn là trại giam, trại giam. Mười ba năm ròng rã tôi toàn ở trong trại giam.
Trung úy Lewis kêu lên:
– Cười đi!
Moritz biết những lời ấy nói với anh, anh hỏi Nora:
– Người Mỹ đó nói gì?
– Nó ra lịnh bảo anh cười!
Moritz ngó cặp kiếng Traian trên bàn. Anh có cảm giác thấy Traian té chết gần hàng kẽm gai. Anh nhớ đến cây số ngàn dây kẽm gai bao quanh các trại giam. Anh nhớ đến đôi chân bị cưa của mục sư Koruga. Anh nhớ tới những gì đã xảy ra mười ba năm trong các trại.
Anh ngó Suzanna, ngó thằng con nhỏ rồi mặt anh sạm lại. Hai hàng nước mắt tuôn trào. Bây giờ người ta ra lịnh cho anh cười làm sao anh cười được. Anh thấy sắp khóc to lên như đàn bà. Khóc vì tuyệt vọng. Thế là hết, anh không thể đi xa được nữa. Không người nào có thể đi xa hơn nữa.
Viên sĩ quan ngó Moritz, ra lịnh:
– Cười đi! Cười, cười đi!

HẾT

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: