Trang chủ > Uncategorized > Giờ thứ 25 – C

Giờ thứ 25 – C

Gheorghiu, Constantin Virgil

Thơ của Traian gởi cho cha:
“Raguse, Dalmatie, ngày 20.8.1944.
“Thưa Ba, con viết thơ nầy gởi bằng lối thông điệp ngoại giao. Xin Ba trả lời liền, đừng để trễ. Con sợ có chuyện xảy ra cho Ba. Ba có thể cười về sự lo sợ vô lý của con, hoặc cho con loạn thần kinh cũng được, nhưng con yêu cầu Ba hồi âm liền. Con muốn gấp biết Ba còn sống.
“Quyển tiểu thuyết của con tiến nhanh, tới chương thứ tư, đã đến giờ thứ ba, sau khi các con thỏ bạch chết. Các tên “nô lệ kỹ thuật” tàn phá tất cả trên đường đi của chúng. Các ánh sáng lần lượt tắt hết. Con người đang phiêu lạc trong cõi u minh mông muội, cận tử thần.
“Hôn Ba Má.
Hai con: Traian và Nora
——————————
Mục sư Koruga trả lời thơ Traian liền, cho hay ông và bà mạnh giỏi, tại làng Fantana tất cả đều như trước. Chỉ riêng Moritz vẫn chưa về, và không ai biết nó trở nên thế nào.
Ông biện lý Damian vô sân lúc mục sư đọc lại bức thư vừa viết xong. Ông về đồng nghỉ hai ngày với mục sư. Thường thường, mỗi tuần ông đều về chơi với mục sư. Hai người đi ra nhà bưu điện bỏ thơ.
Dọc đường, mục sư đưa thơ của Traian cho ông biện lý xem và nói:
—Traian rất lo sợ cho chúng tôi.
Ông biện lý đọc bức thơ và mỉm cười đáp:
—Anh Traian là thi sĩ. Anh cứ thêm thắt cho to chuyện. Chắc anh sẽ bịnh vì làm việc quá sức nhiều!
Trong tòa thị sảnh có nhiều người tụ họp. Xe của trạm phu chưa đi. Mục sư muốn đưa thơ gởi, nhưng người phụ trạm từ chối nói:
—Chúng tôi không nhận thơ gởi ra nước ngoài. Sáu giờ chiều nay, nước Roumanie đầu hàng. Xứ sở ta bị binh lính Nga chiếm. Vua có loan tin trên đài phát thanh rồi!
Mục sư cất thơ vô túi.
——————————
Chiều hôm ấy, thôn dân tựu trong sân nhà mục sư để hỏi ý kiến. Binh Nga đã vô thành kế cận, thiên hạ chạy về đồng trốn. Họ thuật lại nhiều chuyện ghê gớm. Đàn bà bị hãm hiếp, bị thắt cổ. Đàn ông bị bắn ngoài đường phố.
Mục sư bước ra bao lơn. Thôn dân buồn rầu lo sợ. Mục sư nói:
—Rồi người khác sẽ đến cai trị nước ta. Họ còn tàn ác hơn mấy người trước, vì họ là kẻ ngoại bang. Nhưng người sùng đạo phải biết rằng tất cả nền thống trị dưới trần đều tàn khốc, ta phải đau đớn chịu đựng. Chân lạc quốc chỉ là Thiên Đàng ở trên Trời.
Một dân làng hỏi:
—Ta có nên trốn trong rừng để chiến đấu chống kẻ xâm lăng không? Cha dạy thế nào?
—Thiên chúa giáo không xúi tín đồ đánh giặc để giành lại quyền hành ở thế gian.
—Vậy Thiên Chúa giáo khuyên ta đưa tay cho họ xiềng xích sao? Thiên Chúa Giáo có muốn ta phải khoanh tay điềm nhiên nhìn kẻ khác hãm hiếp vợ con, đốt thiêu nhà cửa ta không? Đạo Thiên Chúa không đòi hỏi như thế được. Nếu mà bắt buộc, thì chúng tôi không về với Thiên Chúa giáo nữa!
Các thanh niên trong làng đều tán thành. Mục sư điềm tĩnh nói:
—Chúa Jesus dạy tín đồ phải phục tùng quyền thống trị trên thế gian. Các con nói sự thống trị hiện nay ở xứ Roumanie là kẻ ngoại bang, tàn bạo và tà giáo. Tôi cũng biết, nhưng khi xưa những người cai trị tại xứ Chúa Jesus giáng sinh cũng là kẻ ngoại bang, tàn bạo và tà giáo vậy. Các con hãy nghĩ đến muôn ngàn trẻ nít bị cắt cổ ở Judée, theo lịnh của vua Herode sau ngày giáng sinh của Chúa Jesus. Cách thống trị thật tàn ác. Có lẽ cũng tàn ác như cách thống trị của Cộng Sản. Nhưng Chúa Jesus không phản kháng và không xúi giục ai phản kháng. Ngài nói:” Trả cho Cesar cái gì của Cesar, trả cho Trời cái gì của Trời”
Một thanh niên hỏi:
—Vậy Cha đọc kinh cầu nguyện cho Staline sao? Nếu Cha đọc kinh cầu nguyện cho Staline tức là Cha đọc kinh cầu nguyện cho Quỷ Vương, kẻ phản đối đạo Thiên Chúa sao? Và như thế, chúng tôi không để chân tới Nhà Thờ nữa!
—Nếu nhà cầm quyền ra lịnh tôi đọc kinh cầu nguyện cho Staline, như ngày nay tôi đọc cho vua, thì tôi tuân lịnh. Tôi biết Staline vô thần và ngoại đạo. Nhưng kẻ ngoại đạo cũng là người. Nếu linh hồn họ đầy tội lỗi là vì họ đi lạc hướng, xa đường lối của Chúa. Một mục sư phải đọc kinh cầu nguyện cho tất cả mọi người, và nhứt là cầu nguyện cho những linh hồn dầy tội lỗi.
Một thanh niên nói:
—Cha tha hồ đọc kinh cho Staline, những phần chúng tôi, chúng tôi không đi nhà thờ nữa.
Với giọng phản đối, anh hỏi gằn thêm:
—Còn nếu chúng tôi rút vô rừng chống lại Cộng Sản để giành tự do, ngày chúa nhựt tại nhà thờ, cha cũng đọc kinh cầu nguyện cho chúng tôi nữa sao?
—Mục sư cũng đọc kinh cầu nguyện cho những ai chiến đấu trong rừng, trên núi, chẳng những ngày chúa nhựt mà mỗi ngày hai lần, vì cuộc đời tranh đấu của họ luôn luôn bị nguy ngập, nên họ cần phải có lời cầu nguyện của mục sư và lòng nhân ái của Đức mẹ.
Tất cả thôn dân đều im lặng. Apostol Vasile nói:
—Nếu Cha đọc một câu kinh cầu nguyện cho chúng tôi, Cha sẽ bị bắn!
—Đó không phải là lý do để tôi ngưng cầu nguyện cho các anh. Sự chết không làm nao lòng người có đạo.
—Chúng tôi rút vô rừng khánh chiến. Trước khi đi, xin Cha ban phước lành và làm lễ cho chúng. Rồi không biết rồi đây sẽ ra sao và chúng con có trở về được chăng? Chúng con đi tranh đấu cho Thập Tự giá và cho Giáo hội.
—Nếu các con tranh đấu cho Thập tự giá và cho giáo hội với gươm giáo thì các con đi đường tội lỗi: vậy thì tốt hơn các con nên ở nhà. Giáo hội và lòng tín ngưỡng Chúa không phải bảo vệ bằng khí giới cầm tay.
—Chúng con sẽ tranh đấu cho xứ Roumanie là một nước có đạo Thiên Chúa.
Apostol Vasile chia dân làng thành từng nhóm. Phần đông quyết định rút vô rừng. Đó là những phần tử ưu tú trong làng, có cả phụ nữ và thiếu niên còn đi học.
Họ quỳ gối xuống sân cỏ.
Mục sư Koruga đọc kinh cầu nguyện và ban phép lành cho từng người.
Ông biện lý Damian cũng quỳ xuống trước mặt mục sư nói:
—Xin Cha ban phép lành cho con nữa. Con cũng rút vô rừng với họ, để tranh đấu cho tự do loài người và cho nhân loại!
Mục sư đáp:
—Giáo đường ban phép lành cho tất cả ai đến xin.
Ông biện lý hỏi:
—Giáo đường cũng ban phép lành cho kẻ muốn làm chuyện quấy sao? Hoặc giả cha nhìn nhận chính nghĩa của chúng con là hợp lý chớ!
—Hãy thương xót và hành động theo ý anh muốn. Nếu chuyện làm của anh chân thành phát tự cõi lòng, thì đừng sợ tội lỗi. Anh đã đi trúng đường!
Ông biện lý hôn tay mục sư như các dân làng, theo nhóm người ra khỏi sân, và rút vô rừng!
Trong nhà, bà mục sư khóc.
——————————
Các dân làng đi được hai giờ. Mục sư đọc sách để trấn tĩnh lo ngại. Nhưng hai thôn dân, không phải người trong làng, bước vô phòng sách, không cần gõ cửa. Họ mang dây băng ba màu và súng lục. Mục sư làm như không thấy khí giới, vui cười tiếp họ và nói to lên, cố ý để cho cho bà ở phòng bên cạnh nghe, và không muốn làm cho bà sợ hãi.
—Phải ở tòa thị sảnh kêu tôi không?
Một người nói:
—Chúng tôi có lịnh bắt ông đẫn đến Tòa án Nhân dân.
Mục sư ngó qua phòng vợ, và nghĩ thầm: “Chắc bà không nghe gì cả”. Ông để cuốn sách trên ghế và ra đi.
Trước khi ra khỏi sân, ông còn ngó ngoái lại, như để vĩnh biệt.
Hai thôn dân đi kèm hai bên mục sư.
Ông bước qua ngưỡng cửa, đầu ngẩng lên. Ông đi không giống như một người có tội. Ông có vẻ như trán ông đụng trời.
Và ông đi như thế trên đường làng, từ nhà ra tòa thị sảnh…
——————————
Tòa án Nhân Dân do Marcou Goldenberg chủ tọa. Anh ngồi ghế ông Đô trưởng, trong gian phòng rộng lớn của thị sảnh.
Đầu anh cạo trọt như một tên tù. Quân Nga vừa thả anh vài ngày trước, từ trong trại giam, vì anh can tội giết ông già Lengyel. Ngồi bên mặt anh là bà Aristitza, mẹ Moritz. Marcou lựa bà làm thẩm phán vì bà là người nghèo hơn hết trong làng Fantana. Bên trái là Ion Calugaru, đã can án giết một viên hiến binh bằng búa, cách mấy năm nay. Vì thế nên Marcou mới chọn y.
Mục sư chào họ. Marcou ngó ông chăm chăm, không chào đáp lại.
Aristitza và Calagaru ngó xuống, như không thấy mục sư. Họ đã xử nhiều người khác, trước khi mục sư đến. Lúc ấy trong phòng chỉ còn có mấy vị thẩm phán và hai thôn dân mang dây băng ba màu.
Marcou hỏi tên, tuổi và nghề nghiệp của mục sư, rồi nói:
—Làm mục sư không phải là có một nghề! Thợ giày đóng giày, thợ may, may áo. Mỗi thợ sản xuất một món đồ. Ông có thể nói với tôi, mục sư sản xuất cái gì không?
Aristitza và Calugaru vẫn cúi mặt xuống. Hai thôn dân cười sau lưng mục sư.
Marcou nói:
—Ông không có một nghề gì hết! Thật là một trọng tội mà chẳng học lấy một nghề gì cả. Ông sống ăn nhờ các thợ!
Mặt Marcou vàng như vỏ chanh. Môi mỏng dánh và tím ngắt. Mục sư nhớ đến lão già Goldenberg, cha Marcou, cũng có đôi môi như vậy, cũng mỏng dánh, nhưng môi lão thì cười, môi của Marcou lại mím chặt.
Marcou hỏi:
—Ông biết tại sao ông bị đòi ra Tòa án Nhân Dân không?
—Không.
—Thật câu trả lời khuôn mẫu của kẻ phản động! Không bao giờ họ biết lý do nào đem xử họ. Ông có nhìn nhận đã tổ chức đoàn phát xít đi vô rừng không?
—Tôi không có tổ chức. Tôi nhìn nhận có đọc kinh tại sân nhà tôi cho những thanh niên trong lành đến xin cầu nguyện cho họ.
—Không phải bọn phát xít? Tại sao ông đọc kinh cầu nguyện cho họ, nếu ông chẳng phải người rửa tội cho bọn phiếm loạn ấy?
—Tôi biết mấy thanh niên đến xin tôi cầu nguyện đang ở trong tình thế khó khăn. Tôi cầu nguyện Đức Mẹ Đồng Trinh giúp họ, chỉ dẫn họ con đường chân lý và công bằng!
—Tòa án Nhân Dân xử treo cổ ông. Ông có tội tổ chức cuộc võ trang phản nghịch phá rối trật tự công cộng.
Aristitza và Calugaru ngước mặt lên, sợ hãi, ngó Marcou, nhưng hắn mắc viết, không ngó họ.
Marcou nói:
—Cuộc hành quyết sẽ thi hành ngày mai, sáng sớm, trước dân chúng.
Phiên xử của Tòa án Nhân Dân bế mạc.
——————————
Mục sư bị hai thôn dân mang dây băng ba màu nắm dẫn đem nhốt trong chuồng ngựa tòa thị sảnh. Trong ấy đã có Damian, bị bắt trước khi vô rừng, viên quản đồn hiến binh, Apostol Vasile với tám thôn dân giàu có nhứt trong lành Fantana. Tất cả đều bị Tòa án Nhân Dân xử treo cổ và sẽ bị hành quyết sáng mai. Nhưng trong đêm, các tù nhân lại bị đem từng người ra bắn gần hầm phân. Marcou được lịnh chẳng nên cho hành hình công khai, để tránh cuộc nổi loạn của quần chúng chống Hồng Quân. Chính tay Marcou bắn mỗi tội nhơn một viên đạn sau ót.
——————————
Quá nửa đêm, Aristitza nghe gõ cửa. Vợ của Moritz là Suzanna đến kêu.
Nghe tiếng nàng khóc, bà tưởng quân Nga đã vô làng và hãm hiếp nàng. Bà ngồi dậy, giận dữ. Bà biết sẽ có một tốp lính tuần hành Nga đến và họ hãm hiếp đàn bà, nhưng bà không tha thứ được khi chính dâu bà bị trước tiên, dâu của một “công dân” thẩm phán quan tại Tòa án Nhân Dân.
Mở của ra, bà hỏi:
—Có chuyện gì đó?
—Mục sư Koruga bị bắn rồi!
—Không đứng. Marcou muốn treo cổ ông sáng mai, trong sân nhà thờ. Nhưng nó không thể làm được. Tao cũng là thẩm phán trong làng, không phải có một mình nó thôi. Sáng mai, chúng tao sẽ họp phiên xử án lại và sẽ thả mục sư. Tao có nói chuyện với Calugaru rồi. Mầy đi qua nhà bà mục sư biểu bà cứ ngủ yên đi!
—Mục sư đã chết rồi! Có nhiều người thấy ông bị bắn và cho con hay.
Aristittza không tin. Bà không trở vô phòng. Bà đi liền với Suzanna tới thị sảnh. Bà chỉ mặc áo ngủ. Trời sáng mờ. Hai người lặng lẽ đi giữa đường vắng. Suzanna khóc thút thít, thỉnh thoảng lấy vạt áo chặm mắt. Bà Aristitza giận dữ, thở mệt nhọc. Nhiều lần, bà day qua mắng dâu:
—Bộ mầy ngủ sao? Máu chảy trong huyết quản mầy chớ có phải sữa loãng đâu?
Suzanna đi mau, nhưng biết đã muộn rồi. Mục sư đã chết, không ai làm sao được nữa.
Tới thị sảnh, đèn còn sáng, nhưng không một bóng người. Aristitza nói:
—Đi lại chuồng ngựa coi! Tao làm thẩm phán, tao có quyền hỏi và biết sự gì xảy ra!
Chuồng ngựa tối đen. Cửa đóng nhưng không khóa.
Aristitza vừa bước vô, liền sợ hải, hỏi Suzanna:
—Mầy có hộp quẹt đó không?
—Không má à!
Bà nổi giận, cằn nhằn:
—Mầy không bao giờ có món gì hết. Lúc cưới, mầy cũng tay không. Mầy được thằng con tao khù khờ lắm mới lấy mầy như vậy!
Suzanna không buồn, vì biết bà không phải giận nàng. Bà sợ mục sư chết thiệt nên rầy la nàng vậy thôi.
Vô giữa chuồng ngựa, bà la lớn lên:
—Có ai trong nầy không?
Suzanna nói:
—Không có ai cả, má à! Marcou bắt tất cả tù nhân trong chuồng ngựa đem ra gần hầm phân bắn hết rồi.
—Bộ mầy mơ sao chớ? Làm sao nó bắn họ mà chẳng cho tao hay, tao là thẩm phán đây?
Suzanna làm thinh. Hai người trở ra sân, tìm kiếm thây mấy người bị bắn trong đêm tối.
—Không có ai trong sân hết. Tao đã nói mầy mơ rồi! Hay là họ bị đem giam chỗ khác, và mấy tên phản động trong làng chỉ chờ cơ hội nầy để phao đồn rằng Marcou đã bắn họ.
Suzanna đi tách xa bà Aristitza, và tìm kiếm kỹ lưỡng trong sân, chung quang hầm phân. Nàng chắc chắn mục sư đã bị bắn. Dân làng đã chứng kiến thảm kịch, thuật lại rằng Marcou cho dẫn từng người, tay bị trói, ra khỏi chuồng ngựa, và chính y bắn tất cả, vào phía sau lưng.
Aristitza nói:
—Thôi, đi kiếm Marcou coi.
Bỗng Suzanna kêu rú lên một tiếng to lớn và té quỵ xuống cỏ. Aristitza chạy lại nổi giận, hét to:
—Cái gì nữa đó, đồ hư. Mới thấy bóng mầy là mầy té xỉu rồi!
Nhưng cổ họng bà nghẹn ngào. Gần Suzanna, dựa hầm phân, nhiều thây nằm trên cỏ. Một xác mặc áo sơ mi trắng nằm gần chân Suzanna. Một xác khác, mặc toàn đen, nằm cách vài bước, rồi vài thây khác, và thây khác nữa.
Aristitza liền làm dấu thánh giá để lấy can đảm. Bà bảo Suzanna:
—“Ngồi dậy đi, tao cần dùng mầy.” Bà không sợ xác chết, nhưng lúc nầy, bà không muốn đứng một mình.
Suzanna đứng lên, run lập cập. Bà nắm tay nàng dắt đi, cúi xuống từng xác chết để nhìn mặt. Có chín thây trên bờ và ba trong hầm phân.
Aristitza nhìn kỹ một thây và nói:
—Đây là ông cựu xã trưởng Ciubotaru.
Bà khom xuống, đặt lỗ tai kề ngực coi trái tim còn đập không. Bà đứng dậy, nói:
—Chết rồi!
Bà bước xa một chút, cúi xuống một thây khác, kê lỗ tai vào ngực, và nói:
—Thân còn nóng, nhưng tim hết đập. Đây là anh Salomon. Cầu nguyện Chúa cứu linh hồn anh. Hồi tôi còn nhỏ anh có xin cưới tôi.
Và sợ nỗi đau thương xâm chiếm, bà quát Suzanna:
—Còn mầy cũng đi kiếm coi có ai còn sống không? Ngồi đó khóc hoài hay sao? Đồ ngu!
—Con không dám, má à! Con sợ quá!
—Sợ cái gì? Cứ kề lỗ tai trên ngực mỗi người, nín thở một lát, nghe coi tim còn nhảy không. Nếu hết nhảy, thì cầu nguyện Chúa rước linh hồn người đo, và làm dấu thánh giá. Nếu tim còn đập, thì ta lo chuyện khác, hơn là làm dấu thánh giá. Mầy hiểu chưa?
—Con hiểu, nhưng con sợ quá!
—Đồ hư! Không hiểu sao mà con tao lại cưới mầy được chớ!
Bà Aristitza lại cúi xuống một thây khác. Bà nói:
—Đây là ông biện lý thường đến nhà mục sư mỗi tuần, và là bạn của Traian. Một thanh niên đứng đắn.
Bà mở nút áo, nghe một hồi, rồi đứng dậy, nói:
—Chúa rước linh hồn ông! Ông cũng vậy, đã chết rồi. Không biết chừng ông có vợ con đang chờ ở nhà.
Aristitza quên lững Suzanna. Bà đã tìm được thây mục sư Koruga. Bà kính cẩn cúi xuống lật áo choàng và nghe, rồi nói nho nhỏ:
—Mục sư chưa chết con à!
Suzanna lại khóc to khi nghe ông chưa chết. Bà Aristitza nói:
—Mầy điên sao? Chuyện phải mừng mà mầy lại khóc. Lại nghe coi tim ông đập nhịp nhàng đây nè!
Suzanna quỳ gối trước mục sư nhưng không cúi xuống nghe tim ông.
Aristitza ấp tay mục sư trong hai tay bà và nói:
—Ông còn nóng, con à. Xem coi, ông ấm hỉm nè.
Bà muốn tìm chắc chắn coi sinh lục của mục sư còn ở đâu nữa. Nhưng ngoài sự ấm áp của bàn tay, gò má, và tiếng đập của trái tim, giác quan bà không ghi thêm được điều gì khác nữa. Bà nói:
—Sự sống chỉ có thế! Vài nhịp tim, một hơi nóng của da thịt toát ra.
Bà cho là ít quá. Bà nói tiếp:
—Nếu sinh mạng con người chỉ có thế, thật là ít ỏi quá!
Chung quang bà hoàn toàn vắng lạnh. Bà lẩm bẩm: “Mục sư thật thơm mùi quế và trầm hương. Thể xác ông thơm tho làm sao, như mùi Nhà thờ!”
Trừ mục sư ra, tất cả đều chết. Có vài thây còn nóng, chắc hẳn chưa chết liền, còn phải chịu đau đớn kéo dài nhiều. Chỉ nhìn thấy họ oằn oại trên cỏ, trước khi trút linh hồn thì đoán biết. Mấy thây khác lạnh ngắt, chắc viên đạn trúng là chết ngay.
Bà Aristitza lau tay vô váy. Bà làm cử chỉ nầy đến lần thứ năm thứ sáu gì rồi, và cũng không hiểu tại sao bà lau như vậy. Đầu gối bà ướt mem. Bà nói:
—Chắc là máu. Trời tối quá, phải đạp trên máu và đặt tay lên máu. Giẵm chân lên máu người ta như thế nầy rất tội lỗi. Nhưng xin Chúa tha thứ cho, vì trời tối quá.
Trong lúc bà Aristitza xuống hầm để xem xét các thây khác, thì Suzanna lo lau trán mục sư.
Bà Aristitza lên khỏi hầm, vừa lau tay vô váy lần nữa, vừa nói:
—Vết thương ở chỗ nào?
—Con không biết, má à!
—Mầy thì luôn luôn không biết gì hết. Phải buộc vết thương liền, nếu không, để máu ra nhiều thì nguy mất!
Bà rờ gặp chỗ máu ướt nhiều nhứt, và thấy mục sư bị thương ở lưng, phía trên vai phải. Bà kêu Suzanna bảo:
—Đưa tao miếng vải để buộc vết thương lại coi.
Suzanna không biết phải tìm vải ở đâu bây giờ. Bà nổi giận, kéo vạt váy lên định xé áo sơ mi lót mình, nhưng tay mằn hoài giữa áo mặc ngoài với da bà, thì ra không có áo lót. Bà lật tuốt váy lên tới ngực và hỏi:
—Áo lót của tao đâu mất rồi?
Đoạn nhớ lại, hồi sáng nầy, mắc lật đật đi họp phiên Tòa án Nhân Dân, bà quên mặc áo sơ mi lót. Bà nói:
—Tao chỉ có áo ngoài, không có áo sơ mi.
Bà bồng mục sư lên tay, mở nút áo choàng, bày trần vết thương trên vai. Bà biểu Suzanna:
—Mầy đưa áo sơ mi của mầy coi!
Bà lấy tay chùi máu trên vai mục sư và nói:
—Thịt ông thơm mùi quế và trầm hương làm sao. Thân ông thơm tho như mùi Nhà Thờ.
Bà xây qua Suzanna, thấy nàng đã cổi áo ngoài, đang tuột áo trong ra. Nàng trần truồng như nhộng. Bà rầy to:
—Mầy điên hả? Sao không thẹn, đứng trần truồng trước mục sư và người chết vậy?
Suzanna đáp:
—Chớ làm sao con trao áo sơ mi của con cho má được, nếu không cổi tuột áo ngoài?
Bà không thèm nghe, khạc dưới đất, cằn nhằn:
—Đồ nhơ bẩn. Dám đứng trần truồng trước mục sư và người chết như vậy!

——————————

Aristitza và Suzanna ngừng lại dựa vườn bắp, để mục sư nằm xuống cỏ. Họ kiêng ông từ chuồng ngựa tới đây, bó trong áo choàng của ông như tấm vải trải giường. Ban đầu, mỗi người nắm một đầu áo choàng và khiêng ông như ông nằm trên cáng. Nhưng mục sư nặng quá. Mặt họ đượm mồ hôi. Mỗi lần ngừng nghỉ thì bà Aristitza đều cúi xuống nghe chừng tim ông còn đập không, rồi mới tiếp tục đi. Bây giờ họ hết khiêng mục sư như khiêng cáng, mà bỏ ông trong áo choàng, kéo lết trên đất. Bà Aristitza nói:
—Cầu chúc cho ông đừng chết dọc đường! Mau mau đi con. Ngày mai, ngày mốt, mấy ngày khác, ta tha hồ nghỉ mệt.
Aristitza sợ đem mục sư về nhà, bọn cộng sản sẽ tìm thấy. Bà nói thầm: “Và nếu mục sư được cứu lần nầy, lần sau cũng không thoát khỏi. Tốt hơn đem ông gởi cho mấy thanh niên trong rừng. Họ sẽ săn sóc và trị ông lành mạnh. Bọn cộng sản không thể nào tìm ông trong rừng được”.
Suzanna nói:
—Nhân viên y tế cũng đi với họ, nếu mình tìm được hắn. Hắn có lấy theo cả thùng thuốc men và cuồng băng.
Aristitza nói:
—Ta sẽ tìm hắn cho ra!
Nhưng càng đi gần tới rừng, lòng hăng hái của họ tan dần. Rừng quá rộng. Tìm nhân viên y tế trong ấy như mò kim đáy biển.
Aristitza nói:
—Nếu không tìm gặp mấy thanh niên, ta phải giấu mục sư xa bọn cộng sản. Cần nhứt phải làm như thế, rồi sẽ hay. Bây giờ mầy ở lại coi chừng mục sư, tao về làng. Tao sẽ trở lại trước trời hừng đông, đem đồ ăn, nước uống, và không chừng dẫn thêm một bà già biết săn sóc vết thương.
Suzanna khóc lên. Nàng sợ ở ban đêm một mình trong rừng. Nàng lầm thầm cầu nguyện Chúa xui khiến cho gặp mấy thanh niên.
——————————
Dọc theo rừng có một con đường đi. Trước khi băng ngang, bà Aristitza nghe ngóng coi có ai đi lại không. Một đoàn xe hơi, đèn tắt hết, tiến chậm chậm. Tiếng máy rồ rồ như tiếng một đoàn ong bay. Đoàn xe tới gần, lên dốc. Hai người đàn bà để mục sư xuống cỏ, và chạy trốn trong đám bắp, dựa lề đường.
Aristitza nói:
—Đoàn xe của quân Nga. Nhưng không sao, để cho nó qua. Họ không thấy mình đâu.
Đoàn xe đến, lên khỏi dốc thì ngừng lại. Tiếng máy tắt hẳn. Dế kêu cũng nghe. Vài binh lính nhảy xuống xe, nói chuyện nho nhỏ.
Suzanna nói:
—Lính Đức!
Aristitza ngóng tai nghe. Đoạn hai người bò sát đất, dọc theo đám bắp, đến gần đoàn xe. Họ chăm chú lóng tai nghe.
Aristitza nói:
—Lính Đức! Nếu ta đến xin cứu mục sư, chắc họ có y tá hoặc bác sĩ trong đoàn.
Hai người ra khỏi vườn bắp. Aristitza hỏi:
—Mầy biết một tiếng Đức nào không? Một tiếng cũng được. Nếu ta không nói với họ, họ tưởng kẻ thù và sẽ bắn ta.
—Con không biết một tiếng Đức nào hết.
Hai người đi ít bước nữa, rồi đứng lại. Họ đứng sát vào nhau, giữa đường, im lặng. Tay Aristitza bấu chặt cườm tay Suzanna. Bà nói:
—Mầy còn trẻ. Ráng nhớ một tiếng Đức đi. Chắc hồi nhỏ mầy có nghe người Đức nói chuyện. Cha mầy nói tiếng Đức, thì mầy còn trẻ tuổi sẽ nhớ được.
—Con không nhớ gì hết. Ta thử nói với họ bằng tiếng Roumanie coi!
Bà nổi giận nói:
—Làm sao nói tiếng Roumanie với họ được. Họ không hiểu, tưởng mình là cộng sản đa.
—Hay là chúng ta la lớn “Chúa Ki Tô” má! Dân Đức đều có đạo. Nếu họ nghe mình nói “Chúa Ki Tô” thì không nghi là cộng sản đâu. Vả lại tiếng “Chúa Ki Tô” có nghĩa tỏ ra mình lương thiện và có ý tốt.
—Mầy làm thử coi! Nếu lính Đức hiểu mầy, thì mầy đâu có ngu dại gì!
—Con không dám đi một mình. Hay là má với con đồng kêu lớn lên một lượt
Hai người đàn bà lại ôm sát nhau, và kêu lên, ban đầu nhỏ, sau to:
—Chúa Ki Tô! Chúa Ki Tô!
Một giọng oai vệ hỏi:
—Ai đó?
Họ không hiểu người Đức nói gì, cứ việc rập nhau hô to:
—Chúa Ki Tô!
Hai người lính đến gần họ. Aristitza run sợ. Bà lại run sợ hơn Suzanna nữa. Mấy lính không hiểu họ muốn gì. Họ liền đi vô đám bắp khiêng mục sư Koruga đem ra giữa lộ, trước đoàn xe.
Lính Đức bật đèn lên và ngó mặt mục sư. Một sĩ quan hỏi:
—Phải một mục sư không?
Aristitza đáp:
—Chúa Ki Tô!
Sĩ quan hỏi thêm:
—Phải quân Nga bắn ông không?
Aristitza tưởng sĩ quan nói người bịnh là cộng sản, nên lặp lại, quả quyết:
—Chúa Ki Tô.
Đoàn quân Đức đang thoái binh. Sĩ quan nói chuyện với hai người đàn bà, bèn cho lịnh khởi hành, và ra dấu biểu Aristitza khiêng người bịnh dang ra, để xe chạy.
Aristitza bèn nắm tay sĩ quan cầu xin một bác sĩ hay y tá cứu mục sư. Khi xe rồ máy, bà đâm hoảng, không muốn để đoàn binh Đức đi luôn không băng bó cho mục sư. Bà vội quỳ trước sĩ quan, hôn tay ông. Bà biết không còn kiếm bác sĩ đâu được nữa.
Viên Thiếu tá chỉ huy đoàn quân hỏi:
—Bà già nầy nói gì?
Viên sĩ quan đáp:
—Bà muốn chở người bị thương đến tỉnh. Ông nầy là mục sư Chính Thống Giáo.
Thiếu tá nói:
—Sao lại không chở? Chúng ta là một dân tộc văn minh, dầu bị bại trận! Đỡ người bị thương lên xe hồng thập tự cho mau, rồi lên đường.
Aristitza và Suzanna thấy lính khiêng mục sư để nằm trên cáng và đắp mền lại. Đoàn xe chạy. Aristitza muốn leo lên xe theo mục sư, nhưng lính gạt ra, đóng cửa xe lại.
Đoàn xe khỏi hành. Suzanna ngó theo xe, khóc thảm thiết, như muốn van xin cầu cứu. Bà Aristitza lắc mạnh vai nàng, hỏi:
—Mầy làm cái gì nữa đó? Mầy muốn binh Nga nghe tiếng mầy la hay sao?
Suzanna đáp:
—Chúa sẽ phạt ta về tội lỗi vừa phạm. Ta không nên giao mục sư cho lính Đức. Ai biết rồi họ sẽ làm gì ông đây?
—Thì họ đem ông vô nhà thương. Cầu cho ông được nằm nhà thương hơn là ở trong rừng.
Nhưng vài phút sau, bà cũng khóc òa. Bà hối hận đã hành động như thế.
Bà la lớn lên:
—Ta không nên giao mục sư cho lính Đức! Ta đã phạm một trọng tội. Rồi đây Chúa sẽ phạt ta! Ta sẽ bị thiêu đốt ở Địa Ngục. Và cũng tại mầy, ta mới đưa mục sư cho quân Đức.
Hai người đàn bà muốn chạy theo xe đòi mục sư lại, nhưng đường vắng teo.
Họ trở về làng.
——————————
Sáng bữa sau, Aristitza bị bắt. Tại thị sảnh, bà bị đánh đập bằng dây luột nhúng nước. Bà nhìn nhận có đem mục sư ra khỏi hầm phân và giao cho lính Đức.
Hồi chín giờ, họ bắn bà cạnh hầm phân. Suzanna dắt hai đứa con trốn khỏi làng.
Lúc nhân viên của Marcou tới bắt nàng, thì nhà Moritz trống trơn…
——————————
Joseph lên giường nằm và nói:
—Ngày nay là ngày sung sướng nhứt của đời tôi!
Nhờ Moritz, đoàn tù Pháp vượt trại giam, vừa qua tới phòng tuyến Mỹ vài giờ trước đây.
Moritz và Joseph ở trong một phòng đẹp đẽ của khách sạn viện trợ Mỹ (U.N.R.A). Họ ăn nhiều món ngon, uống rượu chát và hút thuốc lá đắt tiền. Người ta cho họ nhiều thùng thực phẩm, quần áo và các món khác nữa. Moritz ngắm mấy gói đồ, sắp kề nhau, trên tấm thảm, gần tường. Anh thấy được trọng vọng như không bao giờ có. Quân lính Mỹ cho anh nào sơ mi, nào y phục mới tinh, dao cạo, giày, xà bông, thuốc hút. Họ tặng riêng anh tất cả mấy món đó. Lần thứ nhứt, anh tin tưởng đã lập đại chiến công trong cuộc thắng trận của Đồng Minh. “Nếu mình không lập một đại chiến công, người Mỹ đâu có cho mình nhiều tặng phẩm như vầy”
Anh nhớ người Mỹ cũng không hỏi tên anh, và anh tưởng chừng họ được báo tin về chuyện vượt ngục nầy, trước khi bọn anh tới.
Người Mỹ nào cũng cười với anh, như tỏ với anh rằng họ biết rõ anh đã từng đau khổ và can đảm.
Moritz mệt mỏi, nhưng không muốn ngủ. Anh dòm chung quanh anh và không thể tin được một căn phòng rộng lớn đẹp dẽ như vầy lại để dành riêng cho anh. Tất cả những gói đồ sắp để trên ghế, trên bàn, trên thảm là của anh hết. Người Mỹ tặng anh vì anh đã can đảm cứu năm tù binh Pháp vượt khỏi trại giam. Joseph nói:
—Ta hoàn toàn thành công trong cuộc vượt ngục nầy!
Moritz nhớ lại làm thế nào anh ra khỏi sân trại giam với năm tù binh bữa sáng hôm ấy. Bọn anh đi qua các đường phố trong châu thành. Hilda vẫn ở cửa sổ với thằng Franz và nói với con: “Coi kìa, người mang súng và đội nón sắt là ba con đó!” Và Moritz cười như đã cười mỗi ngày. Nhưng bọn anh không ngừng lại nơi cầu mà đi luôn đến ven rừng. Moritz đi sau họ, súng mang vai, ai ai cũng tưởng là một người lính dẫn năm tội nhân. Nhưng họ đã là tù vượt ngục rồi. Moritz thấy hình như có một người đàn bà ngó anh lâu, và anh nghe tim đập mạnh. Anh lo sợ. Nhiều người khác ngó anh hơi nghi ngờ, anh làm lơ như không thấy họ.
Tới rừng, anh thay bộ đồ thường phục của tù binh Pháp đem theo. Joseph đập cây súng vô đá nát tan. Miểng súng văng trúng Moritz, anh tưởng như có cái gì bể trong tim anh. Nhưng anh không muốn để lộ ra. Bọn tù Pháp lại nổi lửa đốt bộ quân phục của anh, anh muốn khóc, song gượng lại, sợ họ hờn. Họ chửi rửa Hitler luôn miệng. Moritz không hiểu họ nói gì.
Bọn anh đi trọn một tuần lễ trong rừng. Một buổi sáng, vừa ra đường lộ khỏi rừng, họ thấy một đoàn xe Mỹ. Mấy người Pháp ca hát vang lên. Họ đã mệt nhừ, nhưng vẫn ca hát như điên cuồng. Họ gắn dây băng tam tài vô khuy áo của họ và của Moritz, rồi đi lại đoàn xe Mỹ. Lính Mỹ liền cho họ thuốc hút và chở họ đến chỗ viện trợ U.N.R.A., một khách sạn có phòng rộng với bữa ăn dọn sẵn. Dường như bọn anh được chờ đợi ở đây vậy.
Từ lúc đầu tới bây giờ, lính Mỹ luôn luôn cho bọn anh thực phẩm và nhiều gói đồ vật. Moritz có cảm tưởng như sống trong chuyện thần tiên. Khi thấy mấy gói đồ và Joseph, anh mới tin là sự thật. Anh được trọng đãi và nhận mấy tặng phẩm ấy là vì anh đã lập một đại chiến công vẻ vang trong cuộc thắng trận của Đồng Minh.
Joseph đã ngủ. Moritz tự nói thầm từ đây anh sẽ sang Pháp. Anh nghĩ đến cái nhà anh sẽ cất, tới Hilda và thằng Franz. “Lúc hết giặc, mình sẽ rước cha mẹ mình qua Pháp ở nữa!” Nghĩ tới hạnh phúc tương lai, anh ngủ một giấc tới sáng, còn mặc nguyên bộ đồ, nằm ngay trên giường, không cục cựa.
——————————
Đã hai tuần nay Moritz ở tại khách sạn viện trợ Mỹ. Anh thuật lại cho người Mỹ nghe chuyện anh với năm người Pháp vượt ngục như thế nào. Họ khen anh và bảo anh viết chuyện lại. Họ muốn đăng trên báo cuộc đời gian truân của Moritz. Rồi ai ai cũng khen anh và nói đến anh.
Ngày qua ngày, Moritz càng thấy có công giúp Đồng Minh thắng trận. Anh sung sướng và tự hòa đã làm chuyện hữu ích cho Đồng Minh và thấy các nước Đồng Minh đều bằng lòng anh.
Một bữa, vị giám đốc cho gọi Moritz vô phòng giấy. Ông đã gọi anh nhiều lần để nghe anh thuật chuyện vượt ngục.
Moritz hớn hở vô phòng giấy. Ông giám đốc mời anh ngồi, đưa hộp thuốc mời hút, và tươi cười với anh. Anh khoan khoái được trọng vọng, và lần nào cũng vậy, anh được tiếp đãi tử tế, nhưng anh vẫn chưa tập quen với lối nầy.
Vị giám đốc vừa đốt thuốc cho Moritz vừa nói:
—Kể từ ngày mai, anh hết được quyền ăn và ở trong khách sạn U.N.R.A nữa. Anh phải rời khỏi căn phòng anh đang ở.
Moritz xanh mặt. Anh tự hỏi đã làm gì lỗi với người Mỹ để họ giận anh như thế. “Chắc mình có lỗi gì lắm nên họ mới đuổi tống mình ra ngoài như vầy”.
Hồi nào tới giờ, anh được biết bao nhiêu là tặng phẩm của người Mỹ. Năm gói cho anh và cho Hilda. Họ còn tặng đồ chơi và quần áo cho thằng Franz khi nghe anh nói có một đứa con trai. Họ xin coi hình thằng Franz và xúm lại xem ảnh nó.. Anh nghĩ thầm: “Rồi bây giờ cũng mấy người nầy thình lình đuổi mình. Chắc mình đã phạm lỗi lớn lắm!” Vị giám đốc nói:
—Viện trợ Mỹ chỉ bảo bọc công dân các nước bạn. Còn anh, anh là kẻ nghịch của Đồng Minh.
Moritz nhớ đến những gói đồ của mấy người nầy đã cho anh. Đó là bằng cớ anh có làm ơn trọng cho Đồng Minh, nay cũng mấy người nầy lại bảo anh là kẻ nghịch của Đồng Minh.
Vị giám đốc lặp lại:
—Anh là kẻ nghịch của Đồng Minh.
Moritz đáp:
—Tôi không có làm gì chống Đồng Minh cả! Tôi xin thề với ông giám đốc rằng tôi không có phạm lỗi gì đối với Đồng Minh!
Viên giám đốc nghiêm nghị hỏi:
—Anh không phải là dân Roumain sao! Xứ Roumain nghịch với Đồng Minh, tức nhiên anh cũng là kẻ nghịch. Viện trợ Mỹ không thể chứa trọ và nuôi dưỡng kiều dân các nước nghịch. Anh phải đi ra khỏi phòng anh.
Moritz cúi đầu, bước ra. Anh muốn trở về hàng ngũ của anh. Nhưng anh nhớ lại cây súng đã bị bẻ gãy trong rừng, quân phục đã bị đốt cháy. Làm sao trở về hàng ngũ được. Anh tự hỏi: “Rồi mình sẽ đi về đâu bây giờ?”
——————————
Liền sau khi Moritz trốn, Hilda bị bắt. Tại sở Hiến binh, nàng khai chẳng biết gì cả. Mẹ Hilda cũng bị bắt hai ngày sau. Hai mẹ con bị cật vấn, đánh đập, nhưng mấy viên thanh tra không thâu nhập được lời khai nào thêm. Lúc xét nhà HIlda, họ gặp những bức thơ của Đại tá Muller. Hilda nói:
—Ông nầy là bạn của Moritz. Ông đã gởi cho chúng tôi mỗi tháng hai trăm “mark”. Tới lễ Paques, lễ Noel và ngày sinh nhựt của chúng tôi, ông đều gởi thực phẩm và thuốc hút.
Sở hiến binh báo cho Đại tá Muller biết, mong sẽ được thêm chi tiết.
Hai ngày sau, họ tiếp được, từ tổng Hành Dinh, một điện văn, dài cả tranh giấy, do Muller gởi:
” Từ bốn thế kỷ nay, không thấy có ghi một trường hợp đào ngũ nào xảy ra, trong gia tộc “Dòng Anh Hùng” mà Moritz thuộc dòng ấy. Stop. Phải tuyệt đối loại bỏ thuyết đào ngũ. Stop. Tôi quả quyết sự mất tích của Moritz là do một vụ bắc cóc hoặc ám sát. Stop. Moritz mất tích là một sự thiệt hại không cứu vãn được cho lịch sử gia tộc “Dòng Anh Hùng” Stop. Phải tìm cho được nó, dầu với giá nào. Stop. Đừng làm nhơ danh bằng cách nghi ngờ đào ngũ, một trong các gia tộc can đảm và danh giá của dân Germain. Stop. Không được dùng từ ngữ “đào ngũ” trong cuộc điều tra của các ông. Stop. Vợ và con Moritz phải chánh thức được “Viện Nghiên Cứu và Sưu tầm chủng tộc Đức” bảo vệ và nuôi dưỡng. Stop Vợ và con Moritz sẽ lãnh lương thực của “Viện” cấp tới khi tìm ra Moritz. Cảnh sát sở tại phải săn sóc đến họ. Stop. Thông báo cho tôi biết tất cả các việc tìm kiếm. Được nghe tin tức nào mới về Moritz, phải đánh điện tín về Tổng Hành Dinh cho tôi. Stop.
Ký tên Đại tá Muller. O.K.W.
Đại úy Cảnh sát quân vụ trưởng nói:
—Nếu Đại tá Muller biết chúng ta đã bắt và đánh khảo vợ Moritz thì chúng ta sẽ bị nghiêm trị, bị gởi ra mặt trận liền, trong hai mươi bốn giờ. Tốt hơn ta nói với vợ Moritz đừng cho Đại tá biết nàng bị chúng ta bắt.
Trung úy giữ việc Tư Pháp hỏi:
—Còn hồ sơ thì chúng ta làm sao?
—Xếp lại hết và bỏ qua vụ nầy, đừng chọc tới sở O.K.W.
Trung úy nói:
—Dầu sao, nếu không tin rằng ta đương đầu với một tên đào ngũ thì thật là dại đột. Lắm khi thượng cấp còn lầm lẫn hơn thường dân nhiều. Đại tá Muller là một nhà bác học. Tôi có đọc nhiều bài khảo cứu của ông trong báo chí. Ông có xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng ông quá độc đoán. Tại sao ông tưởng rằng Moritz không đào ngũ?
Hilda được đưa về nhà bằng xe riêng của Đại úy. ông nầy còn nói với nàng:
—Khi nào bà cần dùng xe, cứ kêu điện thoại cho tôi. Chiếc Mercedes nầy luôn luôn dành sẵn cho bà, ngày và đêm. Bà có muốn cần dùng cái gì, cứ cho tôi biết. Tôi rất cám ơn bà. Bà đừng viết thơ cho Đại tá hay rằng bà bị bắt; chúng tôi chỉ làm cho có lệ, để làm gương thôi.
Hilda hỏi:
—Chồng tôi không đào ngũ? Vậy anh được gởi đi công cán đặc biệt gì?
—Tôi không thể trả lời. Nên biết là chồng bà không có đào ngũ. Chuyện khác là cơ mật.
Hilda đỏ mặt vui mừng. Kể từ ngày ấy, nàng sống trong mộng đẹp. Nàng tin chắc Moritz được sở O.K.W. gởi đi công cán đặc biệt. “Nếu không, thì làm sao họ lại dành riêng chiếc xe để cho mình sử dụng?”
Nàng ngồi hàng giờ trước cửa sổ, tưởng tượng Moritz đang ở trong nhiều tình cảnh đầy vẻ bí mật như trong phim ảnh truyện phiêu lưu.
Nàng nghĩ: “Chàng không nói cho mình biết gì hết, vì chàng coi mình như kẻ thấp kém. Mình sẽ ráng hết sức để làm sao cho xứng đáng với chàng.” Nàng hôn con và nói:
—Trọn đời ta không bao giờ hân hoan như bây giờ. Chỉ có vợ của Iohann Moritz mới được hưởng diễm phúc, cái diễm phúc làm vợ một vị anh hùng.
——————————
Hilda nói:
—Tôi không tin ta thất trận. Dân thành đều chạy trốn trong rừng hoặc về đồng. Họ nói binh Nga còn cách đây mười cây số ngàn. Lối xóm nầy ai cũng đi hết tồi. Nhưng tôi không tin. Chắc quân địch tuyên truyền để gieo khủng khiếp thôi. Tôi ở lại đây, không đi đâu hết. Nước Đức làm sao thất trận được?
Vị sĩ quan mà nàng nói chuyện bảo:
—Đem cho tôi thau nước rửa mặt!
Ông cởi áo khoác bằng da mắc trên giá áo, để va li trên ghế, cởi áo ngoài vắt trên lưng ghế, và chỉ còn mặc một áo lạnh.
Hilda theo dõi từng cử chỉ của ông. Nàng có thể đứng hàng giờ như vậy để xem ông cởi áo khoác, máng trên giá áo và mở nút áo.
Vị sĩ quan xây lưng mở va li và bảo tiếp:
—Đem nước nóng cho tôi cạo râu.
Hilda đi ra, không khép của phòng. Dòm qua cửa sổ nhà bếp, nàng thấy một quân xa đậu trước cửa. Viên sĩ quan đến nhà nàng bằng chiếc xe ấy. Nàng xem đồng hồ nhà bếp. Ông mới đến đây chừng mươi lăm phút, nhưng nàng nghĩ thầm:
—Ta lại có cảm tưởng đã quen biết ông từ lâu!
Sĩ quan nầy đến gõ cửa. Nàng ra mở và nghe ông nói muốn rửa mặt và thay đổi y phục. Giọng nói oai nghiêm như một lịnh truyền cho quân lính. Rồi không đợi trả lời, ông đi thẳng vô nhà. Hilda đứng tại ngưỡng cửa.
Ông đi lướt qua và đụng phớt nàng. Nàng nghe mùi áo khoác bằng da xen lẫn với mùi gió, bụi, mùi khói thuốc chiến tranh. Nàng đi theo ông như mê say.
Vị sĩ quan to lớn, như một vị hộ pháp. Ông mở cửa phòng ăn, một cách quen thuộc, như ở trong nhà ông. Ông vô phòng và lo thay đồ. Cửa phòng mở, Hilda đứng ngoài cửa chờ lịnh. Ông cởi y phục mà không ngó đến nàng.
Khi ông dỡ nón, nàng thấy tóc ông bạc hoa râm. Lúc áo khoác vừa cổi, Hilda thấy ngôi sao trung úy. Nàng nói thầm: “Ông nầy là sĩ quan trừ bị”.
Đã nhiều lần ông ngó nàng, nhưng chỉ lướt qua mà không thấy rõ. Hilda bèn khỏi đầu nói chuyện, những chuyện bại trận, tản cư, xuyên qua đầu nàng, nhưng sĩ quan không trả lời, cũng không ngó nàng.
Cổi áo ngoài xong, ông bảo nàng đem nước với một cái thau. Hilda muốn mời ông vô phòng tắm. Nhà nàng có một phòng tắm đẹp. Nhưng vì ông bảo đem một cái thau, nên nàng không dám cãi.
Đứng chờ nước chảy đầy bồn, nàng ngó chiếc xe đậu trước cửa. Bụi phủ đầy xe như trên áo khoác bằng da của ông.
Nàng bưng thau nước vô, thấy ông đã mặc áo sơ mi, ông nói:
—“Đưa cho cái kiếng soi!” Ông có vẻ lo lắng, suy nghĩ và mệt nhọc. Hilda nghĩ chắc ông muốn đi ngủ. Nàng sẽ làm giường trong buồng cho ông.
Mấy ngày rày, nhiều đoàn quân đi ngang qua thành phố. Binh lính và sĩ quan có đến kêu cửa nhà nàng, xin ngủ nhờ một dêm, xin nước để rửa mặt hoặc để đun đồ hộp. Nàng sốt sắng giúp họ, vì nàng nghĩ đến chồng. Nàng biết Moritz đang đi công cán đặc biệt. Nàng muốn tỏ ra xứng đáng là vợ của chàng. Nàng muốn chính mình cũng dự phần phụng sự Tổ quốc.
Mấy binh sĩ và sĩ quan ấy, nàng cho họ ngủ trong phòng ăn. Nhưng với ông hộ pháp nầy, nàng định sẽ mời ông ngủ trong buồng. Và chính nàng sẽ ngủ trên ghế trường kỷ trong phòng ăn.
Nàng nghĩ thầm, chắc ông khổng lồ không lựa giường của Moritz mà sẽ lựa giường của nàng để ngủ. Ý nghĩ ấy làm nàng rùng mình. Nàng vội vàng đi lấy kiếng soi mà Moritz thường dùng để cạo râu, đem đến cho ông hộ pháp. Ông đi đi lại lại trong phòng, nút cổ áo sơ mi mở ra. Ông nhận kiếng soi trên tay nàng, tìm chỗ để máng, mà không có chỗ nào. Ông cao, mà để kiếng xuống bàn thì thấp, phải khòm xuống mới cạo râu được. Không nói gì hết, ông để kiếng trên tay Hilda, rồi lo thoa xà bông trên mặt. Ông bảo:
—Giơ cao lên!
Mặt ông đen sạm vì nắng, gió. Bộ râu đỏ hoe phủ kín má ông. Hilda đang cầm kiếng ngang miệng, liền giơ lên ngang trán. Khi ông hộ pháp bước tới gần kiếng, nàng nghe hơi thở của ông. Tay nàng run lên. Nàng cố bấu ngón tay cầm chặt cái kiếng soi để giữ nó được ngay thẳng. Một tiếng dõng đạc bảo:
—Cao lên chút nữa!
Hilda giơ kiếng lên khỏi trán. Hai tay nàng như bị kiến bò. Nàng muốn nói chuyện, nhưng tiếng dao cạo sột sột đều đều bộ râu hoe đầy bột xà bông, khiến nàng làm thinh. Hilda nhắm mắt, lắng nghe tiếng dao cạo. Mũi nàng phồng lên hít mùi xà bông. Không phải chỉ riêng mùi xà bông, mà còn hơi đàn ông, mùi giặc giã, mùi người đi đường xa, mùi áo khoác da thuộc… Nàng đứng không vững, nhưng vị hộ pháp không nhận thấy vì mãi lo cạo râu kỹ lưỡng, sợ bị phạm da mặt.
Cạo râu xong, ông thoa xà bông rửa tay trong thau. Ông nói:
— Vén tay áo sơ mi lên!
Hilda cuộn tay áo, nàng sợ đụng da ông. Tay ông chạm tay nàng, nàng rùng mình. Một mùi rừng bụi mà ông hộ pháp mang theo trong mình xông ra nồng nặc cả căn phòng. Nàng ngửi nó cùng khắp, mùi ấy thấm cả vào tủ bàn, vào thảm, vào tường, không khi nào phai. Mùi ông dính vào áo, vào tóc nàng, dầu nàng có tắm gội giặt rửa cả đời cũng không hết.
Ông hộ pháp nói:
—Bây giờ tôi muốn ở yên một mình!
Khi Hilda quay lại khóa cửa, thì thấy ông ở trần. Ông đang cởi áo sơ mi, lật ngược phủ đầu, chỉ còn thấy ngực. Nàng là y tá, đã từng thấy cả ngàn ngực đàn ông, nhưng chưa bao giờ thấy một cái ngực như thế.
Hilda xuống bếp, đứng tựa cửa sổ, ngó xe hơi.
Thằng nhỏ con nàng ngủ. Nàng tự hỏi không biết ông đi liền hay ở nghỉ. Nàng muốn lo bữa ăn cho ông. Nhưng nàng lại lắng tai nghe, chờ ông có gọi mà ứng tiếng.
Một bà lân cận đi ngang hỏi nàng:
—Quân Nga đã tới, cách đây còn ba ngàn thước. Bà còn ở đây sao?
—Tôi ở đây.
Đoạn Hilda tự hỏi tại sao ông hộ pháp không gọi mình. Nàng nóng lòng, không chờ đợi nữa, vội lên phòng gõ cửa và bước vô. Ông hộ pháp mặc lễ phục sĩ quan, ngực đầy huy chương.
Hilda đứng lại tỏ vẻ thán phục.
Hộ pháp mỉm cười. Ông mới cười lần đầu tiên. Trong phòng, thay thế cho mùi gió bụi, mùi chiến tranh và mùi da thuộc, một mùi hoa thơm sực nức tỏa khắp nơi.
Ông nói:
—Tôi muốn biết coi bà có phải thật là một phụ nữ Đức hay không? Tôi muốn nhờ bà một việc mà chỉ có phụ nữ Đức mới giúp nổi.
—Tôi sẵn lòng. Chẳng những tôi là phụ nữ Đức, mà chồng tôi còn được thượng cấp….
Hilda muốn thuật chuyện cơ mật của chồng nàng, nhưng liền ngừng bặt. Trên bàn, có khuôn hình hai người đàn bà đẹp. Ngó thấy hình, nàng hết còn can đảm muốn thuật chuyện cơ mật của chồng nữa, chuyện nầy chưa bao giờ nàng nói với ai, nhưng sẵn sàng muốn thuật lại với ông hộ pháp. Song bây giờ, thấy tấm ảnh, nàng lại hối hận đã có ý định trên đây.
Ông hộ pháp nói:
—Đây là ảnh vợ và con tôi. Cả hai đều chết. Tôi yêu quý chúng lắm. Nhưng chúng nó lừa dối tôi. Cả vợ và con tôi đều dối gạt tôi. Vợ tôi chết rồi, còn con tôi xiêu lạc nơi nào không biết. Nó lấy một thằng không ra gì, từ đó tôi cầm như nó chết rồi.
Hilda nhìn ảnh hai người đàn bà và tự nói thầm: “Còn tôi, thì không bao giờ phản bội, nếu tôi được yêu!”
Cạnh ảnh hai người đàn bà, là ảnh của Quốc trưởng Hitler. Ông sĩ quan nói:
Và bây giờ Quốc trưởng cũng chết. Nước Đức không còn nữa. Tôi chỉ sống vì họ. Lúc nhỏ, tôi cũng yêu quí ngựa, nhưng đó là mối tình tuổi trẻ. Nay, những ai mà tôi sống đây đều chết cả: vợ tôi, con tôi, Quốc trưởng và Tổ quốc tôi. Bây giờ, đến phiên tôi. Quân Nga sắp tơi đây trong nữa giờ nữa. Trước khi họ đến, tôi muốn làm xong phận sự cuối cùng của đời tôi.
Hilda ứa lụy. Nàng tưởng ông sẽ ngủ trong phòng của nàng. Nàng tưởng ông đói và định lo dọn ăn. Bây giờ nàng lại thấy ông mặc nhung phục tốt đẹp, nàng hỏi:
—Tôi sẽ làm những gì ông dặn. Ông muốn đi đâu?
—Tôi không đi đâu nữa hết. Đây là lần đi cuối cùng của tôi trên cõi trần nầy. Bà tưởng tôi sửa soạn ra đi nên mới cạo râu, rửa mặt, thay đổi nhung phục sao?
Ông cười và vỗ vai nàng. Nàng hổ thẹn. Cạnh bên ông, Hilda thấy nàng nhỏ bé, thật nhỏ bé, như lúc nàng biết được Moritz đi công cán đặc biệt vậy. Ông nói:
—Bà nhớ kỹ lời tôi dặn nghe! Vả lại, thật giản dị. Nhưng chỉ có phụ nữ Đức mới làm được! Vợ tôi thì không đời nào. Nhưng bà, thì bà làm được. Vợ tôi nhu nhược lắm; nếu nó còn sống, tôi cũng không mượn đến. Với bà thì khác.
Hilda hãnh diện được ông hộ pháp giao phó một chuyện mà ông không nhờ vợ ông làm.
Ông nói:
—Chừng tôi chết rồi, bà kéo thây tôi lôi ra sân đốt đi. Bà sẽ thấy tôi chết tại đây, trên tấm vải lều nầy.
Ông hộ pháp trải tấm vải lều nhà binh trên nền nhà. Vải còn mới, phủ cả nền gạch.
—Bà cứ nắm hai chéo vải, kéo tôi ra sân.
Lấy hai bình xăng để dưới bàn, đưa cho Hilda, ông nói:
—Đây là dầu xăng. Xăng máy bay. Kéo tôi ra sân rồi đắp vải lại, chế xăng lên. Và quẹt quẹt máy.
Ông hộ pháp vẫn cười, móc túi lấy một quẹt máy bằng vàng đưa cho Hilda, và nói:
—Đây là quẹt máy để đốt. Nếu bình xăng thứ nhứt cháy hết, bà chế thêm bình xăng thứ nhì, và đốt nữa. Tôi chắc sẽ không còn gì hết. Quân Nga chỉ tìm thấy tro tàn của tôi mà thôi. Một quân nhân xứng đáng với tên tuổi không để thây mình lọt vào tay kẻ nghịch. Trong lịch sử, quân sĩ Đức đều hành động như thế. Lúc cùng đường, họ phải tự tử, thiêu hủy mình. Quân nghịch chỉ thấy tro đen sì mà thôi!
Ông hộ pháp xoa tay. Hilda im lặng, ngó bức ảnh.
—Nếu bà muốn đốt bức ảnh thì cứ quăng vô lửa. Nó sẽ cháy một lượt với thây tôi. Còn bà muốn giữ thì cứ giữ. Nhưng tôi không thấy bà cất để làm gì. Tôi không phải người ở đây. Tôi ở xứ Roumanie.
Hilda đứng sững! Nàng đang tưởng tượng thân hình ông hộ pháp nằm dài trên vải lều. Nàng không làm sao tin chuyện ấy có thể xảy ra được. Nàng có cảm tưởng ông là người trường cửu, sinh ra không phải để chết.
—Bà sợ sao? Một phụ nữ Đức không bao giờ sợ, nhứt là hành động cho Tổ Quốc. Tôi tin chắc bà cũng nhìn nhận rằng phụng sự Tổ Quốc là khi làm theo lời trối của một quân nhân.
—Tôi hiểu và tôi không sợ. Nhưng tôi không thể tin những chuyện ấy là sự thật. Tôi không tin quân Nga tới đây. Tôi không tin nước Đức bại trận!
—” Hỏng hết rồi! Thua cả rồi, vô phương cứu chữa! Đừng quên để súng lục vào bao cho tôi, và thiêu hủy nó một lượt với xác tôi. Một quân nhân phải được chôn hoặc hỏa táng với võ khí của họ. Một phút im lặng. Ông hộ pháp ngó mong, tư tưởng chìm trong hư không như chỗ nước sâu không đáy. Ông nói:
—Bây giờ, thế là hết!
Hilda ngó lên, tưởng ông tự tử trước mặt nàng, và nàng không thể chịu nổi cảnh tượng ấy. Nhưng ông chưa có dáng điệu muốn tự tử.
Ông quay nhìn hình Quốc Trưởng, đứng nghiêm trang chào, tay giơ thẳng lên.
Hilda đứng sau ông. Nàng thấy đôi vai và thân mình ông bó gọn trong bộ nhung phục, tay giơ thẳng lên. Ông đứng yên, như pho tượng.
Đoạn ông quay lại, ông đưa tay lên, chào nàng, và nói:
—Xin vĩnh biệt và cám ơn bà bạn! Tôi là Trung úy Iorgu Iordan…Bà khỏi phải lặp lại tên tôi. Hãy hãnh diện về công việc bà sắp làm, thật là danh dự cho một người phụ nữ Đức khi hoàn thành được ý muốn cuối cùng của một quân nhân!
Ông siết tay Hilda, siết chặt tay nàng như vĩnh biệt, rồi ông bảo:
—Bây giờ tôi muốn ở yên một mình! Khi nghe tiếng súng nổ, hãy trở vô. Vĩnh quyết chào bà!
——————————
Đoàn xe cam nhông đầu tiên của quân Nga lố dạng ở góc đường.
Hilda nghe tiếng máy chạy, nơi cửa sổ nhà bếp nàng thấy đằng xa đoàn xe tiến tới. Nàng vội chạy lên phòng ông hộ pháp. Ông đã dặn đừng vô, trước khi nghe súng nổ. Nàng chưa nghe tiếng gì, không dám trái lịnh ông.
Xe cam nhông Nga chạy ngoài đường phố, làm rung rinh mấy vách tường nhà. Hilda không thể chờ đợi được nữa, nàng đâm sợ, lật đật gõ cửa và bước vô phòng.
Thây hộ pháp nằm ngửa trên tấm vải lều, sóng sượt giữa căn phòng. Hilda nói thầm: “Sao mình không nghe tiếng súng nổ kia?”
Xác nằm ngay ngắn, hình như lúc ông chết mà còn nghiêm chỉnh chào hình Quốc trưởng. Mũ còn đội trên đầu, mặt đã tím ngắt và đường như dính tro bụi.
Gò má bên mặt, miệng và mũi có dấu máu nhưng không nhiều, chỉ vài tia máu nhỏ mà thôi.
Hilda lượm khẩu súng lục rơi cạnh miệng người chết và để vô bao da, khóa lại. Nàng nghĩ thầm sao ông tự sát mà nàng không nghe tiếng súng nổ.
Nàng nắm mấy góc vải phủ lên xác. Trước khi đắp mặt, nàng nhìn lại một lần nữa và nói thầm: “Ta không có cảm tưởng đang ở gần bên người chết. Cảnh chết không làm ta sợ. Ta cũng không thấy thây ma mặc dầu ở kế cận xác chết. Hay là bởi ta đã thấy nhiều người chết quá… lúc làm việc tại nhà thương!”
Nàng đắp mặt lại, mà không đụng người chết.
Bây giờ ông hộ pháp cũng như mọi người mà nàng đã gặp. Lúc sống, ông không giống mấy người khác. Nàng nhớ thoáng qua mới đây, ông còn sống, cạo râu, mặc nhung phục. Lúc ấy toàn thân nàng run lên khi đến gần ông.
Nhưng chuyện ấy như xa xăm lắm rồi, như đã xảy ra từ mấy chục năm về trước. Nàng như quên tất cả.
Bên ngoài, tiếng cam nhông và xe tăng chạy tới. Hilda vụt hoảng hốt, muốn bồng con chạy ngỏ cửa sau vườn, vô trốn trong rừng. Nhưng nhớ lại lời hứa với ông hộ pháp, nàng tự hỏi: “Ta hối hận đã hứa thiêu ông.
Nàng không thể lôi xác ông ra vườn, sợ lính Nga trên xe cam nhông và xe tăng chạy ngay trước cửa dòm thấy.
—“Thôi ta phải chờ tới chiều tối! Ta sẽ đem ông ra vườn đốt, rồi bồng con đi trốn!”
Hilda ngồi gần xác, không nghĩ ngợi gì nữa. Nhưng nàng lại sợ bị bắt, nếu họ gặp thây trong nhà. Nàng chạy qua phòng bên cạnh, bồng con, trở lại ngồi trên ghế, gần người chết. Nàng tự nghĩ: “Ta không thể thất hứa với lời trối của một quân nhân!”
Nàng đóng cửa và khóa lại, định chờ đến trời thật tối. Còn vài giờ nữa thì đêm đến. Nàng muốn coi giờ, nhưng không có đồng hồ. Trực nhớ ông hộ pháp có đeo nơi tay, nàng gở tấm vải lều ra xem để biết coi còn đợi mấy giờ nữa. Lúc ấy, có tiếng gõ cửa.
Hilda ôm con vào lòng, không trả lời.
Nàng nghe nói tiếng Nga ngoài cửa. Và tiếng gõ cửa dồn dập. Nàng mở cửa sổ trổ ra vườn. “Ta không thể bỏ chạy trốn mà chẳng giữ tròn lời hứa. Moritz “chồng ta” là một anh hùng, ta, ta không có quyền hèn nhát”.
Hilda mở nút một bình xăng chế lên tấm vải lều. Tiếng bá súng dộng cửa vang đội, cánh cửa gần bong ra. Nàng mở bình xăng thứ nhì, tưới thêm phân nửa. Nàng sợ quân Nga phá bể cửa, nên làm gắp. Rồi lật đật bồng con, chạy lại phía cửa sổ. Nàng nghĩ thầm:
“Ta nhảy ra cửa sổ, liệng quẹt máy cháy trở vô phòng và ông ta sẽ cháy thiêu. Như thế, ta vẫn giữ lời hứa!”
Trong phòng ngạt mùi xăng. Thằng nhỏ ho. Hilda lật đật quàng chân lên thanh sắt cửa sổ để nhảy ra sân. Lúc ấy quân Nga đã dùng vai tống bật cửa cái. Từ khuông cửa sổ xuống tới mặt đất trong vườn không cao lắm, nàng nhảy thì dễ, nhưng đã thấy lố dạng ba mũ quân Nga nơi cửa sổ rồi.
Trong vườn, còn nhiều lính khác. Nàng không thể nhảy được, liền ngó lại cửa cái. Thằng nhỏ ngộp hơi xăng, khóc ré lên. Nàng định nhảy đại, rồi chạy giữa lính Nga, nhưng một bàn tay lòn qua cửa sổ định nắm nàng lại, đã đụng chân nàng.
Hilda kêu lên một tiếng, nàng muốn tự vệ. Nàng chỉ có cái quẹt máy cầm tay. Không suy nghĩ, nàng bấm chỗ quẹt như bấm cò súng lục, khi bị chận đánh. Trong khoảng khắc, một làn ánh sáng phựt lên. Thế là hết, nàng không biết gì nữa, thấy tối tăm ảm đạm hơn cảnh u minh hắc ám của đêm trường. Ánh sáng hi vọng không bao giờ trở lại!
Ngọn lửa thiêu xác hộ pháp Iordan cũng là ngọn lửa bao trùm luôn cả vợ con Moritz. Và cũng ngọn lửa ấy thiêu hủy tất cả, kho đụn nhà cửa, cùng với tấm ảnh mà ông hộ pháp đem đặt trên bàn lúc nảy, ảnh mẹ Suzanna và ảnh của Suzanna, người vợ trước của Moritz
Dầu xăng của ông hộ pháp đem đến vẫn còn cháy, ngọn lửa lên cao ngất trời.

——————————
Traian và Eleonora West ngồi trước mặt ông Tham mưu trưởng Brown. Thống đốc quân sự Mỹ tại thành Weimar.
Traian nói:
—“Thưa ông Thống đốc, chỉ có bấy nhiêu thôi. Ngày 23.08 khi xứ Roumanie xin đình chiến, tôi và vợ tôi bị quân lính Croates đem giam với mấy nhân viên sứ quán Roumanie.
“Chúng tôi bị giam theo luật ngoại giao quốc tế trong một khách sạn với mấy người đại diện các nước nghịch.
“Rồi xứ Croatie bị đảng viên Tito chiếm cứ, chúng tôi lại bị dời sang nước Áo, rồi nước Đức, chót hết là nước Tiệp Khắc.
“Khi nước Đức đầu hàng, không còn bị ai giam giữ chúng tôi đi qua miền tây. Chúng tôi bỏ tất cả để đi qua miền tây.”
Eleonora thấy lại cả hai trăm cây số đi bộ, cẳng sưng, bàn chân phồng, nổi mắt cá. Nàng nói:
—Chúng tôi bỏ tất cả, để băng rừng vượt đồng, trốn qua những vùng chiếm cứ của người Mỹ, người Anh hoặc người pháp. Chúng tôi không muốn bị sa vào tay quân Nga hoặc các đảng viên cộng sản. chúng tôi thà tự tử hơn là để bị chúng bắt.
Ông thống đốc hỏi:
—Tại sao các người lại sợ quân Nga với đảng viên cộng sản. Chỉ có bọn phát xít mới sợ chớ! Quân Nga và đảng viên là đồng minh của chúng tôi. Họ chiến đấu cho cuộc thắng lợi của đồng minh mà!
Traian nói:
—Thưa ông Thống đốc, ông không phải là phát xít, nhưng tôi không tin rằng ông bằng lòng để vợ con ông ở trong vùng của quân Cộng sản chiếm đóng, dầu chỉ nội 24 giờ thôi! Không phải gì lý do chánh trị mà chỉ vì sự tàn bạo với sự khủng khiếp của họ gieo rắc. Và tôi tin rằng, cho đến ông nữa, ông cũng không can đảm đi một mình vào vùng đất Nga sô, mà không mặc sắc phục và được hộ tống đàng hoàng. Vậy có công bình chăng, khi ông hỏi chúng tôi, hai kẻ tay không, chẳng có khí giới tự vệ, sao lại đi trốn một đám dã man tàn bạo, võ trang bằng súng máy tối tân của Mỹ?
—Bây giờ, hai ông bà muốn gì? Chắc chắn là không ra khỏi nước Đức được. Ở đây, ông bà được đối đãi như công dân nước nghịch, và cũng chịu theo chế độ đối với dân chúng Đức, có quyền hạn như họ, và không được gì hơn.
Traian nói:
—Thế nghĩa là không có quyền hạn nào cả! Đàn bà Đức ở Weimar phải rửa cầu tiêu trong trại Buchenwald, giặt quần áo mấy tù binh được thả, ít nhứt một lần một tuần. Ông muốn bắt vợ tôi cũng làm công việc đó sao?
Eléonora nói tiếp:
—Chúng tôi không phải kẻ nghịch với nước Mỹ và các nước Đồng minh. Chúng tôi bị những nước nghịch với Đồng minh giam cầm cả năm. Và bây giờ chúng tôi đến xin ông cho phép ở một căn phòng nào, trong vùng nầy, hoặc cấp cho giấy tờ để có phương tiện đi nơi khác, nếu chúng tôi không được cư trú tại đây. Chúng tôi đang ở ngoài đường, không biết ăn đâu, ngủ đâu, không thể tắm gội gì được. Người ta cấm chúng tôi ở đây và cũng cấm chúng tôi đi nơi khác.
Viên thống đốc nói:
—Ông bà là công dân nước nghịch. Sự hiện diện của ông bà không cần ích cho gì cho tôi. Có phải giấy thông hành của ông bà do xứ Roumanie cấp không? Vậy quả ông bà là kẻ nghịch.
Eléonora nói:
—Nhưng xứ Roumanie chiến đấu mười tháng nay, bên cạnh Đồng Minh, chống với Đức. Và ông biết rõ việc ấy, cũng như tôi. Tám chục ngàn binh sĩ xứ Roumanie chết vì quyền lợi Đồng minh. Những người chiến đấu bên cạnh các ông lại là kẻ nghịch các ông sao?
Tham mưu trưởng Brown nói:
—“Xứ Roumanie là nước nghịch.” Ông kéo hộc tủ lấy tờ giấy ra đọc to “những nước nghịch: Roumanie, Hongrie, Finlande, Đức, Nhật Ý. Như vậy là rành rẽ lắm rồi, phải không? Ông bà là kẻ nghịch của Mỹ quốc!”
Traian đứng dậy, Eléonora van lơn, ngó ông Thống đốc nói:
—Ông không có đọc báo thấy xứ Roumanie chiến đấu bên cạnh Đồng minh từ một năm nay sao? Giấy tờ của chúng tôi biên rõ bị quân Đức cầm tù, không đủ chứng minh với ông sao? Chúng tôi không phải là kẻ nghịch.
—Nếu thật như vậy nữa, tôi cũng không quan tâm. Những điều khoản tôi nhận để thi hành định rõ dân Roumain là kẻ nghịch của Mỹ quốc. Tôi đã mất nhiều thì giờ bàn cãi với bà rồi. Bà là người nghịch của tôi, người nghịch của tôi, bà nghe chớ! Nếu tôi bị sa vào tay bà, tất bà ra lịnh bắn tôi, chớ không ngồi mà cãi như tôi đâu. Chuyện tôi vừa làm đây là bất hợp pháp. Và tôi không lặp lại nữa. Không ai đi cãi với kẻ nghịch bao giờ!
Tham mưu trưởng Brown, Thống đốc quân sự thành Weimar giận xanh mặt. Ông không thèm đáp lại lời chào của Traian và Eléonora.
Xuống nấc thang lầu, Traian nói:
—Tây phương là vậy đó em à! Họ không quan tâm đến sự trạng và con người. Họ bao gồm và nhứt luật tất cả, hị chỉ tuân theo luật lệ mà thôi.
Nora nói:—Em không đi được nữa!
Traian cầm tay nàng dìu đi. Nàng dựa vào vai chàng, khóc ròng và nói:
—Chúng ta đi hai trăm cây số ngàn để cầu cứu họ. Nhưng bây giờ chỉ là công cóc.
—Đừng hối tiếc em à! Ta tránh xa được cảnh kinh khủng của Nga sô. Ta chạy khỏi là may lắm rồi. con người không còn ở đâu được nữa bây giờ. Quả địa cầu hết còn là sở hữu của con người.
——————————
Bốn ngày sau, hai vợ chồng Traian trở lại tìm vị Thống Đốc. họ cần một giấy phép cư ngụ tại Weimar thêm một tuần nữa.
Hai chân Nora sưng vù và không thể đi xa được.
Nàng mặc cái áo đẹp nhứt, đội nón và mang giày cao gót. Khi hỏi người lính gác để yết kiến ông Thống Đốc, Traian day qua Eléonora, nói:
—Bữa nay em ăn mặc như đi hội.
Nàng mỉm cười. Áo nầy, nàng mặc lần đầu tiên, ba năm về trước, lúc đến viếng ông Tổng trưởng xứ Finlande.
Lính gác lễ phép nói:
—Ông Thống đốc xin ông bà chờ một chút.
Vài phút sau. Một lính khác đến hỏi:
—“Ông bà là nhân viên ngoại giao Roumain muốn viếng ông Thống đốc phải không? Xin chờ một chút nữa.” Nói rồi y đi khuất.
Eleonora rất hài lòng. Nàng cho ông Tham mưu trưởng Brown là người biết điều, biết phép lịch sự, chờ có năm phút mà cho người ra xin lỗi tới hai lần.
Dinh hành chánh là một tòa nhà to lớn. Dãy hành lang rộng thêng thang. Nora ngó vô kiếng thấy mình ốm, nếp áo rủ xuống nhiều hơn kỳ đến sứ quán Finlande.
Một người lính đến bảo:
—Xin theo tôi.
Eleonora mỉm cười, dang khỏi tấm kiếng. Traian vịn tay nàng. Họ theo sau người lính, không phải leo lên nấc thang như kỳ trước, mà đi thẳng nơi lối ra. Tên lính mời họ lên chiếc xe Jeep đậu trước cửa.
Traian hỏi:
—Đi đâu đây?
Tên lính rùn vai. Trời có gió. Xe chạy như bay trên đường phố. Traian kề tai tên lính thứ nhì, hỏi nữa:
—Đi đâu vậy?
Tên lính thứ nhì cũng rùn vai, như bạn đồng nghiệp nó. Traian day qua Nora. Nàng đang đưa hai tay giữ nón. Nàng cười, vì thích xe chạy mau.
Tới cuối thành phố, xe ngừng trước một bức tường đá. Người gác cửa đội nón kết, ra mở cửa. Nhưng xe không vô sân.
Một trong hai người lính đưa thơ cho người gác cửa, rồi ra dấu cho vợ chồng Traian xuống xe. Nora hỏi:
—Ở đây là ở đâu?
Hai lính Mỹ chờ nàng xuống xe, không trả lời.
Nora hỏi người gác của bằng tiếng Đức:
—Ở đây là đâu?
—“Khám đường của đô thành.” Tên gác vừa trả lời, vừa nắm tay Nora.
Nàng muốn nói vài tiếng với hai lính mỹ, nhưng đã muộn. Chiếc xe Jeep chạy khuất dạng, rất mau, như lúc đến.
Nàng ngó lại thấy Traian xanh mặt. Cánh cửa sắt đóng lại.
Họ đang ở trong sân khám đường.
——————————
Traian bị nhốt trong phòng số 5, ở từng dưới đất. Nora ở trên từng lầu ba, phòng số 2.
Traian nghĩ thầm:
—Chắc họ lầm rồi!
Chàng muốn tìm hiểu chuyện gì xảy ra, nhưng nhớ lại Nora cũng đang bị giam trong một căn riêng giống như căn của chàng, nên chàng mất bình tĩnh.
Khi nãy, lúc chia tay, chàng muốn hôn tay Nora và nói một lời âu yếm, nhưng tên gác khám nắm vai chàng xô mạnh cho dang ra.
Nora xây qua tên gác khám, cầu khẩn. Hắn cũng đẩy mạnh nàng về phía cuối dãy hàng lang khám đường bằng cách đó.
Traian nghĩ thầm:
“Ta định chắc họ lầm mình với một tên tội nhân nào cũng trùng tên với mình, hoặc giống mình. Nhưng tại sao họ cũng bắt luôn Nora?”
Traian tức giận, đập cửa rầm rầm, để kêu tên gác khám. Chàng lẩm bẩm nói: “Ta tưởng quân Nga bắt ta. Với quân Nga, có hai bàn tay thật sạch cũng đủ bị bắt. Và dầu họ bắt ta mà chẳng cần nhìn đến tay, hay là họ bắt ta mà chẳng có duyên cớ gì, ta cũng không lấy làm lạ. Với quân Nga, sự gì cũng có thể xảy ra.
“Ta đã đi bộ hai trăm cây số để trốn tránh một xã hội mà sự “thiếu tự do” cũng là một cớ để bị bắt, bị giết hay bị đày.”
Tay đấm cửa, đau nhừ, nhưng Traian vẫn tiếp tục đập cửa phòng giam.
Anh đấm cửa không phải để gọi tên gác khám nữa, mà để tự phạt lấy mình, sao chạy gần hai trăm cây số, chạy đã vô ích mà còn lại kéo lê Nora cho nàng phải bị đôi chân rướm máu và sưng vù như thế.
Traian tự nghĩ:
—Dân Đức có thể bắt Nora, vì họ là độc tài quốc xã và bài Do thái.”
Một tên gác nghe tiếng đấm cửa đến hỏi:
—Anh muốn gì?
—Tôi muốn gặp liền ông Giám đốc khám đường. Vợ chồng tôi bị bắt lầm.
Tên gác nói giọng chua ngoa: “Tôi đoán không sai. Ai vô đây cũng đều nói bị bắt lầm hết!”
—Tôi cấm anh mỉa mai tôi! Tôi muốn nói chuyện với ông Giám ngục liền bây giờ.
—Ở đây không có ông Giám ngục nào hết. Vợ chồng ông bị quân Mỹ bắt. Chúng tôi chỉ giữ phần cai quản thôi. Chúng tôi cũng chỉ là tù nhân chớ không khác.
—Vậy tôi muốn nói chuyện với người Mỹ!
—Viên đội Mỹ chỉ đến một lần mỗi tuần, vào ngày thứ hai.
Traian nhớ lại bữa nay là thứ hai, chàng nói:
—Anh muốn biểu tôi chờ đến thứ hai tuần tới, trước khi gặp người nầy hay sao? Anh tưởng vợ tôi ở được suốt tuần trong tù à?
—Tôi không làm thế nào được. Ông muốn nói gì cứ nói đi. Cứ đập cửa hàng giờ đi, nhưng vô ích. Tôi không thể làm gì được. Thứ hai tuần sau viên đội mới trở lại.
Viên gác khám đóng cửa.
Traian bèn nói:
—Anh nói với họ, hay không nói cũng được, rằng từ nay cho tới khi nào tôi có thể gặp ông Giám đốc để biết lý do bắt tôi, thì tôi không đụng đến thức ăn, thức uống gì cả. Đó là phương tiện duy nhứt của tôi để phản đối. Và tôi sẽ dùng nó.
—Ông định tuyệt thực sao?
—Và cũng nhịn khát nữa!
Tên gác khám đứng lại một lát trên ngưỡng cửa, chìa khóa cầm tay. Y thương hại ngó Traian, và nói:
—Tội nghiệp! Ông còn trẻ quá!
Y đóng cửa lại, khóa hai vòng.
——————————
Nora đập cửa gần nữa giờ đồng hồ. Một người gác đi lại đứng ngoài nghe mà không mở cửa. Y dòm vào lỗ tò vò và nói:
—Còn đập như vậy nữa thì bị trừng phạt cho coi! Tù nhân không được phép đấm cửa khám.
Nói rồi, y bỏ đi.
Nora nằm dài xuống giường. Được một lát, nàng ngồi nhổm vậy, sợ ha4.i nói: “Chắc có rệp.” Nàng định đấm cửa để xin đổi cái mền khác, hoặc hỏi xem coi có rệp hay không, nhưng nhớ lại nàng không có quyền đập cửa khám, nàng đành thôi, đi đi lại lại trong phòng giam.
Trong thâm tân, nàng biết mình có tội. Nàng biết bị bắt giam như vầy, xét cho chí lý, là công bình. Sau khi giả mạo trao đổi giấy tờ chứng nhận lý lịch nhân chủng của nàng, sau khi mua chuộc để làm mất giấy tờ hộ tịch trong hồ sơ trữ tại văn khố quốc gia, ngày đêm nàng cứ bị ý tưởng ngồi tù ám ảnh. Mỗi ngày, nàng chờ đợi có cảnh sát đến bắt. Suốt cuộc hành trình bên nước Đức, nàng run lên mỗi lần thấy cảnh binh đến, vì nàng dùng giấy tờ giả mạo.
Mấy năm sau nầy chỉ là một cuộc chờ đợi lâu dài: chờ giờ bị bắt. Nàng tự nói thầm: “Và giờ ấy đã đến. Họ đã khám phá ra ta là Do thái, và ta không thể trốn thoát được.”
Nàng run rẩy cả thân mình. Nàng lo sợ nói:
” Cho rằng quân đội Mỹ bắt mình, vì mình đã giấu giếm căn cội nhân chủng, giả mạo giấy tờ tại Roumanie, thật là vô lý. Tuy nhiên, đó là cái cớ chánh, cớ duy nhất để bắt bớ mình. Mình biết là không hợp lý, song chuyện đã như thế. Mình phạm tội. Và bây giờ mình sẽ bị trừng phạt. Một hình phạt gương mẫu, nghiêm khắc, nhưng đích đáng”.
Nora nghe lạnh. Y phục mỏng và nhẹ như lưới không đủ ấm để che thân nàng khỏi hơi ướt lạnh của vách đá.
Cái lạnh thấm vào da thịt, luồn tới xương tủy. Nàng cảm thấy hơi lạnh ấy thấu tận cõi lòng. Từ trước tới giờ, chẳng bao giờ nàng bị lạnh thận. Nàng cũng chẳng biết dích xác hai quả thận ở chỗ nào, hình dáng ra sao. Mà hiện giờ nàng lạnh thận. Thận lạnh buốt. Và chẳng riêng gì thận, ruột gan gì cũng lạnh buốt.
Nora cố túm vạt áo phủ đầu gối, nhưng vô ích. Nàng sợ ngồi trên giường. Nàng run lập cập, răng đánh bò cạp.
Ngoài sâu, trời nóng, nhưng không ích lợi gì cho nàng, trong khi nàng run en phát rét như ở giữa mùa đông. Muốn được ấm áp một chút, nàng ngồi chồm hổm co rút giữa sà lim. Lúc ấy, nàng thấy muốn tiểu tiện. Và muốn đi liền. Như cả trăm mũi kim đâm vào bọng đái, nàng không thể nín được, không điều khiển cho cân lực tuân theo ý muốn được.
Nàng nhớ có đọc trong tiểu thuyết: mỗi phòng giam đều có một chậu nhỏ để tiểu tiện. Nhưng trong phòng giam nầy chỉ có một cái giường, một cái bàn nhỏ và cửa sổ bao lưới sắt. Nàng đi lại cửa, giơ tay định đấm. Nàng tự nói thầm: “Chắc họ cho phép mình đi tiểu chớ!”
Nhưng lúc ấy, nàng nhớ lại những lời nghiêm khắc của viên gác khám Đức: “Nếu đập cửa sẽ bị trừng phạt”
Nàng tự nghĩ: “Ta phạm tội đấm cửa, trong khi ta không được phép!” Rồi nàng đi tới đi lui trong phòng.
Nàng đứng trước của, giơ tay một lần nữa. Nhưng nàng không có can đảm đập cửa khi nhớ đến câu nghiêm khắc: “Nếu đập cửa, sẽ bị trừng phạt!”
Trong khi câu ấy như còn văng vẳng trong tai, thình lình nàng cảm thấy cả thân mình như bị một luồng điện xẹt qua: đây là dấu hiệu báo nguy. Nàng thấy không thể làm chủ cơ thể được nữa. Nàng cảm thấy quần lồng bằng hàng mịn đẫm ướt, rồi đến cái nịt vớ và vớ cũng ướt.
Một cái gì ướt và ấm chảy dọc theo bắp vế, theo vớ tơi tận trong đôi giày.
Eleonora cố rán sức để nín. Nhưng các thớ thịt, làn da, và tất cả thân thể không thuộc về nàng nữa, nàng không tự chủ được. Nàng ngồi xuống. Quần càng lúc càng ướt và càng ấm, thì nàng có cảm giác được thơ thới lạ thường, được giải thoát hoàn toàn, một cảm giác chưa bao giờ nàng có được, đã tràn ngập, cả cơ thể nàng. Mỗi cân nhục, mỗi lỗ chân lông, mỗi thớ thịt đều nới giãn ra. Cảm giác ấy còn mạnh hơn sự sướng thích, nó như sự khoái lạc. Mà còn hơn sự khoái lạc, nó như trạng thái “xuất thần”. Nàng có cảm giác như mê ly tận đâu đâu, xuất thần khỏi trần tục. Tâm hồn nàng lâng lâng, bay liệng. Nàng như vượt ngoài thời gian: toàn thân nàng được giải thoát.
Nàng thấy như đã tiểu tiện hằng giờ, không bao giờ dứt. Nhưng khi nhìn thấy nền xi năng ướt đẫm chung quanh, nàng hoảng hốt. Nàng đứng dậy chạy trốn trong gốc xó. Đây là giờ phút thảm kịch nhứt trong đời nàng, nền xi năng ướt cả. Nhiều dòng nước tiểu tủa chảy cùng khắp, dưới giường, dưới bàn tới chân nàng.
Eleonora biết mình vừa mới phạm một việc cấm. Nàng biết sẽ bị bắt gặp và bị trừng phạt nghiêm khắc. Giọng hăm dọa của viên gác khám còn văng vẳng bên tai nàng: Rồi sẽ bị trừng phạt!”
Nàng muốn xé áo lau chùi chỗ ướt, nhưng vô ích. Nước nhiều quá mà áo hàng quá mỏng, nàng mặc quá ít, làm sao thấm cho ráo hết. Và giọng văng vẳng, “Rồi sẽ bị trừng phạt! Rồi sẽ bị trừng phạt!” lặp lại không ngừng bên tai nàng.
Biết không làm sao giấu diếm, không làm sao tránh khỏi sự trừng phạt, cố tìm cách che dậy cũng vô ích, nàng lấy hai tay che mắt, hai bàn tay còn đeo bàn tay trắng mỏng như lưới nhện. Nàng tuyệt vọng, khóc òa…
——————————
Viên đội Goldsmith, giám đốc khám đường nói:
—Những chuyện xảy ra cho ông bà thật đáng tiếc. Tôi xin tạ lỗi và rất ân hận không được biết sớm trường hợp của ông bà.
Một tuần lễ sau, từ ngày Traian và Eleonora bị bắt, Traian nằm dài trên giường, không cử động được, vì trọn bảy ngày, không ăn không uống,
Viên đội có chở theo xe, đồ đạc của hai vợ chồng Traian. Y phục với Nora soạn đồ ra, mời hai người hút thuốc. Y ái ngại và nói:
—Sáng mai nầy ông bà sẽ được trả tự do. Tôi sẽ đích thân khiếm chỗ ở và lái xe đưa ông bà đến đó. Tôi thành thật hối tiếc chuyện xảy ra.
Eleonora và Traian không nói lời nào.
Viên đội bảo tên gác khám:
—Ông bà Traian đây không phải bị bắt. Ông bà bị giam lầm, và còn đây đến ngày mai, vì chưa có chỗ ở. Hai ông bà sẽ nghỉ tạm trong căn phòng nầy. Anh phải thay vải trải giường và mền cho sạch sẽ. Họ là khách của chúng ta, chỉ là khách mà thôi.
Viên đội ra đi, nửa giờ sau trở lại, ôm một gói đầy đồ ăn và cam, bưởi cho Traian. Khi từ giã, y còn xin lỗi một lần nữa, bắt tay Traian, rồi mới ra về.
Tên gác khám chứng kiến việc nầy, mở mắt to như đứng trước một chuyện kỳ lạ.
Nora nói:
—Em biết rồi thế nào người Mỹ cũng đến xin lỗi chúng ta. Mỹ quốc là nước của người văn minh mà!
Traian bị nóng lạnh. Chàng ngủ liền. Ban đêm chàng chiêm bao thấy đang ở dưới tàu ngầm, và mấy con thỏ bạch đã chết ngộp đến con chót rồi. Chàng toát mồ hôi, thức dậy, áo ngủ ướt dầm, và nói: “Thỏ chết thì hết hy vọng”.
Trong giấc chiêm bao, chàng đã hết sức la hét, nhưng thủy thủ dưới tàu không chịu tin chàng…
——————————
Ngày sau viên đội Goldsmith không đến, Nora chờ suốt ngày, rồi nói:
—Bộ có chuyện gì cản trở, nên ông ta không tới được. Chắc thế nào ngày mai ông cũng dến!
Tên gác khám cũng đồng ý như vậy. Nhưng ngày mai, ngày mốt, cũng không thấy viên đội Goldsmith. Tuần lễ sau, có viên đội khác đến, nói:
—Tôi không biết chuyện của ông bà ra sao? Viên đội Goldsmith đã về Mỹ. Y không để lời dặn bảo gì về trường hợp của ông bà. Toi sẽ hỏi lại, và cho biết kết quả thứ hai tuần sau.
Y ra về.
Y là một gã thanh niên tóc đỏ, da mặt đầy dấu chấm hồng hồng. Y không muốn nói tên y, dầu với người gác khám. Chữ ký của y không đọc được và xem y nóng tính lắm.
Tuần sau y có đến khám đường, nhưng chỉ ở giây lát nơi phòng giấy.
Khi vợ chồng Traian đến yết kiến, thì y đã đi rồi. Phải đợi thêm một tuần nữa. Lần nầy, viên đội quạu quọ nói với Traian:
—Tôi có hỏi lịnh trên rồi. Ông với bà bị bắt cũng như mọi người. Không có điều khoản nào cho hưởng đặc ân.
Xây qua người gác khám, y ra lịnh:
—Nhốt mỗi người trong sà lim riêng. Họ cũng theo chế độ chung như các tù khác. Tôi không bằng lòng có ngoại lệ trong khám đường.
Người gác trố mắt to, như để xác nhận đã hiểu. Ông nói giọng run run:
—Tôi hiểu. Nhốt khám riêng. Chế độ chung. Không ngoại lệ.
——————————
Nghe tiếng viên cai ngục đi ngoài hành lang, Nora ôm cổ Traian thổn thức nói:
—Người ta đến chia rẽ hai ta. Em thà chịu chết hơn là chịu bị nhốt trở lại một mình trong sà lim.
Viên cai ngục đứng trước cửa, lắc xâu chìa khóa. Nora không ngó y. Nàng đã biết tại sao y đến. Và Traian cũng vậy, nên chàng ngó y chăm bẳm. Chàng muốn van nài y nán thêm năm phút nữa. Nhưng nghĩ cũng vô ích, nên làm thinh.
Viên cai ngục nói:
—Mùa hè nầy, tôi sẽ bị sa thải. Tôi đã già quá rồi. Từng tuổi tôi, tôi không thể học được trò cút bắt, và tôi cũng không muốn nữa.
Y ngừng một chút, rồi thu hết tàn lực, như lúc muốn cử một vật nặng, y nói:
—Ông với bà cứ ở chung như trước. Ở chung với nhau, và cửa mở rộng.
Nora hỏi:
—Bộ viên đội Mỹ đã bãi bỏ lịnh rồi hả?
—“Không, viên đội không bãi bỏ lịnh đã đưa ra!” Y trả lời, vừa đi, vừa lắc xâu chìa khóa. Cửa sà lim vẫn để mở rộng.
——————————
Nora thất vọng hỏi:
—Quân đội Mỹ đâu có gì chống chúng ta. Tại sao họ giam chúng ta đã 6 tuần nay rồi?
Traian đáp:
—Quân Mỹ không thù hằn gì chứng ta. Họ cũng không quan tâm đến đời sống chúng ta.
—Vậy phải bao lâu nữa họ mới biết được đã bắt và giam ta trong tù? Em không chịu đựng nổi nữa rồi!
—Họ không nhận chân được rằng chúng ta hiện hữu. Văn minh Tây phương trong giai đoạn tiến bộ chót nầy, không quan tâm đến cá nhân. Ta không hy vọng nào thấy họ sẽ lo nghĩ đến bao giờ. Cái xã hội ấy chỉ biết vài phần khuôn khổ giá trị con người thôi. Con người thật sự, xét từng cá nhân, không còn tồn tại với xã hội ấy. Em Nora, em bị ngồi tù dẫu rằng vô tội, và anh với mấy người khác nữa cũng vậy, chúng ta đều không hữu hiện đối với họ. Chỉ có thế thôi! Chúng ta chỉ là con số không. Chúng ta không có. Chúng ta hữu hiện chỉ vì ta là thành phần của một loại hạng. Thí dụ họ chỉ biết em đây là một nữ công dân nước nghịch, bị bắt tại địa phận Đức quốc. Đó là chỗ tối đa của các đặc điểm mà Xã hội kỹ thuật Tây phương có thể nhận xét về em. Dưới mắt họ, em chỉ có mấy đặc điểm đó mà thôi. Và cũng nhờ mấy đặc điểm ấy nên xã hội đó mới nhận ra được em, rồi nhân thế, đối xử với em như những người cùng nhóm em, theo phép nhơn, chia hoặc trừ của toán pháp. Em chỉ là một thành phần của xứ Roumanie. Thành phần ấy bị bắt. Lý do cuộc bắt bớ là phạm lỗi, hay trọng tội, thì thuộc chung cho cả loại hạng.
—Tuy nhiên, người Mỹ cũng có một cớ để bắt ta chớ. Hoặc họ thù ta, hoặc họ nghi ngờ ta. Nếu không, thì họ thả ta rồi. Em khổ vì không rõ nguyên cớ nào bị bắt. Bởi phải có duyên cớ mới được!
—Có chớ sao không. Nhưng duyên cớ ấy trở nên vô lý khi xét theo phương diện nhân đạo, mà hoàn toàn hữu lý, theo phương diện máy móc. Tây phương nhìn con người bằng đôi mắt kỹ thuật. Con người bằng xương, bằng thịt, biết vui sướng, biết đau khổ đều không có nghĩa gì đối với họ. Vì thế, cái việc họ giam cầm ta, hoặc mai kia đem hành quyết ta, không thể xem là trọng tội, là sát nhân. Đối với người bằng xương bằng thịt, chuyện đó mới là trọng tội.
Còn Xã hội Tây phương không thể biết được có đời sống con người, thì khi giam cầm hay giết chết một người, cái xã hội ấy không phải đã giam cầm hay giết một sinh vật mà chỉ giam giết một quan niệm thôi. Theo lý lẽ thì trọng tội không thể gán cho cái xã hội kỹ thuật ấy, vì chẳng có máy móc nào bị buộc tội sát nhân cả. Và không ai có thể bắt buộc máy móc đối xử với con người như người được.
—Vậy thì duyên cớ chánh đáng và hoàn toàn theo phương diện kỹ thuật khiến cho người Mỹ giam cầm chúng ta là duyên cớ nào?
—“Anh không rõ. Anh chỉ biết rằng bắt buộc con người tuân theo luật tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật, là như cố ý sát nhân, vì các tiêu chuẩn kỹ thuật chỉ hoàn hảo đối với máy móc mà thôi. Bắt buộc con người sống theo điều kiện và hoàn cảnh của con cá, và làm ngược lại, thì người và cá sẽ chết trong vài giờ. Tây phương tạo một xã hội giống như cái máy. Họ bắt buộc con người sống trong cái xã hội ấy phải thích ứng theo luật lệ của máy móc. Một vài khi họ tưởng thành công. Nhưng sự thật, họ giết lần con người khi bắt buộc con người tuân theo những luật lệ đã chi phối xe hơi và chiếc đồng hồ.
“Chỉ có máy móc, mới thật sự giống y với nhau. Chỉ có máy móc mới có thể thay đổi nhau từng bộ phận được, mới có thể tháo gỡ hoặc lược bỏ hết, để còn trơ mấy cơ quan trọng yếu, hay là vài cử động quan trọng mà thôi. Khi nào con người thật giống hệt máy móc đến trở thành máy móc, thì chừng đó con người không phải là con người nữa, chừng đó không có loài người trên quả địa cầu.
Nora thở dài, Traian nói tiếp:
—“Em không hiện hữu, kể về nhân vị con người, còn nếu em muốn hiện hữu, thì đã bị biến thể và được nhìn với con mắt của máy móc.
“Nhưng trong cái xã hội kỹ thuật nầy, cũng như ở các xã hội man rợ, con người không có một giá trị nào. Hoặc nếu có, thì giá trị ấy cũng không đáng kể. Vậy nói đúng ra, em không bị bắt”.
—Chúng ta không bị bắt à?
—Kể như em và anh không bị bắt, chúng ta không bị bắt, dẫu rằng chúng ta đã ở sáu tuần trong khám. Vì đối với xã hội Tây phương, cá nhân ta không có. Vì thế, cá nhân ta không thể bị bắt và cũng không có bị bắt.
—Chuyện ấy không an ủi ta được. Chúng ta không bị bắt, song chúng ta đang ở tù.
—Cũng an ủi được lắm chớ! Đó là cái “có thể được” duy nhứt trong giờ phút quá muộn của lịch sử nầy.
——————————
Viên gác khám bước vô sà lim của Traian, nói:
—Hôm nay, thế là hết! Ông hãy đọc tờ bố cáo nầy:
“Tỉnh Thuringe và thành phố Weimar đã nhượng cho Nga Sô. Đội tiền phong Nga đã vô thành phố. Cả đoàn xe cam nhông chở đầy lính đã tới trong đêm rồi. Lính Mỹ đều rút ra khỏi thành. Họ còn giữ dinh hành chánh, khám đường và vài căn nhà, không ai được phép đi đâu. Thành phố bị hiến binh vây giữ”.
Nora đọc lời bố cáo đăng trong báo. Nàng ngó Traian và viên gác khám đang đứng dựa cửa, rồi nói:
—Chừng giao khám đường, chắc chúng ta cũng sẽ bị giao luôn cho quân Nga.
Viên gác khám đáp:
—Tôi cũng sợ như vậy. Quân Nga sẽ đến đây nhận lãnh khám đường sáng nay, hoặc trưa, hay trễ lắm là chiều, chưa biết đích xác giờ nào!
Traian ôm đầu suy nghĩ, rồi lẩm bẩm ôn lại: “Chạy trốn. Hai trăm cây số ngàn, Nga sô. Kinh khủng. Hãm hiếp. Xứ Sibérie. Hai chân của Nora sưng vù và đầy vết tích. Các ủy viên chính trị. Bị giao nộp một lượt với sà lim và khám đường, như kẻ vô tội bị xiềng xích”. Chàng nói:
—Bây giờ chỉ nên lo việc chính thôi, vì ngày giờ cấp bách đến rồi! Đừng giấu giếm gì nữa. Ông gác khám có thể nghe tôi nói chuyện. Tôi biết quân Mỹ sắp giao cho quân Nga tất cả chúng ta bị giam nhốt trong sà lim. Thật là sát nhân! Nhưng đứng về phương diện của họ, thì họ vô tội, Họ cũng ngây ngô như đầu xe lửa, cán người trên đường rầy, mà vẫn thản nhiên, lại dường như mỉm cười. Người Tây phương đã thu hẹp tội ác còn có một chiều. Họ giảm bớt tối thiểu đến cực độ. Tôi có thể nói với họ gần như không biết đến tội ác nữa. Vì thế, họ không có tội. Nền văn minh của họ mới là thủ phạm thôi. Nhưng điều ấy không quan hệ trong giờ phút nầy. Tôi nhắc lại để đừng ai còn ảo vọng. Trong vài giờ nữa, chúng ta sắp bị giao cho quân Nga, nghĩa là những quân tàn bạo hơn hết, chúng đã hành động trên khắp mặt đất nầy, nhờ có một cơ cấu quốc gia. Và nếu tôi còn chịu đựng nổi, tôi sẽ là “người máy móc” bị thu hẹp trong công việc của người máy, thì tôi cũng không bao giờ đương đầu nổi. Vậy trước khi bị giao cho quân Nga, tôi sẽ tìm hết cách để vượt ngục, và nếu tôi không thành công, tôi sẽ tự tử.
Traian day qua viên gác khám hỏi:
—Ông giúp chúng tôi vượt ngục không?
—Tôi sẽ làm hết sức tôi. Tôi cũng muốn đi khỏi nơi đây. Tôi là dân xứ Autriche. Tôi sẽ trở về nhà tôi tại thành Vienne. Song tôi sẽ đi sau.
Nora hỏi:
—Còn em, em sẽ trở nên thế nào? Em không thể vượt ngục được, em sợ lắm! Tốt hơn, anh bắn chết em trước!
Traian đáp:
—Ta sẽ cùng chết với nhau!
Viên gác khám khuyên:
—Tốt hơn nên trốn thử xem sao. Đâu có khó khăn gì. tường đã sụp đổ vì bom đạn. Chỉ cần ra được tới sân, còn bao nhiêu khác là chuyện trẻ con.
——————————
Nora nói:
—Em không có can đảm xuống dây từ lầu thứ ba. Anh là đàn ông, anh làm được. Còn em, em sợ lắm!
Traian đang nối vải trải giường với mền để làm một sợi dây. Chàng nói:
—Đừng sợ chi hết. Em khỏi cần làm việc gì. Anh cột em, rồi thòng dây xuống, theo cửa sổ. Tới sân, em cứ đi nép theo vách tường, và chờ anh, gần cái cây mà anh đã chỉ đó.
Nora nắm đầu dây, trong lúc Traian lo nối thêm. Nàng buông sợi dây, nói:
—Em không thể trốn. Khi anh thòng dây thả em xuống, em cứ tưởng tượng người ta bắn em. Và chỉ nghĩ đến việc ấy, là em ngất lịm đi. Anh không tưởng tượng họ sẽ bắn em trong lúc em xuống dây sao?
—Có thể lắm, nhưng cứ liều thử coi. Biết đâu họ không bắn. Dầu sao, hành động như thế, ta còn có hy vọng được cứu thoát hơn là ta tự bắn ngay liền.
Nora hỏi:
—Và nếu ta ở với quân Nga? Không chừng họ không quá tàn bạo như người ta nói. Dưới chế độ cộng sản cũng có người vậy. Họ sống được, có lẽ mình cũng sống được chớ?
—“Em nói có lý. Trong vùng cộng sản cũng có người. Và có lẽ đời sống của họ không khắc khổ gì hơn đời sống của người Tây phương.
“Không có quan điểm nào khách quan để vịn vào đó mà phán đoán đúng được. Không có sự thật nào khách quan cả. Chuyện nào cũng chủ quan.
“Phần anh, anh chẳng khi nào chịu sống trong thiên đàng cộng sản. Sự ngoan cố của anh có lẽ hơi vô lý, nhưng theo quan niệm riêng của anh, thì nó lại đúng lý.
“Và đối với từng cá nhân, chỉ có những chuyện nào hạp với ý riêng mình, mình mới cho là phải.
“Nên riêng phần anh, anh không muốn lọt vào tay những tên “hung bạo cơ giới hóa” Nga sô.
“Có lẽ anh điên rồ.
“Anh không thiết sống. Anh có thể từ bỏ nó bất cứ lúc nào.
“Nhưng nếu anh không chết, thì anh phải sống theo điều kiện nào thích hợp cho anh. Người ta sẽ mất công vô ích để giải thích rằng lối quan niệm về cuộc sống của anh không hay. Anh chấp nhận tất cả lý thuyết. Nhưng anh không bằng lòng ai chỉ dạy cách sống cho anh, cách sống họ tưởng là hay nhứt và bắt buộc anh phải theo. Đời anh là của anh. Đời anh không phải của mấy nông nghiệp sản xuất hợp tác xã, mấy đoàn thể cộng đồng, mấy ủy viên chánh trị. Vậy anh có quyền sống theo sở thích anh. Nếu anh muốn, anh có thể bắt chước sống theo đời sống của một ủy viên chánh trị. Nhưng anh lại không muốn. Và nếu anh có hành động như thế nào, không ai có quyền chỉ trích hoặc phê bình anh hành động phải hay quấy.
“Anh trọn quyền sử dụng đời sống của anh, và anh cự tuyệt cách sống theo lối cộng sản.
“Vì thế anh mới định tự sát”
Nora khóc òa. Traian tiếp tục nối dây. Nàng cầm chặt mối kia. Chàng bảo Nora:
—Em ra xem coi lính Mỹ rời khỏi tháp canh trong sân chưa?
Nora xuống hành lang, chạy đến cửa khám dòm mấy tháp canh coi quân Nga đã tới chưa. Traian dặn:
—Phải dòm chừng mỗi năm phút. Cơ hội thuận tiện nhứt là lúc lính Nga đến thay lính Mỹ. Qua cơ hội đó thì trễ mất rồi.
Hia vợ chồng lo nối dây trọn buổi sớm mai. Họ nhóng thử coi dây dài và chắc hay không. Cách năm phút, thì một người đi dòm chừng tháp canh, và trở vô, vẫn nói:
—Còn lính Mỹ hoài!
Cả hai đều vui mừng vì lầm tưởng hễ còn lính Mỹ tại tháp canh trong khám, thì chưa hẳn tuyệt vọng.
———————————-
Sáu giờ chiều, Traian và Nora bị lùa ra khỏi sà lim, dẫn lên xe cam nhông Mỹ với các tù binh khác.
Traian xanh mặt, còn Nora thì khóc. Train nói:
—Họ đem ta đến một chỗ khác để giao cho quân Nga. Xe chạy về hướng đông.
Đường lộ thành phố Weimar đầy binh lính và quân xa Nga.
Traian hỏi Nora:
—Em muốn chúng ta nhảy xuống xe không? Chắc chắn họ chở chúng ta đến một khám đường Nga.
Xe chạy ra khỏi châu thành. Nora ngó mấy cánh đồng xanh, rồi ngó mặt trời. Nàng thấy chắc chắn là xe chạy về hướng đông.
Traian nói:
—Xe gần tới một đám rừng. Em cứ nhảy trước, trốn trong bụi rậm chờ anh. Anh nhảy theo sau em liền.
Nora khóc.
Chàng hối:
—Sửa soạn đi!
Nora nói:
—Để lát nữa! Bây giờ em sợ quá!
—Không còn cơ hội nào tốt như vầy nữa đâu. Kìa mấy bụi rậm bên lề đường, dễ trốn lắm! Em không muốn nhảy sao? Xe chạy chậm rồi đó!
Chàng nắm tay Nora, nhưng nàng níu chặt băng ngồi, co quắp mấy ngón tay, và nói:
—Không. Anh muốn thì cứ nhảy đi! Em thề không oán giận anh đây, nếu anh có bỏ em lại đây để trốn thoát một mình.
Traian ngồi xuống gần bên nàng, nhắm mắt lại để đừng trông thấy đám rừng có bụi rậm dễ trốn, và đừng tiếc rẻ cơ hội bỏ lỡ nầy.
Lúc chàng mở mắt ra, mặt trời đã ở ngay trước mặt, làm chóa mắt chàng.
Xe chạy về hướng Tây. Traian hớn hở nắm tay Nora nói:
—Người Mỹ kể cũng tử tế đấy! Họ không giao chúng ta cho quân Nga!
—Vậy họ chở ta đi đâu?
Traian sầm nét mặt, hổ thẹn nói:
—“Tới một khám đường Mỹ. Em đừng giận anh sao lại hân hoan quá thế. Phải điên rồ lắm mới vui mừng khi bị giam ở khám đường nầy hơn là ở khám đường khác.
” Nhưng, đây là đến giai đoạn chót của con người ở Âu châu. Họ chỉ có thể lựa chọn giữa hai ngục thất.”

——————————
Viên sĩ quan cười thân mật hỏi:
—Phải anh là Iohann Moritz không? Thiếu tá Đô trưởng muốn nghe chính anh thuật chuyện vượt ngục. Có phải anh đã cứu năm lính Pháp trốn khỏi trại giam không?
Moritz hớn hở đỏ mặt.
Anh không ngờ các sĩ quan Mỹ đem xe đến chở anh đi thuật lại chiến công của anh. “Cho đến Thiếu tá Đô trưởng cũng nghe đến tên mình nữa!” anh nghĩ thầm như thế, và thấy hân hoan thích thú hơn lúc nào hết.
—Phải, tôi là Moritz đây!
Sĩ quan nói:
—Tôi có xe, anh đi với tôi.
Moritz muốn mặc áo ngoài, mang vớ, vì anh chỉ mặc áo sơ mi, quần dài, mang giày mà không có vớ. Nhưng viên sĩ quan hối thúc:
—Đi như vậy cũng được mà, Thiếu tá đang chờ. Chừng nữa giờ, anh trở về, tôi sẽ chở xe cho.
Hai người lên xe Jeep. Moritz định sẽ thuật hết câu chuyện cho Thiếu tá nghe, chẳng thêm bớt gì. Anh bắt đầu lựa chọn trước câu nói. Anh vui sướng nghĩ tới nét mặt Thiếu tá và thấy như đang ngồi trước mặt ông, tường thuật vụ vượt ngục.
Xe ngừng trước một nhà đá. Viên sĩ quan day qua Moritz, nói:
— Anh ở lại đây!
Moritz leo xuống xe, và tiếc sao viên sĩ quan không theo mình, để mình thuật chuyện mạnh bạo hơn. Nhưng xe đã chạy. Tên lính gác của đưa Moritz vô sân. Hai lính Đức tới dẫn anh đi. Moritz ngó chung quanh, không hiểu sao Thiếu tá Đô trưởng lại ở cái nhà xấu tệ như vậy. Nhưng anh không dám hỏi.
Vô trong, thấy cửa sổ nào cũng có song sắt như nhà tù, anh hỏi:
—Phải Thiếu tá Đô trưởng ở đây không?
Hai cảnh binh phá cười rộ lên. Họ không thể nín nữa được. Họ nhốt anh dưới hầm, trong sà lim tối thui, khóa hai vòng, mà còn cười về câu hỏi của tên tù.
——————————
Bà mục sư Corina Koruga bị đòi đến thị sảnh. Đã nữa đêm, khi hai thôn dân mang dây băng ba màu đến gõ cửa và ra lịnh biểu bà đi. Ngoài trời, trăng sáng làu làu. Bà mục sư khóa cửa cẩn thận, và cầm chìa khóa trong tay.
Tại thị sảnh đã có hơn mười lính Nga đang ăn uống giễu cợt với dân làng. Bà mục sư ngó xuống, thầm đọc kinh cầu Thánh Nicolas.
Bọn lính ép bà uống rượu. Nhưng bà vẫn đọc kinh, không ngó ai và cũng không đụng môi vô ly rượu. Một tên lính đổ rượu vô áo bà. Đứa khác lật váy bà lên, và tạt rượu vô mình bà. Nhưng bà không nghe, không thấy gì cả, cứ nhắm mắt đọc kinh cầu Thánh Nicolas, vị Thánh giống phưởng phất như mục sư Koruga, chồng bà. Bọn lính Nga và dân làng lại đổ rượu lên đầu, vô áo sơ mi, vô váy, trong mình bà. Bà ướt mèm. Chúng lại vật bà nằm dài trên ván rầm. Bà thấy toàn thân bà bị ướt đầm như khi bà té xuống nước. Rồi bà cảm thấy như bị chìm đắm và chết đuối. Thánh Nicolas thì đứng trên bờ cầu nguyện cho bà.
Sáng lại, sau vụ xảy ra ở thị sảnh, bà Corina, vợ mục sư Koruga, treo cổ tự tử trong chuồng gà.
——————————
Đêm đầu tiên của Nora ở trại giam Ohrdruf. Nàng nghĩ thầm: “Không lý nào họ giam ta vô cớ?” Nàng nằm dài, không mền, không nệm, trên ván lót giường. Xương hông, cùi chỏ nàng đau điếng.
Khi tới trại thì trời tối hẳn. Xe cam nhông chở hai vợ chồng Nora từ khám đường Weimar. Đến đây, Nora bị nhốt vào trại giam, còn Traian thì bị chở đi nơi khác.
Trại giam đàn bà bằng nhà cây. Phòng Nora có gần ba mươi người; trời tối, nàng không thấy rõ gương mặt họ, hình như họ còn trẻ lắm.
Nora nằm trên giường cây, khóc thầm, rồi ngủ quên.
Một tiếng cười khúc khíc trong góc phòng làm nàng giựt mình thức giấc. Nàng nghĩ: “Chắc đã nữa đêm rồi! Đàn bà nào bị nhốt ở đây nhiều vậy kìa?” Nàng nghe như giọng cười của đàn ông. Nhưng trại giam đàn bà không thể nào có đàn ông được. Nàng lắng tai nghe, và rõ ràng là tiếng của một người đàn ông thật. Y không cười nữa, nhưng Nora nghe rõ họ đang tình tự với nhau.
Có tiếng đàn ông cười nữa, nhưng ở một góc khác. Nora hoảng sợ. Nàng nghĩ thầm: “Họ tình tự với nhau, sao mình lại sợ mấy người đàn ông ấy?” Nhưng nàng không trấn tĩnh được, vội bịt lỗ tai, không nghe gì hết. Và tuy nhắm mắt, nàng vẫn cũng thấy. Tấm ván giường rung rinh. Nàng mở mắt thấy cửa sổ mở bét. Nhiều người đàn ông vô phòng, đứng giữa nhà, nói chuyện với nhau. Một người đàn bà mặc áo sơ mi, đứng kề bên.
Nora không kềm chế được, nhắm mắt lại, la hoảng hốt lên. Lúc đầu nàng cũng không biết tại sao nàng vụt la lên. Bây giờ nàng vẫn tiếp tục la vì nàng sợ đàn ông và đàn bà trong phòng. Họ sẽ không đánh đập nàng tại sao la và làm cản trở cuộc tình tự của họ.
Nàng suy nghĩ: “Thật ngu dại làm sao? Phải mình đừng la. Bây giờ, họ có ráp lại đánh chết mình, cũng phải chịu. Họ có lý để giết mình, vì mình đã la!”
Mấy gã đàn ông vội vàng chạy trốn khỏi phòng. Họ đông lắm. Nhiều người nằm dài dưới đất mà Nora không nghe biết. Có gã nằm chung giường với người đàn bà, kế bên giường nàng, mà nàng cũng không nghe biết nữa. Họ đi ra khỏi phòng như mấy bóng ma, to lớn, đen ngòm, đen hơn trời tối.
Vài người đàn bà đi với họ, nhưng rồi lại trở vô, đi nhón gót về chỗ ngủ.
Phòng im lặng. Ai nấy đều về chỗ nằm, chỉ còn lại hai người đứng giữa nhà, trong tối. Họ mặc áo sơ mi ngắn. Bóng dáng họ xem đẫy đà to lớn. Họ cũng không nói chuyện, chỉ đứng khít vào nhau. Nora nghe họ nhai chocolat.
Nora chờ họ đi ngủ. Nàng sợ họ đánh hoặc giết nàng trong lúc nàng ngủ. Nhưng họ đứng yên, tiếp tục nhai chocolat, không nói chuyện gì hết.
Một người hỏi nho nhỏ:
—Ai la hồi nãy đó? Phải con mẹ ngoại quốc, tóc hung hung, mới vô hồi tối không?
Có tiếng trả lời:
—Không biết. Nhưng tôi cũng không tiếc, vì nàng đã la. Tôi mới vừa xong với gã của tôi, và không muốn tái lại…
Họ ăn chocolat, và không nói chuyện với nhau nữa. Nora dòm từng cử chỉ của họ. Sau rốt, họ chia tay nhau, mỗi người đi lại một góc, lên giường nằm. Ván giường kêu cót két. Rồi hoàn toàn im lặng.
Nhưng Nora ngộp thở. Nàng không thể ngủ được. Chẳng còn gã đàn ông nào trong phòng. Đàn bà đều ngủ hết nhưng không khí hôi ngấy mùi rượu, mùi mồ hôi, mùi đàn ông tình tự. Cửa sổ mở rộng, song không đuổi hết các mùi ấy ra được.
Nora bực tức nói thầm: “Phải có duyên cớ gì mới bắt mình chứ, nếu không, họ đâu có nhốt mình ở đây!”
Nàng muốn ho, song lấy tay bụm miệng, nín lại, nàng sợ mấy người đàn bà kia đánh nàng…
——————————
Buổi sáng đầu tiên của Traian trong trại giam Ohrdruf. Vừa mở mắt, chàng thấy Moritz. Bắt tay Moritz, chàng hỏi:
—Ta ngủ gần nhau suốt đêm mà không biết chớ. Sao anh lại ở đây?
Moritz bèn thuật chuyện của anh, khởi đầu từ đoạn cuối. Anh nói chuyện viên sĩ quan Mỹ đến chở anh đi, để tường thuật việc vượt ngục cho Thiếu tá nghe, và nói:
—Thay vì dẫn tôi đến chỗ Thiếu tá Đô trưởng, họ bỏ tù tôi! Tôi bị nhốt tám tuần trong xà lim không cửa sổ, không ánh sáng. Tôi mãi trông chờ Thiếu tá cho gọi, nhưng ông không gọi tôi. Và bây giờ, họ đem tôi đến đây. Thế thôi!
Thuật dứt câu chuyện, anh day lại hỏi Traian:
—Còn ông, Sao ông lại ở đây?
Traian rùn vai.
Bọn tù nằm ngủ la liệt dưới đất, lần lượt thức dậy từng người. Trại giam Ohrdruf chỉ là một cánh đồng bằng, rào dây kẽm gai. Mười lăm ngàn tù nhân bị nhốt nơi đây. Một cánh đồng trơ trọi, chỉ có trời, đất và người. Bốn gốc rào có quân binh, súng máy cầm tay, đứng gần xe tăng canh gác trại giam.
Moritz hỏi:
—Ông có tin tức gì của làng Fantana không? Tôi không tưởng tượng được sao ông lại ở đây. Làm sao chúng ta lại gặp nhau ở chốn nầy? Và trọn đêm nay ta ngủ gần kề nhau? Thật tôi không thể nào hiểu nổi…
——————————
Viên sĩ quan cai quản trại giam là một người Do Thái. Eleonora mừng thầm nói:
—“Một người Do thái ắt hiểu rõ nỗi thống khổ của ta hơn. Người chắc sẽ giúp ta như một thân quyến. Người sẽ đem ta ra khỏi chốn nầy.” Nàng quyết định sẽ thuật lại cặn kẽ đời nàng, van xin, khẩn cầu viên sĩ quan cứu vớt nàng như nói với một người anh ruột.
Trên vách phòng làm việc của viên cai trại treo đầy hình ảnh chụp trong các trại giam Đức. Nora đứng xem. Bức ảnh nào cũng to lớn bằng cỡ vách tường, chụp cảnh người chết chóc, kẻ treo cổ, kẻ đói khát; cảnh đoàn tội nhân mặc bộ đồ sọc rằn của nhà tù; cảnh thây chất thành đống, những cột xử giảo sắp dài, cả dọc xe cam nhông đầy nhóc thây đàn bà.
Nora quên phứt mình đang ở đâu. Nàng tưởng như ở trong trại diệt trừ Do thái của Đức quốc xã.
Nàng ngó Trung úy có bộ tóc hoe đỏ, ngồi ở bàn viết. Nàng đưa mắt van lơn như cầu khẩn để được cứu khỏi bị diệt trừ, bị chết đói, bị bỏ vào phòng hơi ngạt, hoặc bị tra tấn. “Tôi đây là Do thái cũng như ông! Xin cứu tôi với!” Không bao giờ nàng cảm thấy nàng là Do thái hơn lúc nầy. Nàng kêu:
—Trung úy!
Tiếng nàng run rẩy. Cổ nghẹn ngào. Nước mắt chặn ngang cổ họng, nàng không nói ra lời.
Viên sĩ quan xẳng xớm quát to:
—Mầy không được nói, trước khi tao hỏi.
Nora cắn môi hối hận, làm thinh chờ.
Viên sĩ quan đọc, mà không ngó nàng, rồi nghiêm nghị hỏi:
—Mầy tên Eleonora West Koruga hả? Có phải mầy không? chồng mầy cũng bị bắt phải không?
Y xưng hô mầy tao với nàng. Giọng nói không chút gì thương hại, thân mật như giọng của một người anh. Y hỏi tiếp:
—Chồng mầy là nhân viên của nhà độc tài Antonesco?
Nora đáp:
—Chồng tôi là viên chức của vương quốc Roumanie.
Sĩ quan đỏ mặt, giận dữ. Da mặt mét chằng và đầy tàn nhang của y đỏ phừng lên. Môi run run, y hỏi:
—Ở Roumanie, có nhiều cuộc hành sát Do thái rùng rợn phải không?
Nora chưa kịp trả lời. Y hỏi tiếp:
—Ở Roumanie có nhiều trại giam Do thái phải không? Có nhiều trại mà dân Do thái bị diệt trừ tàn nhẫn bằng hơi độc, bị xử giảo, chặt đầu, bắn chết…
Trung úy đứng dậy.
Nora muốn nói nàng cũng là Do thái. Nàng bắt buộc phải tráo giấy tờ, trốn tránh, phập phòng lo sợ mỗi đêm. Nhưng viên sĩ quan đến gần nàng, giơ tay lên, hỏi to:
—Trả lời cho tao nghe coi!
Nora thấy chắc sẽ bị đánh vào mặt. Nàng nhắm mắt run rẩy chờ đợi và không dám nói một tiếng nào,
Viên sĩ quan càng hét to:
—Trả lời mau coi, quân giết người! Mầy đã giết bao nhiêu đàn bà Do thái rồi? Nói mau. Mầy cứ làm thinh, tao xé xác mầy ra! Tự tay mầy đã giết mấy người Do thái rồi.
Nàng vẫn im lặng.
—Mầy không muốn nói à! Bây giờ mầy sợ. Hiện giờ mầy run sợ, mầy són đái trong quần. Nhưng lúc giết người, mầy đâu có sợ!
Nora ấp úng:
—Tôi đây, tôi cũng…
—Ra khỏi chốn nầy, đồ khốn. Đi ra!
Y quát to, hằm hằm vung tay lên trước mắt Nora. Nàng lật đật bước mau ra khỏi phòng.
——————————
Traian đang viết. Moritz ngồi kề bên, nhìn cách ông cầm viết chì, mấy ngón tay khít khao, và cách ông gò gẫm viết chữ, như khi ông xỏ hột ngọc trai.
Moritz không kiên nhẫn ngồi viết, và cũng không ưa viết. Nhưng anh có thể ngồi hàng giờ xem Traian viết, mà không chán.
Moritz nghĩ thầm: “Lúc ông Traian ngồi viết giống như lúc ông đọc kinh trước tượng Thánh. Nhìn ông người ta có thể quên ông là tù nhơn, không còn thấy ông đi chân không, đầu cạo trọc, quần lủng nhiều lỗ. Lúc ngồi viết, ông Traian là một “Thánh nhân.” Người ta kính cẩn muốn dỡ nón và hạ thấp giọng”.
Traian ngừng viết, hỏi:
—Anh có nghe nói đến người dụ rắn không?
—Có!
—” Thánh Saint Daniel ở trong hang sư tử mà sư tử không ăn thịt thánh. Thánh chế ngự được chúng nó. Con người có thể dụ rắn và chế ngự sư tử. Mussolini có nuôi hai con cọp trong phòng làm việc. Ông tập nó hiền như thú nhà. Con người có thể thuần phục được thú dữ. “Nhưng, gần đây mới xuất hiện trên quả địa cầu một loại thú mới. Loại thú ấy mang danh là “Công Dân”. Nó không sinh sống trong rừng rậm, như các giống khác, mà ở tại văn phòng, song chúng nó lại hung tợn hơn thú dữ. Chúng nó là kết quả của giống người pha với máy móc, một giống thú khác thường. Ngày nay chúng có thế lực mạnh nhứt trên khắp hoàn cầu. Diện mạo chúng nó giống người, và thường khi người ta lầm lẫn nó với người. Nhưng liền khi ấy, người ta nhận ra tính tình cư xử của nó không giống như người ta mà giống như máy móc. Thay vì một tấm lòng, nó là cái máy do thì giờ chính xác. Đầu óc chúng nó là máy móc. Nó thì không phải máy móc mà cũng không phải con người. Ý muốn của chúng là ý muốn của thú dữ. Đó là những ” Công Dân”…, một tạp chủng của kỳ dị. Chúng nó tràn chiếm khắp thế giới”
Moritz cố tưởng tượng thế nào là “Công Dân”, mà cũng không tìm hiểu được. Anh có nghĩ đến Marcou Goldenberg trong giây lát, nhưng Traian nói tiếp, làm anh quên mất hình ảnh Marcou.
—“Tôi là văn sĩ. Theo tôi, nhà văn là một thuyết phục gia. Nhà văn chỉ rõ cho loài người cái đẹp, tức là ” Sự Thật” thì họ sẽ thuần hóa. Còn tôi, tôi lại muốn thuần phục các “Công Dân”. Tôi khởi viết một quyển sách, đã được tới chương năm. Kế bị “Công Dân” đến bắt đem giam, nên tôi không thể viết tiếp. Chương thứ năm chưa khởi sự.
“Bây giờ, hết còn lý lẽ để viết tiếp, vì tôi không xuất bản nữa được. Vậy để thế cho chương năm, tôi muốn viết về những gì để chế ngự “Công Dân”.
Nếu thành công, tôi sẽ chết được yên lành. Để tôi đọc cho anh nghe những gì tôi viết. Không phải một cuốn tiểu thuyết, cũng không phải một vở kịch. “Công Dân” không ưa thích văn chương. Muốn thuần dưỡng được chúng, chỉ viết loại văn chúng ưa thích. Tôi sẽ viết loại “đơn Thỉnh Nguyện”. “Công Dân không có giờ dư để đọc tiểu thuyết, kịch hoặc bi kịch. Chúng nó chỉ đọc “Đơn Thỉnh Nguyện”.
——————————
Đơn thỉnh nguyện số 1. Vấn đề kinh tế ( chất mỡ ),
Tôi sẽ gởi nhiều đơn thỉnh nguyện cho các người. Đơn khởi đầu nầy bàn về vấn đề kinh tế. Tôi biết nền văn minh kỹ thuật lập trên nền tảng vật chất. Kinh tế là thánh kinh của các người.
Tôi là văn sĩ, và mỗi văn sĩ là một người chứng. Đức tính của một nhân chứng là phải vô tư.
Vì thế, những đơn thỉnh nguyện của tôi đều là những chứng cứ của “Sự thật”.
Vấn đề tôi giải thích nơi đây, theo tôi, thật quan trọng: Chất mỡ.
Các người tất hiểu rõ tình trạng thiếu thốn chất mỡ trên Thế giới hiện nay. Khi tôi đến trại giam nầy, bọn tù đang nằm ngủ dưới đất, nằm khít nhau. Tôi khó khăn lắm mới kiếm được chỗ nằm. Tôi vừa ra khỏi khám và mệt mỏi. Cánh đồng bao quanh trại giam rộng minh mông. Tôi không hiểu tại sao các người thâu hẹp trại giam đến đường nầy!
Mười lăm ngàn người trong trại, thường chật khít đeo. Lúc họ đứng, thì còn có chỗ, nhưng lúc nằm, thì chỗ quá hẹp, họ gần như chồng chất lẫn nhau. Phần tôi trọn đêm, tôi không ngay chân được. Mấy người nằm chung quanh tôi, gác cẳng lên đầu tôi. Chân họ nóng và họ gác lên mình tôi suốt đêm, nên tôi không thấy lạnh.
Bây giờ tôi mới hiểu được tại sao các người thâu hẹp trại giam: vì bọn tù đạp chết cỏ, mà các người muốn tiết kiệm cỏ mọc trên cánh đồng. Cỏ cũng đắt tiền, đứng giẵm lên cỏ như thế thật tổn hại, uổng phí vô ích. Tốt hơn nên để cho bò cái ăn, vì bò cái cho sữa, còn bọn tù thì có cho được gì đâu?
Mặt khác nếu nới rộng trại giam, các người phải dùng nhiều dây kẽm gai. Dây kẽm gai thì đắt, mà tổn phí thêm, cốt để cho bọn tù có rộng chỗ để nằm ngay thẳng, nhắm không cần ích gì.
Thêm nữa, gặp cảnh đông thiên lạnh lẽo và mùa mưa sắp đến, phần đông bọn tù sẽ chết. Cũng có bọn chịu không nổi chết lần hồi, tụi còn sống tha hồ có chỗ rộng rãi mà nằm duỗi chân. Tôi tin rằng khi dựng trại giam nầy, các người đã dự liệu khoản ấy. Tôi không còn biết cách nào hơn là nghiêng mình bái phục trước sự dự tính xác đáng rất khoa học của các người.
Trước khi đi ngủ, tôi có nghe đọc một bài thuyết trình. Diễn giả, tự cho cho là giáo sư Đại học đường Berlin, nói về vấn đề: Chất mỡ. Và chính do đề tài của bài thuyết trình ấy mà tôi đem ra thảo luận với các người trong bản thỉnh nguyện nầy.
Mỗi ngày, giáo sư đếm mấy hột đậu trong cháo phát cho chúng tôi ăn trong trại giam. Ông đếm trọn 30 ngày liên tiếp, trưa và chiều, những hột đậu trong cháo của khẩu phần ông. Ông cộng lại và lấy số trung bình. Rồi ông quả quyết: một tù nhân được mỗi ngày mười hột đậu, trong hai buổi cháo. Mấy viên công sự viên của ông cũng đếm hột đậu trong gà mên cháo của họ và nhìn nhận bài toán trúng.
Kế đó, giáo sư đếm vỏ khoai lang tây và ước phỏng số lượng chất bột đựng trong cháo. Bài tính nầy cố nhiên là tính phỏng chừng vì giáo sư không được phép vô nhà bếp.
Các người đều biết như tôi, rằng dân Đức rất sành về sự cân lường lắm. Nên ta được phép giả thiết rằng các hột đậu được đếm rất đúng. Dân Đức nhẫn nại và thân trọng. Sau 3 ngày làm việc tỉ mỉ cẩn thận, giáo sư hoàn thành công trình khảo cứu, rồi mới đem ra thuyết trình và được tất cả cử tọa thẩm định về chân giá trị xác đáng của nó. Dân Đức thích nghe diễn thuyết về đề tài khác nhau. Thói quen cổ truyền ấy có từ đời Trung Cổ. Thuật xong việc lược cháo trong rây để đếm hột đậu mõi ngày, giáo sư cho biết số nhiệt lượng chứa trong một hột đậu. Tôi không nhớ rõ con số. Rồi ông tính số nhiệt lượng trong 10 hột đậu, cộng với số nhiệt lượng trong khoai lang và bột mà bọn tù chẳng bao giờ thấy, nhưng giáo sư đã nhìn nhận là có. Rồi ông kết luận, mỗi ngày một tù nhân được trung bình 500 nhiệt lượng. Một hai khi, họ được ít hơn. Có bữa, chính giáo sư không thấy hột đậu nào trong cháo,- và mấy ngày ấy, ông không có gì để đếm. Nhưng cũng có mấy ngày khác, ông đếm được đến 15 hột, và có khi đến 18 hột đậu. Như thế, số trung bình 10 hột đậu là đúng!
Bọn tù không ngủ trọn ngày; tuy nhiên, giáo sư cũng làm toán kể như tù nhân, trong lúc thức, cũng cần dùng một số nhiệt lượng tương đương với số tiêu thụ, nếu họ ngủ trọn ngày. Tối thiểu: một ngàn nhiệt lượng.
Bọn tù chỉ nhận được có 500 nhiệt lượng khi ăn hột đậu. Cái số 500 nhiệt lượng cần có thêm, họ phải trích trong mỡ dự trữ cho da thịt họ, nghĩa là trong số nhiệt lượng tích tụ trong thân thể họ. Và bởi mỗi ngày, họ phải trích ra 500 nhiệt lượng dự trữ khi họ mới đến trại giam, nên mỗi tháng, bọn tù ốm mất 6 cân mỗi người.
Cố nhiên, đây là tính lấy trung bình. Giáo sư cũng có cân mấy tù nhân với bàn cân và trái cân tạm đỡ. Song đường như mấy khí cụ cân lường tạm ấy cũng khá đúng. Mỗi tháng tù binh mất đi sáu cân, nghĩa là ba kí lô mỡ để tạo thành nhiệt lượng. Như thế, chỉ nội một trại giam Ohrdruf, dưới thẩm quyền cai quản của các người, tổng cộng mỗi tháng có 45 000 kí lô chất mỡ mất đi. Mỗi tháng, 5 toa xe đầy chất mỡ đi ra khỏi trại giam. Chất mỡ tiêu tan trong không khí. 15 000 tù binh bỏ mất trong không khí một số quan trọng chất mỡ như thế, thì các người thử tính xem kết quả số tổn thất là ngần nào. Riêng phần tôi, tôi không phải nhà kinh tế học. Tôi không biết giải pháp nào để chỉ giúp các người. Tuy nhiên, tôi tin chắc rằng, với phương tiện kỹ thuật sẵn có, các người có thể dùng tổng số mỡ sống ấy vào nhiều việc lợi ích.
Tại sao lại bỏ mất đi?
Đấy là mục đích của bản thỉnh nguyện của tôi.
Tôi tin chắc vài sự hiểu biết của các người. Các người thuộc về một dân tộc tiến bộ nhứt của nền văn minh kỹ thuật. Mong rằng các người sẽ gởi một tờ phúc trình về vấn đề nầy cho Viện Hàn Lâm Khoa học của xứ sở các người. Còn gì dã man hơn, là để tiêu mất 45 000 kí lô chất mỡ mỗi tháng như thế?. Vả lại, các người còn những trại giam khác nữa. Hình như ở Đức có vài trăm trại giam. Vậy các người có thể được cả núi chất mỡ “sống” mỗi ngày.
Từ khi nghe bài thuyết trình của giáo sư Đại học đường Berlin, tôi hít mạnh không khí và ngửi thấy mùi mỡ người.
Trại giam của các người là một máy ép khổng lồ rút mỡ tù nhân. Tôi đánh hơi nó trong không khí. Các người có khi nào nghe mùi ấy chăng, lúc làm việc tại văn phòng, cửa sổ mở rộng. Dầu sao, áo quần các người ắt cũng có thấm mùi mỡ ấy. Hỏi thử vợ hoặc người yêu của các người coi, tối ngủ, nằm bên cạnh, họ ngửi thấy da, tóc các người phưởng phất mùi mỡ đó hay không? Đàn bà thính hơi hơn chúng ta. Họ sẽ nói đúng hơn. Còn tôi, khi nghĩ đến điều đó, tôi thấy quả tin rộn lên, tôi muốn nôn mửa.
Hãy nhận nơi đây lời chào và niềm kính phục của tôi. tôi rất hâm mộ nền văn minh mà các người đại diện. Tôi tin chắc rằng, với tài lực và phương tiện kỹ thuật sẵn có, các người có thể sử dụng tất cả chất mỡ nói trên (xin đừng quên tôi đây cũng góp mỗi tháng ba kí lô mỡ của thân xác tôi.
——————————
Đơn Thỉnh nguyện thứ nhì. Vấn đề thẩm mỹ. (Quan niệm về vẻ đẹp con người trong xã hội kỹ thuật Tây Phương)
Buổi chiều nọ, tôi có tranh luận về thẩm mỹ với một giáo sư Đức. Và chúng tôi đã cãi cọ gây gổ nhau. Dân Đức, như tất cả người Âu châu khác, đều giữ theo phái cổ điển. Vì thế, nên xã hội họ sụp đổ. Một xã hội lành mạnh và tiến hóa như xã hội của các người, có một kỹ thuật kim thời hơn.
Giáo sư Đức chỉ cho tôi xem mấy tù nhân đi dạo trong sân trại giam. Họ chỉ còn da bọc xương, như các người đã biết. Giáo sư cho họ xấu xí quá, ông quan niệm theo lý tưởng mỹ thuật Hi Lạp.
Theo tôi, con người mà chỉ còn xương với da mới thật đẹp, đó mới thật là những công trình linh hoạt về mỹ thuật.
Tôi cố thuyết phục giáo sư Đức rằng xã hội Văn minh của các người đã thẩm định cái đẹp tới mức độ mà đến ngày nay chưa có xã hội nào đạt tới. Và các người đã thực hành việc “rút” mỡ con người chỉ vì mục đích thuần túy thẩm mỹ, để tô điểm vũ trụ. Nhưng giáo sư không hiểu. Người Đức chậm hiểu lắm. Nên người ta nói họ có đầu vuông. Ngày mai tôi sẽ thuyết trình bài lý tưởng về vẻ đẹp con người trong xã hội Tây phương hiện nay.
Có một nhà điêu khắc Thụy sĩ tên Alberto Giacometti đã thực hiện trong hàng điêu khắp đúng nguyên tắc và lý tưởng về vẻ đẹp con người, nam giới và nữ giới, mà các người đã thi hành, bằng cách làm tan mất chất mỡ trong xác thịt người ta! Khi nặn tượng, nhà điêu khắc cố gắng loại hết chất mỡ trong thân thể con người và trong không gian. Thành thử, thân thể người ta chỉ thu lại còn khuôn khổ một chiều, hình dáng dài nhẵng và khô khan, cỡ bằng sợi dây thép.
Các người cũng đã làm như thế trong trại giam nầy. Tôi biết từ lâu rồi. Văn minh toàn diện của các người đều căn cứ trên nguyên tắc thẩm mỹ ấy.
Và một ngày kia, trên khắp địa cầu mà chỉ còn toàn những người có thân hình điều hòa theo thuyết thẩm mỹ của nhà điêu khắc Giacometti, -và của các người–thì vũ trụ sẽ tưng bừng đẹp đẽ làm sao. Người chứng.
——————————
Traian nói:
—Anh Moritz ơi, tôi viết đã ngót bốn chục đơn thỉnh nguyện, trong ấy tôi muốn trình bày cho họ rõ tất cả sự thật và thuyết phục họ đừng hành hạ con người nữa. Tôi tin chắc lý lẽ của tôi. Mỗi đơn, tôi trình bày khéo lắm. Nhưng vô hiệu. Tôi dùng đủ lối văn: văn tòa án, văn ngoại giao, văn điện tín, văn nhà bếp mua đồ, văn quảng cáo rao hàng; khi thì dùng tình cảm gợi lòng trắc ẩn, khi thì sỗ sàng thô tục, khi thì cầu khẩn van lơn, tôi nài xin xét xử bằng đủ mọi cách trong cảnh tuyệt vọng của tôi, nhưng tôi không được phúc đáp.
“Tôi nói nhiều sự thật trắng trợn, nhưng họ không giận tôi. Tôi quỳ gối viết đơn gởi họ; nhưng họ không động lòng thương hại. Tôi chửi rủa họ thậm tệ, song họ không thấy bị tổn thương. Tôi muốn chọc họ cười, kích thích tính tọc mạch của họ, nhưng đều vô ích. Tôi không khêu gợi được tấm lòng cao cả của họ hoặc sự khao khát tầm thường của họ nữa. tôi không thể chọc cho họ phản ứng được. Thà tôi nói với đá cục còn hơn. Họ không tình cảm, không biết oán hận, cũng không biết trả thù. Họ không thể biết thế nào là động lòng trắc ẩn. Họ làm việc máy móc và chẳng đếm xỉa đến những khoản gì không có ghi trong chương trình. Tôi có thể lột một miếng da tôi để viết đơn với máu còn nóng hổi của tôi, họ cũng không đọc đến. Họ sẽ liệng nó vào sọt giấy như mấy đơn khác. Họ cũng không thấy đó là miếng da thịt còn nóng hổi của con người. Họ đối với con người một cách dửng dưng. Đó là tính lãnh đạm của một Công Dân đối với con người, tính lãnh đạm ấy còn hơn tính lãnh đạm của máy móc.
Moritz chạnh lòng thương cảm nói:
—Tội nghiệp ông Traian! Ông định làm gì khi viết mấy đơn ấy. Theo tôi tưởng đừng thèm viết nữa là hơn.
—Tôi vẫn tiếp tục viết. chỉ khi nào chết mới thôi. Con người chế ngự được tất cả thú rừng. Tại sao ta lại không chế phục được “Công Dân”?
—Hay là ta tìm cách khác để cảm hóa họ. Cứ viết hoài, sợ không đi đến đâu.
—Bao nhiêu thành công của con người từ cổ chí kim đều do trí óc. Thì ta sẽ nhờ trí óc mà chế ngự được các công dân trong văn phòng chúng nó.
Nếu ta không chế ngự được chúng nó, thì chúng nó sẽ xé xác ta từng mảnh, hết thảy tất cả chúng ta. Ta phải dạy cho chúng nó biết, hễ gặp con người, đừng làm khổ họ. Bằng không, ta không thể cùng sống trên mặt đất, chung một thành phố, chung một nhà với chúng nó được. Còn khó hơn dụ rắn, khó hơn thuần phục cọp dữ. Nhưng tôi lạc quan lắm. Chắc là sự lạc quan của con người sắp chết. Phút hấp hối của tôi là chương “Đơn thỉnh nguyện” của giờ thứ hai mươi lăm. Nhưng tôi sẽ viết chương ấy!”
——————————
Đơn thỉnh nguyện số ba.–Đề tài: tiết kiệm (tù nhân chỉ còn phân nửa hoặc một phần ba thân mình)
Trong bốn ngày liên tiếp, tôi và một người bạn đã đếm nơi trại giam nầy những tù nhân chỉ còn phân nữa, một phần ba hoặc một phần năm thân mình. Bạn tôi chưa kiểm xong các bảng thống kê, anh giỏi toán lắm. Nhưng tôi lật đật viết đơn nầy vì, theo tôi, vấn đề có tính cách khẩn cấp về phương diện kinh tế. Các người có thể tiết kiệm mỗi ngày ít lắm vài triệu đồng”marks”.
Thì đây: Trong số mười lăm ngàn tù nhân nhốt chung với tôi, lối ba ngàn không đủ thân mình trọn vẹn. Trong số ấy có hai trăm người không có chân, chỉ lết đi như loài rắn bò trong trại. Một ngàn hai trăm chỉ có một giò. Một vài trăm còn một tay. Một mớ khác cụt cả hai tay. Đó là nhận xét bên ngoài.
Một số lớn đã thiếu mất vài bộ phận bên trong: một lá phổi, một trái cật, vài lóng xương v.v… Bốn mươi tù nhân không có mắt. Tất cả đều bị bắt bớ một cách tự động, cùng một lượt với tôi. Lúc đầu, tôi thương hại họ. Bạn Moritz tôi nhắm mắt lại mỗi khi thấy mấy người cụt tay cụt chân tàn phế tật nguyền trong trại. Nhưng anh Moritz là người chất phác cổ lỗ. Anh không hiểu lối bắt bớ tự động nầy, và cũng không biết hễ là phần tử của hạng nào bị giam cầm, thì không ai được thoát khỏi, dầu chỉ có một chân, không mắt, không mũi hoặc một lá phổi đi nữa. Sự bắt bớ tự động nầy không miễn cho người tàn tật nào cả. Đó là công bình. Muốn công bình phải thi hành gồm tất cả, không có ngoại lệ.
Trong trại nầy có một giáo sư cụt mất hai cánh tay, vì bị thương ở mặt trận; khi các người ra lịnh bắt mấy giáo sư, không lý nào lại miễn trừ bạn tôi, vì anh không có tay. Có gì liên quan giữa sự bắt bớ và hai tay đâu? Không, anh là giáo sư thì anh bị bắt cùng một lượt vào hạng giáo sư đó. Các người đã thi hành đúng như vậy. Và các người không bao giờ lầm! Vì thế, tôi phục các người làm sao! Tôi có thể hi sinh đời tôi, bất cứ giờ nào, cho nền Văn minh vĩ đại và tốt đẹp của các người. Các người là hiện thân của Công bình và Chính xác.
Trở lại vấn đề chánh: các tù nhân tàn phế ấy chỉ còn là những mảnh thịt, mà cũng được một khẩu phần lương thực như người toàn vẹn, thì thật là một đại bất công.
Tôi đề nghị cho họ một khẩu phần tương đương với thân xác còn lại của họ. Chánh phủ các người đã hi sinh lớn lao để lo cung cấp khẩu phần luơng thực cho tù nhân. Nói tù nhân, là kể một người toàn vẹn. Nếu gom ba ngàn tù nhân tàn tật ấy và đến số tay, chân, mắt, phổi của họ mất đi, thì thật sự chỉ còn độ hai ngàn người là nhiều.
Như thế, các người có thể tiết kiệm ít lắm một ngàn khẩu phần mỗi ngày. Tại sao các người lại chi tiêu để nuôi những bộ phận mà tù nhân không còn nữa? Phải là nhân đạo sái đường không?
Tôi chắc thượng cấp sẽ hài lòng khi các người báo cáo trường hợp nầy. Có thể các người sẽ được ân tứ huy chương nữa là khác. Làm thế, các người sẽ thực hiện cho quốc gia một số tiết kiệm to tát. Và ai cũng biết chỉ có tiền bạc là điều đáng kể mà thôi. Vì tin chắc về lẽ ấy, nên tôi mới có bài luận nầy. Người chứng.
Đơn thỉnh nguyện số bốn.–Đề tài: Quân sự ( biến cải đàn ông thành đàn bà)
Vì đói kém, thiếu ăn, bọn tù trong trại giam bị biến tính, những biến tính ấy là một quyền lợi quân sự lớn lao cho các người. Câu chuyện được tóm lược như vầy:
Bọn tù bị bắt giam lâu năm mà chỉ có nhận 500 nhiệt lượng mỗi ngày để sống, nên họ không cần cạo râu nữa. Bình thường, mỗi ngày cạo một hoặc hai lần. Khi vô trại giam, thì bắt đầu cạo một lần mỗi ngày, rồi một lần mỗi tuần, kế đến hai lần trong một tháng. Sau rót, không cạo nữa. Râu họ mọc thưa lần, và giống như lông măng, những lông măng rồi cũng tiêu mất nốt. Mặt họ trở nên hiền hậu và trơn tru như mặt đàn bà. Nhưng chưa hết đâu. Giọng nói của họ cũng thanh tao như giọng đàn bà. Có vài tù nhân, vú họ nở nang to dẫy như vú thiếu nữ mười ba. Da họ mịn màng, êm mượt như da phái đẹp. Tôi không biết rõ cơ quan sinh dục họ có bị biến thể không, nhưng tôi tin chắc, với cách ăn uống như thế nầy (và nhứt là các người còn định giảm bớt phần ăn xuống) thì các cơ quan ấy sẽ teo mất, và chừng đó, họ sẽ biến hẳn thành đàn bà.
Bác sĩ cho rằng vì đói kém và thiếu ăn, nên sự phân tiết chất kích thích tố sẽ giảm lần đến ngưng hẳn.
Vả lại, gan quá yếu không làm phận sự điều tiết như bình thường: nó còn đủ sức diệt trừ kích thích tố nam tính thặng dư, nhưng lại để kích thích tố nữ tính vượt qua được. Thành ra, sự quân bình điều tiết đã mất, cơ thể đàn ông, vì đó, biến thành hình trạng cơ thể đàn bà.
Sự nhận xét nầy có ảnh hưởng quan trọng về quân sự của nền Văn minh các người. Thử nghĩ đến cảnh yên tỉnh bao trùm vũ trụ, khi các người bắt giam kẻ địch dã man trong trại giam,–như các người đang làm đây–mà chỉ cho họ có vài trăm nhiệt lượng mỗi ngày để sống, thì họ sẽ biến thành đàn bà hết. Các quốc gia thù địch các người sẽ không có đàn ông. Còn ai đâu để gây chiến tranh với các người. Tôi tin rằng Bộ Tham Mưu tối cao của các người sẽ thực dụng phát kiến nầy. Vin vào tinh thần thực tiễn và óc sáng chế của nền Văn minh các người, tôi còn tin các người sẽ áp dụng ngược lại phát kiến ấy, là nuôi thúc những phụ nữ nào của các người tình nguyện muốn biến đổi thành đàn ông. Nhân công nhờ đó sẽ gia tăng gấp đôi.
Tôi đề nghị bớt xuống tỷ số 500 nhiệt lượng cấp cho tù binh. Có lẽ họ sẽ càng trở thành đàn bà mau lẹ. Người chứng.
——————————
Sửa soạn ra đi. Mười lăm ngàn tù nhân phải dời đến trại giam khác. Mới hai giờ khuya. Xe tăng, xe cam nhông đậu bao quanh trại. Đèn pha chiếu sáng như ban ngày. Súng canon và các súng máy tự động chong xỉa vào đoàn tù đang tủa đi ra cửa, như nước sông chảy. Traian và Moritz đi gần nhau. Moritz lạnh run, răng đánh bò cạp.
Ngoài cửa, có hai toán quân lính cầm baton, đếm tù nhân đi ra, rồi chia từng nhóm.
Traian nói:
—Xe cam nhông thường thường chỉ chở được mười hoặc mười hai người, mà họ muốn chất lên bảy chục. Làm sao bây giờ? Anh có nghe nói đến định luật bất khả thấu nhập thân thể con người chưa?
Moritz không trả lời. Anh đang run. Traian chăm chỉ xem bọn lính xếp tù nhân lên chiếc cam nhông đầu tiên. Trước hết, họ cho bốn chục người lên. Thấy thì không còn chỗ cho người nào nữa hết. Bọn lính bèn lấy cây đập mấy tù nhân trên xe, họ đứng khít lại nhau. Bọn lính cho leo lên mười người nữa. Và cây lại nện bổ vào bọn tù, tốp mới lên dồn ép vào mấy người trước: như thế, lại có chỗ. Bọn lính lại cho lên thêm mười người nữa. Bây giờ, người ta dám thề rằng chẳng còn chỗ nào hết, dầu cho một đứa con nít! Thì bọn lính liền trở bá súng đập tưới vào đám tù. Và thêm mười người nữa leo được lên xe.
Trọn nhóm bảy chục người, không còn ai ở dưới đất. Tất cả đều lên trọn đủ trên xe. Lính ngừng đánh. Xe chờ lịnh chạy.
Traian nắm tay Moritz leo lên một xe cam nhông khác. Hai người không muốn bị lạc nhau.
Traian nói:
—Anh Moritz à! Không có luật nào tuyệt đối cả. Cho đến vật lý học cũng chẳng có định luật bất di dịch. Khoa nầy quả quyết rằng”hai vật không thể cùng một lúc chiếm cùng một chỗ trống không gian.” Mà ở đây, bảy người chiếm có một chỗ của một người. Như vậy làm sao còn tin vật lý học nữa được? Anh có nghe nói đến họa sư Picasso chăng?
Moritz trả lời, tiếng hơi ngộp:
—Không!
Traian to lớn, thở được. Moritz nhỏ quá, đầu anh bị kẹp giữa các ngực. Buồng phổi bị ép sát đến không còn chứa đựng được một hớp hơi. Anh nói:
—Tôi ngộp quá!
Anh hoảng sợ, muốn khóc. Anh không cựa quậy gì được. Hai lỗ mũi anh tìm hơi thở,– một chút thôi.–và tìm cũng không ra. Anh cầu cứu:
—Ông Traian ôi! Tôi ngộp quá, chắc chết!
Traian hỏi:
—Sao anh không trả lời? Anh có nghe nói đến Picasso không?
—Tôi chưa nghe lần nào. Tôi không biết gì hết. Nhưng tôi ngộp quá! Chắc chết mất!
Traian muốn nâng đầu Moritz lên, nhưng tay mắc kẹt cứng. Ông không thể cử động, thân mình bị dồn ép tột bực, và đầu vượt cao hơn các đầu khác. Traian nói:
—Picasso là đại họa sư của xã hội Tây Phương ngày nay!
Moritz rên rỉ:
—Tôi không nghe gì hết. Tôi muốn đưa cái mũi ra ngoài, chỉ một lỗ mũi cũng được. ông Traian ơi, tôi van xin ông, cứu tôi với. Tôi chết!
Traian rán kiếm một chút chỗ trống cho Moritz, nên áp đầu anh vào ngực ông.
—Picasso có vẽ chân dung anh, anh Moritz à, giống như hình anh bây giờ, đang kẹt trong xe cam nhông!
—Chân dung tôi? Tôi nghe không rõ. Lỗ tai tôi bị bịt rồi!
—Phải! Chân dung anh. Giống hệt, và đúng y, như chụp bức ảnh. Có cả hình chiếc xe cam nhông của chúng ta nữa. Bảy người cùng chiếm một chỗ, trong một lúc. Người nầy có năm cẳng, kẻ kia ba đầu, nhưng không có phổi. Anh thì có tiếng nói mà không có miệng. Còn tôi chỉ có cái đầu, thiếu thân mình. Cái đầu vọt trong không trung, trên chiếc xe cam nhông… Khi tôi nhìn bức họa lần đầu tiên, hồi còn ở Ba Lê, tôi thấy thích, nhưng không hiểu ý nghĩa gì. Và bây giờ, tôi mới hơi hiểu được rõ: ấy là bức tranh của chiếc xe cam nhông chúng ta đây. Vẽ rất giống, không bỏ sót một chí tiết nào. Họa sư vẽ trại giam của chúng ta nữa. Ông vẽ như ông chụp ảnh. Toàn chuyện có thật. Thật là một họa sĩ thiên tài.
Xe rồ máy chạy. Traian nhìn các người chung quanh. Họ hết phải là người. Không còn một sinh vật nào trên xe cam nhông đang chạy qua các đường nhỏ trong làng lúc đêm tối. Tuy nhiên, mấy người trên xe chưa chết, họ đang dở sống, dở chết. Một lúc họ còn sống, phút sau họ chết rồi. Có lúc, họ vừa sống vừa chết một lượt. Khu vực họ đang chiếm không còn khoảng trống. Khoảng trống bị thu hẹp cơ hồ như bị tiêu trừ. Khoảng trống đã mất.
Trong khu vực của họ, chỉ còn những người bị chứng phong giật, đang ngất ngư; mắt, thịt, không khí, thời gian, tư tưởng, tất cả đều bị chứng phong giật. Con người mất hết hình thức, trí óc. Họ bị động kinh toàn thể.
Traian hỏi Moritz:
—Anh còn thở được không?
—Tôi hết biết gì. Tôi có cảm giác thở nhưng chỉ thỉnh thoảng, với một lỗ mũi thôi. Đây, chỗ nầy, nơi ngực ông, chỗ ba sườn ông…
—Thở một lỗ mũi là đủ rồi. Nghe nè, tôi nói với anh một chuyện quan trọng đây…
—Tôi không thể nghe được gì hết. Xin ông thứ lỗi cho.
—Ráng một chút, ráng nghe đây, quan trọng lắm!
< Mọi khủng khiếp đều tự giải thích,
< Mọi thảm sầu rồi cũng đến nguôi ngoai!
< Trong đời ta, không rảnh đâu lo mãi mối sầu dài.
< Song chuyện nầy, ngoài cuộc đời, ngoài thời khắc,
< Là nỗi khổ ác triều miên, nỗi bất công vĩnh cửu.
< Chúng ta bị lấm bẩn vết nhơ không rửa được.
< Vết nhớp nhơ kết hợp với giống giòi mọt siêu nhiên.
< Chẳng riêng ta, chẳng riêng gì nhà cửa, Đô thị dính bẩn nhơ,
< Mà tất cả thế gian đều bị ô danh xủ uế.
Moritz nói:
—Ông nói lớn lên, tôi chẳng nghe được gì hết.
Traian tiếp tục hết sức la to:
< Hãy thanh khiết không khí! quang tạnh trời xanh! tẩy uế gió độc!
< Hãy dọn lớp sỏi trên đá; lột da cánh tay; rứt thịt dính xương, và rửa sạch hết!
< Hãy rửa đá, rửa xương, rửa não, rửa sạch linh hồn. Rửa sạch hết! rửa sạch hết!
Moritz lại nói:
—Tôi không hiểu gì cả. Ông có phước được thở. Ông không bị ngộp nghẹt!
Trong trại giam, người nhỏ thó ít khổ sở vì đói hơn người lớn vóc. Nhưng ở trên xe cam nhông chật ních bảy chục người nầy, xe chạy vùn vụt như bóng ma trên đường làng Ohrdruf nầy, bọn tù nhỏ thó lại gần chết ngộp vì thiếu không khí.
Moritz nói:
—Ông Traian ôi, ông đừng nói nữa, tôi cũng không nghe hiểu được nào.
—Nếu anh không nghe, anh sẽ chết…
—Nghe gì?
—Ông giáo sư Đức tính trật. Ông đã phạm lỗi, nặng và sẽ đền tôi.
—Người Đức nào đã phạm lỗi nặng?
—Giáo sư đã cân mỡ và thịt sống của thân thể chúng ta đó. Ông cân ta lúc còn đang sống, nóng hổi, để lường sự đau khổ. Nhưng sự đau khổ con người nào có thể cân lường bằng kí lô hay bằng "tấn" được đâu!… Cuộc sống không thể cân lường! Và kẻ nào thử làm công việc ấy sẽ phạm lỗi nặng, đáng chết.
Moritz nói:
—Tôi không nghe gì!
—Chuyện ấy không quan trọng. Người ta cũng ngã gục dẫu không nghe. Tài xế cam nhông, lính canh gác, quân sĩ cầm cây và súng máy chực sẳn để giết chúng ta, họ cũng không nghe gì hết. Không một ai đã nghe. Thế mà họ cũng bị ngã gục cùng một lượt với chúng ta, cũng y như chúng ta. Anh có thấy họ ngã quỵ chưa?
—Mắt tôi bị che khuất, tôi không thấy.
—Anh cũng không cảm thấy gì sao?
—Không! Tôi chỉ biết bị ngộp thở mà thôi!
Traian buồn rầu nói:
—Thì anh đã cảm thấy điều cần yếu rồi. Tại sao anh nói không? Ai cũng cảm thấy như anh, nhưng không muốn thú nhận mà thôi…
—————————
Đoàn tù nhân bị lùa vô toa xe súc vật.
Mỗi toa xe chở hai mươi bốn con ngựa. được chứa một trăm bốn chục người.
Cửa toa xe đều đóng hết. Các toa xe chót nhốt 3 ngàn người đàn bà.
Xe lửa dài lắm. Traian ước muốn được thấy nó chạy đằng xa. Ông nói:
—Xe lửa nầy giống đoàn người hộ tống đi lên gò Golgotha. Song xe chúng ta là đoàn hộ tống cơ giới hóa. Ta leo lên Golgotha bằng phương tiện kỹ thuật. Chúa Jesus thì đi bộ giữa hai kẻ cướp chính hiệu. Anh biết tại sao Chúa Jesus bị đóng đinh giữa hai tướng cướp không?
—Tôi không biết.
—"Để trừng phạt một người vô tội, thẩm phán quan có lệ kèm hai tội nhân. Mưu mẹo cổ điển! Bọn Do Thái chẳng dám xử thập tự giá Jesus một mình, nên mới cho kèm theo hai tướng cướp lẫy lừng, với tôn chỉ làm xao lãng quần chúng trong lúc hành hình.
"Anh, tôi, vợ tôi, và nhiều người khác, chúng ta đều có mỗi bên một tội nhân kèm theo. Cũng một mưu mẹo như ở Golgotha, song tỷ lệ lại thay đổi. Hồi đó một người vô tội kèm hai phạm nhân, bây giờ mười ngàn người vô tội mà chỉ kèm hai phạm nhân. Song đây chỉ là một tiểu dị. Phương pháp vẫn là một. Vả lại chúng ta bước lên thập tự giá một cách tự động, bằng phương pháp kỹ thuật. Nhưng mưu mẹo trẻ con quá. Khi hành hình xong, quần chúng không nói đến hai kẻ tội phạm chính hiệu cũng bị đóng đinh một lượt với Chúa Jesus, mà chỉ nhớ đến Chúa Jesus thôi, và nhớ có một mình Chúa Jesus. Lúc nào, chuyện cũng đã xảy ra như vậy. Và cho đến ngày nay, chuyện cũng sẽ xảy ra như thế, dầu hình phạt thập tự giá có thi hành một cách tự động, dầu chúng ta có đi lên Golgotha bằng xe lửa đi nữa."
Traian bước lại gần cửa sổ bao lưới sắt của toa xe. Xe ngừng chạy. Moritz thấp, đứng không tới cửa sổ, hỏi:
—Ông có thấy gì không?
Traian đáp:
—Xe ngừng tại ga. Có xe khác đậu dọc theo xe mình.
Moritz tọc mạch hỏi:
—Cũng có chở tù nhân nữa hay sao?
—"Cựu tội nhân vừa được thả. Họ là người các nước ngoài, làm nô lệ cho Đức quốc xã". Traian ngó đoàn người đàn ông lẫn đàn bà đi đi lại lại xôn xao trên xe bên cạnh, rồi nói:
—Họ đều hút thuốc.
Moritz nuốt nước miếng!
Traian nói:
—Một người đàn bà xuống xe, đang ăn khúc dồi với bánh mì trắng.
Và Traian cũng nuốt miếng.
Moritz nói:
—Tôi muốn nhìn họ, biết đâu trong đám ấy tôi chẳng nhận được một người quen. Họ là người nước nào?
Traian nhìn những cờ vẽ trên toa xe, và những cờ nhỏ đeo trên áo họ, rồi trả lời:
—Đủ các nước. Người đàn bà đang ăn bánh mì thoa beurre với khúc dồi mà cặp đôi cũng trắng nõn như bánh mì nàng ăn, là người xứ Danemark. Đứng sao lưng nàng là một người đàn bà Pháp. Cô nầy đẹp có cặp mắt đen.
—Có còn người Pháp nào nữa không?
—Có cả một nhóm, họ đứng gần toa xe chúng ta. Cũng có dân Bỉ, dân Ý nữa.
Mối cảm tình thích mến người Pháp sống dậy trong lòng Moritz. Anh nóng nảy nói:
—Tôi muốn xem mấy người Pháp đó!
Traian bèn đỡ anh lên, cho anh coi rõ.
Moritz hân hoan nói:
—Đây là người Pháp. Cái anh đứng gần người Ý đó, giống Joseph làm sao! Ông thấy không?
—Joseph nào?
—Joseph bạn của tôi. Tôi chưa nói cho ông nghe. Người mà tôi giúp vượt ngục đó. Nếu tôi không biết chắc hiện giờ anh đang ở bên Pháp, thì tôi nói chính anh đây rồi. Ông nói y một câu nào đi!
—Anh muốn nói chuyện gì?
—Chuyện gì cũng được. Y giống Joseph quá. Tôi không biết nói tiếng Pháp, nhưng tôi muốn nói chuyện với y. Ông nói chào họ và chúc họ về Pháp bình yên giùm đi!
Moritz không thể gặp một người Pháp mà chẳng nói một lời nào, hoặc thân mật cười với họ.
—Kìa y đến gần chúng ta. Ông làm ơn nói với y một câu đi!
Traian làm thinh. Moritz không dằn được, kêu to lên bằng tiếng Đức.
—Về Pháp bình yên.
Anh nói, giọng dịu ngọt, vẻ mặt hân hoan, như nói với một người bạn Pháp thân mến.
Cả bọn thình lình nín lặng, đứng yên và nhìn lên cữa sổ xe, chỗ Moritz đứng.
Traian nghe người giống Joseph hỏi bằng tiếng Pháp:
—Thằng con heo Đức Quốc xã đó muốn gì?
Tất cả đàn bà đàn ông đứng nơi bến xe đều ngó Moritz đang cười với họ, sau song sắt.
—Thằng con heo quốc xã đó chắc muốn xin thuốc hút!
Người Pháp, giống Joseph, đưa tay vô túi định lấy thuốc, nhưng ngừng lại tức khắc. Một người đứng gần anh ta, cúi lượm một cục đá, tống ngay vào cửa sổ, chỗ Moritz vẫn còn đứng cười, và nói:
—Điếu thuốc cho mầy đó! Ba năm nay, tao bị kẹt ở Đức cũng vì mầy!
Viên đá lọt qua song sắt, rơi giữa toa xe, trúng một tù nhân.
Viên đá khác chọi tới trúng hông toa xe. Viên thứ ba bồi thêm. Rồi một đám mưa đá tới tấp chọi vào trong toa. Bọn tù phải nằm dài, tránh xa cửa sổ. Đá cứ liên tiếp chọi tới như mưa rào, lời chửi rửa, tiếng la hét vang dội, như toa xe sắp bị tấn công.
Tiếng la hét của đàn bà, đàn ông, con nít, kẻ phẫn nộ. Giọng gào thét bằng đủ thứ ngôn ngữ trên hoàn cầu, bằng tiếng pháp, tiếng Ý, tiếng Nga, Đan mạch, Flamand, Na Uy… Tất cả lời chửi rửa đều tỏ lòng công phẫn cực độ, lời chửi rửa tuôn theo với đá gạch tống chọi Moritz bằng đủ thứ ngôn ngữ, đều đồng một ý nghĩa: “Đồ con heo Đức quốc xã, tên sát nhân khát máu, tên độc tài giết người, quốc xã, quốc xã…"
Tất cả bọn "được thả" trên xe kìa đều xuống nhập bọn để chọi đá vào xe tù.
Lính gác và hiến binh cố giữ trật tự nhưng cuộc tấn công quá dữ dội không trấn tĩnh nổi; nó càng lúc càng tăng và trở nên nghiêm trọng. Lính phải bắn chỉ thiên. Tiếng la hét nổi lên, đồng thanh phản đối sao lính lại che chở bọn độc tài quốc xã, không để cho họ hành hình chúng.
Moritz vẫn còn đứng tại cửa sổ khi mấy viên đá đầu trên bay tới bên tai anh. Anh không nhúc nhích và vẫn còn cười, lúc cuộc tấn công sôi nổi hơn hết. Anh không hiểu chuyện gì xảy ra. Và, nếu anh có hiểu, anh cũng không làm sao tin được người Pháp giống Joseph lại muốn liệng đá cho bể mặt anh.
Trong khi Moritz lấy làm lạ, mắt mở rộng, đứng nhìn đám quần chúng tới tấp liệng đá vào anh, bọn tù trong toa nắm cẳng anh lôi khỏi cửa sổ, vật anh té nằm dài trên sàn toa xe. Ai cũng muốn đánh anh. Mọi người đều giơ tay đánh, đấm, vấu, nắm chặt anh, để xé thịt anh ra.
Moritz bị cả trăm bàn chân hằn học đạp anh. Họ giậm đạp nhầu anh như thú dữ, trong lúc trên đầu họ, gạch đá liên tiếp liệng tới không ngớt.
Bọn tù trong xe không dung tha anh đã chọc cho người ta căm thù và tấn công chửi mắng. Họ muốn phân thây anh muôn mảnh.
Moritz không phải bị bọn người bao vây hành hạ mà bị con quái vật Apocalypse có ngàn chân, chà đạp thân xác anh.
Bên ngoài, đám quần chúng, cũng như con quái vật Apocalypse ấy có ngàn tay, đang liệng đá tới tấp vào anh.
Máu anh chảy ra mũi, ra miệng. Anh thấy sắp chết. Nghĩ tới đó, anh không còn biết gót giày đạp đá anh, quả đấm loi thụi anh nữa. Anh hết còn biết đau đớn. Nổi thống khổ của anh sấp chấm dứt. Anh nhớ đến mục sư Koruga, nhớ nhà thờ làng Fantana, tượng Thánh Mẫu Đồng Trinh. Sự yên tĩnh trở lại trong thể xác và linh hồn anh. Anh nghe rõ tiếng đập phá toa xe, và biết sự đập phá ấy chỉ để đánh anh, đánh một mình anh thôi.
Thiên hạ muốn chà đạp anh, muốn giết anh. Đến bây giờ anh mới biết. Anh mới cảm thấy hễ bao giờ anh còn sống thì thế giới sẽ không tồn tại và không còn có tiến bộ nữa. Anh chịu trách nhiệm tất cả tội lỗi trên mặt đất nầy. Chỉ có một mình anh là thủ phạm. Vì thế; cả bọn người ấy đều muốn giết anh. Vì thế, anh mới bị tù vừa được thả liệng đá. Vì thế, anh mới bị cảnh binh bắt.
Quần chúng không chịu yên khi nào anh còn sống. Cảnh binh không trấn tĩnh được bọn cựu tù nhân khi Moritz chưa bị giết. Bọn tù trong toa chỉ hết phẫn uất khi nào thấy anh nằm chết trước mắt. Xe tăng và lính võ tranh súng máy không trở về hàng ngũ được, khi Moritz chưa bị phân thây từng mảnh.
Anh phải chết, vì anh là Người! Anh không được dung tha.
Moritz tự nghĩ: “Trời ơi! Tôi có tội tình gì. Tôi mến thương người Pháp. Tôi muốn nói với họ một lời thân ái. Chỉ vì thế, mà họ muốn giết tôi. Chúa Jesus khi xưa cũng bị giết, bởi vì Ngài đã thương nhân loại"
Moritz nhớ lại câu nói của Traian: “Chúng ta trèo đồi Golgotha bằng xe lửa. Chúng ta trèo một đồi Golgotha cơ giới hóa".
Moritz cảm thấy như bị đóng đinh trên thập tự giá, và trời tối hẳn, tối đen, tối đen ngòm…
—————————————
Moritz thức dậy trễ, đầu và ngực đều băng bó. Đầu anh nằm trên vai Traian. Moritz nghe gò má anh chạm vào da vai trần của Traian, vì ông không còn áo sơ mi.
Anh muốn hỏi tại sao Traian không có áo, nhưng anh kiệt sức. Anh chỉ nói:
—Tôi khát nước!
Traian làm như không nghe. Moritz lặp lại:
—Tôi khát nước!
Anh đã nằm hằng giờ như thế, ngất xỉu trên tay Traian. Trong lúc ấy, Traian xét áo sơ mi băng bó cho anh và kiếm một chỗ để anh nằm.
Moritz không nói một tiếng nào. Traian đặt tay lên ngực anh để nghe tim anh đập rất yếu. Lúc lúc, Traian rút tay ra và kề lỗ tai chỗ băng để nghe. Thỉnh thoảng, tim Moritz nhảy chậm đến đỗi tay ông không nhận được; kề sát tai, ông chỉ nghe được chút ít thôi.
Và bây giờ, Moritz nói được.
Traian vui mừng như là mình ở từ xa về.
Nhưng Moritz muốn uống nước. Như Jesus, trên thập tự giá, cũng khát nước. Mà trong toa xe không có nước.
Trọn hai mươi giờ, bọn tù bị nhốt trong toa xe, không ăn uống, và cũng không được phép ra ngoài để đi tiêu đi tiểu.
Trong xe đầy mùi phẩn. Không khí nặng nề, khó thở. Ván rầm xe đầy nước tiểu. Moritz đã nằm trên nước tiểu. Chính anh cũng tiểu trên đó, mà không hay. Anh chẳng biết gì hết. Mãi đến lúc ấy, anh cũng không mở mắt ra mà chỉ hé môi để nói:
—Tôi khát nước!
Traian đáp:
—Tôi rất tiếc, không có nước, không có gì để uống được!
Ông tự hỏi cói có cái gì có thể thấm môi Moritz được, nhưng chẳng có gì uống được cả.
Ông nhớ có đọc trong sách nói về quân lính của Thành Cát Tư Hãn, lúc băng qua đồng cỏ hoang bao la, không tìm được thức gì để uống và ăn, bèn xuống yên, lấy dao rọc gân gần móng cẳng ngựa rồi hút vài giọt máu. Họ băng bó chỗ ấy lại, và cho ngựa tiếp tục đi. Suốt mấy tuần lễ, quân sĩ cảu Thành Cát Tư Hãn không ăn uống gì khác hơn là vài giọt máu nóng.
Traian bị ý tưởng ấy ám ảnh. Ông muốn lấy máu mình cho Moritz đỡ khát. Máu ấy có thể giúp Moritz đỡ khổ nhiều.
Anh van lơn:
—Tôi khát nước!
Traian an ủi:
—Bạn ơi! Không có gì uống được, giọt nước mà tôi kiếm được và vui lòng hiến cho anh đỡ khát là giọt máu của tôi. Nhưng anh đừng uống máu. Con người uống máu là con ma cà Rồng. Nó có mặt người, nhưng không phải là người. Nó là cái máy, con quỷ, quần chúng. Nó là con người, nhưng thiếu linh hồn.
Moritz thều thào:
—Tôi khát nước!
—Tôi hiểu! Nhưng dầu sao, anh đừng uống máu. Tôi không có gì khác để cho anh. Anh là con Người duy nhứt trong đám người vây quanh tôi, mà không uống máu người. Anh hiểu không? Các kẻ khác đã uống máu nên đã thành tinh hết rồi. Họ không còn phải là người nữa. Bọn tù kia, các lính canh gác, lũ tù vừa được thả đã ném đá vào anh, không ai còn là con người. Chỉ có một mình anh còn là người vì anh còn thương người.
—Tôi khát nước!
—Tôi hiểu! Tôi biết rằng anh khát và anh sẽ chết nếu không uống nước. Nhưng thà chết còn hơn sống như họ. Anh đừng uống máu người. Anh hiểu rõ lời tôi nói đó không?
Moritz thì thào một lần nữa:
—Tôi khát nước!
—————————–
Đơn Thỉnh nguyện của Iohann Moritz.
Tôi ký tên dưới đây, Iohann Moritz, ở làng Fantana, xứ Roumanie, gởi đơn nầy cho nhà cầm quyền nơi tôi bị giam, để xin hỏi tại sao các ông giam cầm tôi và hành hạ khổ sở tôi như chỉ có một mình Chúa Jesus bị khổ hình trên thập tự giá vậy.
Nếu tôi không hỏi câu nầy từ lâu,–như tôi có thể làm,– là vì tôi bẩm tính kiên nhẫn. Tôi là một nông dân. Các nông dân đều biết chờ đợi.
Tôi chờ cả một mùa xuân. Tôi chờ cả một mùa hạ. Và trọn cả một mùa đông dài dặc. Giờ đây, mùa xuân trở lại. Tôi chỉ còn xương với da. Linh hồn tôi đen tối, vì buồn rầu, vì đau khổ. Đen tối như than hầm, như mực đậm.
Hiện giờ, tôi không thể chờ đợi được nữa, nên xin hỏi: tại sao các ông giam cầm tôi?
Tôi không trộm cướp, tôi chẳng giết người, tôi không lường gạt ai, và tôi không phạm tội lỗi nào mà Pháp luật và Giáo hội ngăn cấm cả.
Nếu tôi không can án giết người, trộm cướp, bất lương, tại sao các ông cứ giam mãi tôi trong tù.
Các ông đã nhốt giam và tra tấn hành hạ tôi đến nỗi tôi chỉ còn là một cái bóng trên mặt đất.
Tôi đã bị lưu đày trong mười bốn trại giam. Tôi thiết tưởng đã đến lúc nên hỏi các ông đã khiển trách tôi về tội gì?
Phần tôi, tôi rất khó khăn để quyết định. Nhưng bây giờ, tôi đã nhứt định hỏi các ông.
Tôi gởi đơn nầy theo lối bưu chính cho nhà cầm quyền xứ nầy. Tôi cũng gởi cho lính gác cửa khám để chuyển đạt đến. Đơn tôi sẽ tới tay nhân viên chánh phủ, dầu có phải đi vòng quanh thế giới. Nhà cầm quyền phải nghe đơn khiếu nại của tôi, dầu có bịt lỗ tai đi nữa.
Tôi dán đơn tôi trên các cửa khám; tôi gói đá liệng nó ra đường.
Tôi bắt mấy con chim bay ngang trại giam, cột đơn vô cẳng để được gởi đi cùng khắc thế giới.
Từ nay, tôi không ngừng kêu van, tôi gào thét mãi cho tới khi được minh oan. Có thể các ông sẽ nhốt tôi trong hầm tối để không ai nghe được tôi. Nhưng dầu ở đâu, tôi cũng không ngớt kêu van. Nếu tôi không có viết chì và giấy, tôi sẽ viết bằng móng tay tôi trên vách khám. Móng tay tôi có mòn đến da thịt, tôi sẽ chờ nó mọc ra, và viết nữa.
Nếu các ông bắn tôi, linh hồn tôi không xuống Địa Phủ, cũng không lên Thiên Đàng, hay vào Luyện Ngục. Oan hồn tôi sẽ vẩn vơ trên mặt đất và đeo đuổi mãi các ông.
Nó sẽ ám ảnh các ông như một bóng ma. Ban đêm tôi sẽ phá phách mãi giấc ngủ các ông và của mấy người yêu các ông, để kêu la rằng tôi có lý.
Và các ông không thể chợp mắt ngủ yên được. Mãi cho đến chết, các ông sẽ không nghe được diệu nhạc thâm trầm và lời nói yêu thương, –các ông không thể nghe được gì nữa hết–, lỗ tai các ông vẫn bị rên vang lời kêu oan của tôi, Iohann Moritz nầy.
Tôi là con người. Nếu tôi không làm gì sái quấy, thì không ai được quyền đánh khảo, giam cầm tôi. Đời sống và hình bóng tôi là của tôi. Và các ông là ai đi nữa, dầu có xe tăng, súng máy, phi cơ, trại giam hay tài sản cự phú đến đâu, các ông cũng không có quyền chạm đến đời sống và hình bóng của tôi.
Suốt đời, tôi chỉ cầu mong một chuyện rất tầm thường: được yên thân làm việc, có chỗ đùm đậu với vợ con và kiếm đủ ăn cho gia đình.
Chính vì vậy mà tôi bị bắt sao?
Nhà cầm quyền Roumanie sai hiến binh bắt tôi sung công,– như sung công món đồ, con vật. Tôi để cho sung công. Tay trơn, tôi làm sao chống lại với nhà vua, với hiến binh có súng lục và súng trường. Họ nói tôi tên Iacob chớ không phải tên Ion như mẹ đặt. Họ nhốt tôi chung với dân Do thái trong trại giam rào dây kẽm gai, như nhốt súc vật, –và bắt tôi làm những việc khổ sai. Nơi trại, chúng tôi ngủ cả bầy như thú vật, chúng tôi ăn, uống cả bầy, và chỉ chờ dẫn đem đi lò thịt như bầy thú. Các người khác chắc đã bị dẫn đi lò thịt, còn tôi, tôi trốn thoát được.
Có phải vì đó mà các ông bắt tôi không? Vì tôi vượt ngục, không chịu chờ dẫn đi lò sát sinh chăng?
Dân Hongrois nói tôi không phải tên Iacob, mà tên là Ion. Họ bắt tôi vì tôi là dân Roumain. Họ tra khảo, đánh đập tôi, làm tôi đau đớn khổ sở, rồi bán tôi cho Đức quốc xã.
Người Đức nói tôi không phải tên Ion, hoặc Iacob, mà tên là Ianos và đánh khảo tôi thêm, vì tôi là dân Hongrois. Kế đó, có một Đại tá Đức tới nói tôi không phải tên Iacob, hoặc Iankel,–mà tên là Iohann, và cho tôi được làm lính binh nhì. Đại tá đo đầu cổ tôi, đếm răng tôi, và đựng máu tôi trong ống chai nhỏ. Ông làm tất cả công việc ấy cốt để chứng minh rằng tôi có một danh tính khác hơn tên của mẹ tôi đặt. Có phải vì vậy mà các ông bắt tôi không?
Lúc làm lính, tôi giúp tù Pháp vượt ngục, có phải vì vậy mà các ông bắt tôi không?
Lúc chiến tranh dứt, tôi tưởng tôi cũng như ai, có quyền được hưởng hòa bình. Quân lính Mỹ đến và rặng biếu tôi chocolat và đồ ăn thức uống ê hề, như tặng cho một ông hoàng. rồi, không nói không rằng, họ bắt tôi bỏ tù. Họ đày tôi trong mươi bốn trại giam, như những tướng cướp ghê gớm nhứt trần gian.
Và bao giờ, tôi cần muốn biết: tại sao?
Có phải tại các ông không ưa tên tôi Ianos, hoặc Ion, Iohann, Iacob, hay Iankel chăng? Các ông muốn thay đổi tên tôi nữa sao? Thì cứ tha hồ? Ngày nay tôi biết rằng con người không có quyền mang tên của mẹ đặt cho nữa. Song tôi xin cho các ông hay rằng, từ giờ trở đi, tôi không thể chờ đợi. Tôi muốn biết lý do nào tôi bị bắt và bị tra khảo?
Tôi mong đợi các ông trả lời và kính cẩn chào các ông.
Ký tên: Moritz Ion, Iohann- Iacob- Iankel- Ianos, nông dân và cha một gia đình.
Traian đọc xong lá đơn, rồi hỏi Moritz:
—Tại sao anh khóc?
—Tôi không khóc!
—Tôi thấy mắt anh rướm lệ. Tại sao anh khóc?
—Tôi không biết.
—Anh có sợ gởi lá đơn nầy hay không? Chuyện tôi viết có đúng sự thật không?
—Tôi không sợ. Những gì ông viết đều đúng cả.
—Vậy tại sao anh khóc?
—Chính vì đó mà tôi khóc. Rõ là đúng y sự thật.
Ba ngày sau khi gởi đơn, Moritz được kêu lên thẩm vấn. Traian cho anh mượn áo sơ-mi với quần dài và nói:
– Ta đã thắng, lá đơn có kết quả.
Mắt Moritz sáng lên, anh tưởng như sắp được trả tự do, anh nói:
– Ta đã thắng, cũng nhờ ông tất cả, những gì ông viết trong đơn đúng sự thật làm sao!
Đừng sợ nghe anh, có bọn chúng mới sợ vì chính chúng là thủ phạm!
Moritz vui vẻ đi ra.
Trưa anh trở về, Traian chờ anh ngoài cửa, vội vã hỏi:
– Chuyện ra sao? họ có hứa thả anh chưa?
Moritz cúi xuống, vẫn giữ vẻ mệt mỏi, anh đáp:
– Để sau rồi tôi nói, bây giờ chưa được!
– Trời ơi! bộ anh điên rồi sao hả, tôi trông mong anh cả buổi, rồi bây giờ anh bảo tôi chờ một lúc nữa!
Moritz lượm tàn thuốc ở phòng, thủng thẳng xé giấy bỏ, gom thuốc thành hai phần, một cho anh, một cho Traian, rồi lấy giấy nhật trình gói một điếu thuốc. Anh chậm rãi nói:
-Tốn hơn để sau tôi nói, ông Traian à!
– Họ có hứa thả anh không?
– Không, họ không hứa với tôi chuyện ấy!
– Họ có chửi mắng anh không?
Moritz vẫn tiếp tục vấn thuốc, và đáp:
– Họ không chửi mắng tôi!
– Họ có đánh anh không?
– Không!
– Vậy tại sao anh không nói, họ có làm gì khổ anh đâu?
Moritz đốt thuốc rồi đáp:
– Họ không làm gì hêt!
– Hay chưa tới phiên anh, không hại gì hết, mai họ kêu anh nữa!
– Có, phiền tới tôi rồi!
– Họ có hỏi anh chuyện gì không?
– Có.
Lưỡi Moritz như líu lại, anh phải gạn từng tiếng, Traian nóng nảy nói:
– Anh thuật hết tôi nghe coi, khởi đầu làm sao?
– Tôi được kêu vô trước hết, vô phòng, tôi được mời ngồi ghế, để trước bàn.
– Vô đầu như vậy tốt lắm, nếu chúng nó mời anh ngồi là điều lành rồi, chắc chúng nó có đọc hồ sơ và thấy anh vô tội. Không phải ai cũng được mời ghế đâu, nói tiếp đi.
– Một viên đội hỏi tôi.
– Nó có lễ phép không?
– Lễ phép lắm!
– Nó hỏi câu gì trước!
– Trước hết y xem giấy tờ, rồi y hỏi tôi: "Anh là Iohann Moritz phải không?"
– Tôi đáp: "Phải". Rồi y xem giấy tờ một lần nữa. Đoạn y hỏi tôi: "Tên Moritz viết như thế nào? "t" hay "tz" sau chót?" Tôi đáp với y tôi viết hai cách, ở Roumanie tôi viết "t", còn ở Đức, viết "tz".
Moritz ngừng nói, nhìn Traian, vẻ thất vọng, Traian nói:
– Rồi sao nữa, tại sao anh bị bắt?
– Viên đội nói với tôi: "Cảm ơn anh, đươc rồi, anh về chỗ."
– Có vậy thôi sao?
– Có bấy nhiêu thôi.
– Anh không ráng nói thử vói nó chút gì khác nữa sao? Tại sao không thuật gì hết những gì tôi dạy anh đó?
– Tôi có nói, nhưng viên đội không muốn nghe, y gọi: "Người kế."
– Rồi anh nói gì?
– Không nói gì hết.
– Vô lý quá, hoàn toàn vô lý, rồi sao anh đi ra.
– Phải, tôi đi ra.
– Một cuộc thẩm vấn mà chúng ta mong đợi suốt năm trong tù là như thế sao? Không có gì khác nữa sao? Hoặc giả anh có quên cái gì chưa?
– Không, chẳng hỏi gì thêm nữa. Tôi đi ra, khi tôi đóng cửa, tay tôi còn run. Họ kêu người kế, là Thomas Mann.
– Y hỏi người đó chuyện gì?
– Hỏi xem tên Mann viết 1 hay 2 chữ "n" ở cuối.
– Có bấy nhiêu à, không hỏi chuyện gì khác sao?
Hai dòng nước mắt chảy dài theo má Moritz, giọt lớn bằng hột trân châu.
Traian vỗ vai an ủi.
– Thôi, ta phải kiên nhẫn, anh Moritz à! Khi mấy con thỏ bạch chết dưới tàu ngầm, thì không còn giải pháp nào hơn là ráng-chịu…
—————————–
Đơn thỉnh nguyện số 5: – Đề tài: Công Lý (Cơ giới hóa các cuộc thẩm vấn.)
Tôi biết các người được chỉ thị để hỏi cung tội nhân trại giam này một cách đặc biệt riêng rẽ. Cố nhiên, lịnh vô lý quá, trong lúc các người này bị bắt giam từng đoàn, một cách tự động thì thẩm vấn từng người thật vô lý!
Tuy vậy tôi hiểu tại sao lịnh đó được đưa ra. Văn minh các người phải tỏ vài cử chỉ lễ độ đối với dân bản xứ. Đó chỉ là chút nhân nhượng cho có lệ, theo phép lịch sự vậy thôi.
Một sĩ quan phải thẩm vấn năm trăm tù binh mỗi sáng và năm trăm mỗi chiều. Tôi nhận thấy với ai, các người cũng chỉ hỏi một câu giống nhau mà không cần nghe trả lời. Thật vậy, có khờ dại lắm mới nghe tù nhân kể chuyện này chuyện nọ, có hay ho gì đâu, chẳng có gì hết.
Nhưng tôi nghĩ đến hơi sức các người đã phung phí để hỏi các câu hỏi ấy. Cả ngàn lần một ngày cũng chỉ câu hỏi đó mà thôi. Tổn lực biết là chừng nào, tôi nghĩ mấy sĩ quan được cử làm ở phòng thẩm vấn, chắc phải đau quai hàm và mỏi miệng lắm, lúc mãn giờ chiều.
Vì thế tôi đề nghị thâu vào máy mấy câu hỏi ấy, cách thực hiện thế này. Vị sĩ quan giữ phận sự thẩm vấn cứ ngồi tại phòng làm việc vì thủ tục thẩm vấn từng người bắt buộc phải như thế, rồi cho máy phóng thanh chạy. Khi tù nhân vào phòng, trong tiếng dĩa nói: "Ngồi xuống đây", người tù ngồi, đĩa tiếp tục quay. Nghe câu hỏi thứ nhứt, thứ nhì, thứ ba. Đĩa kết thúc: "Cảm ơn, đủ rồi." Khi người từ đến trước cửa, thì đĩa quay cũng quay tới câu cuối cùng: "Người kế".
Cuộc thẩm vấn cứ như vậy là xong! Người từ khác bước vô phòng, đĩa lại quay và hỏi những câu như lần trước. Với một đĩa thâu nhanh, các người có thể thẩm vấn bốn năm trăm tội nhân.
Trong khi đó sĩ quan thẩm vấn cứ ngồi tại bàn và đọc tiểu thuyết trinh thám, tới trưa khi đi ăn, y có thể ăn uống như thường mà khỏi bị đau hàm. Nên nhớ là cách sắp đặt các cuộc thẩm vấn ấy chỉ cần nêu ra câu hỏi mà không cần nghe câu trả lời. Máy móc có thể làm việc đó, chuyện này hoàn toàn hợp lý. Đã tuân theo thủ tục mà không làm mệt sức nhân viên thẩm vấn. Công lý được áp dụng khi áp dụng phương thức ấy. Xã hội văn minh phải được xử đoán tự động. Đâu phải dùng lối xưa như hồi chưa tìm ra điện lực. Bao nhiêu kĩ thuật cơ khí mà làm gì khi công lý chưa dùng tới máy phóng thanh.
NGƯỜI CHỨNG.

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: