Trang chủ > Uncategorized > Giờ thứ 25 – B

Giờ thứ 25 – B

Gheorghiu, Constantin Virgil

Eleonora West, vị hôn thê của Traian, vui mừng hỏi chàng:
—Ngày 29.08, chúng ta sẽ về nhà ông thân ông, tại làng Fantana. Còn 1 tuần lễ nữa, phải không anh? Em muốn ngày ấy tới liền!
Nàng lấy bó hồng trên tay Traian: anh nhìn chăm chú mấy lọn tóc hung hung đỏ xòa trên vai, trên áo hàng đen của nàng. Chàng ngắm thân hình yểu điệu mảnh mai của nàng rồi nói:
—Nora à! Em biết anh tự hỏi gì mỗi khi anh nhìn em không?
Nàng tươi cười, quay đầu lại nhìn chàng và nghe chàng nói tiếp:
—Anh tự hỏi như thi sĩ Tudor Arghezi đã hỏi: “Mẹ nàng là một bà tiên, một con hươu, hay một cây sậy? Hột giống nào đã nẩy mầm trong người bà? Hẳn là của một thần linh chớ không phải của người phàm….” Em quá đẹp… Trong tông tộc em chắc có người lẹ làng như cheo, mắt em láo liên sợ sệt như mắt sóc, và em cũng yểu điệu dịu dàng như chúng nó. Em chắc cũng có người thân tộc uyển chuyển như rong biển. Thân vóc em điều hòa cân đối như cỏ lác. Tánh em hay thay đổi như sự mơn trớn của con mèo Persian (xứ Iran)
Eleonora vẫn đứng xây lưng, mặt giấu trong bó bông hồng.
Traian hỏi:
—Anh có làm phiền em không?
—Không!
—Tại sao em buồn? Dầu chẳng nhìn cặp mắt em, anh cũng đoán biết. Có phải tại mấy lời anh nói chăng?
Nàng gượng cười, đáp:
—Không, em chỉ tưởng nghĩ đến dòng họ em và khó tìm thấy ông hoàng, bà tiên, cheo, sóc, rong biển… trong ấy.
Hai người dùng bữa, chỉ có hai người trong phòng rộng lớn, bàn ghế bằng danh mộc xưa.
Nhà của Eleonora là một nhà sang trọng nhứt nhì trong các nhà đẹp tại thành phố Bucarest. Chính do nàng vẽ họa đồ. Bàn ghế và những tấm thảm đều do nàng ra kiểu. Nàng được 29 tuổi và làm giám đốc tờ “Occident/ Tây Phương”, một tờ báo lớn nhất ở xứ Roumanie. Nàng theo học các trường đại học danh tiếng Âu châu, viết bài xã thuyết trong tờ báo của nàng, quản lý một nhà xuất bản với một tập chí văn chương và mỹ thuật, tham gia những hoạt động chánh trị, văn hóa và xã giao lịch thiệp.
Traian biết nàng đã mấy năm rồi. Tình yêu của họ cũng vẫn thâm trầm như lúc đầu. Có thể nồng nàn hơn, nhưng họ chưa cưới nhau. Mỗi lần Traian có hỏi đến thì nàng trả lời:
—Em không thể nào là người nội trợ giỏi được. Em yêu nghề quá, nếu phải từ bỏ đi, thì như em đã phí mất vật gì quý báu nhứt đời, và làm hỏng tất cả.
Traian nói:
—Anh tin chắc Moritz sẽ được thả. Ông Tổng trưởng Bộ Chiến Tranh hứa từ đây đến ngày 28 nầy. Anh đã đánh điện tín cho ba anh hay rằng anh sẽ về với “vị hôn thê” của anh và đem tờ lịnh phóng thích Moritz nữa. Người chắc sẽ vui mừng gấp đôi.
Nora hỏi:
—Anh nhứt định giới thiệu em là vị hôn thê của anh sao?
—Phải đó. Anh tha thiết lắm. Nhưng nếu em không muốn thì anh sẽ thôi. Ba anh tất sẽ buồn, nhưng người từng hiểu rõ mà tha thứ cho.
—Sao anh lại giới thiệu em là vị hôn thê mà không phải là vợ? Nếu để sáng mốt, ta làm lễ cưới, thì chừng về làng Fantana, chúng ta là vợ chồng rồi.
Traian ngờ nàng nói chơi. Đã hai năm nay, chàng cứ nhắc nhở, nàng cũng yêu chàng nhưng không hứng làm vợ, và không muốn làm vợ ai cả. Bây giờ, bất thình lình, nàng đề nghị với chàng làm lễ cưới. Traian hỏi gặn:
— Em nói thiệt chớ?
Chàng đứng dậy, hôn tay nàng và hỏi:
— Có chuyện gì xảy ra vậy em? Hồi sáng mơi, trong điện thoại, em chẳng có nói gì cả, sao bây giờ em lại nhứt định?
Nàng trả lời:
—Không có chuyện gì hết. Anh đã hỏi em nhiều lần, thì ngày 29 về làng Fantana, chúng ta là vợ chồng. Hay là anh đổi ý? Thì anh phải cho em hay chớ.
Traian biết chắc có chuyện quan hệ xảy ra, một biến cố xui khiến Eleonora ưng thuận làm vợ chàng, nhưng chàng không đoán được.
Nàng nói:
— Bây giờ ta làm lễ theo luật hộ. Còn làm phép giao thì để về làng Fantana. Anh ao ước làm lễ tại nhà thờ của ba anh. Anh muốn thấy em mặc áo dài trắng đi lần đến cửa thánh, giữa đám phụ nữ trẻ trung trong làng… Em sẽ xin khỏi làm lễ cưới theo luật hộ. Em đích thân gọi điện thoại xin ông chưởng lý.
Traian hỏi:
—Nora à! Chuyện gì đó em? Chắc chắn có việc quan hệ xảy đến cho em rồi!
Nàng đáp:
—Không có chuyện chi cả. Thật như vậy. Hoặc giả có chuyện nầy, là tự nhiên em muốn thành vợ anh. Em đột nhiên có ý nghĩ ấy, và muốn thực hành ngay để đừng có chuyện gì xảy đến cản trở. Hạnh phúc mà em ao ước rất cần thiết cho em, nên em muốn nắm lấy liền và nắm thật chặt trong tay, em sợ nó thoát ra nếu em chờ đợi mãi. Chỉ có thế thôi, anh tin em chăng?
————————————————————————-
Dùng bữa xong, Traian và Eleonora vô phòng sách, đọc sách và xem tranh.
Traian tin rằng Eleonora nói thiệt, nhưng hai người đều không bàn đến chuyện đám cưới. Họ thấy cần giải thoát khỏi những ý tưởng đang đè nặng trong lòng. Họ đứng lại trước một bức họa của Picasso. Eleonora nhìn tấm tranh vẽ một người đàn bà quá đau khổ đến nỗi nét mặt không còn diện mạo con người. Chỉ là một hiện tượng da thịt nát bét, một hình dáng thảm não của người bị đau khổ làm rũ chí, như một cái máy bị tháo gỡ. Tồn tại còn mấy bộ phận chánh: mắt mũi miệng và lỗ tai, mỗi bộ phận sống riêng biệt vì đau khổ, chúng chống đối không hòa hiệp nhau. Thân hình con người mất vẻ đồng nhứt của nó.
Traian quay ngó Nora và cảm thấy thoáng qua nàng giống bức họa nầy. Không máy ảnh nào ghi được nét mặt nàng lúc đó. Sự đau khổ quá trầm trọng. Mặt Eleonora cũng bị tàn phá như mặt người đàn bà trong tranh Picasso, giả như có một luồng điện thật mạnh chạy qua mà không làm mình bị giựt, vì nó quá mãnh liệt, Traian hỏi:
—Em đang suy nghĩ gi đó?
—Không có chi anh à! Chúng mình đi uống cà phê đi.
Và không đợi trả lời, nàng quay lưng lại như lúc Traian nói với nàng về dòng giống nàng có thân tộc với hươu nai và rong biển.
———————————————————————-
Đám cưới làm lễ tại dinh Đốc Lý. Họ mặc y phục thường. Hai người bạn của Traian làm chứng. Xong, họ đi ăn ở một hiệu trong thành phố Bancasa.
Traian nói:
—“Để chừng cử hành hôn lễ ở nhà thờ sẽ làm đám cưới long trọng.” Rồi chàng thuật lại lễ tục một đám cưới ở làng.
—Đám đi đến nhà thờ có năm chục thanh niên mặc quốc phục và cỡi ngựa kim dẫn đầu. Kế đó, một xe do 4 con bò kéo. Theo tục lệ, trong xe ấy chưng bày những đồ tặng cho cô dâu và của hồi môn của cô. Song cỗ xe của chúng ta sẽ chở đầy hoa tươi. Chúng ta có mười hai cha dỡ đầu. Khi hành lễ, trong lúc đôi vợ chồng mới cùng 12 cha đỡ đầu nắm tay nhau nhảy xây vòng tròn, thì từ trên nhà thờ một đám mưa kẹo rơi xuống. Trẻ nhỏ xúm nhau lượm đến cả dưới chân cô dâu chú rể. Đến phiên chúng ta, phải cho mưa từng bao kẹo đầy để trẻ con làng Fantana tha hồ lượm. Lúc anh còn nhỏ, anh cũng đi lượm kẹo trong mấy đám cưới, nhưng được ít lắm, không khi nào trên 4 viên. Anh muốn đám cưới chúng ta, trẻ con lượm được cả túi đầy. Chúng ta sẽ rước 12 giàn nhạc vĩ cầm và lục huyền. Rồi sẽ đãi rượu trong thùng to để dân làng say sưa. Đám cưới sẽ cử hành trong một đám đất rộng, có thể mời được hàng ngàn người, và cuộc vui sẽ kéo dài suốt tuần…
Nora xem đồng hồ. trong một khắc nữa, nàng có hẹn với trạng sư Stein. Nàng nói:
—Thôi chúng ta đi. Còn nhiều chuyện gấp chờ tôi ở phòng giấy.
Traian ngưng kể chuyện đám cưới ở làng Fantana. Cả hai đều đứng dậy và ra đi.
——————————————————————-
Traian đưa Nora tới tòa soạn báo Occident. Đây là một tòa nhà tối tân nhứt, mặt tiền toàn bằng đá cẩm thạch trắng. Nora xây cất trên chỗ nền cũ của một nhà in. Traian ngó sáu từng lầu chói lọi dưới ánh mặt trời và mỉm cười nghĩ thầm: “Đây là công trình của Nora.”
Chàng nói:
—“Anh đón em và đợi em ngoài xe nghen!” Chàng biết Nora luôn luôn tự lái xe về nhà khi xong công việc ở tòa báo. Nhưng bữa nay chắc nàng bỏ lệ thường, vì là ngày đám cưới của nàng. Nhưng Nora nói:
—Em sẽ về một mình, khi xong công việc!
Nàng chờ Traian lái xe đi khuất rồi mới bước lên bực thang bằng đá cẩm thạch và mất dạng trong tòa nhà lớn, sau cánh cửa to, bằng sắt đúc, mà người gác cửa mang “lon” vàng mở rộng chờ.
——————————————————————–
Eleonora vào văn phòng một cách oai vệ nhưng hững hờ. Nàng làm như không để ý đến một ông già mặc áo đen đứng lên, khi nàng vào. Nàng để bóp và bao tay trên bàn, rồi ra hiệu mời ông già ngồi. Nàng lấy một điếu thuốc và cố kềm tay khỏi run, khi đốt lửa. Đoạn nàng ngồi lên ghế dựa, và ngó ông già, nói:
—Tôi xin nghe ông, ông Stein.
Ông già mở cặp da để trên đầu gối, lấy ra một xấp giấy và để trên bàn.
Nora chăm chú từng cử chỉ của ông. Ông nói:
—Chuyện đã xong rồi, cô West ạ! Đây, giấy tờ đây!
Ông lấy hai tờ giấy trong hồ sơ đưa nàng.
Nora hỏi:
—Phải chỉ có bao nhiêu đây trong Văn Khố Ploesti không?
Ông già đáp:
—Tới sớm mai nầy thì có bấy nhiêu thôi. Và bây giờ, nó nằm trên bàn giấy cô. Văn khố ấy không có gì nữa.
Eleonora West nhìn khinh bỉ mấy giấy tờ, rồi xếp lại cất vào ngăn tủ bàn giấy.
Ông già nói:
—Kỹ hơn là cô nên đốt nó liền đi.
Eleonora ngó ông, ngó cặp kiếng gọng vàng, ngó cổ áo cứng và cái áo kiểu xưa của ông, rồi nói:
—Một khi giấy tờ nầy ở trong bàn viết của tôi, thì không còn sợ chi nữa, ông Stein à!
—Về phần tôi, thì tôi không sợ, nhưng còn cô, tốt hơn cô nên đốt nó ngay bây giờ đi!
—Chuyện nầy ông tốn hết bao nhiêu?
Nàng muốn nói sang chuyện khác, vì thấy ông già sợ nhiều. Thế nào cũng phải đốt giấy tờ ấy, nhưng nàng muốn xem nó ra sao đã.
Ông Stein đáp:
—Đúøng 10 000 “lơ ”
—Còn tiền công của ông?
—Tính luôn vô đó cả.
Eleonora lấy trong bàn viết hai xấp giấy bạc và trao cho ông già. Ông ngập ngừng muốn đếm, nhưng đành bỏ tật nầy theo thói quen, rồi để tiền vô cặp da. Eleonora nói:
—Thôi, tôi nhờ ông có bao nhiêu đó thôi.
Nàng muốn ngồi một mình để xem giấy tờ, nhưng ông già không nhúc nhích. Nàng hỏi:
—Còn có chi nữa không ông?
—Không, có chi cả. chuyện đã hoàn thành theo ý định.
—Đâu có đều hợp pháp rồi chớ?
—Đúng vậy, nhưng chỉ tạm giải quyết, là đốt giấy tờ. Ấy là ý tôi muốn nói. Tôi mạn phép nhắc cô chú ý đến sự nầy, vì tôi là bạn và cộng sự với ông thân cô, và bởi tôi biết cô từ hồi còn bé, tôi đã từng bồng cô ngồi trên đầu gối tôi. Tôi muốn nói với cô rằng, chuyện chỉ một phần tạm yên về phía thủ tiêu giấy tờ.
—Ông cắt nghĩa rành giùm đi.
—Rõ ràng lắm cô West à! Cô muốn phi tang giấy tờ chứng tỏ cha mẹ cô là người Do thái thì cô biết, tôi đã lấy cắp trong Văn khố.
—Thì chuyện đã xong rồi!
—Cô có thể làm tiêu mất giấy tờ mà không xóa được chuyện thật. Dầu thế nào cô cũng là người Do thái, nếu có người nhìn nhận ra cô…
—Người đó không thể trưng bằng cớ ra được!
—Thì họ bảo cô đưa giấy tờ lý lịch của cô ra.
—Tôi sẽ tìm giấy tờ khác. Với tiền bạc tôi có tất cả giấy tờ tôi muốn.
—Đúng thật, nhưng cô lại chạm vào hình luật. Nếu lơ đễnh mà đụng đến luật, thì khác nào chơi với lửa.
Eleonora mỉa mai đáp:
—Ông không phải vừa mới ăn cắp mấy giấy tờ nầy ở Văn khố Ploesti hồi sớm mai nầy à? Thế thì có quyền nào ông dạy luân lý với tôi.
—Không phải một bài học, cô ạ, mà tôi muốn nói trước cho cô rõ sự nguy hiểm và cô không thể ở mãi trong tình trạng nầy.
Eleonora châm điếu thuốc khác rồi nói:
— Ông biết rằng chỉ có cách nầy thôi. Tôi không làm khác được. Một khi xã hội cấm tôi sống một cuộc đời của tôi, cấm tôi có một cái nhà, một nghề nghiệp, một người chồng thì tôi sẵn sàng chiến đấu đến kỳ cùng, dùng tất cả khí giới nào tôi có được. Tôi chiến đấu như con vật bị thương. Bản năng sinh tồn của tôi tích cực hoạt động.
—Cô West ạ! Điều cần thiết không phải chiến đấu mà phải thắng cuộc.
Eleonora dụi điếu thuốc vào dĩa đựng tàn thuốc và nói:
—Tôi sẽ thắng!
—Cô tưởng là cô sẽ mãi mãi làm chủ nhơn, và giám đốc tờ báo của cô sao? Cô chưa chịu khai cô thuộc dòng giống Do thái là bởi tính nết cam đảm và trẻ tuổi của cô. Cô còn may mắn lắm. Vì sợ, hoặc vì hèn nhát mà không ai dám mở cuộc điều tra cô. Đã có nhiều thơ tố cáo và đòi sung công nhà in với tờ báo, theo luật mới về nhân chủng. Chắc cô mua chuộc được kẻ nào có phận sự điều tra. Và cô đã thắng. Hiện giờ cô vừa hủy bỏ được giấy tờ chứng nhận cha mẹ cô là Do thái. Cô càng có thì giờ thêm. Nhưng luật lệ nầy càng lúc càng gắt gao. Không một người Do thái nào thoát khỏi. Hiện giờ, chỉ mới là khởi đầu. Thế nên cô mới còn được làm giám đốc một tờ báo lớn, mặc dầu cô là Do thái; theo luật thì cô không được đăng một bài báo nào. Nhưng cô nên nghĩ đến tương lai!
— Luôn về tương lai, tôi cũng sẽ còn làm giám đốc và chủ nhơn tờ báo Occident!
Ông Stein rất biết rõ tánh suy luận đúng đắn của người đàn bà ngồi trước mặt ông. Nhưng bữa nay, câu trả lời của cô có vẻ đầy cuồng tín, mà người cuồng tín thì đâu có suy luận nữa. Ông không cãi lại, vì một khi con người không còn sáng suốt, thì không nên cãi với họ. Có muốn đem điều hơn thiệt ra chỉ cho họ thấy rõ sự thật cũng vô ích.
Eleonora nói:
— Hồi trưa nầy tôi đã làm lễ thành hôn với một người có đạo. Tờ báo Occident sẽ do chồng tôi đứng tên, và như thế, không ai sung công nó được, dầu xứ Roumanie có luật bài Do thái hơn nước Đức quốc xã đi nữa.
Ông Stein lấy làm lạ, chưa hoàn toàn tin, nên hỏi lại:
—Cô lấy chồng thật à?
—Kể từ nay, tôi tên là bà Eleonora West Koruga. Chồng tôi là nhà văn Traian Koruga. Ông sẽ là chủ nhơn và giám đốc tờ báo. Và ông cũng là người sở hữu của tôi nữa.
Nora tươi cười, ra vẻ bằng lòng lắm.
Ông Stein thọc tay vô túi áo, cũng không biết để kiếm món gì, nhưng để trấn tĩnh, và để đừng nói gì, hoặc để tránh cái nhìn của Eleonora. Ông cần có ít phút để định tâm và tin là thật câu chuyện vừa nghe nói. Ông lấy khăn tay đưa lên miệng vừa ho vừa hỏi:
— Nói cách khác là, cô nhường tờ báo, không quản đốc nữa à?
—Chẳng những tôi không nhường cho ai mà tôi còn chỉnh đốn lại, và lập thêm ngành mới. Tôi đã mướn một ông giám đốc mới.
—Thật là một ý tưởng phi phàm. Một ý tưởng tuyệt diệu. Mà ông ấy có chịu những điều kiện đó không?
Nora đáp cụt ngủn:
—Tôi không hiểu.
—Ông Traian Koruga, chồng cô, có chịu giải pháp đó không? Với một người đàn ông, như vậy thật là khó chịu cho họ. Như vậy có nghĩa như ông Traian bị một người đàn bà mua với kế hoạch định sẵn.
Nora nói xẳng xớm:
—Tôi không mua ai cả! Tôi kết hôn với chàng vì tình yêu.!
Ông Stein đứng dậy. Ông chúc mừng nàng, Nora không đưa tay ra. Nàng lật tờ giấy khai sinh của cha mẹ nàng, mắt ứa lệ. Nàng nói:
—Người ta ở đời chỉ có quyền nhận lời khen tặng lúc chết. Với một ý thức khách quan, ông sẽ tự nhận như thế. Nhưng chết rồi thì còn lãnh lời khen tặng gì được. Tiếc thật! Họ mất cơ hội duy nhứt để xứng đáng hưởng nó thật sự.
Ông già lại ngồi xuống ghế, nói:
—Tôi tưởng cô lấy chồng vì tình yêu!
—Ông không tin tôi yêu thật sao? Thông minh như ông mà không hiểu được à?
—Vậy sao cô đau khổ quá vậy? Tôi có cảm giác rằng cô khóc.
Nàng nói:
—Tôi có cảm giác chắc ông mệt nhừ, ông Stein à. Tôi không biết ông có gì không mà ông chẳng hiểu chi ráo! Người ta sẽ không cho ông là Do thái. Tôi yêu Traian và chàng là người tôi yêu trước tiên đã từ mấy năm rồi. Tôi tha thiết yêu say mê chàng. Nhưng tình yêu, theo tôi, không phải một cớ để kết hôn. Tôi làm đám cưới đây vì luật nhân chủng. Để cứu vãn tờ báo. Để cứu vãn đời tôi. Bây giờ ông hiểu tôi chưa?
Ông Stein không tỏ ra đã hiểu. Ông hôn tay Eleonora và đi ra cửa. Nàng kêu ông lại và nói:
— Cuối tuần nầy tôi về quê cha mẹ chồng tôi. Ông thân Traian là một mục sư chính thống giáo. Tôi sẽ ở vài ngày. Chừng tôi trở về, tôi muốn có đủ giấy tờ tặng dữ tất cả tài sản của tôi, động sản và bất động sản, luôn tờ báo Occident, để Traian Koruga đứng tên. Nếu ông gặp khó khăn về việc tặng dữ, thì ông làm tờ văn tự mại khế. Nói tóm lại, ông cứ liệu thế nào cho đúng luật thì hơn. Ông làm cho mau mau đi.
— Cô thật là tài trí.
—Tôi không tài trí chi cả. Tôi là một người đàn bà đem hết sức mình, tất cả bình sinh và sáng suốt để tranh giàng quyền sống của tôi. Thôi chào ông.
————————————————————–

Khi ông Stein về, Eleonora ngồi lại bàn viết, hai tay ôm đầu khóc. Nàng khóc một cách bi thảm, chỉ có đàn bà là khóc được thôi, khóc chẳng những bằng đôi mắt, mà cả thân hình mình. Đoạn nàng kêu điện thoại gọi Traian:
—Anh vui lòng đến tòa soạn đón em.
—Có chuyện gì đó em?
—Không có chi cả, nhưng anh đến đón em, anh đến mau. Em thì không có sự gì xảy ra hết!
Traian đứng dậy ra đi, nhưng trước khi ra khỏi phòng khách, chàng còn ngó lại bức họa của Picasso. Nửa con mắt người đàn bà cười, và phân nửa kia khóc. Vì thế mà con mắt bị chia đôi, đặng nàng có thể vừa cười vừa khóc, cùng một lúc và cùng một cường độ ngang nhau.
——————————————————————
Trong khi chờ đợi Traian, Eleonora kêu điện thoại nói chuyện với ông Stein. Ông nầy ở kế cận tòa soạn báo, nên vừa về đến nhà. Nàng hỏi:
—Ông Stein à, ông nói thật coi tôi lấy chồng đây vì yêu hay vì lợi? Đừng vị nể, ông cứ nói thẳng ý của ông.
—Vậy riêng bà, bà nghĩ thế nào?
—Tôi không biết. Dầu có chặt đầu tôi, tôi cũng không biết nói sao cho đích xác. Có lúc tôi cảm thấy vì tình yêu. Có khi tôi tự nghĩ là vì cả hai. Nhưng cũng không giải đáp nào đúng hết. Có điều tôi chắc, là tôi không thể chờ đợi, và phải thực hiện việc kết hôn. Nhưng tôi lại muốn biết coi sự thật là ở đâu?
—Cả hai đều không trúng hết.
—Vậy tôi không lấy chồng như một người đàn bà vì tư lợi sao? …
—Không! Bà West ạ! Bà quá tự ái nên không bao giờ lấy chồng vì tư lợi, dầu cho tờ báo của bà sắp nguy.
—Ông chắc vậy à?
—Chắc.
—Thế thì tôi vì tình yêu?
—Nếu yêu thương thật, thì phải tin chắc nơi tương lai. Phải tin tưởng nơi hạnh phúc, và càng vô lý hơn nữa, là phải tin rằng hạnh phúc vĩnh viễn, và do người yêu mình đem đến cho mình. Bà đã quá sáng suốt để nhìn thấy sự nầy. Thế nên, xin lỗi bà, bà không phải vì tình yêu mà kết hôn.
—Vậy thì sao?
—Không vì tình yêu, cũng không vì tư lợi, mà vì sợ. Cử chỉ của bà có tính cách thật mau lẹ của sự tuyệt vọng.
—Không có chút tình yêu nào trong đó sao?
—Cũng có, nhưng tình yêu của bà giống tình trạng của các bà, khi ở rừng, ngày đêm lo sợ thú dữ ăn thịt. Các bà quýnh quýu bấu theo người đàn ông nhờ che chở, yêu đương, bảo vệ và tha thiết các nhu cầu này một cách nồng nhiệt ngang nhau. Người đàn bà chỉ cảm thấy yêu như thế, trong những lúc có động đất, ngập lụt, hay bị tai họa, như lúc mà trái đất sắp sụp đổ.
—Tại sao ông không nói với tôi như vậy khi ông ở trước mặt tôi?
—Tôi không muốn bà nghi ngờ sức mạnh và uy quyền của bà. Tôi thấy bà sợ run, bà hành động vì sợ, Và tôi thương hại bà. Bà đừng quên rằng khi bà còn nhỏ, tôi thường để bà ngồi trên đầu gối tôi!
Traian bước vô văn phòng. Eleonora móc dây nói lên và ra đón chàng. Nàng ôm chặt lấy Traian và tươi cười. Traian hôn nàng, nói:
—Anh rất hân hoan thấy em vui vẻ. Hồi nãy, khi nói điện thoại, hình như em khóc.

———————————————————————–
Ngày 28 tháng 8, trước ngày đi về làng Fantana Traian tới bộ chiến tranh để lấy tờ lịnh phóng thích Moritz. Chàng vui mừng như đã có mảnh giấy nầy, trong túi rồi.
Chàng lên lầu rất mau. Người hầu cận đã biết chàng quen thân với ông Bộ trưởng, nên mời chàng vô liền. Traian vô văn phòng Đại tướng, trong túi sẵn một quyển sách thứ tốt, có hình, tác phẩm đầu của chàng và chàng đã đề tặng cẩn thận. Đại tướng không lại tiếp chàng, cũng không đứng dậy như lần trước, mà làm như đang đọc.
Traian nói:
—Thưa ông bộ trưởng, tôi có làm phiền ông chăng?
Đại tướng lạnh lùng trả lời:
—Không, ông không làm phiền tôi. Mời ông ngồi.
Ông cũng không đưa tay. Traian đã để ý.
Đại tướng vô đề ngay.
—Tôi rất tiếc báo cho ông một tin buồn. Người mà ông can thiệp tuần trước và có lẽ ông đến đây cũng vì đó, không thể thả ra. Hoặc ít nữa, chưa thể thả ngay bây giờ được. Còn phải đợi điều tra xem lời chứng nhận của ông về nguồn gốc chủng tộc của y có đúng chăng?
Traian muốn ra khỏi phòng tức khắc, nhưng nhớ đến Moritz, nên ngồi im. Đại tướng nói:
—Có bấy nhiêu đó thôi. Ông chờ xem kết quả ra sao?
Câu nói chấm dứt cuộc hội kiến và đại tướng mời chàng ra về. Traian biết vậy, song chàng không đi ra, vì ngày mai khi về làng, cha chàng chờ tờ lịnh phóng thích Moritz. Chàng hỏi:
—Thưa ông bộ trưởng, một tuần lễ trước, ông hứa với tôi cho lịnh thả ra. Ông đã nói rõ, chỉ một lời xác nhận của tôi là đủ bảo đảm, khỏi cần phải điều tra.
—Một tuần lễ có thể thay đổi cuộc điện được!
—Tôi không thấy chi thay đổi cả. Moritz bị nhốt trong trại Do thái, mặc dầu anh là dân Roumain.
—Thì để ban điều tra xem xét.
—Ban điều tra có thể kéo dài hàng tháng. Người oan ức kia đã bị bắt hơn một năm rưỡi nay rồi.
—Tôi biết! Cuộc điều tra có thể lâu đến cả một năm, và không chừng cả hai năm nữa. Hiện giờ chúng tôi không mất thì giờ như thời thái bình. Chúng ta đang ở trong tình trạng chiến tranh.
—Nhưng, thưa đại tướng, lời khai của tôi không đủ bảo đảm để thả Moritz, rồi sẽ điều tra sau hay sao?
—Không!
Traian đứng dậy nói:
—Tôi rất ân hận thấy ông thay đổi ý kiến tuần nầy qua tuần sau.
Đại tướng đáp:
—Tôi cũng ân hận nữa, nhưng tôi không làm gì được trong vụ nầy.
—Thưa ông bộ trưởng, đây có phải một lời nói bóng không?
—Không phải lời nói bóng. Tôi vịn vào chứng cớ cụ thể.
Traian tái mặt, nói:
—Lần nầy chính tôi phải xin ông giải thích rành cho!
—Lời giải thích? Ông Koruga à, lúc mà tất cả dân Do thái cùng với bọn cộng sản đang hợp nhau gây chiến tranh với nước ta và muốn chinh phục tổ quốc chúng ta, thì ông, một công dân Roumain chính tông và một trong những nhà văn tăm tiếng nhứt trong nước, ông lại đi cưới người Do thái!
Đại tướng nói mà mặt giận đỏ gay lên, ông nói tiếp:
—Là một quân nhân, tôi cho hành động của ông là một phản bội, ông nghe chưa? Một phản bội! Với chuyện ấy, tôi làm sao tin lời nói của ông được? Sự can thiệp của ông còn làm tôi tin rằng Moritz là Do thái. Và không chừng sự nghi ngờ của tôi sẽ đúng nữa. Như vậy, tôi còn làm sao tin lời ông nói được?
Traian đáp: “Cố nhiên là không.”
Rồi chàng ra về. Xuống thang lầu, thấy quyển sách còn cầm tay, chàng lật ra xé trang đề tặng, rồi leo lên xe hơi.
—————————————————————————
Traian nói thầm:” Eleonora là Do thái mà nàng không muốn nói với ta!”
Chàng thấy bị nhạo báng, bị gạt trong tình yêu.
Ra khỏi thành phố, chàng ngừng xe, mở cửa ngó mong ra đồng, nghĩ thầm:
—Nàng không nói gì với ta hết. Mà ta cũng không hỏi gì nàng. Ai lại đi hỏi một chuyện kỳ vậy. Đàn ông nào lại đi hỏi người mình yêu thuộc về chủng tộc nào!
Chàng nhớ lại, đã nhiều lần nói chơi về tông chi nàng, nói nàng có thân tộc với hươu cheo, rong biển, sóc; mà mỗi lần như thế thì Eleonora rầu rầu nét mặt. Bây giờ chàng mới hiểu ra và thấy mình có lỗi.
“Chắc nàng nghĩ mình muốn gợi đến căn cội Do thái của nàng. Nàng chắc đau khổ vô ngần!”
Traian đóng cửa xe, trở về phành phố. Chàng nghĩ đến bức họa người đàn bà của Picasso: “Tội nghiệp em Nora! Ta rất ân hận vì không biết trước được, để tránh cho nàng bao nhiêu điều đau khổ nầy!”
Traian ngừng xe trước hành hoa, mua một bó hồng trắng để tặng nàng. Cô bán hoa tươi cười gói hồng đưa cho chàng.
——————————————————————
Nora hỏi:
—Anh đang viết chuyện gì đó?
Traian đã khởi đầu viết một quyển tiểu thuyết mới, Eleonora nghe chàng thức dậy hồi bốn giờ sáng, lấy áo choàng mặc vào và ra khỏi phòng. Chàng ngồi bàn làm việc đến giờ điểm tâm mới ra dùng bữa với Nora. Từ khi đám cưới đến nay đã được hai tháng. Trên bàn lúc nào cũng có bình cắm đầy hoa.
Nora nóng nảy hỏi:
—Anh không muốn thuật cho em nghe sao?
Traian cần tránh không muốn nói đến câu chuyện tiểu thuyết chàng đang viết. Mỗi lần Nora hỏi là chàng lãng đi. Nhưng nay không còn thối thác được nữa, chàng mới kể:
—Anh có đi du lịch trong tàu ngầm một lần, ở dưới nước 1000 giờ. Trong tàu ngầm có máy ghi lúc nào phải thêm dưỡng khí. Trước kia không có máy nầy nên thủy thủ phải đem con thỏ bạch theo. Lúc khí trời trở nên độc, thỏ chết, và thủy thủ nhờ đó biết được rằng họ chỉ còn sống 5 hay 6 giờ nữa thôi. Khi đó viên cai tàu phải quyết định: hoặc cố trồi lên mặt nước, hoặc ở luôn và cùng chết với tất cả nhân viên trong tàu. Thường thường để tránh thấy cảnh chết, họ lấy súng bắn lẫn nhau.
” Trong tàu ngầm anh ở không có thỏ, mà có máy. Viên cai tàu nhận thấy anh cảm biết thanh khí giảm bớt lần. Ông ta chế nhạo anh đa cảm. Song để chấm dứt, ông không dùng máy nữa, mà chỉ cần nhìn anh mà thôi. Anh đã chỉ cho ông ta rất đúng lúc nào thanh khí đủ hay thiếu, sự chính xác ấy luôn luôn đúng với máy ghi.
Đó là một tính trời phú cho chúng tôi,- mấy con thỏ và anh-, được cảm biết trước thiên hạ, 6 giờ trước khi không khí trở nên ngộp thở. Đã một thời gian rồi, anh cảm giác như anh đã ở trong tàu ngầm: không khí đã trở nên khó thở. ”
Nora hỏi:
—Không khí nào?
—Không khí của xã hội hiện tại. Con người không còn chịu đựng nữa. Chế độ quan liêu, quân đội, chánh phủ, tổ chức quốc gia, hành chánh, tất cả đều hiệp lực làm cho con người ngộp thở. Xã hội hiện tại dùng máy móc và các tên nô lệ kỹ thuật. Nó chỉ là một xã hội tạo lập cho chúng. Nhưng con người thì bị xử phạt chết ngạt mà họ không biết. Họ cố tưởng như bình thường, cũng như trước. Thủy thủ dưới tàu ngầm của anh cũng ráng chịu đựng trong không khí ngộp thở ấy. Sau khi thỏ chết, họ chỉ còn sống có sáu giờ nữa. Nhưng anh, thì anh đã biết rằng “thế là hết”
—Cốt chuyện của quyển tiểu thuyết anh là vậy phải không?
—Không, trong sách anh, anh tả cách chết trong cảnh giày xéo đau khổ của loài người trên quả địa cầu nầy, do bầu không khí ngột ngạt làm cho ta khó sinh tồn được. Anh không thể đem hết nhân loại làm ví dụ, anh chỉ lựa mười người mà anh biết rõ.
—Mấy nhân vật của anh đều chết hết sao?
—Sau khi loài thỏ chết, con người chỉ có thể sống được nhiều nhứt là sáu giờ. Tiểu thuyết của anh tả 6 giờ chót về cuộc đời mấy bạn thân anh.
—Hiện gời anh viết đến đâu rồi?
—Chương thứ nhứt. một người trong bọn chúng ta bị bắt đi xa, và…
—Chuyện gì đã xảy ra sao cho y?
—Hiện giờ thì họ lấy mất quyền tự do, vợ con, và nhà cửa của y. Y bị đánh đập đói khát. Họ đã khởi sự nhổ từng cái răng của y. Sau đó, họ sẽ móc mắt y, rút từng miếng thịt còn dính trong xương y. Và xương cốt y sẽ bị đập gãy. Phút cuối cùng đau đớn của y chắc chắn sẽ bị thi hành một cách tự động và bằng điện lực.
—Có thật thế chăng?
—Đều là sự thật. Trong sách anh có ghi rõ tên đường, tên thành phố, tên xứ sở của mấy nhân vật anh. Anh có cho biết cả số điện thoại của họ nữa. Vả lại, em cũng biết nhân vật thứ nhứt của anh rồi. Em có thể kiểm soát đứng thực những chuyện tường thuật.
—Vậy người thứ nhứt là ai?
—Iohann Moritz.
Mặt Nora xạm lại. Những gì Traian viết về Moritz đều đứng sự thật. Nàng nói:
—Em thương hại cho y, vai tuồng chánh của chương đầu quyển tiểu thuyết anh đó! Còn nhân vật chánh của chương thứ nhì là ai?
—Anh chưa biết. Có thể là ba anh, má anh, hay là anh hoặc em. Điều chắc chắn là một người trong chúng ta.
—Các chương kế có giống với chương của Moritz không? Có ai trong truyện anh viết được hưởng một cuộc đời tốt đẹp, một kết cuộc sung sướng không?
—Chẳng một ai! Sau khi thỏ chết, không ai sống sót mà vui sướng được. Chỉ còn sống có vài giờ, rồi tất cả đều bị tiêu diệt.
—————————————————————
Moritz qua xứ Hongrie được hai giờ. Ba người Do thái và anh chờ xe trước một sân ga. họ sợ không dám vô phòng khách của nhà ga. Xe lửa tới.
Bác sĩ Abramovici, Strul và Hurtig leo lên một toa hạnh nhì. Moritz đứng dưới trao đồ cho họ, qua cửa sổ xe. Đến phút chót, anh nhảy lên bàn đạp. Hurtig nắm tay anh, kéo vô trong và đóng cửa lại. Mặt Moritz tái xanh. Anh sợ, khi nghĩ đến phải bị bỏ ở lại sân ga. Rồi anh sẽ làm sao một mình, không có bác sĩ và hai người kia. Anh thầm cám ơn Chúa được leo lên xe kịp
Bác sĩ và Hurtig kiếm được chỗ ngồi liền. Strul và Moritz dòm khắp các toa xe. Đèn tắt, hành khách ngủ hết, không còn một chỗ trống nào. Hai người bèn ngồi lên va li, để chỗ đường đi trong toa xe. Một lát có người đàn bà xuống xe, Strul liền ngồi vào chỗ trống trong buồng xe, chỉ còn Moritz ở ngoài. Bác sĩ mở cửa buồng xe kêu anh dặn: “Đừng ngủ quên, họ ăn cắp đồ nghe!”
Moritz đáp:
—“Tôi không ngủ đâu!” Nhưng bác sĩ vừa đóng cửa thì Moritz ngủ liền. Anh buồn ngủ quá, nên nhắm mắt ngủ mê mệt, đến Budapest mới thức giấc.
Khi xuống xe, trời sáng trăng, Moritz khát nước quá, nhưng Hurtig không cho anh vô quán giải khát, sợ lính tuần thành gặp và biết anh vượt biên, thì cả bốn người sẽ bị bắt luôn.
Bác sĩ nói: ” Để rồi chị tôi sẽ cho anh một ly to đầy nước!”
Họ đi ra ga. Khỏi ga, họ đứng lại một lúc, trước dãy xe cộ, Hurtig nói:
—Cẩn thận hơn hết là nên đi bộ. Người lái xe có thể nhìn ra chúng ta và tố cáo. Đừng khờ dại đến đỗi bị bắt khi tới được Budapest!
Họ liền đi bộ. Moritz vác va li trên vai và xách ở tay. Đồ rất nặng, nhưng anh đi dễ dàng hơn đêm trước, lúc vượt qua biên giới. Anh nghĩ thầm: “Chắc đồ nầy ít nặng hơn là bởi mình đi trên con đường nhựa”, và anh ấn mạnh bàn chân trên đường nhựa lạnh, vì anh không mang giày. Xe điện chưa chạy, vì còn sớm. Moritz ngó mấy đèn đường tự nhiên tắt bèn hỏi Hurtig, ai tắt đèn, Hurtig nổi giận, rầy:
—Đồ con lừa! Đừng nói tiếng Roumain nữa! Ai mà nghe được thì ngồi tù cả lũ.
—Vậy cấm tôi nói tiếng Roumain sao?
—Không cấm, nhưng người Roumain ở xứ nầy đều bị dày đi trại giam hết. Xứ Hongrie nghịch với xứ Roumanie, anh biết chưa?
—Vậy phải nói bằng tiếng gì bây giờ?
Bác sĩ xen vô đáp:
— Nói bằng tiếng Do thái. Ở Hongrie, dân Do thái không bị bắt như ở Roumanie. Tới bây giờ thì chưa thấy có luật bài Do thái.
Moritz không dám nói tiếng Roumain, nhưng anh cũng không nói tiếng Do thái. Anh mệt lử rồi.
Tới nhà bà chị của bác sĩ, ở đường Petofi, thì Moritz mệt luỗi, lảo đảo sắp ngã vì mấy va li quá nặng. Anh để nó xuống trước cửa. Một chị ở phụ xách lên lầu. Moritz đi theo chị vô bếp. Chị này mặc áo xanh, màu áo làm cho Moritz nhớ lại có thấy đâu đây. Thì ra anh nhớ lại Suzanna lúc trước cũng mặc cái áo giống màu nầy.
—————————————————————
Chị bác sĩ Abramovici, người mập mạp, mặc một cái áo ngủ bông to màu đỏ. Bà nói chuyện huyên thiên và lẹ lắm. Bà cho gọi Moritz lên phòng có bác sĩ, Hurtig, Strul và Nagy, anh rể của bác sĩ, để uống nước suối. Moritz đứng uống, vì không đủ ghế cho mọi người ngồi. Chị bác sĩ đem một bình trà để giữa bàn, và ngó Moritz, nói:
—Không đủ chỗ, thôi anh bưng trà xuống nhà bếp uống đi.
Nagy nói bằng tiếng Hongrois:
—Ừ, như vậy được, ta còn nói nhiều chuyện quan trọng với nhau.
Moritz biết mấy người nầy không muốn anh ngồi cùng bàn với họ. Nhưng anh không phật lòng. Chị ở tên Iulisca vui mừng thấy Moritz xuống nhà bếp. Chị lấy ba lát bánh mì thoa bơ, và thịt jambon đưa cho Moritz. Anh ăn ngấu nghiến, vì đói quá. Xong anh muốn đi tắm, nhưng chị ở bảo anh:
—Anh đi chợ với tôi, lúc về sẽ tắm.
Moritz xách giở và đi mua đồ với Iulisca. Và từ đó về sau, mỗi sáng anh đều đi chợ với chị nầy.
Đi chợ về, anh bửa củi, ôm vô nhà bếp. Khi ăn xong anh rửa chén với chị ở. Chị ấy vui tính, giễu cợt luôn nên Moritz lấy làm thích thú mà ở nhà nầy.
——————————————————————–
Mải làm việc ở nhà bếp và nói chơi với Iulisca mà Moritz quên rằng trọn buổi sáng anh không gặp bác sĩ cùng mấy người kia. Trưa lại, anh hỏi thăm, chị bác sĩ nói ông nầy còn ngủ. Moritz lo làm công việc và không nhớ tới nữa. Tối đến, khi đi ngủ, anh nhớ lại, trọn ngày, anh không có nói chuyện với họ tiếng nào. Họ có ăn tại nhà, vì sau buổi điểm tâm anh nhớ chắc đã rửa nhiều dĩa. chiều năm giờ uống cà phê, họ cũng còn ở đó, vì anh đã rửa năm cái tách. Nhưng anh không nhớ bữa ăn mấy người, vì chị ở bưng xuống, nhà bếp một chồng dĩa, anh lo rửa nên quên đếm. Anh ngủ không được vì lo lắng. Anh nhớ, hình như số dĩa ít hơn, khi ăn buổi tối.
Ang nghĩ:” Chắc Hurtig đi về nhà bà con rồi! “. Anh tiếc sao Hurtig đi mà không từ giã anh. Nhưng không biết chừng y có ăn buổi tối, mà mình lại tưởng tượng dĩa ít hơn chăng? Bữa sau, Moritz mới thấy mình đoán trúng, Hurtig đã đi hôm qua. Chiều đó, y không có dùng bữa ở nhà Nagy. Bác sĩ và Strul thì còn ở lại. Lối mười giờ, chị Iulisca đem giày của họ xuống và hai người đánh bóng kỹ lưỡng. Moritz muốn đem giày lên nhà trên, nhưng chị ở cản anh và đem lên một mình. Lúc trở xuống nhà bếp, chị nói:
—Bà chủ cấm tôi đừng để cho anh lên nhà trên. Tính bà như vậy đó.Bà cứ sợ bị ăn cắp đồ.
———————————————————–
Trưa lại, bác sĩ Abramovici kêu Moritz lên phòng văn, và biểu:
—Anh xách va li nầy và đi với tôi.
Moritz vui mừng vì thấy ông bác sĩ không quên anh.
Ra tới đường, bác sĩ nhìn anh rồi giận dữ, hỏi:
—Tại sao anh đi chân không?
Moritz hổ thầm, nhưng anh không có giày. Anh dòm chung quanh thấy những người đi đường không ai đi chân không cả. Anh cúi đầu lầm lủi đi. Anh ngó kỹ từng cặp chân mỗi người qua lại. Ai ai cũng mang giày hoặc mang ủng. Anh thẹn quá, muốn đất sụp chôn anh cho rồi. Anh tìm cách để xin lỗi bác sĩ, nhưng ông nầy đi trước anh, tay thọc vô túi, như không biết tới anh nữa.
—————————————————————-
Hai người đi đến một ngôi nhà cũ, có vườn hoa nhỏ. Bác sĩ xách va li vô nhà một mình. Moritz đứng chờ ngoài cửa. Anh đọc tấm bản treo trên tường có chữ “Sứ quán”; rồi ngó kẻ qua người lại trên đường.
Không bao lâu, bác sĩ trở ra, tay không. Ông vừa xuống nấc thang vừa cười. Chợt thấy Moritz đứng dựa tường, ông không cười nữa, đứng lại, thọc tay vô túi, ra dáng nghĩ ngợi, không vui. Trán ông xạm lại. Trên đường về, ông không hé môi.
Moritz đi cách xa ông, để người qua lại không biết ông đi chung với người không mang giày. Anh không muốn bác sĩ thẹn vì anh.
Đến trước cửa nhà Nagy, bác sĩ ngừng lại chờ Moritz đi tới, và nói:
—Yankel, trường hợp anh khó lắm. Ủy ban Do thái ở Budapest lo giấy tờ chúng tôi sang Mỹ, không muốn làm cho anh.. Tôi có năn nỉ và nói giúp giùm cho anh, vì anh cũng đi với chúng tôi, nhưng vô hiệu. Họ không muốn giúp người có đạo. Ủy ban Do thái chỉ lo người Do thái thôi. Vì thế nên người ta gọi ủy ban ấy là “Ủy ban Do thái”. Còn anh, anh không phải Do thái. Phải vậy hôn?
—Tôi không phải là Do thái, bác sĩ à!
—Vậy thì họ có lý. Nhưng tôi tiếc là chuyện thật như thế. Tôi muốn đem anh sang Mỹ với tôi. Vì tôi không phải là người bỏ bê anh đâu.
Bác sĩ Abramovici mở bóp lấy một xấp giấy bạc ra đếm. Moritz nhìn giấy bạc Hongrois và lấy làm lạ sao khuôn khổ nhỏ quá.
Bác sĩ nói:
—Đây là 20 pengoes để trả công anh. Số tiền nầy nhiều. Ở đây phải làm trong một tuần lễ mới lãnh số tiền nầy được. Anh chỉ vác va li trong vài giờ mà lãnh được tới bấy nhiêu đấy!
Moritz không hề nghĩ đến việc đòi tiền vác va li bao giờ. Anh làm việc không phải vì tiền, nhưng bác sĩ cứ đưa hoài, thành thử anh phải lấy cất vô túi áo. Bác sĩ nói tiếp:
—Điều quan trọng hơn hết là đem anh được ra khỏi trại giam và dẫn anh đến đây. Nếu chúng tôi không giúp anh vượt khỏi trại giam, thì chắc anh sẽ chết rục trong ấy. Nhưng tôi không đòi công anh chút gì, bởi tôi không phải là người đi kể ơn đã làm giùm cho người khác.
———————————————————-
Moritz ở Hongrie được một tuần. Ngày ngày anh đều làm công việc như buổi ban đầu: đi chợ với Iulisca, bửa củi, đổ rác và rửa chén. Chiều, anh rửa nhà bếp, lau gạch và nấc thang lầu.
Một buổi sáng chúa nhựt, Nagy gặp anh trong hành lang bèn gắt gỏng hỏi:
—Mầy chưa tìm được chỗ làm sao? Đã một tuần nay mầy ăn ở đây. Bộ muốn tao nuôi mãn đời à?
Rồi y đi ra, không nói thêm gì. Moritz ăn năn sao không đi kiếm việc làm. Chính anh cũng không nghĩ đến nữa. Anh tưởng làm như vậy thì kể như anh là người giúp việc trong nhà Nagy rồi.
Anh tự mắng:”Sao mình ngu dại đến thế, chẳng lo kiếm chỗ làm. Họ có lý. Họ không thể nào nuôi mình hoài!”
Chiều bữa đó, anh nói chuyện với Iulisca, chị hứa kiếm giùm công việc cho anh. Chị có quen một người làm công trong xưởng Sô cô la. Chị nói:
—Rồi anh đem sô cô la về cho tôi nghe. Trừ phi anh đừng đem cho ai khác!
Moritz lấy làm buồn mà thấy Iulisca nghi ngờ như thế, nên nói:
—Làm sao tôi cho cô nào khác được? Tôi lãnh bao nhiêu sẽ đem về cho chị hết, tôi cũng không ăn nữa.
Đêm ấy, Moritz chiêm bao thấy được vô làm ở xưởng Sô cô la.
Ngày sau, bác sĩ từ giã chị và anh rể để ra đi. Moritz vác va li ra ga và đem lên toa xe có giường nằm. Anh hỏi:
—Ông đi đâu xa lắm sao?
—Qua Thụy sĩ. Tôi cần nghĩ ngơi vài tuần rồi mới sang Mỹ.
Khi xe sắp chạy, bác sĩ bắt tay Moritz. Anh đỏ mặt vì hành khách đều ngó bác sĩ bắt tay anh, anh là một người không có mang giày. Xe chạy, bác sĩ còn nói vói qua cửa sổ:
—Chào anh Yankel! Tôi không quên anh đâu. Tôi sẽ cố giúp anh.
Moritz đáp lại: “Chào ông”.
Đến khi xe chạy khuất xa, anh cảm thấy bị bỏ rơi, trơ trọi nhứt thế gian, liền khóc thầm, Hurtig và Strul đi mà không thèm từ giã anh. Bây giờ bác sĩ cũng ra đi. Anh đứng thật lâu ở sân ga. Không lúc nào bằng lúc nầy, anh thấy anh là người cô thân nơi xứ lạ. Nhưng nhớ tới xưởng sô cô la, anh bèn nguôi ngoai. Anh đi về nha. Dọc đường Petofi, anh tính thầm:” Chừng vô làm được ta sẽ mua tặng Iulisca một sâu chuỗi bằng pha lê”.
————————————————-
Bữa nay Moritz và Iulisca đi chợ sớm hơn thường bữa. Họ mua mau lẹ thịt, rau, cải, thứ nào cần dùng, rồi đi theo một con đường có dãy nhà thấy. Moritz tay mặt xách giỏ, tay trái nắm bắp tay Iulisca. Họ đi thật mau.
Iulisca nói: “Xưởng Sô cô la ở tận bên kia thành phố. Ta phải đi cho mau.” Mồ hôi họ ra như tắm. Nếu về trễ thì không làm đồ ăn kịp. Nàng có nói chuyện với một người trong làng, làm trong xưởng. Người nầy bảo dẫn Moritz đến buổi sáng để thương lượng với ông chủ. Y có nói: “Chắc Moritz được nhận vô làm việc liền. Vì trong xưởng thiếu người.”
Moritz chen đám đông tụ tập ở ngã tư, vừa nói chuyện với Iulisca:
—Có thể họ cho tôi làm liền! Nếu họ nhận tôi làm thì thứ hai tuần sau tôi được lãnh lương kỳ đầu. Và chắc cũng sẽ có sô cô la cho chị nữa.
Moritz siết chặt tay Iulisca. Cả hai ngó nhau cười. Moritz nói tiếp:
—Tôi sẽ mướn một căn buồng. Tôi không thể ăn hại chủ chị hoài. Tôi sẽ kiếm một căn buồng ở gần xưởng.
Iulisca hỏi:
—Tôi tới chỗ anh ở được không?
Nhưng Moritz không nghe, vì mắc ngó đám đông. Anh tự hỏi sao mà người ta đông quá vậy. Cả mấy trăm người đang xô lấn nhau. Iulisca cũng đứng lại coi chuyện gì. Chợt nhớ phải đi cho mau, chị hối:
—Ta đi qua đường khác. Không thì trễ bữa ăn.
Họ liền quày trở lại và bước thật mau nhưng phía đầu đường kia bị một vòng lính cảnh binh bao vây.
Iulisca liếc nhìn mấy viên cảnh binh và vừa đi hối hả vừa nói:
—Cảnh binh và lính tráng toàn là người tầm thường! Không khi nào tôi ưng họ làm chồng.
Iulisca ngó lại còn Moritz có nghe không. Nhưng anh không còn đi sau chị nữa. Chị ngó dáo dác kiếm, chợt thấy Moritz đứng với cảnh binh và đưa tay ra dấu với chị. Iulisca hiểu chuyện gì đã xảy ra. Chị lại gần Moritz. Hai người đang bị ở trong một cuộc khám xét. Cảnh binh bao vây cản đường để tra xét giấy tờ người đi đường. Họ không hỏi giấy tờ đàn bà nên chị qua được.
Iulisca nhớ lại Moritz không có giấy tờ gì trong mình nên đâm sợ. Nàng liền chạy trở qua hàng rào cảnh binh. Một người lính muốn nắm giữ chị lại, nhưng chị gạt ra và đến gần chỗ Moritz. Anh đang đứng trong đoàn người có cảnh binh cầm súng lưỡi lê, dẫn đi tơi một xe cam nhông. Moritz bèn đưa giỏ đồ ăn lên khỏi đầu để Iulisca thấy mà đến lấy. Nàng thấy rõ giỏ đồ nhưng không tiến tới được. Cảnh binh không cho chị đi xa hơn nữa. Chị có cắt nghĩa với họ rằng muốn đến lấy giỏ đồ ăn. Nhưng họ không chịu nghe chị, hoặc không muốn hiểu chị. Chị la lối, chửi rửa cũng vô hiệu; không làm sao tiến được hết.
Moritz leo lên xe. Anh để thòng giỏ đồ ăn ra ngoài, trông cho Iulisca đến lấy.
Nhưng xe khởi chạy. Moritz đành kéo giỏ để trên đầu gối, anh nghĩ thầm: “Không có giỏ đồ ăn chắc bà Nagy đánh chị quá!” Sức anh muốn nhảy xuống xe để trao giổ đồ cho Iulisca, nhưng không được. Hai cảnh binh cầm súng lưỡi lê ngồi chận hai đầu. Ngó thấy họ, anh quên giỏ đồ ăn và mời biết mình bị bắt.
——————————————————————
Kể từ ngày ấy, đã bốn tuần qua. những gì xảy ra ở ngoài bốn vách ngục giam. Moritz đều không biết được. Cho đến ánh sáng mặt trời, anh cũng không thấy. Cửa sổ ngục trổ ra sân, vách tường đen xạm và quá cao của nhà tù che khuất chân trời, luôn cả vòm trời. Trọn bốn tuần lễ, anh không được một hơi thở thoáng khí. Mấy tội nhân khác còn được ra ngoài sân một giờ mỗi ngày. Anh nghe họ ra, rồi trở vô ngục giam, anh biết họ đi đổi không khí, nhờ nghe tiếng chân của họ.
Nhưng hôm nay dãy hành lang êm tịnh. Trời chưa sáng, Moritz mở mắt. Đôi mí giãn ra nặng nề, anh đưa tay lên rờ, thấy sưng húp. Máu đã đặc khô. Họ đem anh về đây hồi nào, anh cũng không nhớ. “Chắc họ bồng mình về”. Đôi khi, anh không thấy đã dặt chân ở đâu, lúc bị dẫn trở về ngục. Mấy lần khác, anh không cựa quậy nổi, hằng giờ. Họ phải bồng anh về. Thường bữa, thì anh nhớ lúc nào họ thôi đánh khảo anh, lúc nào lính bồng anh về ngục, và để nằm dài trên giường. Nhưng lần nầy, anh không nhớ gì cả. Không nhớ mảy may gì cả. Đây là lần đầu tiên. Anh tự nghĩ:” Chắc họ đã quá tay!” Anh nói về anh, như chuyện của một người xa lạ. Anh rờ mặt thấy râu ra dài và cứng. Máu dặc dính khắp cả râu, tóc, lông, mày. Rờ đến đâu, máu khô bể ra từng mảnh. nhám như đất khô. Anh le lưỡi liếm môi, đôi môi sưng vù và đau nhức như mụt nhọt sắp vỡ. Răng anh cũng làm anh nhức nhối thêm. Nhưng hiện giờ, anh bị mất hết bốn cái răng. Hôm trước, anh khạc nó ra với máu, như nhả hột trái cây, khi bị đánh một thoi ở quai hàm. Hôm ấy, hàm anh cũng làm đau nhức xốn xang, như cách nhức nhối hôm nay. Anh tự nói thầm: “Nếu họ còn đánh mình gãy răng nữa, thì mình làm sao nhai bánh mì!” Anh không còn sức đưa lưỡi rà xem có mất cái nào nữa không. Mỗi cử động nhẹ đếu làm anh đau nhức khó chịu. Anh nhắm mắt lại. Giờ phút qua, Anh nghe tiếng chân bước đến gần, ngoài hành lang. Anh không lắng tai nghe coi tiếng ấy của ai, từ đâu đến, và đi đâu, như thường lệ. Thịt anh da anh sưng bầm, trí óc anh cùn quẫn. Khi người ta đến dẫn anh đi khảo tra, và lúc anh bước xuống giường, thì anh muốn kêu rú lên, vì lòng bàn chân anh sưng vù như ổ bánh nóng. Anh không nhớ có bị đánh ở lòng bàn chân. Người gác khám tống mạnh anh ra. Moritz bước qua ngưỡng cửa ngục. Anh đau đớn vô cùng, đau ở lưng, chỗ người gác vừa đánh. Cái đau dứt thì bàn chân làm anh khổ sở. Mỗi bước đi là một cực hình, như ai rứt từng miếng thịt.
Còn chừng một trăm bước nữa thì tới phòng ông thanh tra Varga, người lo việc hỏi tội. Anh còn phải đi bao nhiêu bước ấy. Và chỉ nghĩ đến, là anh thất đảm, tiêu tán nghi lực, té quỵ xuống đất. Viên hiến binh xách nách anh lôi dậy, Moritz nhẹ như một đứa trẻ. Còn da với xương: những gì còn có thể cân nặng được. Về thịt với mỡ, thì thôi, khỏi cần nói đến.
———————————————————–
Lúc bị bắt, Moritz khai đúng y như chuyện đã xảy ra, tại sao anh đến xứ Hongrie. Hiến binh không tin anh. Họ đánh anh để anh nói sự thật. Nhưng, sau bao lần tra tấn, anh cũng đều lặp lại chuyện của anh y như trước, nên họ cứ đánh khảo anh luôn.
Hiện giờ, anh bị giam tại khám đường của Cơ quan Mật vụ xứ Hongrie. Và mỗi ngày anh bị cật vấn và đánh đập.
Viên thanh tra hỏi anh:
—Tại sao mầy tới đây? Ai gởi mầy đi?
Moritz trả lời:
—Không ai gởi tôi sang Hongrie hết.
—Mầy khai đã được một viên phó quản dẫn tới biên giới bằng xe nhà binh!
—Đúng vậy. Viên phó quản tên Constantin, người cai quản trại giam và bạn của bác sĩ Abramovici. Ông theo đưa chúng tôi để lính tuần phòng không bắt chúng tôi.
—Đó là thiếu tá Tanase Ion, ở cơ quan gián điệp Roumanie. Chúng ta biết y đang hoạt động ở vùng đó. Mỗi tháng, y đều phái người sang đây. Chính y đã gởi mầy qua. Những chúng ta muốn biết tại sao y gởi mầy qua, với nhiệm vụ gì?
Moritz ngó xuống đáp:
—Tôi đã nói hết sự thật rồi!
Anh biết trong chốt lát sẽ bị lôi xuống hầm tra khảo. Xác thịt anh khởi sự đau lần.
Viên thanh tra nói:
—Mầy không nhận, thấy rằng tất cả cuộc đóng trò ấy chẳng dùng vào việc gì hết à? Thật là ngu dại cứ chối quanh mãi. Mầy khai có bị nhốt trong trại giam Do thái ở Roumanie 18 tháng phải không?
—Phải!
—Nhưng mầy không có để chân tới đó. Mầy là dân Roumain.
—Dạ tôi là dân Roumain.
—Tới xứ Hongrie. mầy lại muốn lại dân Do thái. Và để có bằng cớ cho chúng ta tin, mầy lại khai ở trại giam Do thái. Rồi mầy khai có vượt biên giới với ba người Do thái.
—Mấy chuyện nầy đều đúng thật.
—Không đúng thật. Mầy đi có một mình. Mầy không có ở nhà Nagy. Nhà nầy từ 6 tháng nay, không có người lạ đến ở. Mầy tưởng chúng ta tin mầu bằng lời, mà không điều tra sao? Tao có tờ khai của hai vợ chồng Nagy đây. Họ chẳng khi nào nghe nói đến tên mầy. Mà bà Nosa Nagy cũng không có em trai nào là bác sĩ hết!
Moritz liền hỏi:
—Họ nói họ không biết tôi sao? Bà Nagy không thể nào nói một chuyện như thế. Tôi làm công trong nhà bà, tôi đi chợ với Iulisca, tôi rửa chén…
Moritz khóc lên. Viên thanh tra quát:
—Mầy nói láo! Bà Nagy không có đứa ở nào tên Iulisca cả. Nếu mầy muốn nói dối, thì ít ra mầy cũng biết tên người ở chớ!
Rồi viên thanh tra lại cười, nói tiếp:
—Tao có hỏi đứa tớ gái của bà Nagy. Nó ở trong nhà nầy từ tám năm nay. Tên gì mà Iulisca? Chỉ có mầy bịa đặt thôi. Mầy định lừa chúng ta hả! Phải thiếu tá Tanase dạy mầy chuyện cô Iulisca để mầy lặp lại ở đây không?
Moritz nhắm mắt lại. Anh chờ người ta gọi người gác ngục. Anh chờ người ta dẫn anh xuống hầm tra khảo. Anh không muốn nghĩ gì nữa hết. Tuy nhiên, anh khổ sở về ý nghĩ sao bà Nagy lại có thể khai được rằng không biết anh. Anh không thể tin tưởng được.
Moritz nghe cửa mở, và tiếng chân đến gần anh. Không phải tiếng đi của mấy người lính gác. Anh mở mắt ra, thấy Isaac Nagy trước mặt. Y mặc quần áo mới, màu nâu, và không ngó anh.
Viên thanh tra hỏi y:
—Ông biết người nầy không?
Nagy nhìn Moritz trừng trừng và đáp:
—Đây là lần thứ nhứt tôi thấy người nầy.
—Có 3 người Do thái trốn xứ Roumanie ở nhà ông không?
—Ngoài vợ tôi, tôi và đứa tớ gái, không có ai lạ ở nhà tôi từ mấy năm nay.
—Thôi cám ơn ông!
Nagy ra khỏi phòng. Vợ y vô tiếp theo liền. Bà cũng khai không biết Moritz và chẳng khi nào thấy anh, từ trước đến ngày nay. Viên thanh tra hỏi:
—Bà có người em bác sĩ ở tại xứ Roumanie phải không?
—Tôi là con một.
Viên thanh tra gay gắt ngó Moritz và hỏi tiếp bà Nagy:
—Bà có khi nào mướn người tớ gái tên Iulisca không?
—Không bao giờ! Từ tám năm nay, tôi ở tại Budapest chỉ mướn có một người ở tên Joséphina.
Bà Nagy bước ra khỏi phòng, tươi cười. Tiếp theo bà, có một bà già vô khai tên là Joséphina và đã ở giúp việc cho gia đình Nagy từ tám năm nay, không nghỉ lúc nào.
Bây giờ chỉ còn viên thanh tra với Moritz. Ông hỏi:
—Mầy có nhìn nhận đã nói láo chưa? Hãy nói thật đi, tại sao họ gởi mầy qua đây?
Moritz khóc ròng…
Từ văn phòng thanh tra Varga, Moritz bị đưa ngay xuống phòng tra tấn như thường lệ. Nhưng chưa bao giờ anh run sợ vô cũng như bây giờ. Bước vô phòng tại dưới hầm là bị ánh sáng chóa mắt ngay. Phòng nầy luôn luôn có một ánh sáng trắng toát như phấn. Đèn nào cũng to và chiếu sáng lạ thường.
Moritz nhắm mắt lại. Nhưng ánh đén làm nóng màng tang anh như lửa đốt.
Tên gác cười, ra lịnh:
—Cởi đồ mầy ra!
Đó là một trong hai gác to béo, râu ngạnh trê và lúc nào cũng thấy hai gã đánh bài. Moritz mở nút cổ. Anh biết trước nếu chần chờ thì mấy tên nầy sẽ quất bổ roi gân bò vào mặt anh.
Nhưng mấy ngón tay anh sưng vù, anh không cởi được dễ dàng mấy nút áo sơ mi nhỏ tí. Anh sợ điếng hồn nếu để hai gãû kia chờ đợi. Chưa lần nào anh sợ khủng khiếp roi gân bò như lần nầy. Anh lén nhìn hai tên gác đang đánh bài. Họ mải mê chơi nên không nhận thấy sự chậm chặp của Moritz. Anh lần hồi cởi được áo sơ mi. Anh khỏi phải tuột quần xuống đất. Anh đứng chờ. Trước mặt anh là một cái giá gác một hành đũa sắt, như ở trong trại binh dùng để lau nòng súng. Đũa sắp theo cỡ. Bên trái, thứ lớn bằng ngón tay cái, kế nhỏ nhỏ lần. Lối hai chục cỡ khác nhau và mỗi cỡ hai chiếc. Moritz mới đếm lần nầy là lần đầu. Chiếc mảnh hơn hết ở chót giá, phái tay mặt. Chiếc ấy mảnh như cộng rơm. Moritz đã biết qua cảnh đau khổ do từng chiếc một gây nên.
Một tên gác đứng lên, quăng bài bừa bãi trên bàn và nói:
—Thôi ta làm việc. Ai không làm thì không ăn.
Moritz thấy hắn vươn vai. Hắn mặc một cái áo thun xanh, bó sát thân hình vạm vỡ và ngó Moritz nói:
—Sao, bữa nay mầy có chịu nói tại sao họ sai mầy qua xứ nầy hay không?
Câu hỏi rất điềm nhiên như hỏi xin mồi thuốc lá. Nói xong hắn cũng ngáp dài, và vươn vai như tên trước. Moritz đáp:
—Thì tôi đã nói rằng không ai sai tôi qua đây hết.
Hai tên gác vụt quay đầu lại, nhảy dựng lên như bị phỏng lửa, mắt đổ hòa quang giận dữ. Moritz run lên. Một đứa bước lại tống Moritz một thoi dưới hàm hạ. Y đánh bồi thêm một thoi. Rồi một thoi nữa. Moritz hết còn biết cái càm là gì.
Tên thứ hai chụp anh và xô nằm trên chiếc băng gần giá đũa sắt. Đoạn hắn leo cỡi trên lưng Moritz. Mỗi ngày, khi hắn ngồi như thế thì Moritz tưởng sẽ chết ngộp. Nhưng lần nầy anh muốn chết luôn. Anh nghe lồng ngực của anh như ép sát vào chiếc băng. Buồng phổi bị sức nặng của hắn như cối đá đè xuống, không hít không khí được.
Tên gác thứ nhứt, người đã thoi vào mặt Moritz, hỏi tên thứ nhì:
—Mầy nói gì?
Tên kia không trả lời. Moritz nghe một thoi đầu tiên đánh vào lòng bàn chân. Anh co rút hai chân lại. Tên gác đang cỡi trên mình Moritz liền nắm hai chân anh và đè ghì xuống băng. Chiéc đũa thứ hai đánh bồi thêm, chắc là chiếc cỡ lớn. Bàn chân anh không đau nữa. Chỉ có đầu óc anh đau thôi. Khi bị đánh tới tấp như mưa thì đầu óc anh hết nghe đau, mà ngực anh đau. Rồi vai anh đau; kế anh hết còn biết đau đớn gì nữa. Thân xác anh cứng đờ. Nhưng không được bao lâu. Bây giờ anh lại nghe như bị mũi dao xẻ vào lòng bàn chân, vì nó thốn quá, nóng như lửa đốt. Chắc đến lượt những chiếc đũa mảnh hơn. Sự đau đớn thốn đến đau gối, đến thận. Anh không còn tự chủ được bọng đái và bụng dạ anh nữa. Cuộc đánh khảo tiếp tục bổ xuống như mưa tuôn. Anh nôn mửa. Một ánh vàng chập chờn trước mắt anh. Đồ ăn ngấu nghiến trong bụng bắt đầu trào ra miệng. Quần ướt đẵm dính sát vào da. Nước và bánh mì đã ăn không thèm ở trong bao tử anh nữa.
Moritz thấy lặn hụp trong ánh vàng bao quanh anh. Miệng anh đầy một chất nước đắng, màu xanh xanh. Mũi miệng, các khiếu trong thân đều có nước chảy ra. Nước pha một thứ bọt sủi màu xanh như bọt mép loài cóc nhái. Moritz cảm thấy sinh mạng như tách lìa khỏi cơ thể. Riêng trí óc anh vẫn còn tỉnh táo. Tên gác cứ tiếp tục đánh anh, từ chiếc đũa thứ lớn đến thứ nhỏ nhứt, nhưng anh hết cảm biết đau nữa. Máu của anh cũng không thể chịu đựng sức đánh đập, tìm lối thoát ra khỏi lớp thịt bị dần nát, chảy tuôn ra khắp các vết thương, chỗ nào có hở thịt là có máu. Máu chảy ra mũi miệng, lỗ tai, và hòa với nước tiểu. Đến các lỗ chân lông cũng rịn máu. Máu không chịu ở trong thân mình nứt nở, máu tuôn thoát ra, thoát cùng khắp, miễn là thoát ra khỏi!
—————————————————————
Khi tỉnh lại, Moritz nhớ đến sự hội diện với vợ chồng Nagy. Anh nghĩ:”Nếu họ nói thiệt thì viên thanh tra chắc thả mình ra, và hôm qua, mình đâu có bị tra tấn cực hình như vầy”. Không lần nào anh bị đánh khảo nặng nề như thế. Toàn thân anh là một vết thương, một vết thương đẫm máu, từ đầu đến chân.
Anh nói: “Issac Nagy khai rằng không biết mình. Và vợ y cũng vậy.” Anh thấy lại mỗi buổi mơi, chồng bảo đánh giày, vợ bảo bửa củi, lau sạch sàn nhà bếp. “Thế mà họ nói như vậy được. Họ còn quả quyết không biết Iuliisca và chẳng khi nào mướn người tớ gái tên là Iulisca”.
Moritz kiệt sức. Anh biết thân xác và tinh thần anh yếu rồi. Hôm qua với hôm kia. anh biết bị lôi đi tra khảo, nhưng không nhớ chừng nào và bằng cách nào họ dẫn trả anh về ngục? Chắc bị đánh đập nhiều quá. Nhưng điều mà anh chắc chắn là có ở nhà Nagy. Anh chắc chắn rằng người tớ gái của họ tên là Iulisca. Thế mà Nagy nói không, vợ y nói không. Chính tai anh nghe rõ ràng họ nói không.
Moritz nhắm nghiền mắt lại.
————————————————————————–
Ít lâu sau, người ta tới kiếm anh nữa. Anh run lên. Lần thứ nhứt, anh có ý định tự tử. Anh không sức chịu đựng đau đớn thêm nữa. Tên gác mở cửa ngục và đứng trên thềm. Mở hí đôi mắt. Moritz thấy hắn cười. Hắn nói:
—Đứng dậy đi mầy!
Moritz thấy lại trong trí viên thanh tra Varga, nghe tiếng ông nói, thấy phòng tra tấn, những chiếc đũa sắt đủ cỡ, nhớ đến thân hình nặng nề của tên gác đè trên mình anh. Anh nhấp máy đôi môi, van lơn:
—Không không! Hôm nay, đừng. Để ngày mai, và ngày mốt và những ngày khác, tới khi tôi chết. Mỗi ngày cứ hạch hỏi tra tấn. Nhưng ngày hôm nay đừng, đừng…
Tên hiến binh nói:
—Hôm nay, chúng ta thả mầy ra.
Moritz không muốn tin y. Anh không làm sao tin được. Thế là hôm ấy anh được thả ra.
Nhưng họ không để anh được tự do. Anh là dân Roumain, thì anh phải bị giải đi trại giam làm công việc.

——————————————————————–
Trước khi ra khỏi khám, Moritz nhận được một bức thư của Iulisca, do tên gác phòng văn viên thanh tra đem lại. Y vô vừa lúc Moritz sắp đi ra. Moritz mở thơ thấy tuồng chữ của Iulisca.
“Anh Iano yêu dấu,
Từ bốn ngày nay, tôi không còn giúp việc nhà ông Nagy nữa. Tôi viết thơ nầy cho anh hay, để khi được thả ra, anh đừng đến đường Pétofi kiếm tôi. Tôi về đồng quê của mẹ tôi, ở xã Balaton, quận Tisa và nồng nhiệt đợi chờ anh ở đấy. Khi mãn tù, anh cứ tới nhà tôi. Iulisca.”
Cuối thơ bên góc mặt. nàng có gạnh thêm:
“Hôm qua tôi có đến nhà ông Nagy lấy đồ. Hai vợ chồng ông Nagy có gởi lời xin anh đừng giận họ vì họ đã khai ở bót, không biết anh. Lúc nầy ở châu thành, người Do thái đều bị bắt. Nên họ sợ nói nhà họ có chứa người lạ. Họ đều khen anh. Ông Nagy gởi cho anh một bộ đồ mới, mượn tôi cất giùm. Chừng anh đến nhà tôi, tôi đưa cho. Ông ấy cũng tốt và bà cũng vậy, nhưng vì họ sợ bị bắt nên nói không biết anh. Đời khổ lắm! Cái sợ có thể giết chết cha mẹ được. Hôn anh Iulisca.”
———————————————————————
Nội các Hongrois nhóm kín đã 3 tiếng đồng hồ tại Đền Nhiếp Chính Vương.
Cuộc thảo luận chấm đứt, nhưng ông Tổng trưởng ngoại giao đứng lên nói nữa:
—Vấn đề năm chục ngàn dân thợ chưa giải quyết. Và đây lại là vấn đề quan trọng.
Thủ tướng đáp, giọng cứng cỏi:
—Vấn đề đã tính xong rồi!
Sự quyết định vừa được toàn thể chấp thuận.
Mấy ông Tổng trưởng xách cặp da, sắp sửa ra về. Ông Tổng trưởng ngoại giao, làm như không thấy, cứ tiếp tục nói:
—Phải kiếm cái gì để đưa ra mới được. Cuộc bang giao của chúng ta với nước Đức Quốc Xã phải được giữ vững. Chúng ta phải nhìn nhận, đây không phải một sự bang giao ngang hàng, mặc dầu chúng ta rất thiệt hại. Nước Hongrie đối với nước Đức là cảnh một nước phụ thuộc chớ chẳng phải một nước đồng minh. Tình cảnh nầy, chỉ có thể thay đổi là đối với một nước bị chiếm đóng, mà như thế, thì lại còn nguy hại hơn. Trước tiên, họ đòi 300 000 dân thợ. Nay con số giảm còn 50 000. Mà với con số nầy, làm sao chúng ta cũng phải cung cấp mới được.
Thủ tướng giận đỏ mặt, nói:
—Nước Đức quan tâm đến chuyện nầy lắm. Lời đòi hỏi đưa ra như một tối hậu thơ. Kỹ nghệ của họ cần dùng dân thợ. Nếu chúng ta không gởi họ ít nhứt 50 000 người, sự từ khước ấy có thể nguy hại cho nước ta. Tôi được cho biết một khi lời yêu cầu ấy không thỏa mãn, thì nước ta sẽ bị quân đội Đức chiếm đóng liền. Các ông sẽ lãnh trách nhiệm về vụ từ khước nầy.
Một ông Tổng trưởng hỏi:
—Ta không tìm được một giải pháp nào khác sao?
Thủ tướng nói:
—Nếu ta gởi một công dân Hongrois sang Đức làm nô lệ thì tình cảnh cũng nghiêm trọng và lịch sử sẽ không tha thứ cho hành động của chúng ta. Vì vậy, nên từ khước hẳn là hơn. Trong việc nầy, không có giải pháp nào được hết!
Tổng trưởng nội vụ nói:
—Và nếu chúng ta gởi sang Đức 50 000 nhân công mà 50 000 nhân công ấy không phải là công dân Hongrois có được không? Trong các trại giam của nước ta có hơn 300 000 người ngoại kiều. Tại sao ta không gởi họ sang Đức quốc?
Tổng trưởng ngoại giao nói:
—Tôi chống lại giải pháp nầy. Nó chỉ làm rắc rối thêm. Nó trái với luật quốc tế về tù binh và tù chính trị. Ta cần phải được cảm tình của ngoại quốc. Nếu chấp thuận giải pháp ấy, thì danh dự của “Ngai vàng Saint Étienne” sẽ bị tổn thương nặng nề. Chỉ có kết quả là tạo thêm nhiều kẻ thù.
Sau nữa giờ bàn cãi mới tìm ra một giải pháp ổn thỏa. Các Tổng trưởng đều thỏa thuận quyết định gởi sang Đức quốc 50 000 dân thợ, không phải dân Hongrois, mà dân lựa chọn trong những người không có quốc tịch rõ ràng.
Tổng trưởng nội vụ hứa sẽ chọn cách nào mà mấy dân thợ ấy, không người nào có thể chứng tỏ minh bạch thuộc về một xứ nào khác được. Ông kết luận:
“Như thế, chúng ta cứu được xương máu dân Hongrois ta. Lịch sử không thể nào buộc tội ta đã gởi dân Hongrois đi làm nô lệ. Với mục đích cao cả ấy, lịch sử sẽ tha thứ chúng ta về phương tiện sử dụng.”
—————————————————————-
Bá tước Bartholy, giám đốc sở báo chí Hongrois, vô phòng làm việc và gọi cô nữ thơ ký để đọc cho cô viết tờ thông cáo về sự quyết định của chánh phủ vừa nhóm kín.
Ông nói thầm: “Một người mà không ai tôn trọng danh dự và nhân cách là một tên nô lệ. Ngày nay, kẻ nào muốn sống một cách xứng đáng là tự mình tự sát. Xã hội ta cấm được có nhân cách và danh dự cá nhân, nghĩa là, cấm cuộc sống của một người hoàn toàn tự do. Nó chỉ cho một cuộc sống nô lệ. Nhưng tình trạng ấy không thể kéo dài được. Một xã hội mà tất cả, từ vị tổng trưởng đến người đày tớ, đều là người nô lệ, tất phải sụp đổ. Và càng mau chừng nào càng hay chừng nấy”
Cô thơ ký bước vô phòng, hỏi:
—Thưa ông Tổng trưởng đã nói gì?
—Không! Cô viết đi:
__________Thông báo_________________
” Hội đồng Tổng trưởng vùa nhóm kín dã chấp thuận cấp giấy thông hành và điều kiện du lịch dễ dàng cho những dân thợ Hongrois nào muốn qua nước Đức làm việc chuyên môn về kỹ thuật trong các xưởng kỹ nghệ. Số thợ chánh phủ cho hưởng điều kiện dễ dàng hiện thời tạm định là 50 000 người.”
Thôi hết. Cô gởi cho báo chí đăng ngay, và ở trang nhứt.
——————————————————————-
Chiều lại, Bá tước Bartholy dùng bữa cơm tại nhà hàng với đứa con trai ông mà cũng là viên Chánh văn phòng của ông nữa. Tới tuần cà phê, ông hỏi:
—Con nghĩ sao về vấn đề gởi dân thợ qua nước Đức?
Lucian đáp:
—Thật là một đòn “đánh ngã”, trên đài chánh trị. Phương pháp quả thật phi thường! Thay vì gởi dân Hongrois, ta lại gởi dân lựa trong các khám đường và trại giam. Vẻ ngạo mạn của dân Đức thật xứng với bài học đích đáng nầy, Quả là một ý nghĩ thần tình!
—Con biết ta có được quyền lợi nào của nước Đức để bù đáp lại chăng? Hay nói rõ hơn, ta có được trả tiền khi giao 50 000 dân thợ ấy không?
—Tùy mình. Không lẽ cung cấp nhân công cho nước Đức mà ta không nhận được gì của họ trả lại sao?
—Vậy con không thấy bị xấu hổ khi biết rằng cha mình có dự vào cuộc buôn người sao? Cuộc buôn người là nấc thang chót của một nền đạo lý suy vong đó.
—Ba thật kỳ lạ quá! Thảo nào ba cứ dăm chiêu suốt buổi chiều nay…
—Đừng nói tránh. Con có nhìn nhận là ba có dự vào cuộc buôn người hay không?
Lucian mỉm cười đáp:
—Nếu ba cố tình dặt câu hỏi như vậy, thì có, ba có dự cuộc buôn người.
—Vậy chuyện đó không làm bận lòng con sao?
—Vô lý. Con tưởng ba buồn chuyện gì khác. Đây không phải là một cớ để ba lo âu, dầu thoáng qua đi nữa. Chúng ta bị bắt buộc phải gởi dân thợ qua Đức. Nếu ta không dùng đến phương pháp đó thì ta phải gởi đồng bào ta. Và như thế, lại càng nghiêm trọng hơn?
—Phải, về phương tiện đồng bào Hongrois ta thật còn nguy hại hơn. Nhưng về phương diện nhân loại, thì cũng nguy hại vậy. Chúng ta vừa bán người cho nước Đức.
—Nhưng đây chỉ là sự cần thiết trong giờ phút nghiêm trọng nầy nó bắt buộc ta. Ta không thể tránh được.
—Âu châu bỏ tục buôn người từ mấy trăm năm nay. Hạng người sau cùng bị bán là dân mọi Mỹ châu. Ngày nay việc buôn nô lệ bị cấm tại các nước trên thế giới. Hủy bỏ chế độ buôn người là một thành công quan trọng của xã hội văn minh ta. Bây giờ chúng ta giẵm lại đường cũ, đi ngược dòng thời gian và trở lại lề lối buôn người. Từ thế kỷ XX, ta vụt lùi lại thế kỷ trước Thiên Chúa Giáng Sinh, nhảy ngang qua thời đại Phục Hưng và thời đại Trung Cổ.
—Nhưng, thưa ba, không nên nhìn sự việc dưới khía cạnh bi thảm như vậy. Mấy dân thợ ấy qua nước Đức không có bị xiềng xích như bọn nô lệ thuở xưa. Họ sang đó với tư cách thợ thuyền.
—Họ không bị xiềng xích vì họ không có phương tiện tẩu thoát. Xã hội hiện tại có những lối canh giữ dân nô lệ mà thuở xưa dân Hy lạp không có. Ba không phải chỉ nói đến súng máy, hàng rào dây kẽm gai có chuyền điện, mà ba còn nghĩ đến phương pháp kỹ thuật hành chánh quan liêu: thẻ thực phẩm, giấy phép được ngủ ở khách sạn, được đi xe lửa, được đi đường hay đổi chỗ ở vv… Dân Hy lạp và dân Ai cập sẽ không bao giờ xiềng xích tôi mọi họ, nếu họ có phương tiện kiểm soát chặt chẽ như xã hội ngày nay. Nhưng cảnh nô lệ, thì xưa hoặc nay vẫn y như nhau.
Lucian đáp:
—Tốt hơn đừng nghĩ gì đến chuyện ấy. Chúng ta không thể sửa đổi được. Ta không quyền lựa chọn. không phải chỉ có một mình nước ta buôn người với nước Đức; nước Croatie, Roumanie, Pháp, Ý, Norvege và hầu hết các nước ở Âu châu thảy đều là việc ấy. Ta làm thế nào khác hơn được, ngoài cách rời khỏi. Chánh phủ để chống lại nước Đức, vì họ mua người nô lệ và mấy nước khác đã bán những người nô lệ cho họ. Nhưng một chánh phủ khác thay thế thì rồi cũng lại gởi dân thợ sang Đức. Mà dầu có hạ được nước Đức Quốc xã đi nữa thì vấn đề cũng không giải quyết được. Nga sẽ thế Đức và nước Nga lại là một nước buôn người to lớn trong hoàn cầu. Ở Nga Sô, mỗi con người là vật sở hữu của quốc gia…
—Vậy tình trạng ấy không làm cho con hãi hùng sao?
—Không
—Chính chỗ đó mới là nguy hại! Vì như vậy đủ chứng tỏ rằng con không còn chút trọng vọng nhân tính con người. Mà con cũng là con người, thì con không còn trọng con nữa.
Lucian đáp:
—Con trọng mỗi người theo giá trị của họ. Con chắc ba không có gì để trách con về địa hạt ấy.
—Phải, con trọng mỗi người tượng trưng một giá trị đáng kể.
— Như vậy thì có gì phải nói đâu?
—Nhưng con có trọng con người vì giá trị bản chất, vì giá trị nhân phẩm hay chăng?
—Đã hẳn rồi. Con chẳng khi nào làm cho một người đau khổ mà không thương hại và không hối hận.
—Nhưng đối với một con chó, con cũng không làm nó đau đớn mà không thương hại, vì con biết rằng khi lấy roi quất nó thì nó sẽ đau đớn. Con thương hại con người cũng như con thương hại tất cả sinh vật. Vậy ba muốn biết rõ con trọng người vì họ là con người, vì họ có giá trị duy nhất, không thể thay thế được; dầu họ không só một giá trị xã hội, hoặc họ không làm cho con phải thương hại hay mến yêu như một con thú, con có kính trọng họ hay không?
—Con chưa hề nghĩ đến điều ấy. Con biết rằng con trọng người tùy theo giá trị xã hội của họ, và vì họ là một sinh vật. Vả lại, tất cả ai cũng nghĩ và cảm như con…
—Con có chắc rằng thế giới ngày nay có nghĩ và cảm như con không?
—Chắc chắn như vậy, một cuộc suy luận chặt chẽ và hợp lý bắt buộc ta phải cảm nghĩ như vậy. Con người là một giá trị xã hội. Kỳ dư, chỉ là giả thuyết.
—Thế thì thật là nghiêm trọng.
—Có gì ba thấy là nghiêm trọng trong ấy
—Văn hóa của ta mất đi. Nó có ba đức tính: yêu và trọng cái Đẹp, đức tính này mượn của người Hy Lạp; yêu và trọng cái Quyền, mượn của người La Mã; yêu và trọng con Người, mượn rất trễ và thật khó khăn của đạo Thiên chúa. Bởi tôn trọng ba biểu tượng ấy: con Người, cái Đẹp, cái Quyền, mà văn hóa Tây Phương ta mới được tốt đẹp như thế. Rồi bây giờ nó lại mất đi cái phần quý báu nhứt của di sản là tình yêu và trọng con Người. Không có tình yêu con Người, không có lòng trọng con Người, thì văn hóa Tây phương không còn tồn tại được nữa. Nó chết vậy.
—Trong lịch sử, con người đã trải qua lắm hồi đen tối hơn giai đoạn ta đang trải qua ngày nay. Con người bị thiêu đốt giữa thập mục sở thị, bị hy sinh trên bàn thờ tế lễ, bị tội buộc vào bánh xe và đánh gãy chân, bị mua bán và đối xử như một món đồ. Nếu chúng ta cũng phán đoán quá nghiêm khắc đối với thời đại chúng ta như vậy, thì ắt là không công bằng.
—Đúng vậy. Trong thời kỳ đen tối ngày nay con Người bị bỏ quên và sự hi sinh nhân mạng là thi hành một cách dã man. Nhưng chúng ta mới thắng được sự dã man và bắt đầu quý trọng con người. Chúng ta đang còn trong vòng sơ khởi và còn phải tiếp tục học hỏi thêm. Thế mà sự hiện diện của xã hội kỹ thuật đã phá hủy công trình của ta đã dày công chiến thắng và tạo nên từ mấy thế kỷ chăm bón vun trồng. Xã hội kỹ thuật đem lại sự khinh rẻ con người. Con người ngày nay bị giảm hạ tới mức độ giá trị xã hội mà thôi… Thôi ta về, chắc đã khuya rồi?
Lucian xem đồng hồ tay và nói:
—Đồng hồ con hết chạy. Ba xem coi mấy giờ?
—Giờ thứ 25 rồi!
—Con không hiểu.
—Ba đã hiểu con. Không ai muốn biết giờ thứ 25 cả. Đó là giờ của văn minh Âu Châu.
—————————————————————-
Người trưởng đoàn vừa nói vừa cười:
—Anh Moritz à! Họ bán anh cho dân Đức. Tôi tự hỏi không biết người Hongrois bán anh được bao nhiêu? Anh không đắt giá gì lắm. Đâu lối một thùng bì đạn là khá, vì tôi nghe người Đức không trả bằng tiền, mà bằng đạn dược. Tôi không tin rằng người Đức trả anh hơn một thùng bì đạn. Một thùng đạn để đổi tất cả: da với xương!
Rồi người trưởng đoàn lại võ vai Moritz cười, và tiếp:
—Giá cũng cao đấy! Dân Nga không mua tới giá đó đâu. Bên xứ họ, con người còn rẻ hơn nữa.
Moritz không ưa bị chế giễu, nhưng anh làm thinh. Người trưởng đoàn là một sinh viên ở Bucarest. Y bị dân Hongrois bắt giam, và từ 8 tháng nay, và làm chung với Moritz ở pháo lũy. Moritz biết anh sinh viên hay nói giỡn chơi, nhưng y không hiểm ác. Y hỏi thêm Moritz:
—Anh không tin rằng họ bán anh sao?
Moritz đáp:
—Không, tôi không tin, Con người có thể bị nhốt trong trại giam, trong khám đường, bị bắt làm việc, bị đánh khảo hoặc bị giết, chớ không bị bán!
— Thế mà anh đã bị bán. Tôi dám thề với anh rằng họ đã làm như vậy. Anh, tôi, các người Roumains ở trong trại nầy đều bị họ bán cho người Đức cả. Họ đã làm giấy tờ với nhau, bán năm chục ngàn người.
Nói xong, anh sinh viên bỏ đi.
Moritz suy nghĩ về chuyện vừa nghe. Anh nói thầm:
“Y muốn chế giễu mình; chuyện ấy không thể có thật được.”
Nhưng suốt ngày, câu nói của người sinh viên cứ văng vẳng bên tai anh. Anh không thể không tin rằng người Đức đã mua anh và trả bằng một thùng đạn. Song càng suy nghĩ kỹ, Moritz nhận thấy rằng thật là điên rồ mới tin như vậy.
Trại giam ở biên giới hai nước Roumanie và Hongrie. Tội nhân đang đào hầm núp. Công việc xong được phân nửa. Antim, tên người sinh viên, định rằng phải mười tháng nữa mới đào hầm xong. Nhưng để cho công việc mau xong, người Hongrois cứ chở thêm tội nhân đến. Có cả tù khổ sai, trán mang dấu sắt nướng đỏ, vì họ không đủ người. Thế mà tội nhân được lịnh ra đi. Tất cả người Roumains và người Serbes ở chung trại giam với Moritz đếu bị đưa lên xe lửa. Moritz nghe nói người Hongrois không bằng lòng cách làm việc của hai dân tộc nầy, nên họ thay thế dân khác để có thể làm xong công việc mau lẹ hơn. Antim thì cho rằng tội nhân bị chở qua Đức vì họ đã bị bán rồi. Cũng có những người Roumains khác nói như vậy, song phần đông không ai tin chuyện ấy. Moritz cũng trong số đông nầy.
Một buổi sớm mai, Moritz xuống xe để đi đại tiện. Trên xe không có cầu, phải chờ xe ngừng, họ mới được chạy tứ tán chung quanh để đi, có lính canh giữ. Bữa nay, xe ngừng giữa đồng trống. Trời mưa và ui ui tối. Moritz ngồi lâu ở ngoài đồng. Lúc về gần xe thì thấy mỗi toa có viết chữ phấn, bằng tiếng Đức. Anh đọc: “Dân thợ Hongrois chào mừng các bạn Đại Đức Quốc Xã,” “Dân Hongrois làm việc cho Trục chiến thắng”. Moritz kêu Antim và chỉ cho anh xem. Antim nói:
—Bây giờ anh có tin rằng người Hongrois đã bán chúng ta cho Đức chưa?
—Không, tôi không tin. Không ai có thể tin được một chuyện như vậy!
—Anh chờ coi, rồi anh sẽ tin!
Moritz chờ.
Chuyến xe đậu ngoài đồng cho tới chiều. Mặt trời vừa lặn, thì các lính canh đi tủa khắp cánh đồng để hái bông. Moritz chưa từng thấy lính mang súng lưỡi lê đi hái bông dưới sự chỉ huy của một sĩ quan. Viên sĩ quan nầy cũng hái bông. Xong rồi họ trở về xe, kết bông thành bó và giắt lên mỗi toa xe, chung với lá xanh, cỏ dây leo và cành cây, như chưng đám cưới. Trời tối. Xe khởi chạy Moritz muốn thức xem ra sao, nhưng buồn ngủ quá, anh ngủ quên. Khi tỉnh dậy, trời đã sáng. Cửa các toa xe đều đóng kín. Bên ngoài, nghe tiếng ồn ào. Chắc xe đậu ở một nhà ga, chớ từ trước đến giờ, xe chỉ đậu ngoài đồng trống, hay xa xa, ngoài thành phố. Dưới cửa sổ xe, nghe có tiếng người nói và tiếng đầu máy xe chạy. Moritz lắng tai nghe tiếng một người nói lớn, khi đi ngang toa anh. Anh nói thầm “Họ nói tiếng Đức”. Và chừng đó anh mới nhìn nhận rằng Antim không có nói láo. Bọn anh bị bán cho Đức rồi. Moritz nghĩ thầm: “Chắc người Đức đã đổi mình cho dân Hongrois bằng một thùng đạn để lấy thân xác mình, xương, da, thịt mình.”
Antim nói:
—Chúng ta bị bán làm nô lệ suốt đời!
Khi vừa biết đã tới địa phận Đức, Antim liền đứng lên diễn thuyết. Cả thảy đều nghe, nhưng Moritz thì không để tai nghe. Tâm trí anh mải chú ý đến câu: “Làm nô lệ suốt đời!”, và anh tưởng tượng trọn đời anh ở trong cái trại giam, đào kinh, đào hầm, đói khát, bị đánh đập và làm mồi cho chí rận.
Rồi anh thấy anh chết trong trại giam. Nghĩ đến có thể chết trong trại giam, nước mắt anh trào ra. Anh đã thấy nhiều tội nhân chết trong trại. Anh cũng đã có đào huyệt chôn họ. Khi tội nhân chết thì bị lột hết áo quần và chôn trần. “Như chó vậy”. Moritz nghĩ thầm: “chó chết thì bị lột da để làm bao tay. Tù chết thì bị lột quần áo. Khi mình chết, biết đâu họ cũng quen tật mà lột da mình?” Moritz vụt đứng phắt dậy, lẩm bẩm:
“Họ có thể giam ta suốt đời. Nhưng trước khi chết, ta muốn họ thả ta ra. Ít nhứt, một giờ trước khi chết. Ta muốn họ thả ta ra, ta được tự do, để đừng bị chết giam cầm! Chết bị giam cầm, thật là một trọng tội! Nhưng người ta đã bán mình cho Đức rồi, thì đời nào họ thả mình ra, dầu một giờ trước khi chết cũng không được!”
———————————————————–
Eleonora West nói với ông Stein ngồi trước mặt nàng:
— Trễ lắm là trong mười ngày, tôi phải ra đi. Nếu không đi khỏi xứ trước ngày, thì sẽ có lịnh tập nã bắt tôi. Mười ngày là thời hạn lâu nhứt của tôi định. Và không biết chừng như vậy cũng là lâu quá rồi.
Nàng ngó ông Stein ngồi trên cái ghế dựa như thường lệ, và để tự chứng tỏ mình không nói quá sự thật, nàng bèn kiểm điểm trong trí tình trạng của nàng.
Hạn kỳ cho công dân Do thái phải ghi tên tại Bộ nội vụ đã chấm dứt. Ai không tuân lịnh, theo một đạo luật mới, sẽ bị tù 10 năm. Nàng chưa đi trình diện. Tòa án được thơ tố cáo và đã mở cuộc điều tra. Hồ sơ mà ông Chưởng lý giữ chắc có nhiều giấy tờ nàng không biết, chứng nhận đích xác nguồn gốc chủng tộc của nàng. Hồ sơ ấy không thể mất cắp được. Mọi cuộc điều đình với mấy người điều tra để mua chuộc hồ sơ như lúc trước đều thất bại.
Nàng nói:
—Lần nầy thì tôi chịu thua, ông Stein à! Tôi phải bỏ cuộc và trốn đi. Chỉ còn phương kế duy nhứt đó, tôi có thể làm. Trong hai năm rưỡi nay, tôi đương đầu với tất cả, tôi chịu đựng mọi thử thách, mọi công kích. Thật rất khó khăn, song tôi đều làm được. nhưng định mạng không giúp mãi mãi kẻ gan dạ.
Ông Stein nói:
—Cuộc tranh đấu chưa thất bại hẳn, nhưng thời hạn thật quá ngắn. Ta có thể bán nhà in, tờ báo, nhà cửa để có một số tiền khá. Lại còn bàn ghế, tranh ảnh và tủ sách nữa. Mấy chuyện nầy cũng dễ, và tiền bán được có thể gởi trong một nhân hàng bên Thụy sĩ. Nhưng trong thời hạn mười ngày, thật khó cho chúng ta chạy cho được giấy bổ nhiệm ông Koruga và các giấy thông hành?
Hiện giờ, chỉ những người nào đi công cán chính thức mới được ra khỏi xứ Roumanie. Chồng tôi được cử làm giám đốc “Viện Văn hóa Roumain” ở Raguse. Theo sự bổ nhiệm đó, tôi là vợ, sẽ được giấy thông hành và được chấp nhận. Nhưng phải làm sao cho mau lẹ mới được. Ông chưởng lý đã bảo với tôi rằng ông chỉ còn một cách giúp tôi hoãn cuộc điều tra, trong mười ngày. Sau thời hạn đó, ông không lãnh trách nhiệm, và sẽ buộc lòng ký trát bắt giam tôi.
Ông Stein thoáng thấy trước mắt, hình ảnh Éleonora West trong tù. Ông hãi hùng xua đuổi ý ấy. Ông hỏi:
—Bà có nói gì với ông Traian chưa? Bà vụng tính lắm. Thế nào ông cũng biết được. Và nếu cho ông hay sớm, dầu một giờ đi nữa, thì biết đâu ông lại không có kế cứu bà. Ông sẽ nói làm sao khi thấy công văn bổ nhiệm và giấy thông hành mà ông không bao giờ xin?
—Tôi không thể nói thật với chồng tôi được. Tôi không có lý do gì để giấu giếm một chuyện mà trong hai tuần nữa, công chúng sẽ hay biết. Chàng sẽ biết tôi là Do thái, Nhưng tôi không thể nói ra được. Tôi đã đuối sức rồi. Tôi cố gắng không nổi nữa. Nếu muốn nói với chàng một sự bí mật mà tôi cố giữ kín trong hai năm nay, tôi phải có một cam đảm mà nay tôi không còn nữa. Tôi kiệt lực rồi. Ý chí tôi quá căng thẳng từ lâu, nên đến nay tôi rất mệt, mệt mỏi, rã rời…
Éleonora hai tay ôm đầu, chống trên bàn viết. Ông Stein ngó sững nàng.
Nàng thật quá đau khổ, mỏi mệt. Ông thương cảm, nhưng ông không làm sao giúp đỡ nàng được. Ông mở cặp da để khỏi bị bắt buộc ngó, để khỏi thấy cảnh nàng đau khổ hai tay cứ ôm đầu, rũ chí. Trong cặp da đựng mấy giấy tờ bán nhà, đất, nhà in, tờ báo và tranh ảnh của Éleonora West, lại thấy có một cái bốp, đính chữ bằng vàng, tên của Traian Koruga. Ông lấy ra để trên bàn trước mặt Éleonora. Nàng nhìn rồi cầm lên.
Ông Stein nói:
—Ngày mai là ngày kỷ niệm hai năm đám cưới của bà, Tôi biết bà bận tâm, không nhớ mua món gì tặng ông, nên tôi đem cho bà vật nầy. Chắc ông sẽ vui lòng. Món nầy cũng khá tốt.
—Vậy ngày mai là ngày kỷ niệm đám cưới tôi được hai năm sao? Thế mà tôi quên mất. Cám ơn ông đã nghĩ hộ giùm tôi. Traian sẽ sung sướng lắm!
Nàng nhìn và rờ nhẹ chiếc bốp da như mơn trớn nó. Nàng nói:
—Tôi không biết tại sao tôi cứ giữ kín chuyện nầy. Chắc tại tôi quá yêu chàng. Nếu chàng biết được thì thế nào chàng cũng bận tâm giúp tôi. Tôi tin chắc chắn như vậy. Nhưng tôi không nói ra vì tôi sợ mất chàng. Tôi biết rằng tôi sợ vô lý. Nhưng mỗi lần định nói, thì lại sợ sệt, nên tôi cứ giữ mãi điều bí mật ghê gớm ấy. Traian là người độc nhất còn liên hệ đến đời tôi. Mất chàng tôi cũng sẽ mất luôn.
Éleonora để bốp xuống và vụt nói:
—Ông biết ông chưởng lý nói gì với tôi không? Ổng cho tôi chưa hẳn có chồng chánh thức.
Tiếng nàng run lên, nàng tiếp:
—Và ổng nói đứng. Tôi làm hôn thú, sau khi luật cấm người Roumain cưới người Do thái. Luật ban hành tháng tư và tôi làm hôn thú với Traian bốn tháng sau. Chánh thức thì hôn thú của tôi không giá trị. Tất cả các hôn thú làm sau ngày ấy, dầu biết dầu không, đều đương nhiên bị hủy bỏ hết.
Éleonora nín bặt. nàng còn nghe văng vẳng bên tai lời ông chưởng lý: “Ông Koruga Traian không phải là chồng bà. Theo luật thì ông chưa vợ. Cuộc hôn nhân của bà đương nhiên tự tiêu hủy vô hiệu. Ông Traian muốn cưới vợ lúc nào tùy ý, mà không bị cho là phạm tội trùng hôn. Nếu bà có con, thì là con hoang, và nó chỉ được mang tên West chớ không được tên Koruga. Chính bà, bà cũng là giả mạo, mõi khi bà ký tên là Éleonora Koruga”.
Nàng nói với ông Stein:
—Ông cứ trả giá nào cũng được, miễn trong thời hạn rất ngắn ta có giấy thông với lời chứng nhận cầm tay. Giấy thông hành đề tên ông và bà Koruga…
—————————————————————–
Năm ngày sau, ông Stein trở lại với công văn bổ nhậm Koruga làm giám đốc “Viện Văn hóa Roumain” ở Raguse và những giấy thông hành ngoại giao, bao bìa da xanh xanh.
Ông vui mừng nói:
—Bà Koruga, chúng ta đã thắng. Tôi mua cả giấy xe lửa có toa giường nằm đến Vienne. Thứ hai nầy bà đi. Tôi rất vui mừng thấy bà ra đi được.
Ông Stein lau mắt kiếng. Éléonora West vừa xem giấy tờ, vừa ngó ông. Ông nay ốm nhiều. Nàng muốn hỏi ông có đi hay không, thì ông lại nói:
—Tôi không biết rồi chúng ta có gặp nhau nữa không. Đêm nay, một số đông người Do thái sẽ bị chở đi Transdnistrie. Tôi rất vui thấy bà ra đi. Nếu có dịp bà trở lại đây chắc bà không còn gặp một người Do thái nào ở Bucarest cả. Tôi đây, cũng không. Người như tuổi của tôi, thì làm sao chịu đựng lâu nổi trong trại giam, bên kia Boug.
————————————————————
Traian Koruga đang ở trong văn phòng. Nora không bao giờ vô phòng, trong khi chàng đang làm việc. Nhưng bữa nay, nàng cầm mấy giấy thông hành bước vô phòng. Traian đang ngồi tại bàn viết, hai tay ôm đầu. Nàng nói:
—Em có món quà kỷ niệm ngày cưới năm thứ hai của chúng ta tặng anh. Em vận động cho anh đi làm Giám đốc “Viện Văn hóa Roumain” ở Raguse.
Đưa sắc lệnh bổ nhậm cho chàng, nàng tiếp:
—Ở Dalmatie, có bờ biển đẹp nhứt hoàn cầu. Anh có thể yên ổn tiếp tục quyển tiểu thuyết của anh.
—Làm sao em thành công một mình được? Và nhứt là làm sao em có thể giữ bí mật tài vậy?
Traian hôn nàng và nói tiếp:
—Nora em thật là thần tình! Em biết rằng anh hân hoan lắm không? Anh cần phải đổi phong thổ để viết tiếp quyển truyện. Anh không thể viết tiếp chương kế. Anh cảm thấy phải ở một nơi khác mới viết được. Anh linh cảm như vậy. Chắc chắn là một chương quan trọng trong quyển sách…
Éleonora bước lại hôn chàng nơi miệng để Traian khỏi thuật “chương kế” của quyển sách. Nàng quá sợ sệt rồi.
——————————————————————–
Viên chức của xưởng nói:
—Anh được cắt làm một công việc dễ. Anh còn đau. Vả lại người ta đưa đến đây toàn kẻ đau yếu.
Y ngó Moritz một cách thù ghét. Y đọc lại mảnh giấy cầm tay, rồi nghi ngờ ngó Moritz nữa. Từ hai năm nay ở Đức, Moritz đều bị nhìn như thế. Anh luôn luôn bị nghi có can án, mặc dầu anh không có tội gì, nhưng chắc chắn một ngày kia anh sẽ phạm tội.
Viên chức hỏi:
—Anh là Hongrois hả? Tôi có nhiều dân Hongrois rồi, nhưng họ không làm vừa ý tôi. Phần anh, chắc có khác hơn.
Rồi y mỉm cười và đọc lớn lên:
—Moritz Ianos, dân Hongrois, 32 tuổi, thợ không chuyên môn, tới nước Đức ngày 21.06.1941.
Moritz tự biết từ hai năm nay, đã trở thành dân Hongrois, vì giấy tờ biên như vậy. Anh ngó theo viên chức đang đọc bảng các xưởng, các hãng và trại giam ở Đại Đức Quốc xã, những nơi mà anh đã làm công việc từ trước đến giờ. Bảng kê dài lắm. Các loại xưởng kỹ nghệ đều có trong ấy. Moritz thấy tự hào đã làm trong nơi như vậy. Một lúc, anh thoáng thấy lại hàng chục trại giam có rào kẽm gai, hàng chục trại gaim anh có làm việc, các hãng, các thành phố, các nỗi đau đớn anh đã chịu đựng. Anh tưởng viên chức sẽ thán phục lòng cam đảm của anh đã đương đầu với bao thử thách đau khổ trước khi đến đây. Nhưng viên chức chỉ xem sơ qua tên các chỗ Moritz đã khổ sở trải qua, và đọc đoạn chót: “Ra nhà thương, thợ ngoại quốc, số 707, ngày 08.03.1943″.
Moritz lạ lùng thấy một người đọc bảng kê khai những nỗi đau khổ của anh mà không chút chạnh lòng. Viên chức đó chỉ lấy viết chì gạch thêm ở góc, nơi chỗ còn trống: “Trình diện tại xưởng làm nút áo Knopf Und Sohn, ngày 10.03.1943.” Đoạn y cất thẻ trong hộc tủ với mấy thẻ khác và ngó Moritz nói:
—“Kỷ luật, vâng lời, làm việc, trật tự!”. Đó là châm ngôn của các thợ ngoại quốc tại xưởng nầy. Trong xưởng cũng có thợ đàn bà Đức. Chuyện nầy quan trọng. Anh phải để ý: mỗi liên lạc với đàn bà Đức là bị phạt ít lắm 5 năm tù. Ông giám đốc xưởng rất nghiêm khắc về khoản nầy. Mỗi đàn bà Đức đều có dán trên da một miếng giấy nhỏ, giấy ấy được quyền cho anh lãnh 5 năm tù. Nếu một khi anh đặt tay vào những chỗ không được phép rờ đến trên thân mình họ, thì anh đã biết cái gì chờ anh rồi. Đừng tưởng anh sẽ được cái gì khác. Tên Hongrois, trước anh đã ngồi tù. Tôi có cho nó biết, hồi mới tới, như tôi cho anh biết hôm nay, nhưng nó không chịu đếm xỉa đến lời cảnh cáo của tôi. Nó tưởng trời tối và đã trốn trong cái mền với người đàn bà thì không ai thấy được. Nhưng ở tại Đại đức quốc nầy, anh không thể làm một cử động gì mà không bị bắt liền. Dầu ở trong mền cũng vậy. Anh không thể hành động mà chúng tôi không hay tức khắc. Chúng tôi đoán được những gì anh suy nghĩ trong đầu. Ý tưởng của anh. Tất cả những ý tưởng của anh! Sang qua điểm thứ nhì: xưởng làm việc cho chiến tranh. Tất cả những gì anh thấy và nghe đều cơ mật quân sự. Thợ ngoại quốc không có quyền biết xưởng sản xuất thứ gì, được bao nhiêu, và phương pháp sản xuất như thế nào. Nếu anh muốn tìm hiểu thì đầu anh sẽ rơi. Tháng giêng rồi, một thợ dân Ý bị hành hình. Hiện giờ một thợ dân Tcheque sắp bị xử vì muốn biết bí mật của xưởng Knopf Und Sohn.
Viên chức đứng nói chuyện rồi đi ra cửa, Moritz theo sau. Y nói:
—Tới bây giờ, không một người thợ Hongrois nào làm ở đây mà tôi bằng lòng. Họ ngồi tù cả. Một trong bọn ấy bị hai chục năm khổ sai, vì muốn phá hoại. Ước mong anh là một ngoại lệ, dẫu rằng tôi không tin có ngoại lệ!
Viên chức ngừng trước một cái máy chở thùng chạy trên đường rầy. Tại đầu đường rầy, một người thợ lấy từng thùng và chồng lên trên chiếc xe nhỏ gần y. Lúc viên chức đến gần người thợ, thì cái xe nhỏ chất đầy thùng, chạy trên đường rầy. Một cái xe khác, trống không, chạy tiếp đến gần người thợ. Người thợ như không thấy có sự thay đổi, cứ tiếp tục lấy từng thùng, cái nầy đến cái khác, do dây trân chuyền tới, và chất đầy trên chiếc xe nhỏ trống không ấy, như anh đã làm lần trước. Mấy thùng đồ xem nặng lắm.
Viên chức nói:
—Đấy là công việc của anh kể từ ngày mai. Dễ lắm. Anh chỉ lấy mấy thùng đầy đồ trong xưởng chuyền ra và để lên trên chiếc xe trống đặng nó chở vô kho. Trật tự rất nghiêm xác, đó là luật quan trọng hơn hết. Anh có làm việc trong xưởng chưa?
Moritz ngó người thợ cúi xuống một cách máy móc, gồng tay một cách máy móc, ôm thùng nút để trên xe, không nghĩ đến việc y làm, và cũng không nghĩ đến việc gì khác cả. Y cũng chẳng tưởng đến những người đang đứng gần y. không chừng y cũng chẳng thấy họ nữa.
Viên chức cắt nghĩa:
—Máy móc không dung tha cái gì vô trật tự. máy móc không dung tha tình trạng hỗn loạn, sự lười biếng, trễ nải của con người đâu.
Moritz ngó viên chức. Y nói tiếp:
—Anh không được phép nghĩ đến chuyện khác. Máy móc sẽ phạt anh ngay. Trí óc anh phải chăm chú theo người máy, bạn đồng nghiệp anh, người thợ kỹ thuật đã đem cái thùng tới đưa anh. Anh chỉ phải cúi xuống đỡ lấy trên tay nó và đặt lên xe.
Viên chức mỉm cười.
Moritz rán kiếm cánh tay của người máy, bạn thợ kỹ thuật của anh, nhưng anh không thấy đâu cả. Anh ngó viên chức. Y vẫn mỉm cười, nói tiếp:
—Người máy không tùy theo người ta. Anh phải tùy theo nó và điều hòa những cử động của anh cho ăn khớp với những cử động của nó. Sự ấy đương nhiên phải vậy, vì nó là một người thợ toàn bị, còn anh thì không. Không một người nào có thể là một người thợ toàn hảo hết. Chỉ có máy móc! Ta phải học nó để làm việc. Anh hiểu chưa? Nó sẽ dậy anh kỹ luật, trật tự và sự hoàn mỹ. Có bắt chước nó, anh mới trở nên một người thợ nhất hạng. Nhưng anh chẳng khi nào thành thợ nhứt hạng được. Anh là dân Hongrois, làm trong xưởng nầy, dân Hongrois nhìn ngó đàn bà, chớ không nhìn ngó máy móc.
Moritz muốn nói anh là dân Roumain, chớ không phải dân Hongrois. Anh định muốn thuật trở lại đời anh, các khám đường anh bị giam, sự đánh đập anh đã chịu đựng ở Budapest, nhưng viên chức đang trầm trồ ngó máy móc lần lượt đưa đến mấy thùng trắng tươi, lặng lẽ và cách khoảng đều đều. Ngó máy móc, rồi y ngó qua Moritz, tỏ vẻ khinh bỉ. Moritz cảm thấy sự khinh bỉ bao trùm anh, nên anh thôi, không thuật chuyện ngồi tù ở Budapest và chuyện viên thanh tra Varga.
Viên chức nói:
—Con người là một tên thợ hạ đẳng. Nhứt là dân Phương Đông. Tụi anh là dân Phương Đông, tụi anh thua kém máy móc. Anh chẳng những là một người, anh còn là người phương đông và dân Hongrois, vả lại anh mới vừa ra nhà thương nữa! Một bịnh nhơn! Anh chỉ là một kẻ bịnh hoạn thôi.
Moritz thấy rõ viên chức khổ sở, anh muốn nói với y rằng anh ráng hết sức mình để làm việc. Nhưng hắn lại nói tiếp:
—Anh làm sao bì lại với máy móc. Anh phải biết tự xét lấy anh!
Rồi ngó Moritz từ đầu đến chân, y nói:
—Thật là bất kính, thật là ngạo mạn đối với máy móc, mà có ý tưởng dám so sánh máy móc với anh. Chúng nó hoàn toàn tuyệt xảo. Còn anh… Người ta không nên đưa cho nó những tay sai như vầy! Thôi, theo tôi. Tôi sẽ phát quần áo làm việc cho anh. Anh chỉ được vô xưởng khi mặc sắc phục thợ. Sắc phục thợ như sắc phục mục sư. Nhưng về chuyện ấy, anh không thể nào hiểu được? Tụi anh, dân Hongrois, chỉ lo ngó đàn bà. Toàn là đồ dã man!
————————————————————————–
Bốn giờ sáng bữa sau, Moritz đi một mình về gian phòng tráng xi năng rộng lớn, đến gần chiếc xe đã chỉ cho anh hôm qua. Còn năm phút mới khởi sự làm việc. Lòng anh nao nao. Anh mặc bộ đồ xanh trùm kín thân mình và đi đôi guốc, nện xuống nền xi năng như tiếng búa đóng. Anh có thể đi nhón gót và không muốn khua động, lúc một mình vắng vẻ, nhưng tiếng guốc vẫn to như thường. Đến giữa phòng, nghe có tiếng kêu anh. Không phải gọi tên anh, nhưng Moritz biết là kêu anh. Anh chắc chắn như vậy. Anh quay đầu lại. Lúc ấy, người ta gọi anh lần thứ nhì. Lần nầy anh nghe rõ ràng:
—Salve Sclave! (chào anh nô lệ)
Một đầu bù tóc đen, một khuôn mặt có đôi mắt to, râu rậm và răng trắng bóng như men sứ, đang đứng sau cửa sổ nhỏ có song sắt. Đó là một người còn trẻ, ốm như bộ xương, đang ngó chăm chăm Moritz với đôi mắt to đen lánh. Thân mình y bị che khuất. Khi bốn mắt gặp nhau, y nói với Moritz như đac biết nhau từ lâu:
—Salve Sclave!
— Tôi tên là Ianos Moritz, Moritz trả lời, tưởng người ấy lầm mình với ai tên Salve Sclave
Ốc xưởng máy rú lên. Máy móc bắt đầu chạy. Moritz đã đứng vào chỗ, trên bao lơn. người tóc đen còn đứng cửa sổ ngó anh, cười thân thiện. Gã có nghe câu trả lời của Moritz, nhưng trước khi vô khuất, y còn ngó ngay Moritz và nói một lần nữa:
—Salve Sclave!
Moritz bắt mấy thùng đầu chạy tới trên đường rày và để xuống chiếc xe trống. Nếu thùng không quá nặng thì một đứa trẻ bảy tuổi cũng làm được công việc nầy. Anh biết thùng đựng nút áo. Anh muốn xem coi nút ra sao, nhưng thùng nào cũng đóng kín. Nếu có thùng nào mở, anh cũng không dám dở nắp ra để xem nút áo. “Tháng giêng rồi, một người thợ dân ý bị hành hình. Bữa nay, một người thợ dân Tcheque sắp bị xử.”
Moritz nhớ lại, thì tại người sau nầy muốn biết bí mật của xưởng Knopf Und Sohn. Anh tưởng tượng người thợ Tcheque đang đứng trước quan tòa, và chắc đang xin lỗi về sự y đã khám phá bí mật của xưởng nút áo. Rồi anh nghĩ đến người thợ Ý bị chặt đầu. Anh có gặp nhiều người Ý, họ đều vui tính. Vì thế, anh cũng tưởng người bị chặt đầu nầy, bản tính ắt cũng vui vẻ. Anh thấy đầu người Ý, có râu đen và mịn, đang mỉm cười và lăn dưới chân viên đao phủ.
Moritz tự thề không bao giờ ngó đến nút áo, nếu có thùng nào mở ra tình cờ. Không đáng gì mà ngó nút áo để bị chặt đầu! Và anh tự nói thầm rằng nút nầy để cho binh gia dùng. Ôm thùng trên tay và đặt lên chiếc xe trống, bỏ thùng kia chạy rồi mà anh quên ngó, nên anh tự hỏi không biết thừng này đựng loại nút áo nào? Có thứ cho thủy quân, cho lục quân và cho không quân. Có thứ đen, thứ xi vàng và thứ màu kaki. Moritz muốn thùng nút mình đang ôm là nút xi vàng vì thứ nút đẹp nhứt. Trông như mấy đồng tiền vàng nhỏ. Lính thủy dùng loại nầy. “Không chừng thùng nầy đựng nút cho thủy quân…”
Moritz trực nhớ lại lời của viên chức: “Chúng tôi biết tất cả những gì qua đầu óc anh. chúng tôi chụp ảnh những ý nghĩ của anh.”
Anh rán kiềm hãm tâm trí đừng nghĩ đến mấy nút áo trong thùng nữa. Đó là một việc bí mật, mà Moritz thì không muốn biết những bí mật của xưởng.
Một lúc sau, anh tự thấy đang nghĩ coi nhà binh Đức làm gì với bao nhiêu nút áo ấy. Lính tráng và sĩ quan Đức mà anh thấy, họ có nút đều đủ trên bộ quân phục và áo choàng của họ rồi. Nút áo đang làm đây sẽ dính trên những bộ sắc phục mới.
Moritz ngó vô số thùng đang chạy đều đều nối tiếp nhau, như nước sông cuộn chảy bằng phẳng, và tự hỏi: “Chắc thùng chứa cả triệu nút. Như vậy mới đủ để kết vào sắc phục cho toàn cả quân đội Đức. Hay chánh phủ ra lịnh cho binh sĩ mặc sắc phục mới, nên họ mới sản xuất nút áo nhiều như vậy.”
Moritz lại tự hỏi không biết quân phục mới nầy có phải dùng để đi diễn binh khi hết giặc, trên các đường lớn ở đô thị, cờ xí đi đầu, ăn rập theo kèn nhạc nhà binh không? Các binh sĩ đều có nút áo vàng óng ánh, như mặt trời. Rồi anh bắt đầu mỉm cười, thấy mình đang đi trong đám đông coi diễn binh, và tự hào biết rằng nút áo của các sĩ quan, binh lính và cả của các Đại tá nữa đều đã qua tay anh hết. “Mấy nút áo mà ta đang cầm đây sẽ dính trên nhung phục của một Đại tướng. Và tất cả áo choàng, tất cả các nhung phục của Đại tướng sẽ được kết bằng thứ nút áo làm riêng biệt đựng trong thùng nầy. Biết đâu người ta chẳng dùng hết thùng nút áo nầy cho ông.”
Moritz nương theo đà ý nghĩ mà quên lấy thùng chạy ngang trước mắt anh. Thùng rời khỏi đường rầy và rớt xuống đất, vang dội ầm ầm. Moritz lật đật chạy đỡ lên. Lúc ấy, thùng khác chạy đến chỗ của thùng trước. Thùng nầy lại cũng bị rớt xuống đất, càng kêu lớn hơn, vì đổ xuống nền xi năng. Moritz lom khom rán đỡ nó lên và ôm được thùng thứ nhứt trong tay. Thùng thứ ba lại rớt trên lưng anh. Anh đánh rơi hai thùng trước và đâm lo quýnh quýnh. Anh chưa từng sợ quýnh quýnh như bây giờ. Thùng thứ tư lại rớt nữa. Rồi thùng thứ năm.
Moritz trở về chỗ, bỏ những thùng rớt xuống đất, và lo lấy để lên xe mấy thùng khác cứ tiếp tục chạy tới. Anh ngó cái máy, như muốn van xin, thuyết phục cho dây trân ngừng lại tới chừng nào anh lượm hết mấy thùng kia. Nhưng thùng vẫn tiếp tục chạy tới đều đều, cả hàng dài. Anh sợ bị phạt, dáo dác ngó chung quanh nhưng không ai đến nói chi cả.
Đứng trưa, máy ngừng chạy. Hồi nãy đến giờ Moritz luôn luôn sợ bị bắt tội. Anh bước xuống bục, lượm mấy thùng để lên trên xe. bây giờ anh mới mừng, vì không ai biết đến lỗi của anh đã phạm.
Nhưng xe chạy tự động, nên cũng ngừng lại một lượt với cả dàn máy và đứng yên trên đường rầy với năm thùng nút. Moritz định đẩy bằng tay. Nhưng chiếc xe đã khóa cứng và chỉ chạy tự động thôi.
Moritz muốn ôm mấy thùng nút áo đem xuống kho. Nhưng anh không qua lọt cửa tường, vì nó chỉ rộng vừa chiếc xe nhỏ. Anh đứng đó, hai tay ôm hai thùng nút áo, mà không biết tính làm sao? Một tiếng nói rền sau lưng anh. Moritz sợ hãi, để mấy thùng trở lại trên xe, và xây lưng lại.
Anh thấy sau song sắt cửa sổ một khuôn mặt xương với đôi mắt đen. Người thanh niên ban sáng thân ái ngó anh và nói với anh lần thứ nhì: “Salve Slcave”!
Moritz quên lửng mấy thùng nút áo, luôn cả lỗi của anh vừa mới phạm. Anh cười và trả lời:
—Tôi không phải tên gọi như vậy. Tên tôi là Ianos Moritz! Anh lầm tôi với ai rồi.
Thanh niên hả toác miệng cười, đưa hai hàm răng trắng nõn. Y cười dòn dã, rồi khuất sau cửa sổ, vừa nói to lên lần chót: “Slave Slcave!
Moritz đi ăn trưa và ngẫm nghĩ, chắc mình giống người nào thêm Slave Slcave lắm sao, nên chàng thanh niên mắt đen đó mới kêu mình như vậy, mặc dầu, mình đã nói tên mình với y rồi.
Về sau, anh mới biết chàng thanh niên đứng sau cửa sổ đó đều gọi người ngoại quốc làm trong xưởng là Slave Slcave cả. Y là người pháp. Y cũng xưng là Slave Slcave nữa. Nhưng sau nầy Moritz mới biết tên y là Joseph.
———————————————————————–
Moritz làm trong xưởng nút áo đã năm tháng rồi, và anh chẳng còn để thùng đồ ngã nữa. Thùng tới trước mặt, anh cứ lấy để trên xe. Anh lấy thùng mà không ngó đến nó, không nghĩ đến nút gì đựng trong đó, không nghĩ đến các Đại tướng sắp mặt nhung phục có kết nút nầy, không nghĩ đến các quân lính đi diễn hành, sau khi hết giặc, mặc sắc mới với nút áo sáng chói, đựng trong thùng anh đang cầm tay.
Anh không còn suy nghĩ gì nữa. Anh không mơ mộng nữa, cũng không nhớ tới đầu người thợ Ý lăn lóc dưới chân viên đao phủ mà còn cười.
Có vài lúc, anh muốn biết coi người thợ Tcheque ra trước tòa, bữa anh mới đến làm việc trong xưởng, có bị án hay được tha.
Chuyện nầy xảy ra lúc ban đầu. Bây giờ Moritz không còn tò mò tìm hiểu mấy chuyện không đâu nữa.
Khi anh vô phòng máy, người thợ Pháp luôn luôn đứng nơi của sổ và hô: “Slave Sclave” để chào anh thì anh cũng đáp: “slave Sclave” để chào lại, mà chẳng nghĩ đến đã nói gì. Anh mỉm cười với y mà không biết mình mỉm cười. Đoạn anh leo lên bục, chờ mấy thùng nút áo đến. Có một lần, anh thử giản dị hóa công việc, lấy một lượt hai thùng để lên xe. Nhưng đường rầy cản lại, sợi dây trân trúng cạnh thùng kêu ken két như nghiến răng muốn cắn. Cả sớ thịt của Moritz run lên như lúc ai nhổ răng anh. Từ đó về sau, anh không dám thử lấy hai thùng một lượt nữa. Máy móc không bằng lòng như vậy. Và anh phải làm theo ý muốn của máy móc. Dầu anh có thể lấy năm thùng một lượt, anh cũng không làm. Anh bị lôi cuốn theo nhịp nhàng và không thể thoát ra khỏi được. Chuyện làm không khó, cũng không dễ. Lúc trước, mỗi khi anh làm công việc nặng nhọc, đổ mồ hôi và mệt mỏi thì anh chửi thề. Hiện giờ, anh không đổ mồ hôi và cũng không chửi thề nữa. Anh có cảm giác như không làm việc mà cũng không ở không. Lúc trước, khi làm công việc, anh suy nghĩ đủ chuyện và thì giờ qua mau. Hiện giờ, anh không suy nghĩ nữa. Trong lúc anh đang đỡ thùng lên và để xuống xe, anh có dư thì giờ để nghĩ muôn ngàn chuyện, nhưng đầu anh nay trống rỗng không còn hình ảnh nào hết. Ý nghĩ và tưởng tượng cũng rời bỏ anh. Và anh cũng không nghĩ đến công việc anh làm nữa. Anh biết rõ anh làm công việc nầy chẳng những bằng tay mà còn bằng trí não. Nếu không, thì tâm hồn và trí não anh sẽ ở chỗ khác. Nhưng chúng nó ở đây, gần thùng và gần máy móc.
Moritz cảm thấy thân xác khô khan như cây thiếu nước. Tối đến, khi nằm xuống giường, anh tưởng như đang cúi xuống lấy thùng nút. Buổi sáng, khi ngồi dậy, anh tưởng như đang đứng lên, sau khi để thùng nút trên xe rồi, và được rảnh tay vầi phút. Giấc ngủ anh hết còn mộng mị. Trán và mắt anh tối lần. Da anh thấm màu máy móc chớ không phải màu đất. Mấy lúc sau nầy, anh quên luôn những thùng đựng gì, và nếu có nhớ lại, mà cũng không thường nữa, thì anh mỉm cười. Nụ cười của anh khô khan như đất nẻ mùa nắng.
Các bác sĩ đều nói anh bịnh, và anh bị nhốt tại nhà thương trong trại.
———————————————————————–
Moritz hiện đang ở trong gian nhà cây dựng làm nhà thương. Cửa sổ có giăng dây kẽm gia. Anh ở đã bốn tuần nay. Phổi anh bị bịnh. Toàn thân anh nóng như lửa và anh cảm thấy như sắp tiêu tan. Anh chỉ mơ tưởng đến xưởng làm nút áo và anh muốn trở lại đi làm. Anh nằm suốt ngày, mắt nhắm nghiền. Có tiếng động chung quanh anh. Anh nói thầm: “Chắc bác sĩ đi thăm bịnh”. Thình lình, anh nghe một mùi thơm của da thịt mới tắm sạch sẽ mà anh không ngửi được từ lâu, nhưng anh biết rõ, nên anh mỉm cười mở mắt ra. Một người đàn bà, y phục nhà binh, đứng gần anh. Nàng trẻ và trắng hồng. Mình nàng có mùi xà bông và hơi mát. Nàng nghiêm nghị ngó anh, nhưng anh vẫn cười. hai viên hiến binh và mấy bác sĩ đứng bao vây anh. Trong lúc nàng nhìn anh, một bác sĩ nói:
—Phải y không?
Người đàn bà vừa đọc tấm phiếu bịnh trạng trên giường Moritz, vừa nghi ngờ ngó anh. Ai ai ở Đức cũng đều có đôi mắt nghi ngờ. Nàng nói:
—Dân Hongrois hả? Với người Ý, mới là nguy hiểm nhứt!
Rồi nàng nắm góc mền lật lên, thấy ngực Moritz, nàng nói:
—Không phải y. Tên kia có lông ở ngực!
Nàng bỏ đi, đến trước các giường khác, nhìn các gương mặt và dở mền vài bịnh nhân. Nàng không gặp người nàng muốn tìm. Hai viên hiến binh vẫn theo nàng.
Mùi thơm ấy, không ấy, không phải chỉ là mùi nước hợp với mùi xà bông và dầu thơm mà thôi, vẫn còn phưởng phất trong phòng, sau khi nàng đi khỏi. Moritz nhớ lại là mùi da thịt, như của Suzanna và Iulisca.
Một bác sĩ nói:
—Một trong các bạn thợ của anh đã làm tình với một gái Đức. Người đàn bà vừa mới đi ra đã bắt gặp họ. Cô gái Đức bị bắt, gã kia chạy thoát. Gã đen đen, có lông ngực nhiều. Cô gái Đức không muốn nói tên gã. Nhưng rồi thế nào họ cũng tìm ra, và gã sẽ bị năm năm tù. Cũng tội nghiệp!
Bác sĩ là người Hòa Lan. Ông ngó ra cửa sổ và nói:
—Bắt được rồi!
Moritz chỗi dậy. Một người dân Serbe bị trói đi ngang qua cửa sổ. Người đẹp trai, tóc đen, đi giữa hai viên hiến binh. Moritz biết người nầy. Y làm cho xưởng thợ dây nhợ và vui tính lắm. Người đàn bà mặc quân phục đi sau y và nói:
—Tôi đã nói, thế nào cũng bắt được!
———————————————————————
Khi ở gần Joseph thì Moritz không sợ. Chỉ với người nầy là anh không sợ mà thôi. Mấy lúc sau nầy, anh sợ tất cả. Ở xưởng. anh sợ hoảng khi nghĩ đến phải làm rớt thùng nút, hay lấy chậm trên đường rầy.
Anh sợ khi ngó một người đàn bà Đức. Anh sợ khi tình cờ biết được một chuyện cơ mật về nút áo. Anh sợ tất cả người Đức. Mà chẳng phải chỉ riêng người Đức thôi. mà sợ luôn hết, và nhứt là đất đai Đức, tiếng nói Đức, không khí anh thở, vì nó cũng là của nước Đức. Ở Roumanie, Moritz bị giam cầm, đánh đập, đói khát, nhưng anh không sợ. Anh cũng không sợ người Hongrois đã hành hạ anh, xé da anh từng mảnh, vì họ là con người Iordan cũng là người, nên anh không sợ.
Moritz chưa bao giờ run sợ trước con người, vì anh biết họ vừa dữ tợn, vừa tốt bụng cùng một lúc. Cũng có kẻ hiền, cũng có kẻ dữ. Nhưng ai ai cũng đều có cả hai tính nầy.
Ở Roumanie, viên phó quản cho anh điếu thuốc sau khi thoi anh gãy hai cái răng. Ở Hongrois, mấy viên hiến binh cho anh nước uống và thuốc hút, sau khi nướng bàn chân anh bằng sắt đỏ.
Ở Đức, anh chẳng hề bị đánh. Mỗi ngày anh được bánh mì, cà phê nóng và súp. Công việc làm ở đây lại dễ dàng hơn tại kinh đào ở Roumanie hoạc tại pháo lũy ở Hongrie. Nhưng anh lại không thể sống được ở Đức.
Moritz chắc chắn rồi đây dân Đức sẽ chặt đầu anh, mặc dầu anh biết rằng anh nghĩ như thế là dại dột. Nhưng anh có cảm tưởng một ngày kia anh bị còng tay dẫn đi, tuy anh không phạm tội gì cả. Họ sẽ cho anh ngồi tù, dẫu anh chẳng biết mảy may chuyện bí mật về nút áo. Người ở đây xấu như máy móc. Hoặc giả máy móc không xấu và người Đức không dữ tợn. Nhưng anh không sống gần máy móc. Anh khô héo lần mòn. Anh lo sợ. Anh sợ máy móc và luôn cả con người đã giống máy móc. Anh thấy trơ trọi giữa họ và giữa máy móc. Anh muốn la lớn lên vì quá cô độc. Và vì vậy mà anh mến người bạn Pháp của anh.
Joseph tìm tới anh nói:
—Slave Sclave!
Moritz cười và đáp: “Slave Sclave!”
Joseph thích ai trả lời bằng câu nầy lắm. Y cắt nghĩa:
—Chúng ta đều là kẻ nô lệ. Tốt nhứt là ta phải nhắc nhở với nhau luôn cả ngàn lần mỗi ngày, để đừng quên phút nào. Nếu chúng ta lãng quên rằng ta đang làm nô lệ thì nguy mất. Lương trí ta phải luôn luôn được thức tỉnh.
Bữa ấy, chiều chúa nhựt, Moritz và Joseph nằm dài trên cỏ, chỗ hóng mát có một gian nhà gỗ. Joseph thuật lại cho Moritz nghe y yêu một người đàn bà, và Moritz biết nàng tên là Béatrice, ở Ba Lê.
Nàng có đôi mắt to và đen. Nàng khóc mỗi đêm vì Joseph bị cầm tù. Người thợ Pháp nầy đã nói với Moritz bao nhiêu lần rồi, nên anh chắc chắn, nếu một ngày kia gặp Béatrice, anh sẽ nhận ra nàng ngay. Có lúc anh tưởng như nghe nàng nói chuyện. Giọng nàng như hát. Anh cảm thấy hình ảnh nàng giữa anh và Joseph, khi hai người nói chuyện với nhau. Và vì vậy, khi anh ở gần Joseph, anh có cảm tưởng có ba người chuyện trò, và anh lấy làm lạ sao Béatrice không nói năng gì và cũng không trả lời với ai hết…
—————————————————————

Qua ống loa, viên cai quản trại giam gọi to:
—Vô trong trại tất cả!
Moritz đứng dậy nói:
—Họ xét gì nữa đây.
Joseph cũng đứng dậy đi theo anh và nói:
—Họ muốn gì mình nữa!
Người thợ Pháp không bằng lòng. Y không muốn ở trong nhà gỗ buổi chiều chúa nhựt.
Các thợ ra khỏi sân, từng đoàn. Trời sáng và nóng.
Moritz và Joseph đứng dựa cửa sổ, ngó qua lưới sắt, xem chuyện gì xảy ra ngoài sân. Moritz nói:
—Quả thật rồi!
Ba chiếc xe cam nhông nhà binh vô sân, đậu dưới cửa sổ họ.
Mấy lúc sau nầy, có tiếng dồn sẽ có đàn bà dẫn đến trại. Ở mấy trại khác, đã thấy chuyện ấy rồi. Các tù binh không tin. Và bây giờ thì đàn bà đến trại. Đàn bà được dẫn đến cho họ. Cả ba xe chỗ đầy đàn bà: tóc nâu có, hung hung có, đỏ hoe có.
Moritz nói với Joseph:
—Anh thấy chưa!
Nhưng Moritz cũng chưa dám tin, mặc dầu anh thấy tận mắt. Song đàn bà đã đến đó, anh ngó họ. Cả thảy đều phấn son và mặc áo mỏng. Họ dòm lên mấy vửa sổ, tù binh chen nhau đứng chật. Và các thị đều cười. Đoạn họ lo sửa soạn xuống xe. Khi nhảy xuống, gió tốc váy lên. Moritz dòm thấy áo lót trong, quần chẽn, đủ màu và mỏng như giấy quyến, phần trên bắp đùi của các thị. Sau lưng Moritz, bọn tù cười ầm lên. Phần anh, anh không tin cặp mắt anh. Anh không cười được.
Viên quản trại nói lớn:
—Không ai được xuống xe. Chưa có lịnh xuống xe mà!
Tiếng trong loa nghe oai nghiêm và dõng dạc. Không ai thấy ông quản trại. Ông nói từ trong phòng làm việc. Mấy người đàn bà đều quay trở lại, xô đẩy nhau trèo lên xe, mau lẹ như họ vừa nhảy xuống. Họ sợ bị phạt xuống xe, không đợi lịnh. Lúc họ trèo trở lên, bọn tù lại được dịp thấy một lần nữa, đầu gói, áo lót và quần chẽn đủ màu tươi dợt của họ. Họ vẫn cười, nhưng khúc khích và sợ sệt hơn.
Viên quản ra lịnh:
—Mười người đàn bà trong một nhà giam, và ở đến chín giờ tối. Các trưởng gian nhà đều có huấn lịnh riêng để thi hành chương trình và sẽ chịu trách nhiệm về trật tự và kỷ luật!
Tiếng loa im.
Đàn bà đứng yên trên xe, chờ lịnh khác.
Người thợ Pháp nghiến răng, chửi thề.
Moritz tưởng y nói chuyện với anh, nên quay lại.
Joseph đang giận dữ, không ngó anh.
Tiếng loa nói:
—Đàn bà phải xuống xe có trật tự, từng tốp.
Lịnh vừa ra, các thị nhảy xuống xe, chia làm năm tốp. Năm viên trưởng gian nhà đến dắt họ đi. Họ tươi cười đi theo năm người ấy.
Moritz không biết “chương trình thi hành” ra sao. Anh lấy làm lạ và tọc mạch tìm hiểu. Anh biết đàn bà dẫn đến để làm tình với tù nhơn. Người Đức cho rằng tù nhơn làm việc không đắc lực, nếu không có đàn bà. Và người Đức muốn công việc làm được nhiều kết quả. Vì thế, họ cho dẫn đàn bà đến để thợ làm việc đắc lực hơn tại mấy xưởng nút áo, xưởng nhợ và lò đúc, trong thành phố.
Moritz không hiểu tại sao, khi có đàn bà người ta lại làm việc đắc lực hơn. Và anh cũng không biết bọn tù sẽ làm sao với các thị dẫn đến cho họ. Gian nhà thì rộng lớn và có nhiều giường. Tù thì nhiều mà đàn bà lại ít. Không thể mỗi tù nhơn có một đàn bà. Moritz nói thầm: “Hay là các thị đi từng giường?” Rồi anh nghĩ chắc đàn bà phải hổ thẹn lắm khi đi từ người nầy đến người khác. Anh chưa từng nghĩ đến việc được thấy đàn bà trong trại của anh có cửa sổ giăng dây kẽm gai bao giờ. Nhưng họ đã đến đây, đứng ngoài cửa kìa!
Viên trưởng gian nhà nói chuyện với họ, chắc dặn dò cách thức, kiến họ cười to lên.
Joseph kêu Moritz:
—Đi ra anh. Lại đằng chỗ hồi nãy.
Moritz theo Joseph đi ra cửa. Nhiều người khác cũng đi ra.
Đi ngang cửa, họ đụng mấy người đàn bà. Mùi phấn và nước hoa tỏa ra trong nhóm ấy. Tất cả đều ngó Moritz và Joseph, rồi cười. Mấy ả chế nhạo hai anh đã bỏ gian nhà ra đi.
Moritz cảm thấy một bàn tay đàn bà rờ mặt anh. Anh ngó xuống. Bàn tay thơm và mát.
Joseph nói vào mặt họ:
—Salvete Sclavi!
Họ đáp lại bằng một chuỗi cười. Joseph, thì anh không cười. Trán anh xạm lại.
Ra sân, anh nằm dài trên bãi cỏ, nhìn trời. Moritz nằm kế anh, nghĩ đến mấy người đàn bà. Joseph chắc cũng có nghĩ đến, nhưng Moritz không biết ý anh nghĩ gì.
Joseph nói:
—Nếu anh muốn, thì cứ trở vô đi!
Moritz đáp:
—Không, tôi không đi.
Hai người làm thinh. Lần đầu tiên, Joseph không nói với Moritz về Béatrice.
Y cắt nghĩa:
—“Họ là đàn bà Ba Lan ở trại giam. Nếu họ làm nghề đó trong sáu tháng, thì họ được thả ra liền… Nhưng trong sáu tháng, thì thân tàn xác hoại mất rồi. Họ chỉ ra khỏi trại giam để đi thẳng vào nhà thương, nhà dưỡng bịnh, hay nhà xác.
Moritz nói:
—Vậy mà tôi tưởng nghề của họ chớ!
Bây giờ anh mới thấy thương hại họ. Anh không biết họ cũng là tù binh như anh.
—Họ không phải là nhà nghề, Jean à! (Joseph cứ gọi Moritz bằng tên Jean). Họ là nô lệ và cố hết sức mình để lấy lại tự do. Một kiếp nô lệ chỉ biết cố sức bứt phá xiềng xích bằng hai tay trống rỗng, yếu đuối, không có khí cụ nào khác. Anh hùng thật! Nhưng khổ thay, nào họ có làm sao bứt được xiềng xích họ đâu! Chỉ nát thân họ! Xiềng xích nô lệ còn mạnh hơn xác thịt con người.
Đến chín giờ tối, các đàn bà rời khỏi trại.
Khi lên xe, họ không cười nữa. Họ im lặng hút thuốc.
Joseph tiễn họ, bằng một giọng chân thành, như chào bạn thân:
—Salvete Slcavi!
Đêm ấy, anh tù Pháp vượt ngục.
———————————————————–
Viên chức của xưởng dắt Moritz vô văn phòng và nói:
—Các sĩ quan cần dùng một thông dịch viên tiếng Balkan. Anh phải đàng hoàng và cung kính! Các ông ấy là sĩ quan của O.K.W.
Moritz đứng chờ ngoài cửa trót giờ. Rồi anh được dẫn vô. Khói thuốc và mùi rượu nồng nạc cổ họng anh. Trên bàn la liệt ly cốc và chai không.
Lúc anh bước vô, không ai quay đầu ngó anh cả. Anh đứng dựa cửa chờ. Khói thuốc làm anh ngộp thở. Anh muốn xin trở về xưởng, bưng mấy thùng nút áo như cũ. Ít nữa ở đó anh được yên tịnh hơn, và khỏi bị ngộp khói thuốc. Anh ưa thích mấy sọc đỏ trên quần các sĩ quan. Họ đều còn trẻ. Moritz đếm được bảy người. Một viên sĩ quan đến gần Moritz, để tay quay tròn trên đầu anh, như quay trái banh trước khi thảy. Ông ngắm nghía mặt Moritz, ngó nghiêng bên trái, rồi bên phải. Ông bảo:
—“Xây lại coi!” Ông nhìn đằng sau đầu anh, rờ rẫm vai anh và nâng càm anh lên. Ông bảo Moritz hả miệng và xem răng rồi ra lịnh:
—Cởi đổ ra!
Moritz lột áo thợ để trên kệ dựa vách. Viên sĩ quan chăm chú ngó theo anh.
Trong khi anh cởi đồ, ông cân nhắc từng cử chỉ điệu bộ của anh. Mấy vị khác lo nói chuyện, không quan tâm đến anh.
Viên sĩ quan ấy là Đại tá S.S ông nói:
—Các bạn, tôi muốn trình bày ra đây một chứng minh luận thuyết!
Ai nấy đều im lặng và bao chung quanh Moritz, đang trần truồng đứng ngơ ngác trước mặt họ. Anh được gọi lên để làm thông ngôn, và anh không hiểu gì về chuyện ông Đại tá vừa nói. Anh tưởng một chứng minh như một cuộc diễn trò trong gánh xiếc.
Rồi anh thấy lại trong trí các cuộc chứng minh. Một khán giả được kêu lên sân khấu để nhà ảo thuật lấy trong túi người ấy ra nào mèo, thỏ, chim chóc còn sống nhăn. Theo ý anh chứng minh là vậy đó. Ngoài ra, anh không biết cách nào khác. Và bây giờ Đại tá lại muốn dùng anh để trình bày một cuộc chứng minh, không chừng cũng như một cuộc diễn trò mà anh đã thấy trong gánh xiếc hồi anh đi lính. Anh tò mò muốn biết. Anh mỉm cười. Anh không sợ cuộc biểu diễn. Anh biết rằng người khán giả được chọn không hề hấn gì. Họ chỉ lấy làm lạ và thán phục thôi. Và anh cũng sẽ thán phục Đại tá khi ông bắt ra những con thỏ, mèo, chim chóc, từ trong nách và cườm tay anh. Anh vẫn thân ái mỉm cười với Đại tá. Anh ưa thích mấy nhà ảo thuật và tự cho mình chẳng khi nào làm được như họ, dầu có luyện tập cả ngàn năm. Anh phục ông Đại tá biết làm trò. Anh nhớ lại lời của mẹ anh: “Mấy nhà ảo thuật là tay sai của ma quỷ”. Anh hơi lo ngại và không mỉm cười nữa. Ma quỷ thường làm anh sợ hãi. Đại tá nói:
—Các bạn, người nầy vô đây chừng mười phút. Tôi chưa hề thấy mặt y. Tôi cũng không biết tại sao y đến đây!
Viên chức của xưởng đáp:
—Đó là viên thông ngôn tiếng Balkan mà đại tá cần dùng.
—Vậy mà tôi quên mất chớ, quên chuyện nhờ ông kiếm cho một thông dịch viên. Lúc anh ta bước vô, khuôn mặt anh làm tôi để ý.
Đại tá để tay trên đầu Moritz. Anh mỉm cười và nóng nảy đợi Đại tá cho thỏ chun ra từ dưới nách anh. Đại tá thì nghiêm trang. Moritz biết rằng tại các gánh xiệc, nhà ảo thuật nào cũng nghiêm trang. Dầu khán giả có cười vỡ bụng, họ cũng vẫn nghiêm nghị. Moritz chờ nghe ai nấy cười rộ lên. Anh cũng sửa soạn cười. Từ lâu rồi, anh không có cười. Đại tá nói:
—Tôi thấy anh nầy lần đầu tiên như các bạn, chừng mười phút, và chưa nói với anh tiếng nào. Thế mà tôi có thể, vịn vào những nhận xét khoa học, thuật lại từng chi tiết tiểu sử của anh và lịch sử gia quyến anh từ ba trăm năm nay.
Moritz nhớ lại hồi đi lính, cũng có thấy mấy trò xiếc nầy. Nhà ảo thuật kêu trong hàng khán giả một người lên sân khấu và nói rõ tên họ, tuổi tác, vợ con, và lắm chuyện vân vân khác của người đó. Ai cũng lấy làm lạ sao nhà ảo thuật biết được các chuyện bí mật ấy. Nhưng Moritz không thích mấy trò như vậy. Anh chỉ thích những trò diễn thuật ra mèo với thỏ. Anh tiếc sao Đại tá không biết những trò ảo thuật ấy. Anh muốn cho ông lấy trong túi anh ra một con mèo chẳng hạn. Ở trong gánh xiếc, anh cũng có đứng lên để đến trước nhà ảo thuật, nhưng vì có nhiều người muốn lên, nhà ảo thuật lại lựa nhằm người khác.
Đại tá tên là Muller. Ông nói tiếp:
—Dưới chế độ quốc xã, khoa học về nhân chủng phát triển mạnh mẽ nên đã tiến bộ hơn khoa học nầy của các nước khác, gần một trăm năm. Chỉ nhìn người trần truồng nầy, tôi có thể kể rành tổ tông của y, việc cưới hỏi của thân tộc y và phong tục của gia quyến y ra sao? Muốn thí nghiệm lời trần thuật của tôi, các bạn cứ hỏi người ấy coi đúng hay không?
Mấy sĩ quan đứng lại gần chung quanh Moritz và nói:
—Kỳ lạ thật.
Đại tá nói:
—Theo hình thức của sọ và mô hình của xương trán, xương mũi và xương mặt, và theo cách cấu thức của bộ xương nhứt là xương ngực và vị trí xương vai, thì người nầy thuộc về nhóm dân Germain, hiện còn sống thiểu số tại thung lũng sông Rhin, tại Luxembourg, tại Transylvanie và tại Australie. Còn đúng chắc mười tăm gia quyến ở tại Trung Hoa và Hoa Kỳ. Nhưng họ không được kê vô số thống kê, vì mới tìm được dấu vết họ chừng vài tháng trước chiến tranh. Trong bảng thống kê mà chúng tôi sẽ đăng vào số đặc san, chúng tôi sẽ cho đầy đủ chi tiết rành mạch, và trước tiên về nhóm dân Germain nầy, lấy tên là “Dòng Anh Hùng”. Dòng nầy có nhiều nhứt chừng tám trăm người. Tổ tiên họ di cư từng đoàn, từ miền tây nam nước Đức, trong khoảng năm 1500—–. Họ là dân Đức chánh tông và vẫn giữ được nguyên vẹn huyết thống, mặc dầu bị mọi áp lực nặng nề, trong thời gian lịch sử. Chủng tộc này có một bản năng sinh tồn mà sức người không bì kịp. “Dòng Anh Hùng” mà trong đó có thanh niên đứng trước mặt các bạn đây, chứng tỏ bản năng sinh tồn kiên cường của dân Đức chúng ta. Duyên cớ gì khiếm cho tổ tiên anh nầy, từ ba bốn trăm năm chỉ cưới vợ đồng chủng, trong lúc xung quanh họ có biết bao nhiêu đàn bà quyến rũ hơn. Đó là bản năng sinh tồn, tiếng gọi của huyết thống đã tránh cho gia tộc nầy khỏi phạm trọng tội tạp chủng. Suốt đời lịch sử, gia tộc nầy không bao giờ cưới gái khác chủng tộc. Và bởi duyên cớ duy nhứt ấy, nên bốn thế kỷ, anh trai trẻ nầy mới còn được giống y hệt tổ tiên anh. Tóc anh giống y hệt của tóc “Dòng Anh Hùng” cách đây 4 thế kỷ, mà ta còn thấy trong di hài tàng trữ đến ngày nay. Không thể lầm lẫn với loại tóc nào khác được và người sành sẽ nhận ra tức khắc.
Tóc mịn hơn tóc của các nhóm tộc loại Germain khác, chân tóc thì cũng như nhau. mũi, trán, mắt, càm của thanh niên nầy đều giống như trong hình vẽ từ bốn trăm năm nay. Không có thay đổi với thời gian!
Các sĩ quan rờ đầu và mân mê tóc của Moritz. Họ trầm trồ ngó anh.
Moritz thấy bao nhiêu cặp mắt đổ dồn về anh. Chẳng khi nào anh được chiêm ngưỡng như thế. Anh như một vị anh hùng. Nhưng anh sợ làm thất vọng các sĩ quan. Anh tiếc chẳng có làm việc gì đáng được khen tặng, sự khen tặng chỉ để dành cho những người được gắn huy chương quân công “Croix de fer” có kim cương sáng ngời, và nhành lá cây sồi mà thôi.
Bàn tay Đại tá lại nắn bóp xuống vai Moritz một cách cảm phục và có vẻ thành kính như rờ vào thánh cốt của Nữ Thánh Paraschiva la Miraculeuse tại nhà thờ Trois Hierarques.
Moritz cúi nhìn xuống, hổ thẹn vì không có dự mặt trận Miền Đông và không được thành tích vũ dũng nào.
Đại tá nói:
—Chủng tộc được mang danh là ” Dòng Anh Hùng”, vì đã nêu gương anh dũng của nòi giống oanh liệt.
Thật ngày hôm nay là 1 ngày lễ của tôi, vì tôi may mắn tìm được một kiểu mẫu nhân chủng như vầy. Xin nói phớt qua, tôi có một ông tổ cưới vợ thuộc gia tộc “Dòng Anh Hùng” nầy, song rủi không có con, vì ông ấy chết tại trận tiền, sau ba tháng cưới vợ. Nhưng đây lại là chuyện phụ thuộc. Tôi muốn rằng hình ảnh thanh niên nầy, có phụ chú những dữ kiện lịch sử và nhân chủng trắc định, được đăng trong quyển sách tôi soạn từ mười năm, dưới sự chỉ dẫn của bác sĩ Rosenberg. Tác phẩm nầy là thành quả công trình khảo cứu của tôi.
Các sĩ quan bèn đứng nghiêm chỉnh chào và nói:
—Xin đại tá nhận lời khen tặng của chúng tôi,
Đại tá đỏ mặt sung sướng. Ông đưa thẳng tay phải lên chào và bắt tay từng người.
Moritz đứng yên ngó ông. Ông hỏi:
—Anh ở Rheinland, Luxembourg hay Transylvanie?
Moritz đáp:
Ở Transylvanie.
Các sĩ quan khen rộ. Đại tá Muller hớn hở. Ông nói:
—Tôi sẽ nói rõ chỗ ở của anh nầy.
Day qua Moritz, ông hỏi:
—Anh sang tại Timisoara, tại Brasov, hay tại xứ người Szeklers.
Moriitz đáp:
—Tại xứ Szeklers.
Đại tá xoa tay cười và nói:
—Tuyệt diệu! Không thể nào nói tôi sai. Lúc anh nầy mở cửa bước vô, tôi có cảm giác như thấy một nhân vật của Phòng triển lãm chân dung “Dòng Anh Hùng”. Tôi thuộc lòng các chân dung của gia tộc ấy. Các bạn có thể xem trong quyển sách của tôi, có cả hình màu nữa. Các bạn, tôi có thể nói anh nầy là một kiểu mẫu hoàn toàn về “Dòng Anh Hùng”. Anh chứng thật cho lý thuyết của tôi.
Đại tá kêu viên chức của xưởng đem phiếu lý lịch của Moritz. Vừa đọc phiếu, Đại tá nổi giận nói:
—Thật là ngu! Một người trong “Dòng Anh Hùng” chẳng khi nào có tên Ianos. Đặt tên như vầy thật là vô lễ, phạm thượng!
Xây qua Moritz, ông rầu rầu hỏi:
—Phải cha anh đặt tên Ianos cho anh không?
—“Thưa Đại tá, không phải. Tôi không phải tên Ianos.” Anh muốn nói anh tên là Ion.
Đại tá nói:
—Không thể nào một người trong “Dòng Anh Hùng” lại đặt tên con khác hơn tên các thánh trong lịch Đức được. Từ bốn trăm năm nay, chưa bao giờ có chuyện đó. Anh nầy không thể tên Ianos được.
Đại tá ngó Moritz. Lần nầy ông bằng lòng và vui mừng thấy Moritz không phải tên Ianos. Ông hỏi:
—Vậy ai đặt tên nầy cho anh?
—Tôi không biết. Khi tới nước Đức, từ hai năm nay, tôi được ghi trong giấy tờ với tên nầy.
Đại tá bèn nói với các sĩ quan:
—Nó không phải Ianos đâu. “Dòng Anh Hùng”, thường thường bị chịu sự ô danh như thế. Những dân tộc mà họ chung chạ với nhau đã thay đổi tên tộc của họ, nhưng không làm sao thay được huyết thống họ. Máu huyết của “Dòng Anh Hùng” vẫn tinh khiết như một giọt thủy tinh.
Đại tá đi thẳng đến viên chức của xưởng và nói:
—Từ nay thanh niên nầy sẽ để dành cho “Viện Quốc Gia Khảo cứu Chủng tộc”. Đây là một kiểu mẫu mà chúng tôi cần dùng.
Viên chức hỏi:
—Vậy anh ấy không làm ở xưởng nữa?
Đại tá xẳng xớm:
—Không, tôi sẽ gởi sau những chỉ thị đặt biệt riêng về anh nầy.
Đại tá ngó Moritz và suy nghĩ: “Khoa học tiến triển phi thường. Nhưng ta vẫn còn cách xa sự hoàn mỹ. Kiểu mẫu ưu tú nầy, người tiêu biểu cho nhóm chủng tộc kỳ thú nầy, lẽ ra phải ở trong một “Vườn Nhân Chủng” với các kiểu mẫu hiếm lạ và quý báu của loài người. Nhưng tiếc thay, “Vườn Nhân Chủng” chưa thiết lập. Tại Âu Châu có vườn tuyển trạch và bảo tồn các giống cầm và thú. Thế mà, vì thành kiến dư luận, không lập được một “Vườn Nhân Chủng”. Một thiệt hại lớn cho khoa học! Về lãnh vực nầy, người Mỹ đã đi trước. Họ có lập vườn bảo tồn những giống thổ dân kỳ lạ của Mỹ Châu. Ta cũng sẽ lập “Vườn Nhân chủng” ở Âu châu. Ta phải thắng! Trong kỳ diễn giảng tới, ta sẽ đề nghị sáng lập trước tiên “Vườn Nhân Chủng”. Khoa học sẽ nhờ đó mà có sẵn kiểu mẫu để nghiêm cứu dễ dàng. Phần tử nầy của “Dòng Anh Hùng” sẽ là người đầu tiên của Vườn, và chính ta đem tặng.”
Đại tá Muller ngó Moritz và mỉm cười. Ông tưởng tượng thấy Moritz ở trong Vườn Nhân Chủng, chỗ trại “Chủng tộc Đức” cùng ở với vợ con. Đại tá nói:
—Rồi đây ước vọng sẽ thánh… Hiện giờ, phải kiếm cho anh một nghề xứng đáng với căn cội chủng tộc của anh ta. Đời lính sẽ làm cho anh ta thỏa mãn. Tôi biết rõ “Dòng Anh Hùng”. Ấy là chủng tộc háo chiến nhứt của giống Germain. Vậy phải giúp anh ta làm lính mới được.
Các sĩ quan khen tặng Đại tá một lần nữa, vì họ tán thành ý kiến ông. Đại tá hân hoan kêu viên hầu đem cặp da của ông lại. Ông lấy một miếng giấy trên đầu có chữ O.K.W. và viết mấy lời gởi gắm Moritz, để được sung vô quân đội, làm lính S.S.. Đưa mảnh giấy cho viên chức của xưởng, ông ra lịnh:
—Về làm các thủ tục cần thiết, và đừng để trễ nãi. Đoạn xây qua Moritz, ông cười và nói:
—Trong tháng tới tôi muốn có một tấm ảnh của anh mặc quân phục tân binh. Nó rất quý đối với sự nghiêm cứu của tôi về “Dòng Anh Hùng” mà anh thuộc về gia tộc ấy. Tôi sẽ gởi một tấm tặng Bác sĩ Goebbels. Rồi anh sẽ ngắm hình anh trong các báo chí có tranh ảnh.
—————————————————————–
Sau khi khám Moritz, Đại úy bác sĩ trong Ủy ban tuyển mộ, nói:
—Anh nầy không đủ sức khỏe để làm lính. Phổi bên phải có đốm. Quân sĩ thì buồng phổi phải lành mạnh mới được.
Đã ba tuần qua, từ lúc Đại tá Muller gặp Moritz. Anh biết làm lính thì được cấp nửa ổ bánh mì mỗi ngày, có giày tốt đi nước không thấm, có áo quần ấm áp, và được ăn uống đầy đủ, có thuốc lá hút. Anh biết đời lính sướng hơn đời tù, nhưng khi nghe nói anh không được chấp thuận thì anh lại mừng. Bác sĩ lật hồ sơ đọc, rồi nói:
—Thanh niên nầy của Đại tá Muller, ở Tổng hành dinh và Viện nghiêm cứu chủng tộc gởi gắm. Không thể loại anh ra được.
Ba vị bác sĩ đều ngó Moritz, Đại úy hỏi:
—Anh có biết làm công việc văn phòng không? Anh làm nghề gì?
—Tôi làm ruộng.
Mấy ông bác sĩ hỏi ý kiến với nhau và bảo Moritz ra ngoài chờ. Khi kêu anh vô thì họ cho biết anh có đủ năng lực đi quân dịch, và cấp cho anh giấy đi trình diện tại đơn vị của anh. Đại úy nói:
—Anh được bổ vào đội trợ binh. Anh không biết làm việc văn phòng, thì anh sẽ ở trong đội binh canh gác.
—————————————————————
Thiếu tá trại kỷ luật huýt còi kêu ăn trưa. Binh nhì Moritz giựt mình. Anh quên mình đang đứng gác trong chòi canh và lật đật kiếm gà men. Anh đỏ mặt, tức giận, ôm cây súng và nói thầm: “Ngu ngốc làm sao! Cứ quên mình là lính gác chớ không phải là tù nữa!”
Ba ngày nay đứng gác, anh đều giựt mình mỗi khi nghe còi hiệu. Anh chưa nhớ được anh là lính. Thấy dây kẽm gai giăng cùng trại và đoàn tù, anh quên anh ở đâu và cứ tưởng còn bị giam. Trải nhiều năm ở trong trại giam, ý tưởng là tù trọn đời đã thâm nhập vào xương máu da thịt anh. Anh không thể tưởng nghĩ gì khác được. Khi có lính đến đổi phiên gác, anh run lên vì tưởng người lính nầy đến bắt anh. Giờ đây, khi có đoàn tù cầm gà men chờ nối đuôi nhau để lấy súp, Moritz quên mình đứng gác trong chòi canh và tự hỏi sao phiên xúp của mình lâu tới quá vậy. Anh thấy anh cùng ở trong đoàn tù.
Mấy ngày đầu, Moritz ngó tìm trong đám tù coi có ai quen không. Anh lấy làm lạ sao không gặp được người nào. Ở Đức, anh đã ở trong cả chục trạm giam, tất anh cũng có một bạn quen trong đám tù ấy. Anh muốn gặp một người quen, dầu anh không được phép nói chuyện với tù. Miễn anh nhìn thấy xa xa một mặt quen là đủ. Thình lình, Moritz lại quên mình là lính gác, vội kêu lên:
—Joseph, Joseph!
Đoàn tù ở sân đều ngó anh. Joseph cũng ngó, nhưng lại cúi xuống ăn, không nhìn biết Moritz.
Moritz lại kêu nữa. Joseph cầm gà men ngó chăm chỉ anh, rồi bèn đi xa thêm.
Moritz bèn nói lớn:
—Anh không nhớ tôi sao? Tôi là Moritz đây.
Người tù Pháp nhìn ra anh, cười nói:
—Slave Sclave!
Y để gà men xuống đất, đến gần hàng rào kẽm gai, hỏi:
—Tại sao anh ở đây, anh Jean?
Moritz thuật sơ chuyện anh làm lính. Joseph lúc nầy đã nghe được tiếng Đức. Nhưng vì hai người cách xa quá, nên nghe không rõ. Moritz hỏi lại:
—Còn anh, tại sao anh ở đây?
Joseph đáp:
—Tôi bị bắt lại, sau năm ngày vượt ngục. Anh gởi giùm thơ cho Béatrice, vì tôi không được phép viết. Tôi không có tin tức nàng từ bốn tháng nay.
Moritz hỏi địa chỉ. Người tù Pháp viết vô một mảnh giấy. Khi đó Moritz rút túi lấy một gói thuốc hút vừa được phát hôm qua, thảy qua hàng rào dây kẽm gai, vô sân, dưới chân Joseph, và nói:
—Chiều nay tôi gởi thơ liền. Mai tôi đem thuốc hút và bánh mì cho anh.
Joseph cúi lượm gói thuốc và liệng miếng giấy có địa chỉ của Béatrice, gói một viên đá nhỏ. Nhưng miếng giấy rớt giữa hàng rào dây kẽm gai. Joseph muốn viết miếng khác, song Moritz nói:
—Để tôi lượm cho. Không ai bắn tôi đâu, nếu tôi dến gần hàng rào.
Anh vừa bước xuống thềm chòi canh, thì đằng xa thấy một viên cai đi đến đổi phiên. Moritz lật đật trở lên chòi và nói với Joseph:
—Viên cai đi tới rồi, và tôi không thể lượm được. Ngày mai, lúc chín giờ, tôi ra đứng gác sẽ lượm. Chờ tôi, chào anh nghe!
Joseph nói:
—Slave Sclave!
Y vừa đi vừa đốt thuốc, bộ đồ xám rách lúc trước nay tả tơi hơn. Y ốm nhiều. Ở trại giam luôn luôn thiếu ăn.
Khi đổi gác với viên cai rồi, Moritz ngó Joseph đang đi xa xa, và nói thầm:
—Mai tôi đem nguyên ổ bánh mì cho anh.
—————————————————————-
Đêm đó Moritz bị cảm. Bữa sau, xe chở anh vô nhà thương. Anh biết Joseph đang chờ anh gần vách tường để lấy bánh mì và thuốc hút mà anh đã hứa. Và anh còn phải lượm miếng giấy biên địa chỉ của Béatrice nữa. Anh buồn rầu đã làm cho Joseph chờ anh không được và thất vọng.
—“Tội nghiệp Joseph!” Anh thương hại và nghĩ thầm: “Biết đâu anh chẳng nóng lòng trông mau sáng và đến chín giờ để lấy bánh mì!”
Moritz tự an ủi, trong vài ngày lành bịnh, mình sẽ mỗi ngày đem bánh mì cho Joseph và viết thơ cho Béatrice.
Nhưng Moritz bị sưng phổi, phải nằm bịnh viện quân y hai tháng trường.
Bữa mồng một tháng hai, bác sĩ nói với anh:
—Tuần nầy anh ra nhà thương được rồi. Anh sẽ có phép nghĩ dưỡng sức 30 ngày.
Moritz nghĩ thầm nếu nghĩ phép thì làm sao gặp Joseph. Anh tù Pháp chắc vẫn chờ anh hoài, chờ anh lượm địa chỉ viết thơ cho Béatrice, chờ anh tặng bánh mì và thuốc hút.
Moritz có ý nhứt định bỏ phép nghỉ để trở về phân đội mình. Bác sĩ lại khuyên:
—Anh cần nghĩ dưỡng sức, ăn uống và nghỉ ngơi. Nếu không nghỉ thì nguy hại lắm. Anh muốn nghỉ phép ở đâu?
Moritz hết còn cam đảm xin bỏ phép nghỉ. Anh cúi đầu, đỏ mặt.
Bác sĩ nói:
—Tôi hiểu anh. Anh không có chỗ nào để đi nghỉ. Tôi có thể gởi anh vào một “Viện dưỡng sức”. Nhưng ở đó không phải là chỗ cho anh. Anh cần một bầu không khí ấm áp, như trong một gia đình…
Moritz rất cảm động vì bác sĩ đã đoán được ý nghĩ của anh. Anh ao ước một nơi mà anh có thể ở như tại nhà anh.
Bác sĩ nói tiếp:
—Anh cần một người đàn bà săn sóc và giúp đỡ anh. Anh cần phải tự tin trở lại. Nếu không, anh không bao giờ mạnh hẳn được. Nơi “Viện Dưỡng sức”, anh gặp nhiều đàn bà. Nhưng họ ở đó để thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Với một người bịnh về thể xác và tinh thần như anh, chuyện ấy không nhằm lối. Anh cần yêu đương hơn kích thích.
Bác sĩ ngó chung quanh. Ông tin chắc tài khám bịnh của ông. Ông biết rõ cái gì hạp cho bịnh nhơn rồi! Lương tâm nhà nghề bắt buộc ông cho toa trị bịnh bằng yêu đương, không khí gia đình, sự tín cẩn và sự tận tâm của một người đàn bà. Nhưng ông không có các thứ thuốc nầy, mà bịnh nhơn thì chỉ cần có thế, y không thể lành mạnh nếu không có nó. Cặp mắt bác sĩ dừng lại một nữ khán hộ đứng gần ông, tay đang cầm thẻ ghi bịnh trạng. Bác sĩ nói:
—Cô Hilda, cô ở gần đây với mẹ cô phải chăng?
—Thưa bác sĩ, cách nhà thương vài bước, với mẹ tôi.
Hilda ngó bác sĩ với sự tin cẩn, phục tùng của một người lính đang chờ lịnh của sĩ quan mình.
Bác sĩ mỉm cười. Ông đã tìm được phương thuốc hay, ông nói:
—Tôi giao Moritz cho cô. Cô nên coi anh như một người chồng. Trong một tháng, cô dẫn anh lại cho tôi, hoàn toàn lành mạnh. Tôi muốn thấy anh bình phục trước khi trả về đơn vị của anh. Anh cần có một người đàn bà, vừa là người yêu, người chị, và người mẹ!
—Thưa bác sĩ, tôi đã hiểu.
Hilda được hai mươi tuổi, có đôi má hồng, tròn trịa. Nàng hơi lùn và mập mạp.
Bác sĩ ngó nàng bằng lòng. Ông thấy nàng có cử chỉ yêu dương cần thiết cho Moritz. Nhìn tóc nàng, ông nói thầm: “Tóc hoe hoe nầy êm dịu người bịnh, khi thấy nó. Tóc nâu nâu không hợp mấy!” Ông lại nói với Hilda:
—Cô được nghỉ mười bốn ngày trong dịp nầy. Cô chỉ lo cho Moritz mà thôi. Mỗi ngày cô cứ xuống nhà bếp bịnh viện lấy khẩu phần thường bữa. Nhưng cô nên nấu ăn thêm ở nhà. Anh ấy cần có món ăn riêng tự tay người yêu mến nấu, hơn là bữa ăn lãnh ở trong nồi nấu chung.
Hilda đáp:
—Thưa bác sĩ tôi hiểu!
Nàng tự hào về sứ mạng của nàng. Rồi đây các bạn đồng nghiệp sẽ ganh tỵ với nàng. Bác sĩ hỏi:
—Cô có phòng ngủ riêng chứ?
Hilda đỏ mặt trả lời:
—Thưa có!
Bác sĩ lại hỏi thêm:
—Tôi tưởng người thanh niên nầy chắc vừa ý cô?
Rồi không đợi trả lời, ông bảo:
—Cô làm giấy ra nhà thương cho Moritz, giấy phép nghỉ cho hai người, và một giấy lãnh phần ăn trong 30 ngày cho hai người, với phần phụ thêm, loại A.
—Tuân lịnh! Hilda vừa nói vừa mở cửa.
Bác sĩ dừng lại trên thềm, ngó Moritz và nói hấp tấp:
—Thôi chào anh, mau mạnh trở lại đây!
————————————————————
Moritz ngồi lâu nơi cửa sổ, ngó ra sân nhà thương. Tuyết rơi. Xa xa anh thấy dạng hàng rào dây kẽm gai. Thình lình, hai bàn tay giá lạnh bịt mắt anh. Xây lại, thấy Hilda. Anh đã quên tất cả, luôn những nời của bác sĩ nữa. Hilda nói:
—Mặc đồ lính vô và lại đằng “kết” lãnh lương đi anh! Tôi có giấy phép ra nhà thương của anh rồi, và giấy anh nghỉ phép nữa. Giấy nghỉ phép của tôi cũng ký rồi.
Hilda nói rất mau. Nàng phụ mắc đồ cho Moritz, luồn tay dưới áo lạnh để sửa cho nó thẳng thớm. Moritz nhận thấy bàn tay của Hilda trên ngực mình và có cảm giác như một bàn tay thân yêu quen biết từ lâu. Nàng mặc áo cho Moritz như đã từng làm chuyện nầy cho chồng hay cho con.
Trước kia Hilda rất lạnh lùng và xa lạ đối với Moritz. Nàng đem thuốc men, lấy thủy, rồi đi liền. Bây giờ, bỗng dưng nàng thân thiện và thân mật. Thân mật hơn cả Suzanna và Iulisca.
Moritz thấy Hilda đã cảm anh. Cảm anh thình lình, vì lịnh của bác sĩ. Nàng yêu anh. Nàng giữ lời hứa với bác sĩ. Bàn tay chạm vào da ngực của Moritz, sửa lại áo lạnh, hay cài nút áo của anh là một bàn tay của người đàn bà yêu đương. Đúng như lời bác sĩ đã dặn.
Hilda nói:
—Bác sĩ cho phép chúng ta lấy một cái giường lớn của nhà thương. Giường lớn sơn trắng trong phòng mổ, với hai cái mền len. Giường của em nhỏ quá không đủ cho hai người.
Nghĩ tới giường, nàng lại nói:
—Bác sĩ bảo em đừng làm anh mệt. Đó là lẽ tự nhiên, anh còn đau nặng. Nhưng chừng một tuần lễ ă uống bổ dưỡng và nghĩ khỏe, thì tất cả sẽ thay đổi.
Moritz hỏi:
—Cái gì sẽ thay đổi?
Hilda ôm anh hôn, đáp:
—Rồi anh sẽ biết.
Moritz lãnh lương. Anh không sung sướng. Anh chỉ tuân lịnh. Không phải lịnh đi làm ở phòng tuyến, ở xưởng nút áo hay đi gác trại giam. Anh được lịnh đi với Hilda, ăn ở với nàng, và phải mạnh về thể chất với tinh thần, trong vòng một tháng. Đó là một lịnh có lợi cho anh, song là một cái lịnh. Mà hễ là lịnh thì anh không làm sao sung sướng được.
——————————————————–
Sau một tuần ở với Moritz, Hilda nói:
—Anh biết không, nếu ta làm đám cưới thì em có thêm mười bốn ngày nghỉ nữa.
Moritz âu yếm ngó nàng, Nàng lại nhắc:
—Hôm qua anh có nói, ta sẽ cưới nhau.
Moritz nhớ hôm qua có uống rượu với Hilda và mẹ nàng đến 5 chai. Anh đáp:
—Phải!
—Vậy sao ta không thi hành? Nếu làm giấy thì em lại được nghỉ thêm và anh cũng vậy. Hai ta sẽ được một căn nhà; bàn ghế trang trí và một giải thưởng hai ngàn đồng “mark” (tiền Đức). Anh chỉ ngủ ở đồn khi đi gác thôi. Em có nói với mẹ, và điều hay nhứt, theo em nghĩ, là ta cưới nhau liền.
Moritz làm thinh. Hilda tưởng anh không muốn lúc nghỉ phép mà phải đi lo giấy tờ, liền nói:
—Anh không cần đi đâu hết. Anh cứ ở nhà nghỉ như bây giờ. Em sẽ lo tất cả cho, lo đi đến Phòng Hộ tịch, Phòng Cư Xá, Phòng Cấp lương thực, Phòng Lao động, và Cảnh Sát cuộc, nói tắt, là chạy lo khắp nơi nào cần thiết cho anh. Cần nhứt là không để cho anh mệt!
Moritz bằng lòng. Hilda nói có lý. Nếu làm đám cưới thì chỉ toàn có lợi.
Thế là họ cưới nhau. Họ được một căn nhà có ba phòng, chỗ tắm và nhà bếp. Họ được lãnh hai ngàn đồng “mark” tiền thưởng, phiếu cấp giường nệm, quần áo, bàn ghế, chén dĩa, củi than, rượu, thịt để đãi tiệc cưới, một máy radio và nhiều thứ khác nữa.
Hilda vừa phụ mặc sắc phục cho Moritz sửa soạn đi đến đồn, vừa nói:
—Ta dại khờ lắm mới không làm đám cưới, vì được bao nhiêu là lợi. Có phải anh ngủ ở nhà hơn ở đồn không?
—Phải!
Hilda hớn hở nói tiếp:
—Rồi trong hai tháng em khai có thai, em được nghỉ phép thêm, và anh có thể ăn tại nhà. Chúng ta có thêm phần ăn. Đàn bà có thai được ba phiếu lương thực. Anh sẽ được ăn uống đầy đủ. Em muốn thấy anh mập lắm!
Moritz cười, nói:
—Em Hilda thật là một người đàn bà tốt bụng!
————————————————————–
Đồn hiến binh làng Fantana tiếp được một thông cáo, gởi đến làm hai bản, để công bố cho dân chúng xem. Viên quản đồn Dobresco đọc:
” Tên Do thái Moritz Ion, tự Iohann, tự Jacob, tự Iankel bị truy nã khắp nơi trong xứ. Hắn vượt trại giam. Ai chứa chấp, hay biết hắn ở đâu mà không khai báo với nhà chức trách sẽ bị tù”
Ở góc bên phải tờ rao có ảnh của Moritz, chụp bề nghiêng và bề mặt.
Viên quản nhìn tấm ảnh và nói thầm: “Vậy ra tên nầy là Do thái thật à?” Y cho gọi một tên lính, và bảo:
—Lấy cây súng đi bắt cha mẹ tên Do thái nầy tức khắc đem về đây, dán tờ thông cáo tại vách ngoài. Dán cho chắc đừng để gió thổi bay mất.”
Tuyết rơi tại làng Fantana. Viên quản ngó ra ngoài của sổ, thấy mục sư Koruga, hai vai đã khòm, ôm cặp da, đi trên đường, trước đồn.
Một lát tên đội về, nói:
—Tôi bắt bà mẹ thôi. Ông cha đau.
Viên quản giận dữ. Y muốn hỏi cung hai vợ chồng một lượt. Tên đội nói:
—Nếu ông muốn thì tôi đi lôi hắn đi. Hắn không đứng được. Tôi có dở mền thấy mình ông ta phù như cái hũ da bò.
Viên quản suy nghĩ một hồi, bỏ ý định hỏi cung cha của Moritz. Y cho kêu dẫn bà mẹ Moritz đang đứng chờ trước cửa. Aristitza vô phòng, hằm hằm hỏi:
—Tại sao ông sai lính bồng súng tới bắt tôi như một tội sát nhơn? Bộ ông không còn gian phi nào bắt nữa sao mà đi bắt người lương thiện vậy? Hay là tôi đã phạm tội sát nhơn.
Bà nổi giận lôi đình. Lúc người lính vô nhà bắt bà dẫn đi, bà định sẽ tới móc mắt viên quản đồn.
—Bà không có tội, nhưng con bà bị tập nã.
Aristitza ngó tờ rao của viên quản đưa ra, thấy hình con bà, bà khóc ào:
—Sao mà nó ốm như thế nầy?
Khi mà Moritz ốm thì chắc bị đánh đập nhiều. Không có gì làm bà quan tâm hơn nữa.
Viên quản nó:
—Bà đọc đi.
Bà lau nước mắt, nói:
—Thôi, ích gì nữa! Chỉ thấy ảnh nó là tôi biết nó đói khát, mình đầy chí rận, và bị đánh đập giam cầm rồi. Ông còn muốn tôi đọc gì nữa? Bấy nhiêu đủ rồi!
Viên quản đọc tờ rao lớn lên. Vừa nghe câu đầu, bà chặn lại liền:
—Đọc lại coi! Chắc tại tôi không hiểu rõ! Ônh nói Tên Do thái Moritz Ion hả? Nếu ông đọc trúng, thì người đó không phải con tôi. Tôi không bao giờ có con Do thái.
Viên quản đưa hình cho bà xem. Bà lại mủi lòng một lần nữa khi thấy con ốm tong teo. Viên quản hỏi:
—Phải nó không?
—Chính nó, tội nghiệp con tôi! Cầu nguyện Chúa đừng tha thứ tội lỗi những kẽ đã giam cầm nó!
—Vậy bà nhìn ra nó à? Tại sao bà lại còn nói chắc rằng nó không phải Do thái? Đừng làm mất thì giờ, bà nên lắng nghe tôi đọc. Lời của bà khai không chút giá trị nào, vì bà là tư nhân. Tôi chỉ tin những gì chánh thức công nhận. Giấy tờ nầy là công văn của chánh quyền gởi đến. Vậy nó là bất khả xâm phạm và nó quả quyết con bà là Do thái.
—Nếu ông còn dám nói một lần nữa rằng con tôi là Do thái, tôi móc mắt ông cho ông coi! Ông muốn chọc giận tôi hả? Tội nghiệp thằng nhỏ. Hồi ra đi, nó trẻ, đẹp, dũng mạnh như cây tùng, mà bây giờ nó chỉ còn xương với da!
—Đừng thóa mạ nhà cầm quyền! Nếu không, tôi sẽ lập biên bản tức thì về tội xúc phạm nhân viên công quyền!
—Thằng Ion, tôi có nó với cha nó, chớ không phải với nhà cầm quyền. Tôi mang nặng nó trong bụng, cho nó bú sữa tôi, chớ không phải nhà cầm quyền. Và tôi biết rõ nó không phải Do thái!
—Theo nguyên văn trong giấy tờ nầy, Bộ Nội vụ quả quyết nó là Do thái.
—Vậy Bộ Nội vụ có gan lại đây nói với tôi đi! Tôi thách đấy! Tôi sẽ khạc vào mặt nó nếu nó quả quyết biết hơn tôi, đứa con tôi mang trong bụng tôi.
—Nếu bà là dân Roumain, thì chồng bà là Do thái. Một trong hai người. Đây là công văn chánh thức. Hay là hai vợ chồng cũng chưa biết.
—Bộ ông say rượu sao chứ? Tôi mà không biết tôi thờ ai và quỳ gối trước Chúa nào à?
—Không phải thờ đạo nào? Có thể người Do thái có đạo Thiên chúa. Đây là nói về máu huyết.
—Máu của tôi và của chồng tôi đều là máu có đạo. Tụi nào bắt giam con tôi và hành hạ nó khổ sở trong ngục mới là bọn tà giáo thôi!
Viên quản hỏi châm biếm:
—Bà chắc chồng bà có đạo à? Trong bao nhiêu năm ở chung, bà không thấy chi khả nghi sao? Với đàn ông thì dễ thấy chứng tích hơn đàn bà. Hay bà chưa biết tường tận?
Bà Aristitza gào thét lên:
— Ông mà dám cho tôi không biết người tôi ngủ chung trong ba mươi lăm năm à? Một con điếm cũng còn biết gã đàn ông nào chung giường với nó nữa, mà ông dám nói tôi ngủ chung với chồng tôi trong ba mươi lăm năm mà không biết tường tận à? Nhà cầm quyền chắc có biết dược rõ hơn tôi, đứa con mà vợ chồng chúng tôi tạo nên chăng? . Ông và nhà cầm quyền mà lại đi hỏi tôi, về đứa con tôi mang trong bụng và cho bú sữa của tôi chớ?
Cặp mắt bà chăm chăm ngó vào bình mực để trên bàn viết. Bà giận dữ, mắt đổ hào quang, thấy đỏ tất cả. Bình mực bà định chụp để vụt trên đầu viên quản cũng đỏ. Vách tường cũng đỏ. Và viên quản cũng đỏ.
Viên quản thấy hướng mắt của bà nhìn nên lật đật kéo bình mực về phía mình.
Vàn tay Aristitza bấu vào vạt váy một cách giận dữ, như bóp cổ nhà cầm quyền mà bà đang nắm chặt. Bình mực mất đi là khí giới chót của bà bị tước.
Bà nghiến răng, hai tay chụp vạt váy lật ngược lên trùm phủ đầu. Váy rộng xèo tung ra như bị bọc gió. Áo sơ mi lót cũng lật lên, đưa trần da thịt nhăn nheo và xám xạm, cặp vú thòng xệ như hai túi rỗng, đen sì. Viên quản thấy trong nháy mắt trọn thân mình trần trụi của bà, cả bề mặt, bề nghiêng và bề lưng. Y nhắm mắt lại. Cửa đóng một cái rầm, vách tường chuyển động, trần nhà rớt vài miếng vôi trắng.
Aristitza chạy ra, tiếng hét của bà còn vọng lại khàn khàn như còi xe, bên tai viên quản đồn:
—Đó, tôi trả lời rồi đó! Mấy ông cứ liếm đi, ông và nhà cầm quyền của ông, kẻ trước người sau!
—————————————————-
Về tới nhà, bà Aristitza cổi khăn choàng vai ra, ngồi bên lò sưởi. Bà để thêm củi vô lò và nhìn ngọn lửa chập chờn, le lói và đỏ au, mà nước mắt tuôn trào theo má. Bà nghĩ thầm: “Ta không nói gì với ông hết. Ông đang đau, đừng làm cho ông lo buồn”.
Bà xây qua, thấy ông nằm ngửa ngủ. Nước mắt giàn giụa, bà dòm ông, và nhớ đến Moritz bị nhà cầm quyền và cảnh binh hành hạ trong các khám đường từ năm năm nay vì họ cho nó là Do thái. Mà nào có phải đâu!
Nếu thật nó là Do thái thì đâu có bị nhốt. Mà Moritz sao dại khờ quá, hay tin lời người ta, hễ họ đánh đau để cho nó nhận là Do thái, thì nó thú nhận liền. Rồi nhà cầm quyền tin thiệt như thế.
Bà ngồi như vậy, hai tay ôm đầu khóc. Bà không giấu nổi nữa, tính phải nói với ông rằng có hình ảnh Moritz in trên báo cáo xanh dán ở cửa đồn hiến binh, giống như mấy tờ tuyên ngôn ứng cử. “Nhưng ta không nói nó ốm như chó đói mà ông phải đau lòng. Tuy nhiên, phải thuật lại cho ổng nghe lời viên quản nói nó là Do thái mới được.” Bà kêu:
—Ông à! Dậy đi! Nếu ông ngủ suốt ngày thì ban đêm ông nghỉ không được ạ!
Ông già không ứng tiếng. Thường thường ai kêu thức dậy, ông cũng không đáp. Nhưng hôm nay, ông không ngủ, hai mắt mở to và chắc có nghe hỏi, song ông làm biếng không buồn trả lời. Bà nói:
—Ông à! Viên quản nói với tôi rằng ông là Do thái. Ông nghĩ coi nó cả gan không? Nhưng tôi đã trả lời xứng đáng rồi.
Bà thấy đường như ông mỉm cười. Hai ông bà thường hay cãi nhau nhiều, trong ba mươi lăm năm sống chung, nhưng bà thương ông chí thiết. Bà rầy ông vì quá hiền từ và tốt bụng, ai cũng gạt ông được, nhưng bà yêu ông lắm. Aristitza yêu chồng hết tình, yêu trọn cả tâm hồn.
—Ông à! Nếu mai ông không mạnh thì tôi ra tỉnh rước bác sĩ. Tôi sẽ bán con heo trả tiền thuốc cho ông. Chừng nào ông mạnh, mua lại con khác. Phần ông phải lo chữa cho mạnh mới được.
Ông già vẫn không trả lời.
—Ông à! Mở mắt ra xem nè! Tôi cho ông điếu thuốc tôi giấu để dành cho ông đây!
Bà đứng dậy, vói lấy điếu thuốc cất trên sà nhà.
—” Ông có hộp quẹt chớ? Vừa nói, bà cầm điếu thuốc đi lại gần ông. Bà muốn để điếu thuốc tận nơi miệng ông, như có vài lần, hồi mới cưới. Bà biết ông không mở mắt ra, nhưng sẽ nhách môi khi nghe đưa điếu thuốc kề tới miệng.
Nhưng hôm nay, đôi môi sưng vù của ông không nhấp máy. Và dẫu bà đưa điếu thuốc đến tận môi, ông cũng vẫn im lìm. Bà hỏi:
—Sao vậy ông?
Bà nắm vai ông, lắc mạnh. Qua làn áo sơ mi, bà nhận thấy da thịt ông lạnh ngắt. Bà rờ trán, trán cũng lạnh. Ông già đã chết.
Bà Aristitza kêu gào lên. Bà muốn chạy ra khỏi phòng. Nhưng bà dừng lại, ở gần với người chết. Dùng diêm quẹt đốt thuốc, bà đốt đèn cầy để chong đầu giường ông nằm. Rôi bà khóc to lên, vì bà biết không còn ai nghe bà nữa…
——————————————————–
Bà khóc ngất đi. Tiếng bà đã khan. Bà than thở, bà khóc thầm bên xác chết, bà không nói năng, không cử động, khóc trong lòng, nhưng nỗi thống khổ vẫn tràn ngập không kém.
Tâm trí bà rồi cũng mệt. Bà nín khóc. Lúc đó, bà chỉ thấy trơ trọi, một thân một bóng. Lúc khóc than, bà tưởng có ai bên cạnh. Bà muốn khóc nữa, nhưng không còn sức. Bà đứng dậy, đốt lửa thêm.
Như thường bữa, bà bắc nước lên bếp, nấu ăn. Bà kéo màn cửa sổ, xong đâu đấy, bà lại càng thấy quạnh hiu cô độc. Bà chóng mặt, mệt mỏi. Bà nhìn mặt ông, bà không sợ người chết. Đêm nay, bà phải ngủ trong phòng một mình bên cạnh xác chết. Còn ba đêm nữa, đến ngày chôn, bà cũng phải ở trong nhà đơn độc một mình với tử thi.
Bà nhớ đến lời viên quản: “Hay chồng bà là Do thái!”
Bà đứng giữa nhà, khoanh tay, không biết phải làm gì.
Nước sôi, nhưng bà không đói. Giường sẵn, bà có thể nằm, nhưng bà không buồn ngủ. Bà phải làm cái gì mới được. Đầu óc, thân xác bà xúc động, thảm khổ, não nề. Bà không thể ngồi yên được. Bà phải cử động cho khuây khỏa. Lại thêm cảnh tĩnh mịch vắng vẻ! Bà kéo màn cửa sổ một lần nữa, và đi lại gần chỗ ông nằm, bà tưởng như viên quản đứng kế bên bà và nói vào tai: “Hay là chồng bà Do thái”
Bà ngó ông, rồi dở mền ra. Mình ông phù lên. Nhìn áo sơ mi và quần cụt vải gai đã bao lần tự tay bà giặt ủi, bà mở dây nịt và tuột quần khỏi đầu gối. Da người chết đã tím bầm. Bà nói to: “Tại sao ta lại mắc cỡ? Chồng ta mà!”
Bà nhớ lúc hai vợ chồng còn son trẻ, mà bây giờ thì mình mẩy ông đã tím bầm.
Câu “Hay là chồng bà Do thái!” văng vẳng bên tai bà. Bà đưa tay rờ ngay chỗ của ông, thấy lạnh ngắt và tím bầm, như mí mắt, cái mũi, đôi môi. Bà giựt mình kéo quần lên và đắp mền lại. Bà đứng dậy run run làm dấu thánh giá: “Lạy Chúa! Đội ơn Chúa cho con ngừng lại đúng lúc.” Bà lại làm dấu chữ thập lần nữa và nói. “Nếu tôi coi thấy thì tôi sẽ bị lửa địa ngục thiêu đốt. Đó làm một trọng tội. Nhưng tôi không coi, không thấy gì hết. Tôi không muốn biết ông có phải Do thái hay không. Tôi không muốn!”
Bà ngó xác ông, khóc và van vái: “Ông thứ lỗi cho tôi. Tôi thề không thấy gì hết và cũng không muốn thấy. Ông biết tôi chẳng khi nào phạm tội nặng nề như thế đâu. Ông hiểu tôi nhiều mà! Viên quản và nhà cầm quyền nhồi sọ tôi, cho chúng nó vô lửa Địa ngục cả hai đi!”
—————————————————————
Binh nhì Moritz dẫn 5 tội nhân đi trên đường trong thành phố. Trời vừa bảy giờ sáng. Đi ngang nhà Hilda bồng thằng Franz, con anh, ra cửa sổ, đưa tay chỉ anh chào. Moritz nghe Hilda nói:
—Con biết không, ba con đó. Ba có cái nón sắt và cây súng đó!
Thằng Franz mới có ba tháng, nó chẳng làm sao biết Moritz có súng và dẫn tù, nhưng Hilda mỗi ngày chỉ cho nó cảnh nầy để nó được hãnh diện về ba nó, cũng như nàng tự phụ cho nàng.
Dọc đường Moritz cứ nghĩ đến con và Hilda.
Ra khỏi thành phố, bọn tù băng qua một cánh đồng. Moritz lặng lẽ đi theo sau, súng vác vai. Tới dưới cầu, họ ngừng lại, vì đó là chỗ làm. Dòng sông cạn khô. Đến bờ sông, bọn tù quay lại ngó Moritz và cười vang. Ở đây không ai thấy họ.
Joseph thân mật bắt tay Moritz và hỏi:
—Salve Sclave! anh ngủ ngon không?
Moritz cũng đáp lại:
—“Salve Sclave!” và bắt tay mọi người. Anh để cây súng dựa tảng đá, mở áo choàng lấy ra một ổ bánh mì và năm gói thuốc hút.
Đưa thuốc cho Joseph, anh nói:
—Tôi còn thiếu anh mươi lăm “mark”. Tôi chưa mua được xà bông. Mai tôi đem lại.
Rồi lấy trong túi dết mang bên mình, một ổ bánh mì, anh trao cho Joseph. Bọn tù ngồi hút thuốc. Moritz cũng hút. Mỗi buổi sáng, từ ngày đi làm cầu nầy tới nay, họ đều nghỉ được nửa giờ, cười giỡn với Moritz, rồi mới làm việc tới trưa. Đó là giờ sung sướng nhứt của tù và của Moritz. Anh trao cho họ mấy thơ nhận được từ bên Pháp gởi đến cho họ, theo địa chỉ anh; anh mua giùm họ thuốc hút, bánh mì cùng các vật cần dùng khác. Họ bắt tay làm việc, Moritz cũng tiếp, song một cách kín đáo, để khỏi bị ngó thấy, làm mà vui thích. Bọn tù không muốn cho anh làm, nhưng anh thương hại họ, vì họ đều là trí thức, không biết cầm cuốc, xuổng như thế nào. Moritz phải chỉ cho họ, vì anh làm đã quen. Joseph nói:
Anh Jean à! Bữa nay tôi có chuyện bàn với anh.
Mấy người tù kia đều đứng dậy đi làm. Tiếng cuốc, xuổng đập đều đều trên đá. Còn một mình Moritz với Joseph. Anh tù Pháp nói:
—Chúng tôi sẽ trốn. Không phải bữa nay mà một ngày khác. Tất cả năm đứa tôi sẽ trốn.
Moritz ngó Joseph, tưởng anh nói chơi. Nhưng Joseph nói thiệt, Moritz hỏi:
—Tôi không có làm lỗi gì với anh và mấy người kia sao mà các anh vượt ngục? Mấy anh muốn tôi ở tù rục xương mãn đời hả?
Anh giận xanh mặt nói tiếp:
—Anh biết rằng tôi không lòng dạ nào bắn khi các anh trốn. Tôi không thể bắn các anh được. Và nếu tôi không bắn thì tôi bị tù. Song tôi tin chắc là anh nói chơi thôi.
Joseph nói:
—Không, tôi không nói chơi đâu. Chúng tôi sẽ vượt ngục, anh cũng không bị bắt.
Moritz không thèm nghe, nói:
—Tôi xin đổi chỗ khác. Ngày mai tôi không đi với anh, vì các anh muốn trốn. Tôi, thì không muốn bắn các anh, cũng không muốn bị tù rạc. Tôi chưa bao giờ bắn ai, thế mà tôi còn bị ở bao nhiêu năm tù rồi. Kể từ ngày mai, tôi không đi với các anh. Chừng không có tôi, các anh muốn trốn tùy ý.
Joseph nói:
—Tại sao anh không chịu nghe tôi nói chyện chúng tôi sắp đặt. Anh cũng sẽ trốn với chúng tôi.
—Tôi không có lý do gì để trốn hết! Tôi có vợ, có con. Tôi không bị giam cầm. Nếu tôi bị ở tù, chừng đó có thể tôi sẽ trốn.
—Nhưng anh cũng bị giam, anh Jean à! Anh chỉ là một nô lệ có súng trên vai, còn chúng tôi là nô lệ không súng thôi. Ngoài ra, chúng ta đồng cảnh ngộ như nhau, nên anh phải trốn với chúng tôi.
Moritz giận đỏ mặt, đốt diếu thuốc, và nói:
—Mai tôi không đến dẫn các anh nữa.
—Nhưng chúng tôi chỉ làm lợi cho anh mà! Anh biết chiến tranh sắp chấm dứt chớ. Đồng minh đang tiến. Nếu họ gặp anh mặc quân phục S.S thì anh biết số phận anh ra sao rồi. Anh sẽ bị mười hoặc hai mười năm tù.
—Anh đừng nói bậy! Nếu Đồng Minh tới thì họ không có lý do gì để giam tôi. Tôi có làm hại ai đâu? Đài phát thanh cũng có nói Đồng Minh là người công bình biết phải kia mà!
—Nhưng anh là kẻ nghịch. Anh là người thù của nước Pháp, của quê hương tôi, và của các nước Đông Minh!
Moritz nổi giận hỏi:
—” Tôi là kẻ thù của nước Pháp à? Bởi vì tôi là kẻ thù của nước Pháp, nên tôi mua bánh mì, thuốc hút và các món mấy anh cần dùng hay sao?” Moritz quăng điếu thuốc, nói:
—Tôi không dè các anh coi tôi là kẻ nghịch, tôi lại tưởng tôi là bạn của anh chứ!
—Anh là bạn của người Đức, anh chiến đấu cho họ, anh là lính của Hitler. Anh không thể quên điều đó.
—Khi tôi có chai “bia”, tôi uống với lính Đức hay với các anh? Tôi uống ở trong trại hay dưới cầu nầy?
Moritz giận dữ hỏi tiếp:
—Anh Joseph à, tôi có thuốc thì tôi hút với ai? Với ai tôi thuật chuyện tâm tình, và những gì mang nặng trong lòng tôi? Với họ hay với anh? Không khi nào tôi nói chuyện với lính Đức ở trại, mà chỉ nói với anh thôi, vì tôi là bạn anh. Bây giờ anh cho tôi là kẻ thù với anh, và là bạn của dân Đức. Anh có thấy tôi nói chuyện với họ như bạn bè không? Chỉ với anh, anh là bạn của tôi mà thôi.
Bàn tay Moritz run run đưa điếu thuốc lên miệng. Moritz nói tiếp:
—Anh nói nếu Đông Minh tới, thì họ giam tôi trong hai mươi năm. Và biết đâu chính lại là đội quân Pháp sẽ bỏ tù tôi phải không?
Joseph đáp:
—Phải, nếu đội binh Pháp đến.
—Nếu vậy, thì tất cả công lý đều mất hết trên mặt đất nầy. Và lúc ấy, họ có bắn tôi, tôi cũng không ân hận. Sống làm chi nữa, nếu hết còn công lý, nếu các anh đều cho tôi là kẻ thù. Ngày mai tôi không đến đây, các anh muốn vượt ngục tùy ý. Tôi không dự. Tôi cũng không bắt các anh. Nếu có thể giúp các anh việc gì mà không hại đến tôi, tôi sẵn lòng. Giúp một tù nhơn vượt ngục là một chuyện nghĩa, nên tôi làm. Nhưng tôi không trốn với các anh, và tôi không muốn suốt đời ngồi tù vì các anh.
Joseph nói:
—Vấn đề không phải như thế anh à! Tôi muốn cứu anh, vậy mới thật là tình bạn chớ. Chúng tôi muốn dẫn anh về Pháp với chúng tôi.
—Tôi còn vợ và con ở đây. Tôi không thể đi với các anh được.
—Trong vài tháng, Đồng Minh tới. Chừng đó, chúng tôi sẽ lo đem vợ con anh qua Pháp sau. Tôi có một nông trại ở ngoại ô Ba Lê. Anh sẽ ở đó. Anh là nông phu, lo trồng trọt làm ăn và sẽ có tiền, rồi mua đất, cất nhà. Nước Pháp đẹp, người Pháp hiền và tốt. Anh ở nước Đức làm gì, khi chiến tranh chấm dứt? Trốn với chúng tôi đi, anh à!
—Không, tôi không trốn!
—Tôi để tiền lại cho vợ anh đủ sống cho tới ngày tôi trở qua dẫn về Pháp. Chúng tôi có để dành cho chị năm ngàn “mark” đây. Chừng vài tháng, chúng tôi trở lại dẫn chị đi. Nước Pháp hàm ân anh nếu anh cứu năm tù binh Pháp. Anh nghĩ sao?
Moritz không đáp. Anh mãi nghĩ đến nông trại anh sẽ có ở Pháp. Anh ráng tưởng tượng thấy miếng đất anh sẽ mua, cái nhà anh sẽ cất và đời sống của anh với Hilda và thằng Franz. Anh nói thầm: “Mình sẽ có con nữa, mình muốn có một đứa con gái để đặt tên Aristitza như mẹ mình”. Moritz sực thấy đang mỉm cười về tương lai của anh. Anh tiu nghỉu nói:
—Không, tôi không muốn trốn.
—————————————————————-
Hilda chờ Moritz ngoài cửa. Nàng mặc đồ sẵn, muốn đi xem chớp bóng.
Moritz không còn biết anh xem phim gì. Trí anh mắc lo ra. Anh chỉ nhớ đoạn thời sự diễn lại cuộc đánh ở mặt trận: xe tăng nát, nhà cháy, người chết. Có chiếu cả bản đồ, ghi mặt trận gần sát biên giới Đức. Vãn hát, ra về, anh không muốn nói chuyện. trước khi đi ngủ, anh dòm con nằm trong nôi. Lên giường nằm, anh không thể ngủ được, anh hỏi:
—Hilda à! Nếu nước Đức thua thì chúng ta sẽ ra sao?
Hilda đáp:
—Nước Đức không bao giờ thua.
Moritz nhớ tới các cuộc đánh nhau ở mặt trận anh vừa xem, nhớ tới tấm bản đồ, tới Joseph và con nằm trong nôi, rồi nói:
—Hilda ơi, anh biết nước Đức sẽ thua. Làm sao bây giờ? Phần anh, thì sẽ bị tù. Rồi em và con sống ra sao!.
—Ta thắng hay ta chết tới người cuối cùng. Không một dân Đức nào chịu sống trong một nước Đức bị chiếm.
—Và nếu ta không chết?
—Ta phải chiến đấu đến chết. Ai còn sống, lúc hết còn hy vọng nữa, cũng phải tự tử.
—Chỉ có đàn ông mới như vậy. Còn đàn bà?
—Đàn bà cũng thế. Em sẽ là người đầu tiên tự tử với con, nếu ta bại trận. Em không sống thêm một ngày nào, sau khi thua giặc. Nhưng nước Đức không bao giờ thất trận, không bao giờ thua. Tại sao anh có ý nghĩ như vậy? Thôi ngủ ngon giấc đi!
Hilda kéo mềm trùm đầu.
Moritz nghĩ tới Hilda và thằng Kranz, thấy vợ con anh chết. Suốt đêm, anh mơ thấy Đồng Minh tiến vào nước Đức và tới trước nhà anh, xe tăng rần rộ. Anh nằm chiêm bao thấy Hilda cầm súng bắn Kranz trong nôi, rồi tự bắn nàng. Moritz la lên, giựt mình thức dậy, mồ hôi ướt dầm. Cửa sổ có ánh sáng. Trời đã rựng đông. Hilda còn ngủ. Moritz nhè nhẹ bước xuống giường, kẻo nàng thức giấc. Anh mặc đồ đi vô trại. Anh không xin đổi chỗ như đã định hôm qua. Mấy tù binh Pháp làm thinh khi thấy anh đến, nhưng họ đều hân hoan. Họ rất lo sợ Moritz không đến dẫn họ đi làm.
Tới dưới cầu, Joseph hỏi Moritz như mọi bữa:
—Salve Sclave! Anh ngủ ngon giấc không?
Moritz nhớ tới điềm chiêm bao hồi hôm mà trong đó anh thấy con bị bắn, vợ tự tử, anh hỏi Joseph:
—Anh thề sẽ đem vợ con tôi qua Pháp khi nước Đức bại trận không?
—Tôi xin thề, khi Đồng Minh vừa tới đây, tôi dẫn vợ con anh đi Ba Lê liền.
Moritz để súng một bên, bèn thuật lại chuyện bàn cãi với Hilda lúc xem chớp bóng về. Anh nói:
—Nếu anh đến trễ, nàng giết con và tự tử rồi thì sao!
Bọn tù Pháp hứa sẽ qua tới, khi đoàn quân Đồng Minh đầu tiên tiến vô. Moritz cảm động, nước mắt giàn giụa. Anh nói:
—Nếu các anh hứa chắc, thì tôi trốn với các anh. Chừng nào đi?
—Ngày mai chúng ta đi làm như thường lệ, nhưng không trở về trại. Anh lập một chiến công vẻ vang với nước Pháp. Nước Pháp sẽ trả ơn anh.
—Tôi không có làm gì cho nước Pháp! Tôi biết rõ Hilda. Nàng luôn luôn giữ lời. Nếu các anh không đến kịp thì nàng sẽ tự sát với đứa con trên tay. Cả hai đều chết. Nàng sắt đá lắm. Anh đừng tưởng tôi trốn vì nước Pháp đâu. Anh học nhiều, đọc nhiều, anh hiểu biết. Còn tôi, tôi không biết nước Pháp là gì. Tôi không có chút gì liên hệ với nước Pháp. Tôi chỉ biết vợ và con tôi đang lâm nguy. Tôi vì chúng nó mà vượt ngục với các anh thôi!

Advertisements
Chuyên mục:Uncategorized
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: