Trang chủ > Công Giáo > Những Cuộc Bầu Giáo Hoàng Thời Cận Đại

Những Cuộc Bầu Giáo Hoàng Thời Cận Đại

Lm. Mt Vũ Khởi Phụng- DCCT

Trong thời điểm lịch sử này, xin ôn lại vài kỷ niệm về mấy cuộc bầu Giáo Hoàng lịch sử cận đại.

Mật Hội tháng 2.1878

4 giờ chiều ngày 8 tháng 2, các vị Hồng Y tiến vào Mật Viện, để tìm người thay thế Đức Chân Phước Giáo Hoàng Pi-ô 9 vừa qua đời. Bầu khí nặng trĩu lo âu. Giáo Hội đang thất thế một cách thảm hại ở khắp mọi nơi. Đức Chân Phước Pi- ô 9 là một người rất mực thánh thiện và đáng yêu, hấp dẫn. Có điều Ngài không sao thông cảm được với những diễn tiến đang đưa đẩy thế giới vào thời hiện đại. Cụ thể là ngài không thể chấp nhận được cái mà bây giờ chúng ta gọi là các quyền tự do dân chủ. Những người Công Giáo thành tâm cổ vũ cho xã hội mới bị trấn áp không khoan nhượng.
Uy tín và vầng hào quang của Đức Thánh Cha bao che cho nhiều thành phần thủ cựu nhưng dao to búa lớn làm mưa làm gió trong Giáo Hội. Người ta có cảm tưởng Giáo Hội đang dốc hết lực tàn để níu kéo một thế giới cũ đã có lúc tốt đẹp nhưng đang tàn lụi dần. Giáo Hội bị đẩy ra ngoài lề của tiến hoá, tụt hậu về mặt tư tưởng, và liên tiếp thất bại về chính trị. Toà Thánh xưa kia là một quốc gia mà lãnh thổ bao trùm miền trung Italia, thì năm 1870 đã bị mất nước do cuộc đấu tranh thống nhất nước Ý. Roma đổi chủ. Đức Thánh Cha phản đối bằng cách giam mình trong cung cấm. Ngài tự coi mình là “người tù trong điện Vatican”. Các nước Công Giáo lớn rơi vào tay các chính quyền chống đạo. Các diễn biến sôi sục trong mọi lãnh vực chính trị, tư tưởng, xã hội, kinh tế, văn học nghệ thuật, khoa học đều làm lộ rõ những dấu hiệu cho thấy Giáo Hội không còn tương lai.
Có nhiều người tiến đoán việc chọn người kế vị Đức Pi-ô 9 sẽ là cuộc bầu Giáo Hoàng lần cuối cùng. Các vị Hồng Y đi vào Mật Nghị cũng gợi lên cho những người chứng kiến về một Giáo Hội hết sức già yếu. Đoàn trưởng Hồng Y Đoàn là ngài Amat được khiêng vào Mật Nghị bằng cáng. Có những vị như các Đức Hồng Y Morichini và Caterini có vẻ sáp tắt thở đến nơi.
Sáng ngày 19 tháng 2, 61 cụ già dự Thánh Lễ cầu ơn Chúa Thánh Thần rồi tiến hành bầu cử. Vòng phiếu đầu: Đức Hồng Y Pecci: 23 phiếu. Đức Hồng Y Franchi: 5 phiếu. Đức Hồng Y Bihio là người phụ tá cho Đức Giáo Hoàng Pi-ô 9 trong việc đề xuất đường lối bảo thủ được 7 phiếu. Còn 27 phiếu khác chia cho nhiều vị. Như vậy là có đến non một nửa các vị Hồng Y ngay từ vòng phiếu đầu đã tỏ ý mong đường lối của Giáo Hội bớt phần tiêu cực, nên thay đổi thái độ coi như lên án trọn gói những đổi thay trong xã hội, bởi hai vị Hồng Y Pecci và Franchi là những người có tư tưởng cởi mở. Nhưng cũng vẫn còn hơn một nửa các vị Hồng Y còn do dự, chưa quyết định sẽ dồn phiếu cho ai.
Chiều hôm đó, trước khi tiến hành bầu phiếu vòng 2, Đức Hồng Y Bilio xin được ngỏ lời với Hồng Y Đoàn. Bằng một giọng đơn sơ mà rất thành khẩn, ngài tuyên bố sẽ không nhận tam tầng vương miện ( tức chiếc mũ Giáo Hoàng ) và xin những ai đã ủng hộ ngài dồn phiếu cho Đức Hồng Y Pecci. Đức Hồng Y Franchi cũng xin những ai đã bỏ phiếu cho ngài hãy dồn phiếu cho Đức Hồng Y Pecci. Sự lên tiếng của hai nhân vật, một vị “siêu bảo thủ”, một vị có khuynh hướng cải cách làm cho tình hình biến chuyển. Số phiếu của Đức Hồng Y Pecci tăng lên 38, chỉ còn thiếu 3 phiếu nữa là đắc cử. Coi như đã thấy rõ kết quả.
Nghe thấy tên mình cứ được các kiểm phiếu viên dồn dập xướng lên, Đức Hồng Y Pecci run bắn người, hai dòng nước mắt tuôn xối xả, ngọn bút đang cầm trong tay rơi xuống đất. Người ngồi bên cạnh là Đức Hồng Y Domet, Tổng Giám Mục Bordeau ( Pháp ) cúi xuống lượm ngọn bút trả lại cho Ngài và bảo: “Can đảm lên ! Đây không phải là việc riêng tư của Ngài, mà là việc Giáo Hội và tương lai thế giới !” Ngài Pecci chỉ đưa mắt nhìn trời.
Đêm hôm ấy, ngài vẫn bồn chồn thảng thốt. Ngài chạy sang phòng một vị Hồng Y: “Tôi phải nói với Thánh Đoàn Hồng Y mới được. Các vị lầm rồi, cứ tưởng tôi uyên bác và sáng suốt: tôi không thông thái cũng chẳng khôn ngoan đâu. Các vị lầm rồi”. Đức Hồng Y kia trả lời: “Ngài không phải là người phán đoán. Chúng tôi mới là người phán đoán đâu là bổn phận của Ngài. Còn về các đức tính của ngài thì đã có Chúa biết. Ngài hãy phó mình cho Chúa”.
Sáng hôm sau, ngày 20.2.1878, Đức Hồng Y Pecci, 67 tuổi, đắc cử với 44 phiều. Ngọn khói trắng bốc lên trên mái Nhà Nguyện Sistina. Dân Roma ồ ạt đổ về Đền Thờ Thánh Phê-rô. Hồng Y Phó Tế công bố đã có Giáo Hoàng mới, ngài Gioacchino Pecci, lấy hiệu là Lê-ô 13. Ngoài nước Ý, không mấy ai biết ngài. Cả dân Roma cũng không biết gì nhiều, vì ngài mới ở Roma chưa lâu. Người ta lại càng háo hức.
Thế rồi Đức Giáo Hoàng mới xuất hiện. Một cụ già cao lớn nhưng chỉ có da bọc xương, và sắc mặt lúc nào cũng xanh xao nhợt nhạt. Tinh thần phát tiết nơi vầng trán thật rộng, miệng rộng môi mỏng thấp thoáng một nụ cười mím chi tinh quái, và đôi mắt thì rừng rực tinh anh.
Một nhà văn Pháp có dự Lễ Đăng Quang của Đức Lê-ô 13, ông de Vogue, hồi tưởng: “Chúng tôi có cảm tưởng như Lễ Đăng Quang của ngài chẳng qua là diễn lại vở kịch về những thời xa xưa đã tan biến… Dự lễ về chúng tôi có cảm tưởng như vừa chứng kiến một ngày tàn. Phán đoán vội vàng thì đúng là bé cái lầm !”
Ông Vogue và những người như ông đã lầm. Vị Giáo Hoàng ốm yếu già cả đó cứ sống dai dẳng mãi, và ở ngôi 25 năm thông minh sáng suốt cho tới phút cuối cùng.
Cho tới những năm gần đây, đó là triều Giáo Hoàng dài thứ ba trong lịch sử Giáo Hội sau Thánh Phê-rô ( 30 – 64 ) và Đức Pi-ô 9 ( 1946 – 1978 ). Nhưng từ năm 2003, Đức Gio-an Phao-lô 2 trở nên vị Giáo Hoàng có thời gian ở ngôi lâu thứ ba, và Đức Lê-ô 13 xuống hàng thứ tư. Tuy nhiền, khi đắc cử, Đức Lê-ô 13 lớn hơn Đức Gio-an Phao-lô 2 chín tuổi, và khi qua đời ở tuổi 93, Ngài cũng thọ hơn Đức Gio-an Phao-lô 2 chín tuổi. Một sai lầm lớn hơn: triều Giáo Hoàng bị coi là ngày tàn của Giáo Hội thật ra đã mở đường đưa Giáo Hội vào thời hiện đại !
Đức Lê-ô 13 trong 25 năm tại vị đã gây dựng một cuộc phục hưng cho Giáo Hội cả về chính trị, xã hội lẫn trí thức. Ngài không lên án trọn gói thời hiện đại, nhưng luôn luôn soi sáng, giải thích rạch ròi những nhân tố tích cực và tiêu cực, chính và tà, của mỗi tình huống. Ngài cho thấy Giáo Hội là men, là muối thế nào cho đời. Chẳng bao lâu người ta nhận ra có một ánh sáng mới, một trí tuệ lỗi lạc đang chiếu toả từ Vatican, khiến cho mọi người phải suy nghĩ.
Từ đó Đức Thánh Cha hướng dẫn người Công Giáo tận dụng những tiềm năng của thời hiện đại để xây dựng Nước Chúa. Cụ thể là về mặt chính trị thì biết chấp nhận quy luật của thể chế dân chủ để đấu tranh cho Nước Chúa. Ngài tháo gỡ được những chính sách thù địch với Giáo Hội ở những nước như Đức, Thụy Sĩ, và ở Châu Mỹ La Tinh. Về mặt xã hội, Đức Thánh Cha tọa ra một cơn chấn động trong ý thức Công Giáo, khi ngài công khai bênh vực công nhân nghèo, công nhận quyền lập nghiệp đoàn thể để tranh đấu cho những quyền lợi chính đáng của công nhân. Từ đó các nghiệp đoàn lấy Đức Tin và Đức Ái làm cảm hứng ra đời, nhiều chiến sĩ xã hội Công Giáo tham gia sinh họat nghị trường lập pháp, nhiều đạo luật xã hội tiến bộ được ban hành. Trong lãnh vực trí thức, Đức Lê-ô 13 đẩy mạnh việc học và nghiên cứu, nâng cao rất nhiều trình độ trí thức trong Giáo Hội, trong các ngành Thánh Kinh thần học, triết học, sử học, kinh tế học, chính trị học. Ngài mở toang Thư Viện Vatican xưa nay thường cửa đóng then cài, cho các nhà nghiên cứu thuộc mọi khuynh hướng được tự do tham khảo các tài liệu vô giá từ mấy ngàn năm còn tàng trữ nơi đây.
Uy tín của Đức Giáo Hoàng và Tòa Thánh tăng lên vượt bậc, vượt qua mọi giới hạn tôn giáo, các đế chế ngoài Công Giáo như Đức, Nga, Anh tỏ thái độ rất trọng thị đối với Giáo Hội Công Giáo. Bằng chứng thấy rõ là sự có mặt của đại diện hầu như hết mọi nước ở Vatican trong những dịp đại khánh của Đức Lê-ô 13. Aûnh hưởng của Tòa Thánh khi đã mất hết đất, mất hết chính quyền lại cao rộng hơn bất cứ lúc nào khác.
Khi Đức Lê-ô 13 qua đời năm 1903, người ta cũng nói về ngài như ngày nay đã nói về Đức Gio-an Phao-lô 2, rằng ngài là một trong những Giáo Hoàng vĩ đại nhất.

Mật Hội tháng 8.1903

Chiều ngày 31.7.1903, 62 vị Hồng Y đi vào Mật Hội tìm người kế vị Đức Lê-ô 13. không còn bầu khí nặng trĩu lo âu như hồi năm 1878. Vấn đề bây giờ là chọn ai để thừa kế ngôi vị Giáo Hoàng đã rực rỡ vinh quang nhờ Đức Lê-ô 13. Đức Hồng Y Mathieu người Pháp, cũng là người tiết lộ nhiều chi tiết ly kỳ về Mật Nghị này, viết: “Chúng ta vừa mất một vị Giáo Hoàng đã nâng uy tín của ngôi vị Giáo Hoàng lên một tầm cao phi thường. Ngài đã thật sự dạy bảo, xây dựng, làm chấn động khắp thế giới, và khi Ngài qua đời, thế giới đã trả ơn bằng sự tôn kính tuyệt vời. Bây giờ chúng tôi có thể làm gì hơn là đưa lên kế vị ngài vị truyền nhân của ngài, một người đã tận tụy phục vụ chí lớn của ngài, đã thi hành đường lối của ngài với trí thông minh và sự hy sinh mà mọi người đều cảm phục ? Chúng tôi sẽ tìm được ai có kinh nghiệm và thánh thiện như vị ấy ?”
Đức Hồng Y Mathieu nói như thế về Đức Hồng Y Rampolla. Vị Quốc Vụ Khanh trong 16 năm liền của Đức Lê-ô 13. Và quả thật, ngài Rampolla là một trong những Quốc Vụ Khanh tài ba, sắc sảo nhất trong lịch sử Tòa Thánh. Ngài lại rất quý tộc, rất uy nghi. Cho nên khi bàn đến việc kế vị Đức Lê-ô 13, dư luận nhắc đến Đức Hồng Y Rampolla trước tiên.
Nói thế không phải ai cũng ủng hộ Đức Hồng Y Rampolla. Chính Đức Hồng Y Mathieu, dù hết lòng cảm phục Đức Lê-ô 13 và vị Quốc Vụ Khanh của ngài, cũng phải nhìn nhận: “Một số vị cử tri tuy không phê phán những định hướng lớn trong chính sách của Đức Lê-ô 13, nhưng các vị nghĩ đừng để cho cùng một người tiếp tục áp dụng chính sách ấy, một triều Giáo Hoàng dài 25 năm rồi thì tất nhiên sẽ cần có sự thay đổi về nhiều mặt, vì thế nào cũng tạo ra những lạm dụng thâm căn cần phải cải tổ, cùng làm nảy sinh nhiều vấn đề mới mà muốn giải quyết phải có người mới”.
Không kể những vấn đề nội bộ của Giáo Hội, trong địa hạt chính trị có những thế lực không ưa Đức Hồng Y Rampolla, đó là liên minh 3 nước Đức, Áo, Ý. Nước Đức và nước Ý có tham vọng đứng ra bảo trợ các vùng truyền giáo của Công Giáo, nhân đó tăng cường thế lực của mình trên trường quốc tế, nhưng họ luôn bị Đức Hồng Y Rampolla cản mũi. Đế chế Áo thì bực bội vì Tòa Thánh có vẻ hỗ trợ cho các thể chế dân chủ, các cuộc đấu tranh cho công trình và thăng tiến xã hội. Hơn nữa, Áo là một đế chế thống trị nhiều dân tộc khác nhau, và khi có mâu thuẫn, Tòa Thánh thường bênh vực các dân tộc bị trị.
Đối với chính phủ các nước lớn ở Châu Aâu lúc đó, Đức Hồng Y Rampolla chỉ được lòng chính phủ Pháp vì những định hướng của Đức Lê-ô 13 đã làm cho người Công Giáo Pháp thôi bám víu một cách vô vọng vào giấc mơ phục hồi nền dân chủ mà cực lực chống phá chế độ Cộng Hòa. Tất cả những điều làm cho người này hài lòng người khác bất mãn đó đều là kết quả từ chính sách của Đức Lê-ô 13 để đưa người Công Giáo vào thế giới hiện đại. Thế mới biết có những điều tưởng như bình thường nhưng thật ra khi bắt đầu gây dựng thì gian nan vô cùng. Biết bao nhiêu tình huống éo le, trái khuáy đã xảy ra trong thời Đức Lê-ô 13, đưa Giáo Hội vào khúc quanh lịch sử.
Dù thế nào chăng nữa, tình hình bên trong cũng như bên ngoài Giáo Hội như thế, Đức Hồng Y Rampolla dẫu được coi là người sáng giá nhất trong Hồng Y Đoàn, vẫn khó đạt được đa số 2/3 phiếu bầu để đắc cử.
7 giờ 30 sáng ngày 1.8.1903, các vị Hồng Y cử hành Thánh Lễ cầu ơn Chúa Thánh Thần. 9 giờ 30: Vòng phiếu đầu tiên. Ngoài quảng trường Thánh Phê-rô, 15.000 người tụ họp chờ kết quả. Xế trưa, đại sứ Pháp bên cạnh Vatican, ông de Navenne, nói với một nhà báo: “Nếu hôm nay có Giáo Hoàng, thì chắc chắn là Đức Hồng Y Rampolla”. Ông de Navenne vừa nói xong thì khói xám xịt bốc lên trên nóc Nhà Nguyện Sistina.
Đức Hồng Y Rampolla vừa được 24 phiếu. Về nhì là Đức Hồng Y Gotti, Tu Sĩ Dòng Cát Minh người Đức, đang làm bộ trưởng Bộ Truyền Giáo. Ngài là người đạo cao đức trọng, khéo léo, vô tư, người ta gọi ngài là “Đức Hồng Y cẩm thạch, vì ngài mát lạnh như cẩm thạch, bóng bẩy như cẩm thạch, và vững như cẩm thạch”. Là người Đức, ngài rất thân tình với hoàng đế nước Đức, và dĩ nhiên người Pháp rất kỵ ngài. Vị xếp thứ ba là Đức Hồng Y Sarto, Thượng Phụï Venezza, 5 phiếu. Còn lại 16 phiếu rải rác cho chín vị khác.
Như vậy Đức Hồng Y Rampolla còn xa mới đạt được túc số 2/3, nhưng ngài vẫn là người nhiều phiếu nhất.
Vòng phiếu buổi chiều, Đức Hồng Y Rampolla được thêm 5 phiếu nữa, Đức Hồng Y Gotti mất đi một phiếu, nhưng phiếu của Thượng Phụ Venezza, Đức Hồng Y Sarto tăng gấp đôi, ngài được 10 phiếu.
Đó là vì sau vòng phiếu thứ nhất, nhiều Hồng Y đã nhận ra có thể Rampolla không đạt được túc số nhưng nếu khoảng từ 25 đến 30 vị đã bầu cho ngài quyết tâm ủng hộ ngài cho tới cùng, thì cũng không còn vị nào có thể có đủ được túc số 2/3. Như thế Mật Nghị sẽ kéo dài không biết đến bao giờ mới xong. Những người không ủng hộ ngài Rampolla thì hoặc là muốn cải tổ guồng máy Trung Ương của Giáo Hội đã quá lâu ở dưới quyền của một người, hoặc là có những trăn trở do tình hình chính trị. Muốn có một ứng cử viên hội đủ phiếu, từ trước tới nay ít vướng víu những chuyện rắc rối ở Trung Ương Roma hay trong lãnh vực chính trị. Một số vị bắt đầu để ý đến nhân vật về thứ ba trong vòng phiếu đầu: Đức Hồng Y Sarto xưa nay chẳng can dự gì lắm vào công việc quản trị ở Trung Ương Giáo Hội, lại càng chẳng dính líu gì đến chính trị. Ngài chỉ nổi tiếng về lòng bác ái tuyệt vời.
Sáng ngày 2 tháng 8, chuyện bất ngờ xảy ra. Đức Hồng Y Puzina, Tổng Giám Mục Cracow – ( Cracow là Tòa Tổng Giám Mục của ngài Wojtyla – Đức Gio-an Phao-lô 2 sau này, khi ấy Ba Lan đang bị xâu xé, và Cracow thuộc lãnh thổ đế chế Aùo ) – Đức Hồng Y Puzina bằng một giọng run run xin thông báo chính thức để kính tường thánh Đoàn Hồng Y: “Nhân danh và do ủy quyền của hoàng đế Aùo quốc Franz-Joseph rằng Đức Hoàng Đế có ý sử dụng đặc quyền cổ truyền do luật định để phủ quyết việc bầu cử Đức Hồng Y Mariano Rampolla”.
Một khối nước lạnh vừa dội lên Mật Hội. Khi xưa còn những nước Châu Âu toàn tòng, Công Giáo là quốc giáo, và Tòa Thánh là một quốc gia giữa các quốc gia Châu Âu, pháp chế đã dành cho nhà vua các nước quyền phủ quyết trong các cuộc bầu Giáo Hoàng, để tránh những mâu thuẫn quá lớn làm tổn hại hòa khí. Cứ tưởng sau bao nhiêu biến đổi ở Châu Âu, quyền phủ quyết ấy đã lỗi thời. Ai ngờ nước Áo chọn đúng lúc này để sử dụng cái quyền ấy.
Toàn thể Hồng Y Đoàn sững sờ. Ngày lập tức, nạn nhân của vụ phủ quyết, Đức Hồng Y Rampolla đứng lên với tất cả phong độ của ngài và tuyên bố: “Tôi cực lực phản đối thế quyền đã xúc phạm phẩm giá của Thánh Đoàn Hồng Y, và xúc phạm quyền tự do bầu cử của Giáo Hội. Riêng đối với cá nhân tôi, thì chẳng có gì vinh dự đáng mừng hơn là sự việc vừa xảy ra”.
Trừ Đức Hồng Y Puzina vẫn ngồi yên tại chỗ, tất cả các vị Hồng Y đứng bật dậy tỏ ý nhất trí với lời tuyên bố của Đức Hồng Y Rampolla, khắp Nhà Nguyện Sistina vang lên những lời nói gay gắt đối với hành động của hoàng đế nước Áo. Sau đó tiến hành bỏ phiếu. Lời phủ quyết của nước Áo không có tác dụng. Đức Hồng Y Rampolla vẫn giữ nguyên số phiếu cũ: 29 phiếu. Nhưng số phiếu bầu cho Đức Hồng Y Sarto vọt lên ngoạn mục, từ 10 tăng đến 21.
Trên khuôn mặt thường vui tươi thanh thản của ngài Sarto lộ ra vẻ lo âu. Từ khi chuẩn bị Mật Hội, đâu có mấy ai nghĩ đến Đức Hồng Y Sarto. Chính ngài lại càng không nghĩ là mình sẽ có phiếu. Cho nên ngài cứ vô tư nói đùa với các vị khác. Ngài chẳng biết một ngoại ngữ nào, nói chuyện với các Hồng Y ngoài nước, ngài toàn nói tiếng La-tinh. Một Hồng Y Pháp trêu trọc: “Si non loqueris gallicae, non potes esse papa” ( Nếu ngài không biết nói tiếng Pháp thì không làm Giáo Hoàng được đâu ). Hồng Y Sarto mỉm cười rạng rỡ: “Deo gratias” ( Tạ ơn Chúa ). Tôi đã mua vé xe lửa khứ hồi rồi mà”. Đến vòng phiếu thứ nhất, khi được 5 phiếu, ngài lại cười với người bên cạnh: “Volunt jocari super nomen meum”, ( các vị ấy muốn đem tên tôi ra làm trò đùa ).
Nhưng rồi 5 phiếu thành 10 phiếu, và 10 phiếu thành 21 phiếu. Không còn là “trò đùa”, không còn là “jocari” nữa rồi. Đức Hồng Y Sarto bắt đàu phát hoảng.
Gần tối, bỏ phiếu lần nữa. Đức Hồng Y Rampolla lại được thêm 1 phiếu, thành 30 phiếu. Đời cổ chả có vị Hồng Y nào bị một nhà vua phủ quyết mà lại tăng phiếu. Nhưng Đức Hồng Y Sarto cũng tăng từ 21 lên 24 phiếu. Đêm ngày 2 tháng 8, có lẽ các vị Hồng Y tính rằng Đức Hồng Y Rampolla như nước Áo chống đối thì cũng rất khó khăn cho Giáo Hội. Sáng mồng 3, ngài Rampolla chỉ còn 24 phiếu, ngài Sarto dẫn đầu với 27 phiếu. Khi này Đức Hồng Y Sarto quýnh quáng lên và khóc nức nở. Ngài cất tiếng than: “Electio mea esset ruina Ecclesiae” ( bầu tôi lên thì có mà phá tan Giáo Hội ). Rồi ngài ngỏ lời với Hồng Y Đoàn, vừa khóc vừa nài xin cho chén đắng xa đi. Ngài nói rằng gánh này quá nặng đối với ngài. Ngài biết mình tài hèn sức yếu, không thể nào đảm đương nổi.
Sự đau đớn của Đức Hồng Y Sarto hiển nhiên đến nỗi các vị Hồng Y cũng hoang mang, không biết xử trí ra sao. Lúc này, Đức Hồng Y Gittono, Tổng Giám Mục Baltimore ( Mỹ ) có tác động quan trọng. Ngài bàn: “Đức Thượng Phụ Venezza dứt khoát là ứng cử viên thích hợp nhất, miễn là chúng ta đừng bỏ cuộc thì chắc chắn ngài sẽ đắc cử. Nếu không có ngài thì chúng ta không biết tìm về đâu, không chừng sẽ chuốc lấy thất bại. Xin các vị hãy trở lại với Đức Hồng Y Sarto. Cái ngài e sợ hơn hết là gánh nặng trách nhiệm quyền bính. Thế thì ta phải đánh vào điểm nhạy cảm đó, làm cho ngài thấy rằng ngài phải chịu một trách nhiệm còn nặng nề hơn nữa nếu ngài tránh trút nhiệm vụ lớn mà Chúa Quan Phòng giáng xuống cho ngài”.
Chiều hôm đó, số phiếu của Đức Hồng Y Rampolla chỉ còn 16, phiếu bầu cho Đức Hồng Y Sarto tăng lên 35 và Đức Hồng Y Sarto cũng không dám khóc lóc nữa.
Sau đó, Đức Hồng Y Langémieux người Pháp xin được tiếp kiến. Đức Hồng Y Sarto nghĩ vị Hồng Y người Pháp thâm niên hơn mình, nên thay vì tiếp kiến, tự ngài tìm đến phòng Đức Hồng Y Langémieux. Ngài được thông báo rằng các Hồng Y người Pháp từ đầu tới giờ vẫn kiên trì bầu cho Đức Hồng Y Rampolla nay đã nhận thấy đó là mục đích không thể thành đạt; vì thế trừ một vị sẽ kiên trì tới cùng, còn 6 vị khác sẽ bầu cho Đức Thượng Phụ. Như vậy coi như đã ngã ngũ.
Sáng hôm sau, Đức Hồng Y Sarto đắc cử với 50 phiếu.
Khi đoàn trưởng Hồng Y Đoàn, ngài Oreglia, lưng gù chống gậy đến trước mặt vị đắc cử để hỏi ngài có nhận sự đề cử không, Đức Hồng Y Sarto đáp: “Tôi đã xin Chúa cho chén đắng này xa tôi đi, nhưng xin ý Chúa thành sự”.
Câu trả lời đầy khẳng khái, nhưng chưa đúng công thức pháp luật. Hồng Y già Oreglia vừa là huynh trưởng của tất cả các Hồng Y, vừa nóng tính, hơi xẵng giọng hỏi lại ngắn gọn: “Acceptas – ne ?” ( Ngài có nhận không ? ).
Đức Hồng Y Sarto: “Accepto” ( Tôi nhận ).
Thánh Pi-ô 10 đã lên ngôi. Mấy năm trước đó, khi thấy Đức Lê-ô 13 già yếu, ngài đã nhắn nhủ đoàn chiên: “Khi ta đã thấy Đức Lê-ô 13 hướng dẫn Giáo Hội một cách sáng suốt khôn ngoan như thế nào, thì ta phải cầu nguyện xin Chúa gởi đến một vị nào thật thánh thiện để kế vị ngài”. Không ngờ lời ấy lại ứng vào chính mình !

Đầu tháng 8 năm 1914, Thế Chiến thứ nhất bùng nổ: Đức tuyên chiến với Pháp ngày mồng 3, Anh tuyên chiến với Đức ngày mồng 4. Hơn hai tuần sau, Đức Giáo Hoàng Pi-ô 10 qua đời ngày 20 tháng 8.
Các Hồng Y lục tục về Roma. Chiến sự đã lan rộng, nhiều Hồng Y đến từ các nước lâm chiến, mọi người sốt ruột chỉ mong cho lần này việc bầu cử được xuôi thuận mau chóng.
Đức Pi-ô 10 để lại cho Giáo Hội một di sản có nhiều mảng sáng và một mảng tối. Mảng sáng là sự hấp dẫn của lòng nhân ái vô hạn nơi Đức Thánh Cha. Ngài đã phục hưng Phụng Vụ, cổ võ lòng sùng kính đối với Phép Thánh Thể, cho phép trẻ con được Rước Lễ sớm. Lòng Mến nơi Đức Pi-ô 10 lại đi kèm với Lòng Tin rất mực trong sáng, thẳng thắn, đơn sơ mà kiên cường bất khuất, không e sợ bất kỳ một trở ngại nào.
Chúng ta có một minh họa về tính bất khuất này trong cách ngài xử lý vấn đề về Giáo Hội Pháp: từ lâu đời Công Giáo đã là quốc giáo của Pháp. Giữa Pháp và Tòa Thánh có Thân Ước ( Concordat ) bảo đảm cho Giáo Hội rất nhiều quyền lợi to lớn. Đến khi nước Pháp rơi vào tay của các phe đảng chống Giáo Hội, và có nguy cơ chính quyền thọc tay thao túng Giáo Hội, Đức Pi-ô 10 đã không do dự chấp nhận mất hết mọi quyền lợi: nhà cửa, đất đai, trường học, Tu Viện, và món trợ cấp khổng lồ của Nhà Nước. Giáo Hội Pháp đã nêu gương sáng vâng lời, chấp nhận đói nghèo, phá sản, để giữ lấy tự do.
Nhưng vụ việc lớn có tác động lên Giáo Hội toàn thế giới là vấn đề thuyết Duy Tân ( Modernisme ). Rất khó mà nói thuyết Duy Tân là gì bởi không có một người nào lập thuyết, nhưng có một khuynh hướng chung chung nơi nhiều người. Nếu cần phải nói ngắn gọn vì sao nó là một nguy cơ, thì xin tạm tóm lược: khi đó một số nhà nghiên cứu, tiếp thu một sô phương pháp phê bình duy lý, và mang áp dụng vào nghiên cứu Thánh Kinh, Thần học, sữ học. Họ trình bày mọi sự, kể cả chân lý Đức Tin, chỉ như những phản ánh của tâm thức chủ quan của con người trong quá trình tiến hóa. Chân lý mặc khải như biến tan trong cõi chủ quan của lòng người. Nếu cứ cái đà đó thì không bao lâu Đạo sẽ biến thành một mớ lùng bùng không có nội dung rõ rệt, biến chuyển tùy nơi tuỳ lúc, và tất nhiên cuộc sống đối thần, cuộc sống thần hiệp, đối diện với Thiên Chúa, với Đức Ki-tô qua Lòng Tin, qua cầu nguyện, qua các Bí Tích và Giáo Hội cũng sẽ thành mây khói loãng tan.
Nguy cơ quả là rất lớn. Đức Pi-ô 10 đã có công rất lớn khi ngài quyết liệt lên án khuynh hướng Duy Tân này, chặn nó lại không cho nó bóp nghẹt Đức Tin. Về phương diện này, Giáo Hội phải mãi mãi nhớ công ơn ngài.
Nhưng c1i gì cũng có mặt phải mặt trái, dù với đấng thánh cũng thế thôi ( Đức Giáo Hoàng Pi-ô 10 được tuyên phong Hiển Thánh năm 1954 ). Đó chính là mảng tối Đức Pi-ô 10 còn để lại. Tuy công đức của ngài còn lại lâu dài, và phần tiêu cực chỉ là tạm thời, nhưng nhất thời nó phủ một bóng đen lên Giáo Hội. Nói đúng ra, thì Đức Pi-ô 10 không cố ý tạo ra phần tiêu cực này. Tuy nhiên có một kinh nghiệm không mấy tốt đẹp trong đời sống Giáo Hội: bao giờ cũng có những người hẹp hòi, nhiệt thành mình thiếu sáng suốt, thiếu khả năng phân biệt phải trái, chỉ bám lấy cái gì đã thành thói quen, thành lệ. Rồi không biết trong lòng họ có những ẩn ức gì, khiến cho họ ngấm ngầm hay công khai hậm hực với những người khác.
Khi thấy người khác bị quyền giáo huấn lên án, họ hứng khởi nhảy vào đánh hôi. Không ai yêu cầu mà họ tự phong cho mình là người bảo vệ Đức Tin, bảo vệ Giáo Hội. Tự họ kết hợp với nhau, làm thành một mạng lưới mật vụ, chuyên do thám người khác, vì nhìn đâu cũng thấy kẻ rối đạo. Lòng nhiệt thành của họ đầu độc bầu khí Giáo Hội. Họ tổ chức tuyên truyền, vu vạ, bêu xấu, tố giác với giáo quyền nhiều người Công Giáo thuần thành, nhiều nhà trí thức, học giả, giáo sư, thậm chí cả các vị Hồng Y, Giám Mục. Từ lãnh vực tư tưởng, thần học, họ chuyển dần sự truy nã qua các lãnh vực mục vụ, xã hội, chính trị.
Đức Pi-ô 10 thì trong lòng đang như lửa đốt, chỉ sợ Đức Tin nơi con cái mình bị biến chất. Ngài quá tha thiết nên có cảm tưởng các vị trong hàng giáo phẩm không hỗ trợ ngài đúng mức. Do đó ngài có ý bênh vực những người đang khuấy đảo và tự xưng mình là “Công Giáo toàn diện”.
Trong một bản phúc trình gửi về Vatican ít lâu sau khi Đức Pi-ô 10 qua đời, Đức Cha Mignot báo cáo: “Chúng ta không thể phủ nhận là Giáo Hội đang đánh mất cảm tình của các nhà tư tưởng và các nhà bác học. Uy tín mà Giáo Hội có được dưới thời Đức Lê-ô 13 đã phôi pha ít nhiều”… Bên trong Giáo Hội thì “những người làm việc trí thức bị báo chí của thế lực ném đá giấu tay tố giác, truy nã, lăng mạ, nay họ cảm thấy ngao ngán… Nhiều Đại Chủng Viện, nhiều Học Viện các Dòng Tu, các đại học cũng cảm thấy không thoải mái”.
Trong số các nạn nhân thuộc loại “tép riu” của nhóm “Công Giáo toàn diện” có một Linh Mục trẻ, cha Agnelo Roncalli, bị lập hồ sơ tố giác gửi về Roma, dau này sẽ là Đức Giáo Hoàng Gio-an 23. nhưng ngay cả những vị lãnh đạo lớn trong Giáo Hội như Đức Hồng Y Mercier ở Mỹ, các Đức Hồng Y Ferrari và Maffi, Đức Cha Bonomelli ở Ý cũng không thoát khỏi tầm nhắm và những thủ đoạn xỏ xiên của nhóm “Công Giáo toàn diện”.
Trong tình huống đó, các Hồng Y về Roma tha thiết muốn gỡ thế bí, ngày ấy đa số Hồng Y Đoàn người Ý. Và các vị Hồng Y người Ý đặc biệt vì Đức Thánh Cha Pi-ô 10 ít khi hỏi ý kiến của các vị mà chỉ dựa vào một số ít người tin cẩn. Đã thế ngài lại dễ tin lời phe “toàn diện”. Thậm chí một vị như Đức Hồng Y Maffi, Tổng Giám Mục Pisa, đã có lần viết thư cho Đức Pi-ô 10 xin từ chức và xin trả áo đỏ lại cho Tòa Thánh, nếu Đức Thánh Cha không còn tin tưởng ngài nữa. Và Đức Hồng Y Ferrari, Tổng Giám Mục Milano ( nay đã được Đức Gio-an Phao-lô 2 tuyên phong Chân Phước ) thì tâm sự rằng nếu tình hình kéo dài thêm sáu tháng nữa, ngài cũng sẽ từ chức vì không thể cầm cự nổi với những chống phá của nhóm “toàn diện” từ bên dưới, và những lời phàn nàn trách móc từ Đức Pi-ô 10 giáng xuống.
Trong bầu khí ấy, có một vị xem ra hết sức buồn phiền suy sụp. Đó là Đức Hồng Y Merry del Val, vị Quốc Vụ Khanh ( tương đương như thủ tướng ) của Đức Pi-ô 10 suốt 14 năm, về nhiều phương diện, ngài Merry del Val là một người lỗi lạc, một người sắc sảo toàn tài. Chỉ nói về ngoại hình, ngài đã khác người. Một nhà báo nhận xét: “Nếu ngài không phải là người nổi tiếng, thì chỉ cần ngài ngồi làm mẫu, bất cứ họa sĩ nào vẽ chân dung ngài cũng sẽ làm cho ngài nổi tiếng, vì dung mạo ngài bắt mắt quá”. Đã thế ngài lại còn nói thạo nhiều thứ tiếng với một âm điệu rất du dương. Khi còn trẻ, ngài khiêu vũ gỉi, bơi lội giỏi, cỡi ngựa giỏi, và tài bắn súng rất tuyệt vời.
Một người như thế muốn gì ở đời mà chẳng được ? Vậy mà ngài bỏ hết. Nếu phải chọn giữa một bên là mọi sự sang trọng thế gian, và một bên là phục vụ Chúa trong Giáo Hội, thì ngài chọn Giáo Hội. Nếu phải chọn giữa một bên là những chức tước uy nghi trong Giáo Hội và một bên là địa vị thấp hèn nhưng được ở gần bên Đức Giáo Hoàng Pi-ô 10, thì ngài vui lòng chọn sự thấp hèn. Nhưng Đức Pi-ô 10 đâu có để cho con người tuổi trẻ tài cao này ở địa vị thấp hèn, mới 38 tuổi, ngài Merry del Val được tặng Hồng Y và Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh.
Suốt 10 năm, Đức Hồng Y Merry del Val tận tụy phục vụ Đức Pi-ô 10 và càng ngày càng được sự thánh thiện của Đức Pi-ô 10 cuốn hút. Đức Pi-ô 10 tỏa sáng tới đâu thì Hồng Y Merry del Val cũng thành minh tinh tới đó. Ngài vừa cương quyết vừa có uy nên thi hành rất mẫn cán đường lối của Đức Giáo Hoàng, đặc biệt trong việc đấu tranh chống Duy Tân.
Trong những ngày chuẩn bị Mật Hội này, Đức Hồng Y Merry del Val buồn bã là điều dễ hiểu. Suốt 10 năm tận tình cảm phục và phụng sự Thánh Pi-ô 10, Đức Thánh Cha nằm xuống, nhiệm vụ Quốc Vụ Khanh cũng chấm dứt, lẽ nào ngài không cảm thấy hụt hẫng, trống vắng ? Nhưng còn một lý do khác nữa khiến ngài đau khổ. Ngài thấy được những hậu quả tiêu cực, những vết thương mà sự lạm dụng cuộc đấu tranh chống Duy Tân để lại.
Ngay từ khi Đức Pi-ô 10 còn sống, những người bất mãn không dám trực tiếp phê bình Đức Giáo Hoàng, đã gán hết mọi mặt tiêu cực cho các cộng sự thân cận của ngài, mà họ gọi là những “quân sư hắc ám”. Và tất nhiên đứng đầu mấy “quân sư hắc ám” là Hồng Y Merry del Val. Nói như thế thật oan cho Đức Hồng Y. ngài Merry del Val đã nhìn thấy nguy cơ mà Đức Pi-ô 10 không thấy. Ngài đã lên tiếng can gián Đức Giáo Hoàng trong mấy vụ việc, nhưng Đức Pi0ô 10 đã quyết chí thì ngài đành chịu. Ngài cũng đã kín đáo đẩy một ông “toàn diện” gộc ra khỏi phủ Quốc Vụ Khanh.
Dù sao thì tên tuổi Đức Hồng Y Merry del Val cũng đã gắn liền với một chính sách mà sắp tới sẽ phải thay đổi. Con người mới hôm qua rất quyền thế hôm nay lại biến thành cô quạnh. Khi có dịp trao đổi với một vài vị khác, ngài Merry del Val tiết lộ rằng chính Đức Pi-ô 10 cũng nhìn nhận cần giải tỏa tâm lý một phần nào đó trong Giáo Hội. Vị nào sắp lên làm Giáo Hoàng thì cũng phải tìm cách giải tỏa như thế, vấn đề là giải tỏa như thế nào để đừng rơi vào tác dụng ngược là phủ nhận sạch trơn những thành quả của tiền triều.
Nếu nhìn qua những nhân vật liên quan đến cuộc bầu cử lần này, ta thấy người vừa nằm xuống, Đức Pi-ô 10, là một vị Thánh. Một trong những nạn nhân oan uổng của Đức Pi-ô 10 là Đức Hồng Y Ferrari đã được phong Chân Phước. Đức Hồng Y Merry del Val mang tiếng là “quân sư hắc ám” của Đức Pi-ô 10, và đang rất đau khổ ngày nay đang ở trong danh sách, đang được Giáo Hội tiến hành thủ tục điều tra mong sẽ phong Chân Phước. Thế mới biết dù là các vị Thánh thì khi còn ở thế gian này vẫn phải lần mò tìm đường giữa nhiều mù tối, nhiều nỗi thương tâm. Trong cuộc gặp mặt này ở Vatican, Đức Hồng Y Gasparri, người sắp kế vị Đức Hồng Y Merry del Val làm Quốc Vụ Khanh dưới hai triều Giáo Hoàng sắp tới, đã nói một lời chân thành: “Tôi dám nhúng tay vào lửa để đoan quyết rằng không có một người nào trong chúng ta mà trong khi đầu phiếu lại có một dụng ý phàm tục hay vụ lợi”.
Nhưng cụ thể thì làm thế nào bây giờ ?

KHỞI PHƯỢNG, Chúa Nhật 17.4.2005
( Kỳ sau: Các Mật Hội 1914, 1922, 1939, 1958, 1963, và hai Mật Hội năm 1978 )

***

Mật Hội tháng 9.1914

Đức Benedicto XV được lịch sử tri ân vì:
1. Ngài đã phá tan bầu khí nghi kỵ và sát phạt trong Giáo Hội, trả lại sự bình an thanh thản cho các nhà nghiên cứu.
2. Ngài hết lòng tìm cách chấm dứt Thế Chiến Thứ Nhất, và đã đ­ưa ra những đề nghị cụ thể để hai bên tham chiến dàn xếp được với nhau. Nhưng ngài đã không thành công. Các chính phủ liên hệ không chịu nghe lời ngài. Hơn nữa Thế Chiến Thứ Nhất đã làm bộc lộ một sa đoạ tiềm ẩn trong Dân Chúa thời đó: người Công Giáo, kể cả nhiều vị Giáo Sĩ và hàng Giáo Phẩm, cũng như mọi người bị cuốn hút vào những đam mê và hận thù dân tộc, có ác cảm với lời kêu gọi của Đức Thánh Cha. Đức Benedicto XV bị cả hai bên tham chiến chỉ trích nặng nề, có thể nói là mạ lỵ. Thất bại trong nỗ lực trung gian hoà giải, Đức Thánh Cha dồn hết tâm trí và khả năng để cứu giúp các tù binh, thương bệnh binh, các nạn nhân chiến tranh, các gia đình ly tán, và để cứu đói. Chỉ sau chiến tranh, người ta mới tỉnh ngộ và nhìn nhận trong cơn tàn sát điên loạn ấy, chỉ có một mình Đức Thánh Cha đã lớn tiếng rao giảng Tin Mừng và đã chịu mọi đau khổ để theo đuổi hoà bình.
Đức Benedicto XV thấy rõ một tệ nạn trong công cuộc Truyền Giáo là nhiều Thừa Sai đã lẫn lộn việc mở Nước Chúa với những tình cảm tự tôn dân tộc, không biết tôn trọng nhân dân và các nền văn hoá bản xứ, rơi vào một thái độ hẹp hòi thiếu ý thức. Ngài viết: Đạo Chúa “không xa lạ với một dân tộc nào”, ngài nhận thấy nhiều dân tộc có văn hoá cao, nhưng “suốt nhiều thế kỷ Tin Mừng và Giáo Hội đã hành thiện, mà vẫn không có được các Giám Mục để tự quản, cũng không có những Linh Mục tài giỏi khiến cho đồng bào của mình kính mến”, cho nên: “Phải nhận rằng có những nơi cho đến nay vẫn sử dụng những ph­ương pháp khiếm khuyết để đào tạo hàng Giáo Sĩ các Xứ Truyền Giáo”. Từ đó ngài phát động cuộc cải tổ các Chủng Viện, mở đ­ường để ít năm sau các Xứ Truyền Giáo như Aán Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam có các Giám Mục người bản xứ.
Đức Benedicto XV ở ngôi chỉ có 8 năm, lại bị nhiều thành kiến chống đối; dù càng ngày các giới nghiên cứu càng nhận ra công lao rất lớn của ngài, nhưng ngài bị đại chúng Công Giáo lãng quên, cho đến ngày 19.4.2005, khi một vị Tân Giáo Hoàng lấy danh hiệu là Benedicto XVI, vì ngư­ỡng mộ tinh thần hoà bình của Đức Benedicto XV thì công luận mới lại nhắc đến vị Giáo Hoàng này của thời đầu thế kỷ 20.

Mật Hội tháng 2.1922

Đây là Mật Hội dài nhất trong 160 năm nay, phải mất 5 ngày và 14 vòng phiếu mới bầu được người kế vị Đức Giáo Hoàng Benedicto XV. 53 vị Hồng Y khai hội ngày 2.2.1922. Theo quyển sổ tay di vật của Đức Hồng Y Piffl, tr­ước Mật Hội các vị Hồng Y thuộc vùng nói tiếng Đức đã gặp nhau và nhất trí với nhau rằng Giáo Hoàng tương lai phải hội đủ năm tiêu chuẩn:
1. Là người có sức sống thiêng liêng thâm hậu.
2. Là nhà ngoại giao.
3. Có kiến thức uyên bác, đặc biệt về các lãnh vực học thuật hiện đại.
4. Không xa lạ với các vấn đề chính trị.
5. Có quan hệ phải chăng với chính phủ Ý.
Sở dĩ có tiêu chuẩn thứ 5 này là vì từ ngày Toà Thánh bị mất n­ước ( 1870 ) trong tiến trình thống nhất nước Ý, Vatican và chính phủ Roma vẫn có mâu thuẫn, Toà Thánh vẫn không công nhận chính phủ Ý. Từ ngày đó tới nay đã hơn 50 năm. Hơn nữa, ba triều Giáo Hoàng liên tiếp của Đức Leo XIII ( 1878 – 1903 ), Đức Pio X ( 1903 – 1914 ), và Đức Benedicto XV ( 1914 – 1922 ) đã chứng tỏ Đức Giáo Hoàng không cần cai trị một quốc gia mà vẫn có uy tín tinh thần rất lớn, và không một ai trong thế giới Công Giáo phủ nhận uy quyền của ngài. Hơn nữa khi không còn lấn cấn trong vấn đề điều khiển một quốc gia thế tục, Toà Thánh lại càng được tự do thi hành sứ mạng thiêng liêng của mình và đã phát huy sức mạnh tinh thần đến một mức độ mà khi còn là một quốc gia chưa bao giờ đạt được. như vậy đã đến lúc giải quyết chuyện mâu thuẫn với nước Ý, vì mâu thuẫn đó chỉ là một gánh nặng cồng kềnh do quá khứ để lại, chỉ thêm v­ướng víu mà chẳng giúp ích gì cho ai.
Vòng phiếu đầu tiên trong sốâ 53 phiếu đã có 17 phiếu bầu cho những vị không phải người Ý. 1 Phiếu cho Đức Hồng Y Mercier, người hùng của n­ước Bỉ, người đã can đảm và khảng khái lên tiếng phản đối các hành động tàn bạo của quân đội Đức khi họ xâm lăng và chiếm đóng n­ước Bỉ trong Thế Chiến Thứ Nhất, 4 phiếu cho đức Hồng Y Van Rossum, vị Tổng Trư­ởng Bộ Truyền Giáo người Hà Lan, người rất điềm tĩnh thi hành chính sách cải tổ và canh tân các xứ truyền giáo của Đức Benedicto XV; và 12 phiếu cho Hồng Y Merry Del Val, vị Quốc Vụ Khanh người Tây Ban Nha của Đức Pio X. Ở đây ta đã bắt đầu thấy những chứng tích khởi đầu quá trình quốc tế hoá nhân sự ở Trung ­Ương Giáo Hội, sẽ đạt tới đỉnh cao năm 1978, khi một vị Hồng Y Ba Lan đắc cử Giáo Hoàng, làm gián đoạn một chuỗi dài suốt 450 năm các vị Giáo Hoàng toàn là người Ý.
Một điểm nữa đang chú ý là số phiếu t­ương đối cao dành cho Đức Hồng Y Merry del Val. Chúng tôi đã ôn lại uy tín và sự tài giỏi của ngài cùng với những gai góc khổ đau ngài phải gánh chịu trong phần nói về Mật Hội 1914. Mật Hội lần này cho thấy trong Hồng Y Đoàn có một khuynh h­ướng muốn trở lại với chính sách cứng rắn của Đức Pio X. Có lẽ triều đại t­ương đối ngắn của Đức Benedicto XV, cùng với những lúng túng do chiến tranh và thành kiến đã cản trở vị Giáo Hoàng quá cố, khiến cho công chúng chư­a nhận ra những tiềm năng phong phú trong các định h­ướng của ngài. Điều này góp phần làm cho người ta nhớ nhung thời đại rõ ràng và dứt khoát của Thánh Pio X.
Tuy nhiên không vì thế mà những người đã cảm nhận được ân đức của Đức Benedicto XV đối với Giáo hội có thể đành lòng đoạn tuyệt với đư­ờng lối của ngài. Các vị này dồn phiếu cho Đức Hồng Y Gasparri, Quốc Vụ Khanh của Đức Benedicto XV. Khác với hai vị Quốc Vụ Khanh tiền nhiệm là ngài Rampolla ( thời Đức Leo XIII ) và Merry del Val ( thời Đức Pio X ) là những nhà quý tộc rất phong độ, ngài Gasparri xuất thân từ tầng lớp dân dã, người không ­ưa thì cho rằng ngài vẫn còn nét gì đó chư­a được hào hoa phong nhã; bù lại, ngài có trí tuệ sắc sảo, làm việc hay có những trực giác thú vị, ngài lại có tài xoay xở linh hoạt. Ngài cũng là một chuyên viên rất giỏi về Giáo Luật, nhưng lại tham gia ít nhiều vào cuộc đối thoại với Anh Giáo, đó là những bư­ớc khởi đầu của hoạt động sau này mang danh là Đại Kết của bên Công Giáo.
Với những người dẫn đầu là hai vị Quốc Vụ Khanh của hai triều Giáo Hoàng kế tiếp, đã thấy rõ vân đề đặt ra là nên trở về với đ­ường lối bảo thủ cứng rắn của Đức Pio X hay duy trì thái độ cởi mở hơn của Đức Benedicto XV. Những vòng phiếu kế tiếp đ­a số phiếu của Đức Hồng Y Merry del Val từ 12 lên 17 phiếu, rồi dừng lại không tăng nữa, còn phiếu bầu cho Đức Hồng Y Gasparri tăng dần lên 24. Xem ra với tất cả sự tôn kính dành cho Đức Hồng Y Merry del Val, người ta vẫn còn e ngại những nhân tố đã tác động tiêu cực lên đời sống Giáo Hội trong vụ thanh trừng các học giả và các sáng kiến canh tân.
Cánh bảo thủ thấy rõ giải pháp Merry del Val không có khả năng phát triển thêm, liền chuyền h­ướng dồn phiếu cho Đức Hồng Y La Fontaine, Th­ượng Phụ Venezza. Mật Hội kéo dài một phần cũng do các vị Hồng Y rất cẩn thận: nghe nói trong dòng tộc của ngài La Fontaine, có những người mắc bệnh thần kinh. Vấn nạn này cần phải đả thông, nhưng rồi số phiếu dành cho ngài La Fontaine lên đến 22 rồi dừng lại. Sau hai ngày đầu phiếu, hai ứng cử viên của hai khuynh h­ ướng bảo thủ và canh tân đều không hội đủ túc số hai phần ba.
Cả hai khuynh h­ướng đều không tiến thêm được nữa. Vào lúc đó, Mật Hội để ý đến một vị thứ ba là Đức Hồng Y Ratti, Tổng Giám Mục Milano. Vị này trong những vòng đầu chỉ quy tụ được 4 hoặc 5 phiếu. Sau hai ngày không kết quả, nhiều cử tri đã để ý đến vị Hồng Y 66 tuổi này. Qua ngày thứ ba, số phiếu bầu Hồng Y Ratti tăng lên 11, rồi 14, và 24. Đến vòng thứ 12 thì ngài được 27 phiếu và kế đó 30 phiếu, v­ượt qua số phiếu của những vị dẫn đầu trư­ớc đó.
Hồng Y Đoàn đã tìm được một người mới rất có triển vọng. Ngài Ratti khi đó mới lãnh áo đỏ được vài tháng. Tr­ước đó ngài có vẻ là một nhà bác học vùi đầu trong sách vở suốt 30 năm, ngài làm thủ th­ư ở thư­ viện Ambrosiana ở Milano từ năm 1887, đến 1907 thì được đặt làm quẩn thủ thư­ viện này. Năm 1912, ngài được triệu về Roma phụ tá cho quản thủ th­ư viện Vatican, rồi hai năm sau được đ­a lên chức vụ quản thủ chính thức. Cuộc sống t­ưởng như dành trọn cho việc nghiên cứu thầm lặng, khả năng hoạt động chỉ lộ ra tr­ước mắt người ngoài ở chỗ ngài say mê môn thể thao leo núi, hễ có cơ hội là ngài leo lên những đinh cao cheo leo tuyết phủ.
Nhưng nội bộ Vatican biết rõ bản lãnh của ngài. Năm 1918, khi Thế Chiến Thứ Nhất chấm dứt, Châu Âu vẽ lại bản đồ chính trị, với rất nhiều biến đổi phức tạp. Đức Thánh Cha Benedicto XV cử Đức Cha Ratti đi kinh l­ược rồi làm Sứ Thần Toà Thánh ở Ba Lan từ cuối năm 1918 đến tháng 5, 1921. Ba Lan sau một thời gian dài bị ba nước lớn là Nga, Đức và áo xâu xé, nay lấy lại được tự chủ nhưng phải đối mặt với những mâu thuẫn gay gắt: trong Giáo Hội, hàng Giáo Sĩ theo nghi lễ Ph­ương Tây với hàng giáo sĩ theo nghi lễ Phư­ơng Đông có nhiều điểm xung khắc nghiêm trọng, trong xã hội người Ba Lan với người gốc Đức cũng đụng độ với nhau. Chính trong hoàn cảnh khó khăn này, Đức Cha Ratti đã tỏ rõ mình là con người có nghị lực, có óc tổ chức, có khả năng thấu triệt những vấn đề phức tạp, lại có thái độ khách quan chí công vô tư­, trư­ớc các phe nhóm đang mâu thuẫn.
Sau khi thành công ở Ba Lan, Đức Cha Ratti được giao một nhiệm vụ mới. Khi ấy Đức Chân Ph­ước Hồng Y Ferrari qua đời. Ngài nổi tiếng là một Đấng thánh thiện. Toà Thánh cần tìm một người nào xứng đáng để kế vịu7nNgài ở Toà Tổng Giám Mục Milano. Đức Cha Ratti tr­ớc đấy rất thân với Đức Chân Phư­ớc Ferrari. Ngài cũng rất đồng tâm với Đức Chân Ph­ước về nhu cầu phát huy thêm nữa đời sống thiêng liêng chân chính trong hàng Giáo Sĩ, đồng thời phổ biến lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa trong quần chúng Giáo Dân. Đức Cha Ratti được cử làm Tổng Giám Mục Milano. Ngài chỉ giữ nhiệm vụ này trong vài tháng, nh­ưng cũng đủ để góp phần gây dựng Đại Học Công Giáo và tạo một khí thế mới cho Phong Trào Công Giáo Tiến Hành.
Đức Cha Ratti được phong tặng Hồng Y vào cuối năm 1921. Hôm ấy ở giữa các Hồng Y, đột nhiên Đức Benedicto XV nói một lời như tư­ lự: “Hôm nay phân phát nhiều áo đỏ, sắp tới đây một ng­ười trong các vị sẽ phải khoác lên mình chiếc áo trắng.” Lúc ấy sức khoẻ Đức Benedicto có vẻ rất bình thư­ờng. Các Hồng Y đều nói xin Chúa giữ gìn Đức Thánh Cha sống lâu, vì Giáo Hội còn cần đến Ngài. Đức Thánh Cha chỉ cười mím chi, không đáp lại một lời nào.
Thế rổi chỉ vài tháng sau, Đức Benedicto XV là một người ốm yếu mảnh khảnh, nhưng hầu nh­ư cả đời chẳng bao giờ phải nhờ đến bác sĩ, bỗng bị cảm cúm và chỉ vài hôm đã qua đời.
Lại một lần nữa, một vị thuộc hàng em út trong Hồng Y Đoàn sắp đắc cử vào ngôi vị Giáo Hoàng. Ngày 6 tháng 2 năm 1922, ngài Ratti đắc cử với 42 phiếu trên 54. Ngài tuyên bố mang danh hiệu Pio XI để kính nhớ Đức Pio IX, vì tân Giáo Hoàng đã gia nhập hàng Giáo Sĩ dư­ới thời của vị Giáo Hoàng Chân Ph­ước này, và cũng để kính nhớ Thánh Pio X là Đấng đã gọi ngài về Roma.
Căn cứ vào danh x­ưng, có thể nghĩ tân Giáo Hoàng sẽ theo đư­ờng lối rất bảo thủ, như­ hai vị tiền nhiệm Pio IX và Pio X. Như­ng liền sau khi nhận danh hiệu bảo thủ ấy, Đức Pio XI lại có ngay những quyết định cách tân. Đâu tiên ngài làm một việc mà từ Đức Pio IX, không một vị Giáo Hoàng nào làm nữa: số là từ khi mất nước, các vị Giáo Hoàng phản đối bằng cách giam mình trong điện Vatican, không bao giờ ra ngoài. Đức Pio XI quyết định ban ph­ước lành đầu tay Urbi et Orbi ( cho đô thành Roma và toàn thế giới ) từ trên lan can tiền đình Đền Thánh Phê-rô, nhìn ra quảng tr­ường. Chỉ cần mở một cánh cửa thư­ờng đóng im ỉm để Đức Thánh Cha quay mặt ra ngoài đời đã là một tín hiệu đ­ược dư­ luận chú ý: ngài muốn giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền Roma với n­ước Ý.
Biện pháp cởi mở thứ hai là tái bổ nhiệm Đức Hồng Y Gasparri trong chức vụ Quốc Vụ Khanh để tiếp tục đ­ ường lối của Đức Benedicto XV.
Nh­ư vậy bảo Đức Pio XI là bảo thủ thì bảo thủ đây không có nghĩa là giữ khư­ kh­ư những cái cũ, nh­ưng từ Đức Tin bất biến lại có thể “ứng vạn biến” với những sáng kiến táo bạo đích đáng.

Đức Pio XI đã triển khai đường lối của Đức Benedicto XV phát triển công cuộc Thừa Sai Truyền Giáo; dưới triều đại ngài số các vị Thừa Sai tăng gấp đôi. Đặc biệt ngài chú trọng thăng tiến các vị Giáo Sĩ bản quốc. Các vị Giám Mục người bản địa đầu tiên của ấn Độ ( 1923 ), Trung Quốc ( 1926 ), Nhật ( 1927 ), Việt Nam ( 1933, Đức Cha Nguyễn Bá Tòng ) là do ngài cắt đặt. Đa số các nước Á Đông khi đó nếu không ở dưới sự thống trị của ngoại bang ( như Việt Nam, Ấn Độ ) thì cũng bị các thế lực ngoại quốc chi phối rất nhiều ( như Trung Quốc ). Trào lưu dành độc lập sau Thế Chiến thứ hai mới phát triển mạnh. Đức Pio XI bắt đầu tiến trình trao quyền cai quản cho các Giám Mục bản quốc tức là ngài đã đi trước thời cuộc vài chục năm.

Không chỉ thăng tiến hàng Giáo Sĩ bản quốc của các Xứ Truyền Giáo, Đức Pio XI còn phát động phong trào Công Giáo Tiến Hành trong toàn Giáo Hội. Đó cũng là một bước đột phá của ngài, làm cho Giáo Dân thoát khỏi thái độ thụ động để tích cực phục vụ Nước Chúa trong mọi lĩnh vực. Đức Thánh Cha sáng lập Đài Phát Thanh Vatican năm 1931, và Hàn Lâm Viện Khoa Học của Toà Thánh năm 1936.

Vào thời đó, các nước phát triển ở Tây Âu và Bắc Mỹ đang sống dưới chế độ tư bản, Ý và Đức đi vào con đường Phá-xít và Quốc Xã, trong khi Liên Xô xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội và có cao vọng trong tương lai sẽ phát triển Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa trên toàn thế giới. Với cả ba loại chế độ xã hội này, Đức Pio XI đều đưa ra những nhận định rất dũng cảm và khẳng khái trong nhiều bức thông điệp danh tiếng. Theo sổ tay của Đức Hồng Y Piffl, trong cuộc thảo luận của các Hồng Y nói tiếng Đức trước Mật Hội 1922, có một vị Hồng Y tiên đoán rằng ngài Ratti sẽ không thể đắc cử vì ngài quá coi thường nguyên tắc. Ngờ đâu khi ngài Ratti đắc cử thì Đức Pio XI sẽ là một vị Giáo Hoàng vững vàng, và dứt khoát bậc nhất về nguyên tắc… Sử gia Đaniel-Rops phải nhận định: “Ai cũng biết những cơn phẫn nộ thánh thiện của ngài, và có lẽ sự thận trọng không phải là nhân đức ngài ưa thích”.

Một thành quả nữa của Đức Pio XI là ngài đã giải quyết xong chuyện mâu thuẫn giữa nước Ýù và Toà Thánh về vấn đề chủ quyền. Theo Hiệp Ước Laterano ký kết năm 1929, Toà Thánh công nhận nước Ýù với Roma làm thủ đô, bù lại nước Ý công nhận quốc gia Vatican với một lãnh thổ tượng trưng chỉ có 44 hecta làm bảo đảm chủ quyền. Từ đây Giáo Hội khỏi vưởng mắc vào một vấn đề đã lỗi thời mà cứ dai dẳng mãi.
Đức Pio XI qua đời ngày 10.2.1939.

Mật Hội tháng 3.1939

Tình hình quốc tế hết sức u ám. Mọi người chờ đợi một cuộc thế chiến mới sắp nổ ra, bắt đầu từ Châu Âu. Không ai biết chắc Giáo Hội và xã hội loài người sẽ ra sao, chỉ biết là sẽ phải trải qua những biến động bi đát và những thử thách nặng nề. Đa số các vị Hồng Y cảm thấy Giáo Hội cần một vị lãnh đạo giầu kinh nghiệm, thông thạo các vấn đề thời cuộc. Một người như thế đã có sẵn: mọi người đều dự đoán Đức Hồng Y Eugenio Pacelli sẽ là tân Giáo Hoàng.

Ngài Eugenio Pacelli là Quốc Vụ Khanh của Đức Pio XI từ năm 1930. Ngài là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Năm 1917, giữa Thế Chiến thứ nhất, Đức Giáo Hoàng Benedicto XV cử ngài làm Sứ Thần Toà Thánh tại Đức, nhằm triển khai kế hoạch hoà bình của Đức Thánh Cha. Kế hoạch này thất bại, nhưng cá nhân ngài Pacelli lại biến thành sao sáng, phẩm cách của ngài được mọi người kính phục.

Sau đó ngài về Roma làm việc ở phủ Quốc Vụ Khanh. Ngài góp phần quan trọng vào Hiệp Ước Laterano giữa Toà Thánh và nước Ý. Sau đó một năm ngài được Đức Pio XI cử làm Quốc Vụ Khanh thay thế Hồng Y Gasparri. Từ đó ngài sát cánh với Đức Pio XI làm nổi rõ thái độ và lập trường của Giáo Hội Công Giáo trước các trào lưu tư tưởng và các vấn đề thời đại. Nhưng đức Pio XI thì nổi tiếng là người nói thẳng, nói mạnh còn Quốc Vụ Khanh Pacelli thì tế nhị hơn, có tính cách “ngoại giao” hơn.

Hồng Y Pacelli triển khai đường lối của Đức Pio XI ký kết thân ước với nhiều nước, đặc biệt là Đức Quốc Xã, nhằm tạo cơ sở đảm bảo tự do cho Giáo Hội hoạt động trong những tình thế khó khăn, tế nhị. Ngài Pacelli làm việc rất chu đáo, nắm vững đến tận chi tiết các vụ việc.
Là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, ngài Pacelli đồng thời là một nhà huyền nhiệm, có đời sống tâm linh và thần hiệp rất sâu. Kiến thức của ngài thì rất uyên bác. Chỉ với ba vòng phiếu, ngài Pacelli đã đắc cử ngày 2.3.1939 và nhận danh hiệu Pio XII. Đây là Mật Hội ngắn nhất từ 370 năm nay. Vì uy tín và sự đắc cử nhanh chóng, có tin đồn là toàn thể Mật Hội đã nhất trí bầu cho ngài. Tuy nhiên Hồng Y người Pháp là ngài Bandrillart; khi đã về già và sự minh mẫn đã suy giảm, lại bị người rất chuyên moi móc những tin tức mật khéo léo đẩy đưa, đã buột miệng tiết lộ: Đức Pio XII đắc cử với 48 trên 63 phiếu.

Việc đầu tiên của Đức Pi-ô XII sau khi đắc cử là lời kêu gọi hòa bình gửi cho toàn thế giới qua Đài Phát Thanh Vatican. Không đầy hai tuần sau, ngày 15 tháng 3, Hitler xâm chiếm Tiệp Khắc, thế giới nhích lại rất gần Thế Chiến thứ hai. Sáu tháng sau, ngày 1 tháng 9 năm 1939, Đức xâm lăng Ba Lan. Qua ngày 3 tháng 9, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Thế Chiến thứ hai bắt đầu.
Từ nay, Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII lo chèo chống con thuyền Giáo Hội giữa một hoàn cảnh khốc liệt chưa từng thấy. Mối quan tâm của Ngài là giữ gìn cho Giáo Hội khỏi bị tổn hại quá lớn, ít ra cũng còn tác động được phần nào lên xã hội đang trải qua muôn ngàn đau đớn.
Hết chiến tranh nóng lại đến chiến tranh lạnh. Một phần Giáo Hội vẫn quay quắt trong cảnh bị bức bách khắc nghiệt. Đức Thánh Cha vẫn cảm thấy Giáo Hội bị hãm hại, khiến cho ngài luôn trăn trở. Nhưng bất chấp nghịch cảnh, uy tín Đức Pi-ô XII ngày một tăng cao.
Ngài nổi tiếng vì trí tuệ phi thường, bao quát mọi vấn đề. Nhiều tiến bộ sau này Công Đồng Vatican II thu nhập được đã manh nha nhờ sự khai phá của Đức Pi-ô XII. Ta có thể nhắc lại những bản văn tiêu biểu như Thông Điệp Mystici Corporis ( Huyền Thể ) về Giáo Hội, Thông Điệp Divino Afflante Spiritu ( Thánh Thần Linh Hứng ) về Mạc Khải trong Thánh Kinh, Thông Điệp Mediator Dei ( Đấng Trung Gian của Thiên Chúa ) và những cải cách tiếp theo về Phụng Vụ. Đức Pi-ô XII cũng công bố một tín điều mới là tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.
Ngài vang danh thánh thiện, nên giới Công Giáo không lấy làm lạ khi nghe tin ngài đã được thấy Chúa hiện ra và đã có những phép lạ xảy ra chung quanh ngài.
Với tính cách siêu việt như thế, sinh thời Đức Pi-ô XII được quần chúng Công Giáo nô nức tôn sùng. Chính ngài cũng cảm thấy mình có nhiệm vụ quy tụ con cái trong Giáo Hội để hướng dẫn và nâng đỡ Đức Tin, cho nên ngài không ngần ngại dùng uy tín của mình để hấp dẫn quần chúng. Không riêng người Công Giáo, mà thế giới nói chung đều kính trọng ngài là một nhân cách rất mực thanh cao hiếm ai bì kịp. Khi ngài qua đời ngày 9.10.1958, người ta cũng nói về ngài như ngày nay nói về Đức Gio-an Phao-lô II, rằng ngài là một trong những vị Giáo Hoàng vĩ đại nhất.
Tuy nhiên sau khi ngài qua đời, những lời phê bình chỉ trích bắt đầu lan rộng.
Ngài bị chỉ trích nhiều nhất vì đã không lên tiếng thẳng thắn khi Hitler tiêu diệt sáu triệu người Do-thái trong các trại tập trung. Nguyên do là như lời ngài nói với một vị đại sứ: “Đáng lẽ chúng tôi phải lớn tiếng lên án những điều ấy, sở dĩ chúng tôi phải kìm mình không lên tiếng là vì biết rằng nếu lên tiếng thì chỉ làm cho tình cảnh của những người khốn khổ ấy khó khăn thêm mà thôi”. Dù sao nhiều người, kể cả nhiều sử gia, vẫn coi sự yên lặng của ngài là lỗi bổn phận, là phản lại sứ mạng của Giáo Hội.
Chắc chắn một người với lương tâm tế nhị như Đức Pi-ô XII đã đau khổ rất nhiều khi bị dằn vặt đôi đường: nhiệm vụ của Giáo Hội là phải lên tiếng trước một tội ác quái gở đến mức đó, nhưng lên tiếng đã chẳng có tác dụng gì mà lại làm cho bạo quyền thêm gay gắt đối với các nạn nhân và có thể tàn phá cả Giáo Hội nữa, thì phải chăng nên yên lặng để Giáo Hội tìm cách giảm nhẹ đau khổ cho dân tộc bất hạnh kia ? Và quả nhiên, đã yên lặng đến thế mà nghe đâu năm 1944, Hitler vẫn có kế hoạch bắt cóc Đức Giáo Hoàng vì cho ngài là một thế lực tinh thần cản mũi Quốc Xã Đức.
Trong thực tế, Đức Thánh Cha cùng với các vị đại diện Tòa Thánh và Giáo Hội ở các nước bị Đức chiếm đóng đã cứu được nhiều người Do-thái. Thậm chí người ta còn nói rằng những năm ấy trong Điện Vatican có nhiều người mặc áo Giáo Sĩ, nhưng thật ra là những người Do-thái và cả những cán bộ cộng sản trá hình.
Dù sao, trước những lời qua tiếng lại chỉ trích hay bênh vực Đức Pi-ô XII, Tòa Thánh đã mở cửa văn khố để các sử gia tự do nghiên cứu kho tư liệu của thời kỳ Thế Chiến. Hiện nay, các công trình nghiên cứu và tranh luận vẫn đang tiếp diễn.
Điều chỉ trích thứ hai đối với Đức Pi-ô XII là càng lớn tuổi ngài càng độc tài. Ngài nói: “Tôi không cần người cộng tác, chỉ cần người thừa hành”. Từ đó, chức năng của các vị Hồng Y ở Giáo Triều bị coi nhẹ. Việc gì Đức Thánh Cha cũng tự mình theo dõi. Sự bao biện này cho thấy khả năng làm việc phi thường của ngài. Nhưng mặt khác nó đưa đến những hậu quả tiêu cực: Giáo Triều như bị tê liệt, và khi chỉ còn những người thừa hành, thì các vị trí quyền lực lại rơi vào tay những vị già nua, bảo thủ, không có khả năng nắm bắt các nhu cầu và vấn đề thời đại. Nhân sự già cỗi như vậy cộng với khuynh hướng độc tài của Đức Thánh Cha chặn đứng tiềm năng canh tân và tiến bước trong Giáo Hội, nhiều nhà Thần Học rất có công và nhìn xa trông rộng phải chịu những biện pháp chế tài khắc nghiệt. Đức Thánh Cha có trí tuệ siêu việt, nhưng hình như ngoài ngài ra thì không ai có quyền đóng góp vào công cuộc đổi mới. Dần dà phát sinh một cảnh tương phản: Ở bên ngoài Đức Thánh Cha càng thu hút quần chúng, càng được tôn sùng nhiệt liệt bao nhiêu, thì bên trong Điện Vatican ngài càng cô quạnh bấy nhiêu.
Trên đây là hai nhược điểm khiến cho sự chỉ trích ít nhiều có cơ sở thực tế. Từ khi Đức Giáo Hoàng qua đời và Công Đồng Vatican II phát động công cuộc canh tân, nhiều người đã thừa thế đưa ra những nhận định nặng lời về những mặt tiêu cực đó. Có những người không trực tiếp liên hệ với thời Đức Pi-ô XII, nhưng trong tâm não thời sau họ cũng có thái độ hậm hực, thậm chí hằn học đối với ngài. Họ không bỏ qua một khía cạnh nào mà không soi mói, chuyện lớn thì như thái độ độc tài nghiêm khắc của Đức Thánh Cha và đường lối mục vụ có vẻ cổ vũ cho sự tôn sùng các nhân Đức Giáo Hoàng, chuyện nhỏ thì như cái gọi là sự lộng hành của bà nữ tu quản gia trong phủ giáo hoàng. Cả những chuyện Đức Thánh Cha chẳng có trách nhiệm gì như những hành động bất thường của viên bác sĩ trong cơn bệnh cuối cùng của ngài hoặc những bất cập trong tang lễ cũng bị khai thác với ít nhiều ác ý.
Công việc điều tra, nghiên cứu nhằm tôn phong Đức Pi-ô XII lên hàng Chân Phước vẫn đang tiếp diễn.

Mật Hội tháng 10.1958

Triều đại của Đức Pi-ô XII lâu 18 năm. Suốt thời gian đó, “hào quang” của Đức Thánh Cha như lấn át hết mọi khuôn mặt khác. Khi ngài nằm xuống, vấn đề bầu người thừa kế sự nghiệp lớn chắc chắn là việc khó khăn và tế nhị. Nhiều vị thông thạo nội tình Giáo Hội thầm mong ước Đức Cha Montini, Tổng Giám Mục Milano, lên kế vị Đức Pi-ô XII. Từ sau thế chiến thứ hai, những ai có việc đến Vatican đều có ấn tượng sâu đậm về ngài Montini. Đây là thời kỳ Đức Pi-ô XII theo thiên hướng riêng của ngài, tự mình điều hành mọi công việc. Ngài không có Hồng Y Quốc Vụ Khanh nữa. Ngài chỉ có một người phụ tá đúng là cánh tay mặt của ngài: Đức Ông Montini.
Đức Thánh Cha phán đoán mọi việc với quyền uy tuyệt đối, nhưng trước đó mọi người đều cảm thấy ấm lòng khi được Đức Ông Montini đón tiếp và đàm đạo. Đức Ông Montini là người kiến thức rất rộng, là nhà trí thức sâu sắc, bao quát các nhu cầu và vấn đề thời đại. Ngài lại biết lắng nghe, và đối thoại rất chân tình, cởi mở. Một tấm lòng vàng.
Nhưng có một trở ngại: Đức Cha Montini không phải là Hồng Y. Theo Giáo Luật, các Hồng Y vẫn có quyền bầu một vị không phải là Hồng Y, thậm chí một Giáo Dân thường, lên ngai Giáo Hoàng. Nhưng đó là nói về nguyên tắc, lý thuyết. Trong thực tế, đã gần chín trăm năm, không có vị nào ngoài Hồng Y Đoàn được bầu lên Tòa Thánh Phê- rô.
Năm 1954, khi ngài Montini được phong chức Giám Mục và được sai đi cai quản Tổng Giáo Phận Milano, Đức Pi- ô XII đích thân đọc lời khen ngợi ngài và tiết lộ là chính Đức Cha Montini đã xin được miễn phải mặc áo đỏ. Dù sao dư luận vẫn nhận định việc Đức Cha Montini không còn ở bên Đức Pi-ô XII là một nước cờ của cánh bảo thủ nhằm đưa một người nổi tiếng cởi mở và có tinh thần cách tân khỏi trung tâm quyền lực. Sự thực khách quan là những thành quả rực rỡ nhất của Đức Pi-ô XII đều xảy đến trước năm 1954. Từ đó trở đi, triều đại của Đức Pi-ôâ XII giống như một buổi hoàng hôn, và hoàn toàn nghiêng về co cụm bảo thủ.
Sự mong ước ngài Montini lên ngôi có lý do sâu xa, nhưng truyền thống chín thế kỷ cho thấy khả năng này khó thực hiện.
Dư luận nói chung, và cả nội bộ Hồng Y Đoàn, bắt đầu tập trung sự chú ý vào mấy vị Hồng Y. Hóa ra, nếu tìm hiểu, sẽ thấy trong Hồng Y đoàn vẫn có những gương mặt độc đáo. Giáo Hội gồm vô vàn những con người khác nhau, và Hồng Y Đoàn gồm 51 vị này cũng phản ảnh những sắc thái khác nhau của cùng một Giáo Hội. Vấn đề là trong một thời điểm lịch sử nhất định, vị nào sẽ được ơn Quan Phòng chỉ định làm người dẫn đường.
Những ai muốn đổi mới mau và mạnh đã hướng về Đức Tổng Giám Mục Giáo Phận Bologna, Hồng Y Lercaro. Ngài Lercaro là một người thánh thiện, thời đó Giáo Hội còn nói tiếng La-tinh, ngài đã chủ trương cử hành phụng vụ bằng ngôn ngữ phổ thông, và đường lối mục vụ của ngài có nhiều điểm mới mẻ. Những người không ưa ngài thì bảo: “Bầu ngài làm Giáo Hoàng để ngài biến điện Vatican thành trại cô nhi sao ?” Là vì Đức Hồng Y Lercaro đã đưa một số trẻ mất cha mẹ vào ở trong Tòa Giám Mục.
Đối lại với những người muốn đổi mới, có những người cảm thấy ấm cúng trong Giáo Hội như vẫn có thời Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII. Những người này đặt hy vọng vào Đức Hồng Y Siri, Tổng Giám Mục Genoa, một người còn bảo thủ hơn Đức Pi-ô XII và miệng lưỡi sắc như dao. Nhưng dựa vào ngài Siri là một tính toán sai lầm. Các Hồng Y cử tri nói chung có đủ sự tinh tường để nhận ra một định luật: bất kỳ theo đường lối nào thì cũng có mặt tích cực và tiêu cực, cứ lâu lâu Giáo Hội lại chuyển từ tả sang hữu hay từ hữu sang tả để điều chỉnh những tiêu cực sau khi đã thu được những kết quả tích cực trong một địa hạt nào đấy. Đức Pi-ô XII ở ngôi 18 năm, mà ngài Siri mới có 52 tuổi. Liệu có đủ cơ sở khách quan để đi một hướng trong hai triều đại Giáo Hoàng dài ?
Thế là cả người bảo thủ lẫn người cấp tiến khó hội đủ hai phần ba số phiếu của Hồng Y Đoàn. Giải pháp thứ ba là trong khi chưa biết đi theo hướng nào, thì hãy bầu một vị cao tuổi hiền hòa để tạo một triều đại ngắn chờ thời, sau đó tùy hoàn cảnh sẽ định hướng rõ hơn. Theo hướng này thì Đức Hồng Y Valeri, một nhà ngoại giao già, thanh lịch và giầu kinh nghiệm, có thể được suy tôn, ngặt một nỗi ngài Valeri lại có bệnh tim. Do vậy có hai vị được nhiều Hồng Y nghĩ đến: một vị là ngài Agagianian, một người Armenia lúc đó là thành phần của Liên Bang Xô-viết, nhưng lại mang quốc tịch Liban. Ngài Agagianian từ thiếu thời đã có cung cách thần đồng. Ngài liên tiếp thành công và thăng tiến từ chức vụ này đến chức vụ khác, thông minh, sắc sảo, tế nhị, lịch thiệp. Đến nay ngài là một Hồng Y rất có ảnh hưởng. ( Về sau ngài Agagianian đại diện Đức Giáo Hoàng chủ tọa Đại Hội Thánh Mẫu ở Sài-gòn. Nhiều người còn nhớ cảnh ngài đội nón lá viếng thăm các cộng đoàn Giáo Dân Việt Nam ).
Một vị khác cũng cao tuổi và tốt lành, là Đức Hồng Y Roncalli, Thượng Phụ Venezza. Ngài Roncalli cũng phục vụ trong ngành ngoại giao, sau nhiều năm âm thầm ở những nhiệm sở xa xôi, năm 1944, ngài được cử làm Sứ Thần Tòa Thánh ở Pháp và sống ở Paris đến 1953, thì được cử làm Thượng Phụ Venezza. Bề ngoài có vẻ sự nghiệp của ngài không mấy vẻ vang, nhưng trong Giáo Phận Venezza ngài rất được nhân dân yêu mến. Nếu cần một người tốt bụng, xử lý thường vụ cho Giáo Hội, được bình an vui vẻ trong mấy năm chờ thời thì ngài đúng là một ứng cử viên tốt.
Cuộc đời có lắm sự bất ngờ, những người cứ tưởng ngài Roncalli là người xuề xòa muốn sao cũng được, thật ra đã nhận định hời hợt. Ở một nhiệm sở đầy uy tín như Paris trong chín năm mà ngài Roncalli vẫn bị đánh giá một cách làng nhàng như thế âu cũng có những uẩn khúc của nó. Đó là thời Giáo Triều đang nghiêng dần về thái độ bảo thủ, và có những biện pháp mạnh tay với những người mở đường mới. Sứ Thần Tòa Thánh, ngài Roncalli tất nhiên đại diện cho Đức Thánh Cha và Giáo Triều. Thật ra tự thâm tâm, ngài Roncalli đồng cảm với Đức Ông Montini rằng nên bình an đón nhận mọi tiến bộ, đừng để sự nghi kỵ làm hỏng niềm tin yêu đối với con người. Giữa một bên là Giáo Triều, đang nặng khí thế kiểm duyệt với một bên là Giáo Hội Pháp đang hừng hực chí hướng canh tân, Đức Cha Roncalli đã tìm cách dẹp bớt mâu thuẫn và hàn gắn. Để làm được công việc này ngài buộc phải len lỏi, phải lững lờ, phải hiểu cả bên này và bên kia. Chính đường lối ấy đã làm cho ngài mang tiếng “ba phải”, ngu ngơ.
Sáu Hồng Y Pháp đi dự Mật Hội bầu tân Giáo Hoàng thì đã có một vị dứt khoát tuyên bố: “Có một điều chắc chắn, sẽ không phải là cụ Roncalli”. Nhưng một Hồng Y khác, Đức Cha Feltin, vì là Tổng Giám Mục thủ đô Paris, nên có cơ hội hiểu rõ hơn Đức Cha Roncalli “là người lúc nào cũng thân thiện, hiểu biết, và luôn tìm cách giải tỏa các vấn đề khó khăn; nhưng khi cần hành động, thì ngài không thiếu cương quyết và dứt khoát. Sự nhân ái của ngài là một sức mạnh chứ không phải là mềm yếu. Hơn nữa, ngài lại tế nhị, sắc sảo, và nhìn xa trông rộng; tôi có thể nêu ra rất nhiều trường hợp ngài đã vượt ra ngoài tầm tay của những ai muốn lợi dụng ngài”.
Giữa những ý kiến khác biệt như thế, Đức Hồng Y Roncalli đến Roma và mau chóng nhận thấy nhiều người đang nghĩ đến mình. Chúa ban cho ngài một cõi tâm luôn bình an. Ngài viết cho một Giám Mục: “Tâm hồn tôi được nâng đỡ vì tôi tin vào một Lễ hiện Xuống mới sẽ thông ban cho Giáo Hội một sinh lực mới nhân dịp Giáo Hội có một thủ lãnh mới và tiến hành điều chỉnh lại tổ chức, để Giáo Hội phục vụ chân lý, phục vụ Điều Lành và Hòa Bình. Giáo Hoàng mới có phải là người Bergamo hay không ( ngài Roncalli quê ở Bergamo ), không phải là sự quan trọng. Mọi người phải cầu nguyện để ngài được quản trị một cách khôn ngoan và hiền hòa, để ngài là một vị thánh và là người thánh hóa người khác. Tôi nói thế, Đức Cha đủ hiểu”. Nhưng ngài Roncalli còn viết: “Về phần tôi, cầu trời cho chén này qua đi”.
Khoảng một tuần sau, ngài Roncalli đi thăm một bạn cũ đang làm việc ở phủ Quốc Vụ Khanh, Đức Cha Dell’Acqua: “Cha à, cha thấy rồi đấy, báo chí nói tôi có thể là Giáo Hoàng, tôi phải làm gì đây ?” – “Thưa Đức Hồng Y, xin ngài hãy phó thác mình trong tay Chúa, và nếu Chúa muốn thế, xin ngài đừng chối từ: ngài hãy buông mình theo và đảm nhận Lễ Hy Sinh mà Chúa đòi hỏi”.
Không mấy hôm đã sát ngày Mật Hội. Hai vị Hồng Y bạn già gặp nhau. Đức Cha Della Costa, Tổng Giám Mục Firenze nói với Đức Cha Roncalli: “Ngài có thể là Tân Giáo Hoàng đấy”. – “Nhưng tôi bảy mươi bảy tuổi rồi”. – “Ôi chao ! Tôi còn hơn ngày mười bảy tuổi đây này… Ngài chỉ làm mười năm cũng đủ…”
Ngày hôm sau, 25.10.1958, 51 vị Hồng Y khai hội. Có những 24 vị còn lớn tuổi hơn ngài Roncalli. Hồng Y Đoàn hồi ấy già thế !
Trước khi cửa Mật Hội đóng kín, có một Thánh Lễ cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Bài giảng trong Thánh Lễ này có một nhan đề truyền thống: de eligendo pontifice ( việc bầu Giáo Hoàng ). Vị giảng thuyết kỳ này là Đức Hồng Y Bacci. Người ta chú ý mấy lời như sau: “Chúng ta cần một vị Giáo Hoàng có sức mạnh tinh thần lớn và có lòng mến rực lửa… Ngài cần bao trùm cả Giáo Hội Phương Đông lẫn Phương Tây. Ngài sẽ là người của mọi người, mà đặc biệt ngài có lòng ưu ái đối với những người đang bị áp bức hãm hại dưới thống trị của bạo quyền và những người nghèo khổ, bần cùng… Mong sao vị đại diện mới của Đức Ki-tô sẽ bắc cây cầu nối liền mọi giai tầng xã hội và mọi dân tộc, kể cả những dân tộc đã hất hủi và bách hại đạo Chúa Ki-tô. Một người từng trải, giàu kinh nghiệm về đường đi nước bước của nghệ thuật ngoại giao không phải là cần nhất, mà cần nhất là một đấng thánh thiện, để xin được Thiên Chúa ban cho những sự vượt quá tài năng tự nhiên… Ngài sẽ rộng lòng đón tiếp các Đức Giám Mục ‘mà Thánh Thần đã chọn để quản cai Giáo Hội của Thiên Chúa’ (Cv 20, 28 ). Ngài sẽ sẵn sàng khuyên bảo khi các vị có điều gì ngờ vực, lắng nghe và ủy lạo khi các vị gặp lo âu, và nâng đỡ chương trình kế hoạch của các vị”.
Qua lối nói kín đáo thường lệ trong Giáo Hội, hình như đa số Hồng Y Đoàn nhận định Giáo Hội đã quá nghiêng về một phía và ước mong một bầu khí nồng ấm hơn.
Ở Rô-ma có một ngạn ngữ về các Mật Hội: “Ngày nhất quỷ quậy phá, ngày nhì người tung hoành, ngày ba Chúa hướng dẫn”. Vậy mà Mật Hội 1958 lại lâu những 4 ngày. Nhưng dân nghèo Rô-ma vốn sống rất gần các vị Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám Mục, nên cũng hơi nhiễm thói “gần chùa gọi bụt bằng anh”, lại có một truyền tụng khác: “Ngày thứ nhất các Hồng Y đương đầu với nhau, ngày thứ hai cãi nhau, ngày thứ ba làm hòa với nhau, ngày thứ tư bầu tân Giáo Hoàng”. Xét ra đó chỉ là những kiểu tráo lộng.
Điều duy nhất có thể biết được chắc chắn lại do chính Đức Giáo Hoàng sau này tiết lộ: trong nhiều vòng phiếu liên tiếp, số phiếu bầu cho ngài Agagianian và ngài Roncalli ngang ngửa với nhau. Qua sáng thứ tư của Mật Hội, số phiếu của ngài Roncalli bắt đầu bứt phá.
Bình an thanh thản là ơn thiên phú của ngài Roncalli. Những năm làm ngoại giao lận đận, ngài đã thanh thản chấp nhận bị hiểu lầm, bị đánh giá thấp, và sẵn sàng mang thân phận ấy cho đến chết. 5 năm làm mục vụ được con chiên yêu mến, ngài cũng vẫn bình an thanh thản. Về Rô-ma sau khi Đức Pi-ô XII qua đời, thấy mình có thể sẽ lên ngôi Giáo Hoàng, ngài cũng vẫn bình tĩnh. Đến sáng hôm nay, hình như sự thanh thản đang trải qua một cơn thử thách. Bình thường ngài Roncalli rất thích hàn huyên với bạn bè quanh bàn ăn. Trưa hôm đó ngài không dùng bữa chung với các vị Hồng Y, mà đem mấy món ăn thanh đạm về phòng riêng với người thư ký của ngài, cha Capovilla. Nét mặt ngài hằn lên vẻ lo âu, ngài có vẻ lúng túng, không hồn nhiên như lúc bình thường. Sinh lực hình như quy hết về nội tâm, ngoại cảnh toàn là trở ngại.
Chiều hôm ấy, 73 giờ sau khi khai hội, Đức Hồng Y Roncalli đủ phiếu để đắc cử. Đoàn trưởng Thánh Đoàn Hồng Y, ngài Tisserant, chính thức hỏi ngài có nhận không. Nét mặt nghiêm nghị, ngài Roncalli trả lời: “Nghe tiếng ngài nói, tôi run lên sợ hãi. Tôi biết rõ mình nghèo nàn nhỏ mọn, rất lấy làm hổ thẹn. Nhưng trong phiếu bầu của các vị tôn huynh Hồng Y trong Hội Thánh Roma chúng ta, tôi nhìn thoáng một dấu chỉ của Thiên Ý, tôi xin chấp nhận sự đề cử của các vị. Tôi xin cúi đầu hạ mình trước chén đắng và trước Thánh Giá nặng nề. Trong đại lễ Chúa Ki-tô Vua, tất cả chúng ta đã hát: Chúa là Đấng phán xét, Chúa ban lề luật cho ta, Chúa là Vua ta: chính Ngài sẽ cứu ta.”
Tất cả các tấm phương du trên ghế ngồi các vị Hồng Y đều hạ xuống, trừ tấm phương du của vị tân cử. Hồng Y Tisserant lại hỏi: “Ngài muốn mang danh hiệu nào ?” – “Vocabor Johannes ( Tôi xin mang danh hiệu Gio-an )”.
Hình như có một thoáng gợn bất ngờ giữa chốn tôn nghiêm. Đã lâu lắm, 624 năm, không có vị Giáo Hoàng nào mang danh hiệu ấy. Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII giải thích: “Đấy là một danh hiệu rất thân thương với chúng tôi, bởi đấy là tên gọi của thân phụ chúng tôi. Thân thương bởi đó là danh hiệu của xứ đạo nhỏ bé nơi chúng tôi đã chịu Phép Rửa. Đó cũng là thánh danh của vô số Nhà Thờ Chính Tòa trên khắp thế giới và trước tiên là của Thánh Cung linh thiêng Latêrano là Nhà Thờ Chính Tòa của chúng tôi… Nhưng chúng tôi còn yêu danh hiệu Gio-an… vì đó là tên gọi của hai người rất gần với Chúa Ki-tô là Thiên Chúa Cứu Thế, và là Đấng sáng lập Giáo Hội: Đó là Gio-an Tẩy Giả, vị tiền sứ của Chúa và Gio-an kia là người đồ đệ viết Tin Mừng mà Chúa Ki-tô và Thánh Mẫu rất nhân hiền yêu dấu”. Bài diễn từ đầu tiên kết thúc bằng một lời kêu gọi đó hướng tới toàn thể người Công Giáo: “Hỡi các con, hãy yêu thương nhau, vì đó là giới răn lớn của Chúa”.
Vài phút sau, Đức Gio-an XXIII trở lại điện Sistina trong bộ áo trắng, chỉ còn giữ lại chiếc mũ đỏ trên đầu. Vị thư ký Mật Hội, Đức Cha Di Jorio, tiến lên dâng ngài chiếc mũ trắng. Đức Thánh Cha lấy chiếc mũ đỏ trên đầu của mình đội lên đầu Đức Cha Di Jorio: ngài vừa tấn phong vị Hồng Y đầu tiên của triều đại. Đó là một truyền thống cũ bị bỏ dở từ năm 1903, nay được phục hồi.
Một danh hiệu cổ, một vị Hồng Y mới ngay những phút đầu tiên, như vậy là trở về truyền thống hay là cách tân ? Hình như với vị Tân Giáo Hoàng này sẽ thường có những bất ngờ…

Mật Hội tháng 6.1963

Đúng như mọi người mong đợi, Đức Phao-lô VI đã hoàn thành tốt đẹp Công Đồng Vatican 2. Thông điệp đầu tiên của ngài, Ecclisiam Suam ( Hội Thánh Chúa ) mở hướng cho Giáo Hội đối thoại với mọi người, trong tinh thần canh tân, hoà giải. Từ ngày 29.09 đến ngày 4.12.1963, Công Đồng họp khoá 2, từ ngày 14.09 đến ngày 21.11.1964 họp khóa 3, từ ngày 14.9.1965 họp khóa 4 và bế mạc ngày 8.12.1965. Vào những lúc khó khăn, căng thẳng, Đức Thánh Cha không ngần ngại can thiệp, nhằm tạo ra sự nhất trí cao. Công Đồng mở ra cho Giáo Hội những Giáo Lý và định hướng hết sức phong phú, cô đọng trong 16 văn kiện: 4 hiện chế, 9 sắc lệnh, 3 tuyên ngôn. Những văn kiện trụ cột là 4 hiến chế: Hiến Chế về Phụng Vụ ( Sacro Sanctum Concilium ). Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội ( Ánh sáng muôn dân, Lumen Gentium ), Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải ( Dei Verbum, Lời Thiên Chúa ) và Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội trong thế giới ngày nay ( Gaudium et Spes, Vui Mừng và Hy Vọng ).
Các sắc lệnh và tuyên ngôn cũng khai phá nhiều hướng tiến, và do đó đôi khi đã tạo ra những tranh luận hết sức sôi nổi trong Công Đồng, tiêu biểu như sắc lệnh Unitatis redintegratio ( Tìm Về Hiệp Nhất ) về hoạt động đại kết, hay tuyên ngôn Nostra Aetate ( Thời Đại Chúng Ta ) về tương quan của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Ki-tô giáo, và tuyên ngôn Dignitatis Humanae ( Phẩm Giá Con Người ) về quyền tự do tôn giáo.
Suốt thời gian họp Công Đồng, Đức Thánh Cha Phao-lô VI liên tục có những hành động mở đường, rất nhiều tính biểu tượng, và có sức lôi cuốn và tạo hứng khởi cho toàn Giáo Hội. Ngài mời nhiều anh chị em Giáo Dân vào dự thính Công Đồng. Đầu năm 1964, ngài lên đường hành hương Đất Thánh, phá vỡ một thói quen rất lâu đời của các vị Giáo Hoàng là không ra khỏi vùng đất Italia. Chuyến hành hương này minh họa sắc nét, tâm hướng ‘’về nguồn’’ của Giáo Hội. Đức Thượng Phụ Chính Thống Giáo Athenagoras cũng từ Istanbul ( Thổ Nhĩ Kỳ ) tìm về Đất Thánh, hai vị Mục Tử của Chúa đã xa cách nhau trên 900 năm, giang rộng vòng tay trao nhau nụ hôn bình an trên quê hương của Chúa.
Đức Phao-lô VI tiến hành cải tổ Phụng Vụ theo định hường của Công Đồng. Phụng Vụ như chúng ta cử hành ngày nay ( bằng tiếng phổ thông, các bài đọc Lời Chúa phong phú, chủ tế quay mặt xuống Giáo Dân, Thánh Lễ đồng tế, v.v… ) là do ngài thiết định. Ngài mở ra cơ chế Thượng Hội Đồng Giám Mục theo nguyện vọng của Công Đồng. Ngài cũng có tác động quyết định để Công Đồng biểu quyết tán thành bản văn về quyền tự do tôn giáo với đa số rất lớn.
Vẫn trong tinh thần tìm đến với mọi người để đối thoại, ngày 4.10.1965 ( Công Đồng đang họp khóa 4 ), Đức Phao- lô VI đến Liên Hiệp Quốc để kêu gọi hòa bình. Ngày 7.12.1965, một ngày trước khi bế mạc Công Đồng, có một biến cố rất lớn: hai Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống đồng hủy vạ tuyệt thông đối với nhau, trái độc của vụ tranh chấp và bất hòa năm 1954. Đây quả là một bước tiến vĩ đại trên đường tiến tới hiệp nhất.
Công Đồng Vatican 2 bế mạc ngày 8.12.1965. Nhà thần học Yves Congar nói Công Đồng đã ‘’hoàn thành một công trình vĩ đại lạ lùng, vậy mà mọi sự vẫn còn phải thực hiện’’. Bởi vì Công Đồng mở ra cả một kho báu đạo lý, chỉ dẫn những hướng đi sáng ngời; nhưng làm sao để kho báu đạo lý ấy biến thàng đời sống hiện thực ? Làm sao để toàn Dân Chúa đồng loạt tiến bước theo những định hướng ấy ? Đức Phao-lô VI đã là người hướng đạo Công Đồng khi còn họp thì từ nay ngài cũng dồn hết sức lực để ứng dụng tinh thần Công Đồng trong mọi lĩnh vực.
Tiếp nối những sáng kiến ngoạn ngục của mình hồi Công Đồng còn họp, Đức Thánh Cha tăng cường đối thoại với các Giáo Hội Ki-tô khác. Ngài đi Thổ Nhĩ Kỳ để tái ngộ Đức Thượng Phụ Chính Thống Athenagoras, viếng thăm Hội Đồng Đại Kết các Giáo Hội ở Genève ( Thụy Sĩ ), và gửi các quan sát viên Công Giáo tham dự sinh hoạt của Hội Đồng. Nhiều uỷ ban liên hợp của Công Giáo và Tin Lành, Chính Thống cùng nhau nghiên cứu những vấn đề còn bất đồng và đã làm sáng tỏ được nhiều điểm có thể coi là cơ sở chung. Quan hệ giữa các cộng đồng cùng tin vào Chúa Ki-tô trở nên thân cận và đạt được những bước tiến rõ rệt.
Đức Phao-lô VI triển khai tinh thần hiệp thông và đối thoại trong những chuyến tông du tới Châu Mỹ La-tinh (1968 ), Châu Phi ( 1969 ) Viễn Đông ( 1970 ). Các quan sát viên của Tòa Thánh ở Liên Hợp Quốc, và các cơ quan của Liên Hợp Quốc như tổ chức Giáo Dục và Văn Hoá ( U.N.E.S.C.O ) và tổ chức Lương Nông Quốc Tế ( F.A.O ) hoạt động tích cực để đưa tinh thần phục vụ con người toàn diện vào các cơ chế hiện đại. Đức Thánh Cha cổ võ sự phát triển toàn diện và tình liên đới toàn cầu trong thông điệp Populorum Progressio ( sự tiến bộ của các dân tộc ) năm 1967.
Một lãnh vực còn rất khó khăn đối với Giáo Hội là tình hình tôn giáo ở các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Quan hệ của Toà Thánh với các nước này đã “tan băng” đôi chút nhờ Đức Gio-an XXIII, Đức Phao-lô VI tiếp bước mở đường sang Đông Âu ( Ostpolitik ). Giữa rất nhiều trở ngại trong ngoài, tài ngoại giao sáng suốt của một người thân tín với Đức Thánh Cha là Đức Cha Casaroli ( sau này sẽ là Quốc Vụ Khanh của Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II ) đã đạt được một vài tiến bộ ở Nam Tư, Hung Gia Lợi, Ba Lan, ít nhiều giảm được tình cảnh bị cô lập của người Công Giáo ở các nước này.
Đức Phao-lô VI đặc biệt ao ước được góp phần tái lập hoà bình ở Việt Nam. Tết Dương Lịch năm 1966, ngài gửi lời chúc mừng năm mới đến Hà Nội, Sài-gòn, Moscowa và Bắc Kinh. Ngài nhiều lần tiếp xúc với phía Mỹ, có ý tìm hiểu xem Toà Thánh có thể làm được gì để phục vụ hoà bình, vì ngài “không thể đồng ý với chiến tranh”. Sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, Đức Thánh Cha mong được mừng Lễ Giáng Sinh 1968 ở Sài-gòn và từ đây đi Hà Nội trong một chuyến hành hương vì hoà bình. Ngài gửi người tâm phúc là Đức Hồng Y Pignedoli đến Sài-gòn bàn việc hoà bình với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Hoàn cảnh lúc đó khiến cho những dự định của Đức Thánh Cha không thể thực hiện. ( Sau này khi chiến tranh Việt Nam vừa chấm dứt, Đức Phao-lô VI sẽ tấn phong vị Hồng Y đầu tiên người Việt Nam, Đức Cha Giu-se Ma-ri-a Trịnh Như Khuê )
Tất cả những hoạt động phục vụ công lý, hoà bình và tình nhân ái này thể hiện sứ vụ cốt yếu của Giáo Hội là loan báo tình yêu thương cứu độ của Thiên Chúa. Năm 1975, sau Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ 3, Đức Phao-lô VI công bố tông huấn Loan Báo Tin Mừng ( Evangelii nuntiandi ). Sau khi làm rõ những cở sở tín lý cho thấy việc loan báo Tin Mừng là bổn phận của Giáo Hội, Đức Thánh Cha diễn giải cặn kẽ từ nội dung đến các phương thế và nhiệm vụ của từng người trong Dân Chúa. Đây là một trong những văn bản lớn cho đến nay vẫn là kim chỉ nam cho các hoạt động tông đồ của Giáo Hội.
Tóm lại, Đức Phao-lô VI đã thực hiện một công trình rất lớn để cho Công Đồng Vatican 2 sinh hoa kết quả. Các Hội Đồng Giám Mục, trong tinh thần đồng trách nhiệm của Công Đồng đã tiếp sức với Đức Giáo Hoàng tạo bầu khí mới trong Giáo Hội.
Tuy nhiên lịch sử cho thấy để một Công Đồng phát huy tác dụng phải mất nhiều thập kỷ. Công Đồng Vatican 2 cũng không phải là một ngoại lệ. Giai đoạn phấn chấn buổi ban đầu qua đi, trong quá trình thực thi Công Đồng bắt đầu nẩy ra những khó khăn. Không kể những người vì quá bảo thủ đã ly khai với Toà Thánh như những nhóm quy tụ chung quanh Giám Mục Lefèbvre, những người thành tâm với Công Đồng cũng hiểu Công Đồng theo những cách khác nhau. Xuất hiện những khuynh hướng này nọ khi ôn hoà, khi cực đoan; kẻ cho là Giáo Hội đi quá chậm, người lại sợ đi quá nhanh sẽ lạc hướng.
Về phần mình, Đức Phao-lô VI cũng có những trăn trở, lo ngại rất nhiều trước những lập trường sôi sục của một số người. Năm năm đầu triều đại, mọi người đều đồng tâm nhất trí, rất phấn khởi trước những hành động và quyết định của Đức Thánh Cha, sau đó, sự đồng tâm nhất trí không còn nguyên vẹn. Đặc biệt ở Âu – Mỹ, có nhiều người chỉ trích Đức Thánh Cha, cho rằng ngài đã co cụm, bám lấy những lề lối cũ, không dám tiến tới…

Có thể coi những phản ứng sôi nổi sau Thông Điệp Humanae Vitae ( “Sự sống con người” ) là dấu hiệu rõ ràng nhất về thái độ tiêu cực của nhiều người trong Giáo Hội đối với đường lối của Đức Thánh Cha. Đã từ lâu chuyện kế hoạch hoá gia đình, kiểm soát sinh sản đặt ra nhiều vấn đề cho thần học luân lý. Giáo Hội có lập trường cố hữu coi sự truyền sinh là mục đích gắn liền với bản chất của hôn nhân, cho nên chỉ những phương pháp ngừa thai nào dựa trên cơ sở chu kỳ sinh lý tự nhiên của phụ nữ mới được kể là chính đáng. Khoa học hiện đại phát triển tạo ra những khả năng mới để điều tiết sinh sản, người ta đặt vấn đề có thể chấp nhận viên thuốc ngừa thai hay không. Đức Phao-lô VI lập một uỷ ban nghiên cứu. Đa số trong uỷ ban này kết luận việc dùng thuốc ngừa thai không trái nghịch với luân lý. Đức Thánh Cha đã ưu tư khá nhiều về vấn đề này. Ngài không thuận theo ý kiến của đa số. Trong Thông Điệp Humanae Vitae, ngài bác bỏ các phương pháp ngừa thai phi tự nhiên, cụ thể là viên thuốc ngừa thai, ( một trong những vị mạnh mẽ chủ trương đường lối thiểu số “duy tự nhiên” là Giám Mục Ba Lan Wojtyla, sau này là Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II ). Mặc dù thông điệp Humanae Vitae đưa ra cả một quan niệm rất cao sáng về hôn nhân, công luận vẫn chẳng quan tâm gì, mà chỉ tập trung vào mấy hàng ngắn ngủi bác bỏ các phương pháp ngừa thai phi tự nhiên.
Sự ồn ào chỉ trích và phản đối gay gắt. Thái độ tiêu cực lộ rõ, cả nơi một vị lãnh đạo cao cấp trong hàng giáo phẩm, một khuôn mặt lớn của Công Đồng Vatican II, là Đức Hồng Y Suenens ( Bỉ ). Đức Thánh Cha không phải không biết đến những khó khăn của các cặp vợ chồng. Thậm chí ngài còn chủ trương cho phép những ai dùng thuốc ngừa thai vẫn được Rước Lễ ( có nghĩa không coi đó là tội trọng ), nhưng lương tâm ngài không chấp nhận nhân nhượng về những điều ngài coi là nguyên tắc.
Kể từ biến cố Humanae Vitac đó, tình cảm nồng ấm chung quanh Đức Thánh Cha đã giảm đáng kể, tại các nước Âu Mỹ. Thời kỳ này, xã hội Tây Phương chuyển mình, tiêu biểu là năm 1968 đó, giới trẻ, sinh viên, học sinh ở Pháp rầm rộ xuống đường, bãi khoá, chiếm giảng đường, phủ nhận hết mọi mô hình cũ và quyền bính trong xã hội. Người hùng của nước Pháp là tướng Charles de Gaulle cũng suýt bị trào lưu đề kháng lật đổ khỏi chính quyền. Người ta nhao nhao đòi tự do tuyệt đối, nhưng tự do để làm gì thì chẳng ai biết. Cho đến nay người ta vẫn còn nghiên cứu về những tác động hỗn độn của trào lưu này đối với xã hội. Nhiều giá trị cũ bị gạt ra một bên, nhưng rất khó tìm được những dự phóng cụ thể, khả dĩ kết tinh được sức sống và hoài bão của toàn xã hội. Tình trạng này ảnh hưởng dây chuyền vào nội bộ Giáo Hội. Số thông kê về những người giữ đạo và đi Nhà Thờ, về các Linh Mục, nam nữ tu sĩ, chủng sinh, tuột dốc thảm hại, sự bất mãn, phê phán giáo quyền cũng gia tăng.
Không nói cũng có thể hình dung được một vị Giáo Hoàng hết sức tế nhị như Đức Phao-lô VI đau đớn biết bao nhiêu vì cơn khủng hoảng này. Những tinh hoa tâm linh và văn hoá tích tụ nơi ngài hình như ít được đại chúng cảm nhận. Những nét phũ phàng của cuộc sống khiến cho có những lúc ngài cảm thấy như lên cơn hấp hối. Nhưng niềm tin cao sâu nâng đỡ ngài đi vào mầu nhiệm Chúa Giê-su, và qua Chúa, Giáo Hội được dựng cao làm tụ điểm cho người đời chống đối, ( đó là chủ đề của một cuộc tĩnh tâm do Hồng Y Ba Lan Karol Wojtyla giảng ). Những ai không quá bị thu hút bởi những chuyện thời sự chống đối eo sèo, vẫn được nghe những lời giáo huấn rất mực uyên thâm phong phú của Đức Thánh Cha.
Một niềm an ủi lớn Chúa dành cho ngài là sự lớn mạnh ngoạn mục của Giáo Hội ở các nước nghèo được mệnh danh là Thế Giới thứ ba. Vào những năm cuối đời ( 1975 – 1978 ) Đức Phao-lô VI, hai nước đông dân Công Giáo nhất thế giới là Brasil với 135 triệu người và Mexico với gần 75 triệu người. Trong mười nước đông dân Công Giáo nhất thì đã có ba nước Châu Mỹ La-tinh, là Brasil ( đứng đầu bảng 10 ), Mexico ( đứng thứ 2 ) và Argentina ( đứng thứ 9 với khoảng 28 triệu người ) và một nước Châu Á: Philippines ( đứng thứ 6 với 45 triệu người ).
Châu Á và Châu Phi là hai lục địa người Công Giáo chỉ là thiểu số, nhưng ở Châu Á, tỷ lệ dân số trung bình hàng năm là 2,5% thì tỷ lệ gia tăng dân số Công Giáo lại là 3,7%, đưa dân số Công Giáo lên 72 triệu người, tức 8,5% Công Giáo thế giới ( Giáo Hội Hàn Quốc phát triển vượt bậc thời kỳ này ). Ở Châu Phi, tỷ lệ gia tăng dân số là 3,8% thì tỷ lệ gia tăng Công Giáo lại là 5%, đưa tổng số người Công Giáo lên 72 triệu, tức 8,5% Công Giáo thế giới. Nguyên Châu Mỹ La-tinh đã chiếm 42% Công Giáo thế giới với 358 triệu người. Nếu cộng với Châu Á và Châu Phi, thì các nước thuộc thế giới thứ ba đã chiếm gần 60% Công Giáo thế giới. Như vậy, về mặt số lượng, trọng tâm cộng đồng Công Giáo nằm trong Thế Giới thứ 3.
Không chỉ gia tăng về số lượng, các Giáo Hội Thế Giới thứ 3 bắt đầu tạo lập được những môn phái Thần Học. Trước kia, Công Đồng Vatican II nội dung phong phú là thế, nhưng một nghị phụ Châu Phi như Đức Cha Zoa (Camerun ) vẫn có cảm tưởng như đang tham gia giải quyết những vấn đề của Châu Âu. Đức Cha Zoa trong lúc ngẫu hứng nói có phần quá đáng, bởi Công Đồng nói về những điểm rất cơ bản cho cuộc sống Đức Tin ở mọi nơi; nhưng đúng là từ bối cảnh lịch sử, đến cách đặt vấn đề, và ngôn ngữ, Công Đồng mang đậm dấu ấn của các Nghị Phụ và các nhà Thần Học Tây Phương. Thời hậu Công Đồng – và đó cũng là một kết quả của Công Đồng – Thần Học Công Giáo đã sinh ra những hoa trái mới mang hương vị Á – Phi – Mỹ La-tinh.
Ở Châu Mỹ La-tinh có Thần Học Giải Phóng, ở Nam Phi có Thần Học da đen, ở Nam Á và Đông Á thần học thiên về khai phá các lãnh vực hội nhập văn hoá và đối thoại tôn giáo. Hiệp hội đại kết các Thần Học gia thế giới thứ 3 (EATWOT ) họp đại hội lần đầu ở Sar-es-Salaam ( Tanzania ) năm 1976. Dĩ nhiên các môn phái Thần Học này, cũng như mọi môn phái Thần Học, có mặt này mặt kia chưa hoàn bị, còn bỏ ngỏ cho những điều chỉnh và phát triển về sau. Nhưng đó là những nền Thần Học mang hơi thở, và kinh nghiệm sống Đức Tin của những vùng đất còn nhiều tiềm năng, nhiều hứa hẹn cho Giáo Hội.
Hơn cả lượng người hay các tác phẩm Thần Học, Dân Chúa ở thế giới thứ ba còn mang lại cho Giáo hội nhiệt tình và hứng khởi của dân nghèo. Khí thế này là một dòng máu mới, là một đối trọng và một bổ túc đúng lúc cần thiết, khi mà Giáo Hội ở các nước phát triển hơn đang bị vây bọc và xâm thực bởi não trạng phê bình cau có, luẩn quẩn không cùng nơi một số người Công Giáo, còn đại chúng thì ngày một lơ là với Nhà Thờ, với tâm linh, và xã hội ngả mầu “duy thế tục”.
Trở lại chuyện Humanae Vitae để làm ví dụ, không thể nói trong quan hệ vợ chồng, người Công Giáo ở thế giới thứ ba “hợp chuẩn” hơn người Công Giáo Âu Mỹ. Nhưng trong khi ở Aâu Mỹ người ta bực bội phê phán Humanae Vitae, coi đó như một vật cản trên đường đến với Giáo Hội, thì các cộng đồng ở thế giới thứ ba lại tỏ lòng tri ân Đức Giáo Hoàng, vì người ta cảm kích trước lời kêu gọi loài người đừng sa vào chước cám dỗ “giảm thiểu miệng ăn để khỏi phải thêm phần chia sẻ cơm bánh”. Người ta cảm thấy Đức Thánh Cha thực sự bênh vực người nghèo, Ngài phi bác thái độ ích kỷ của các nước giầu đã hưởng quá nhiều lợi lộc từ các dân tộc nhược tiểu mà chỉ muốn khư khư giữ của, mặc dầu làm bộ giả nhân giả nghĩa. Những chuyến đi của Đức Thánh Cha đến Châu Mỹ La-tinh ( 1968 ), Châu Phi (1969 ) và Ấn Độ, Philippines ( 1970 ) là dịp để Ngài nhận thấy lòng nhiệt thành và sức sống của Giáo Hội ở những vùng đất nghèo khó này.
Chúa Nhật 6.8.1978, vào lúc 21 giờ 40, Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI, như lời ngài viết trong chúc thư, “Nhắm mắt giã từ thế giới đau thương mà tuyệt mỹ này.” Từ vài tháng nay, dường như linh tính mách Đức Thánh Cha rằng ngài không còn ở trên trần gian này bao lâu nữa. Càng ngày ngài càng chìm sâu vào cõi nội tâm, chuẩn bị giáp mặt với Chúa. Dù vậy những biến cố của thế gian vẫn như bám lấy ngài, như nhắc nhở ngài về cuộc đời “đau thương và tuyệt mỹ” vẫn đang ngóng đợi Ơn Cứu Độ của Chúa. Đặc biệt đau đớn với Đức Phao-lô VI là biến cố người bạn thân của ngài, nguyên thủ tướng Ý Aldo Moro, bị một tổ chức khủng bố cực tả mang danh Lữ Đoàn Đỏ bắt cóc, sau đó người ta tìm thấy xác ông này ngày 9.5.1978. Biến cố ấy cũng làm Đức Thánh Cha thêm thèm khát sự giải thoát trong Nước Chúa…

15 năm ở ngôi, Đức Thánh Cha Phao-lô VI mang nơi mình cả những hứa hẹn mênh mang của tinh thần Công Đồng đang buổi xuân thì lẫn sự đau thương của những hạt giống tinh thần gieo vào lòng đất thế gian cần phải chết đi mới có thể mọc lên thành hiện thực. Giáo hội nhớ mãi cái ngày ngài mang chiếc vương miện ba tầng của các Giáo Hoàng, biểu tượng của một ngàn năm vương giả, bán đi để phục vụ người nghèo, và khẳng định chí nguyện của Giáo Hội đi theo Đức Ki-tô nghèo khó. Và nhớ mãi hôm trước Lễ bế mạc Công Đồng Vatican II, hai Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống đồng thời hủy bỏ án tuyệt thông lẫn nhau.
Hôm đó, Đức Thánh Cha đã đột ngột quỳ xuống hôn chân vị Giám Mục đại diện Giáo Hội Chính Thống, để bầy tỏ ước nguyện của đấng kế vị Thánh Phê-rô được lãnh đạo Giáo Hội trong tinh thần khiêm tốn và yêu thương của Tin Mừng. Những lúc ấy để lại ấn tượng về một vị Giáo Hoàng đã vượt qua những chặng đường dài cả ngàn năm. Những nỗi đau Ngài phải chịu cũng chính là thước đo cho sự cao dày của một sự nghiệp và một nhân cách quá đỗi lớn lao.
Đức Thánh Cha Phao-lô VI đã ấn định nghi thức cho Tang Lễ của ngài: cỗ quan tài gỗ mộc đặt ngay trên mặt đất, bên cây nến Phục Sinh cao sáng, và trên nắp áo quan, quyển Thánh Kinh mở rộng cho gió lật từng trang. Nghi thức này các đấng kế vị vẫn noi giữ cho đến nay. Người kế vị Đức Phao-lô VI, Đức Gio-an Phao-lô II, nói về ngài như sau:
“Tôi luôn luôn cảm phục sự anh minh sâu sắc và lòng can đảm của Đức Giáo Hoàng Phao-lô, cũng như sự kiên tâm nhẫn nại của ngài trong thời kỳ khó khăn hậu Công Đồng. Chúa Quan Phòng đã ban cho Giáo Hội, con thuyền của Thánh Phê-rô, một người cầm lái biết giữ được bình tĩnh và quân bình cả trong những giờ phút cheo leo nhất; những lúc Giáo Hội như bị rung chuyển từ bên trong, ngài vẫn giữ một niềm hy vọng sắt son vào sự keo sơn của Giáo Hội… Đức Phao-lô VI đã cho ta cảm nhận một tâm thức hết sức nhạy bén về Giáo Hội. Trải qua bao nhiêu nhân tố nhiều khi rất giao động thời ngài làm Giáo Hoàng, ngài đã dạy chúng ta can trường yêu mến Giáo Hội.
Hôm nay tôi hướng lòng về Thông Điệp Ecclesiam Suam ( Giáo Hội Chúa ) là thông điệp định hình chương trình hành động cho triều Giáo Hoàng của Đức Phao-lô VI, tôi vô cùng cảm tạ Thiên Chúa vì đấng tiền nhiệm vĩ đại này, cũng là một người cha đối với tôi: bất chấp nhiều nhược điểm nội bộ mà Giáo Hội đã mắc phải trong thời hậu Công Đồng, ngài đã biết cách bầy tỏ ra bên ngoài, ad extra, gương mặt chân thật của Giáo Hội”. ( Trích Thông Điệp “Đấng Cứu Chuộc con người”, Redemptor Hominis ).
Khi tiếp các giáo lữ đồng hương với Đức Phao-lô VI, Đức Gio-an Phao-lô II nói: “Đức Phao-lô VI là người đặc biệt nhạy cảm với những chủ điểm của văn hóa hiện đại, ngài hiểu biết tường tận và bao quát những vấn đề phức tạp của thế giới ngày nay, ngài rất mực tỉnh thức trước những đau khổ thể chất và tinh thần của nhân loại. Đầy lòng yêu mến Chúa Ki-tô, và tình nghĩa với từng người, ngài là tôi tá trung thành của chân lý trong bác ái và là người tận tuỵ bênh vực các quyền của Thiên Chúa và của con người. Đức Phao-lô VI trước sau mãi mãi vẫn là một vinh quang bất diệt của Giáo Hội” (Diễn từ trước các khách hành hương từ Brescia, tháng 4.1979 ).
Toà Thánh đang tiến hành án tuyên phong Chân Phước cho Đức Phao-lô VI.
Mật Hội tháng 8.1978
Thời điểm này thế giới đã đi vào giai đoạn bùng nổ thông tin. Báo, đài thi nhau đưa tin, bình luận và tạo dư luận. Lại nữa Công Đồng Vatican II đã làm sáng tỏ một chân lý: Giáo Hội là toàn Dân Chúa chứ không phải chỉ là các vị Hồng Y, Giám Mục hay giáo triều Vatican. Nhiều người Công Giáo do đó cũng cảm thấy hăng hái đóng góp tiếng nói cho vấn đề trọng đại là bầu vị Giáo Hoàng kế vị Đức Phao-lô VI. Thời kỳ tiền mật hội đầy những cuộc họp báo, những tuyên ngôn, kiến nghị, những lời bình luận, thậm chí có người tung ra cả những tập sách.
Dân Rô-ma vốn rất gần gũi với ‘’các đấng các bậc‘’, đôi khi bị nhiễm thói “gần Chùa gọi Bụt bằng anh”, họ có thể đưa ra những nhận xét châm biếm, trào lộng, nhiều khi hơi “lếu láo”. Đó chẳng qua là sự hóm hỉnh dân dã. Nhưng lần này, có cả những ông bà quốc tế, mang những danh xưng trịnh trọng như “Ủy ban vận động bầu cử Giáo Hoàng một cách có trách nhiệm” ( C.R.E.P., Committee for the Responsible Election of the Pope ) và những nhà “thần học” cũng cho rằng phải ăn nói xách mé một chút thì mới là “tiến bộ”.
Họ thảo ra một lời rao “việc cần người” như sau: “LỜI KÊU CỨU: Cần một người thánh thiện và đầy hy vọng, biết mỉm cười. Việc làm hấp dẫn, lợi nhuận khả quan, nơi ăn chốn ở bảo đảm. Mọi nhu cầu an sinh đã có một tổ chức dày kinh nghiệm bao cấp. Gửi đơn đến Hồng Y Đoàn, đô thành Vatican !”
“Biết mỉm cười” là một lời chỉ trích gián tiếp Đức Phao-lô VI trong những năm cuối đời nhiều khi lộ vẻ đau buồn trước những biểu hiện quá đà của mấy ông bà “tiến bộ”.
Sau đó người ta lại đòi “một người tuyệt nhiên không dính líu chút nào với những vấn đề tài chính và tổ chức, với những thoả thuận ngầm và những tai tiếng”. Câu này ám chỉ đến một vụ việc đang gây nhiều thiệt hại vật chất và ảnh hưởng xấu đến uy tín của Toà Thánh: người đứng đầu ngành tài chính của Vatican, vị Giám Mục người Mỹ Paul Marcinkus, đang bị nghi ngờ có quan hệ với hai nhà tài phiệt có hơi hướng Mafia là Michele Sindona và Roberto Calvi.
Nhà thần học danh tiếng Hans Kung cũng muốn bắt mạch Giáo Hội. Trong một bài phỏng vấn dành cho tạp chí Panorama, ông có ý kiến rằng Giáo Hội Công Giáo sẽ lúng túng với những vấn đề tính dục bao lâu chưa chịu sửa đổi Thông Điệp Humanae Vitae của Đức Phao-lô VI. Đối với ông việc điều tiết sinh sản là vấn đề quan trọng hàng đầu mà Tân Giáo Hoàng sẽ phải giải quyết. Bản thân ông Hans Kung này cũng là một biểu tượng cho tình trạng sau Công Đồng “Giáo Hội bị rung chuyển từ bên trong” mà Đức Gio-an Phao-lô II đã nói tới. Ông là một nhà thần học có uy tín thời Công Đồng và hậu Công Đồng, ông nói năng bộc trực và hấp dẫn. Ông hăng hái phân tích các vấn đề, và thẳng thừng phê phán những nhược điểm của Giáo Hội. Từ phê phán này đến phê phán khác, ông đi đến phủ nhận tín điều Đức Giáo Hoàng vô ngộ. Ông muốn thay thế “ơn vô ngộ” ( infaillibilité ) bằng ơn trung kiên ( indéfectibilité ). Về điểm này, khoan nói tới những lập luận của ông, nếu chỉ dựa vào công thức thành văn trên giấy trắng mực đen, không thể chối cãi là ông đã đi ngược lại tín lý truyền thống của Giáo Hội. Đặc biệt từ khi có Thông Điệp Humanae Vitae thì Kung càng như ngựa bất kham. Ông thấy quá trình soạn thảo cũng như nội dung của thông điệp này như cô đọng tất cả những khuyết tật của Giáo Hội cả trong tư tưởng lẫn cung cách.
Nào báo, nào đài, nào chuyên viên, nào những người thích ăn nói giật gân, nào những đầu óc quen ăn to nói lớn, những ý kiến nổi lên tứ phía, cho thấy con thuyền Giáo Hội nhấp nhô đi vào một giai đoạn sóng to gió lớn. Nhưng còn những người có nhiệm vụ trực tiếp bầu tân Giáo Hoàng, tức là các Hồng Y, thì sao ? Những sóng gió ấy có gợi lên cho các ngài cảm nghĩ gì không ?
Một người có nhiều kinh nghiệm về các mật hội là Đức Hồng Y Franz Konig, tổng Giám Mục Wien ( Áo ), một vị được coi là có ảnh hưởng lớn trong các cuộc bầu Giáo Hoàng, có lời nhắn nhủ là đừng vội tin vào những dự đoán này nọ ồn ào trên các phương tiện truyền thông. Theo Đức Cha Konig thì các nhân tố quyết định kết quả thường thành hình trong các cuộc gặp gỡ kín đáo của những nhóm nhỏ chừng ba hay bốn vị Hồng Y. Đôi khi các vị ngồi với nhau nhâm nhi mấy ly rượu vang, có vị lại thả hồn theo khói thuốc. Đức Cha Konig nói: “Quan sát bề ngoài tưởng như chẳng có chuyện gì xảy ra. Các cuộc trao đổi đều diễn ra trong chốn riêng tư như thế”. Công chúng biết có những điều gì đấy đang âm thầm xảy đến, nhưng không thấy, không nghe gì cả.
Trong những ngày này, một người bạn tâm giao của Đức Phao-lô VI, Đức Hồng Y Pignedoli, người đã được Đức Thánh Cha cử đến Việt Nam vận động hoà bình, đang rất hoạt động đúng như Đức Cha Konig mô tả. Ngài Pignedoli là người có văn hoá cao, đi đây đi đó khá nhiều, có điều ngài được coi là “cấp tiến”, e rằng các vị thuộc cánh bảo thủ khó lòng dồn phiếu cho ngài. Chính trong một buổi ngồi uống trà với nhiều Hồng Y người Ý thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, ngài Pignedoli gợi ý hay là lần này bầu cho Đức Hồng Y Gantin. Ngài Gantin là người da đen châu Phi (Bénin ), năm ấy mới có 56 tuổi, một tuổi quá trẻ đối với ngai giáo hoàng. Nhưng điều đáng nói là không phải đợi đến khi Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II qua đời, ngay từ ngày đó, các Hồng Y đã cân nhắc khả năng đưa một người da đen lên Toà Thánh Phê-rô.
Riêng Đức Hồng Y Konig thì bao giờ cũng có một danh sách ngắn những vị có khả năng đắc cử. Ngài nghiên cứu lý lịch và hành trạng của từng vị. Lắng nghe dư luận, tại sao vị này vị khác hay được nhắc tới, cân nhắc, đắn đo… Nói chung thì vẫn có hai khuynh hướng: tiếp tục triển khai đường lối Công Đồng Vatican II, theo hướng các vị tiên Giáo Hoàng Gio-an XXIII và Phao-lô VI đã khai phá, hay là Giáo Hội đã đi quá đà rồi, cần phải trở lại một đường lối bảo thủ hơn.
Đức Hồng Y Siri, lần này cũng như hồi 1958 và 1963, vẫn là người được phái bảo thủ đặt nhiều kỳ vọng. Chính Đức Hồng Y Siri ghi nhận trong tự truyện của ngài rằng trong Cửu Nhật Đại Tang ( Novemdiales ) tháng 8.1978, hai vị Hồng Y Egidio Vagnozzi và Pietro Palazzini đã tìm đến ngài thăm dò ý kiến liệu ngài có nhận sự đề cử chăng. Ngài Siri viết: “Tôi được yêu cầu nói rõ ý mình đối với ý kiến muốn tôi ứng cử. Tôi trả lời rằng tôi không xin ai bất cứ điều gì, cũng không từ chối bất cứ điều gì với ai”. Như vậy là ngài có thể nhận lời. Thái độ này được thông báo kín cho các vị Hồng Y thuộc khuynh hướng bảo thủ.
Đức Hồng Y Siri trả lời phỏng vấn của đài truyền hình Ý, đã nhấn mạnh đến nhu cầu chấn chỉnh Giáo Hội về mặt tín lý: “Mối đe doạ nghiêm trọng nhất hiện nay đối với Giáo Hội là có quá nhiều người nói mà nói sai”.
Rõ ràng là một lực lượng bảo thủ đang thành hình, nhằm tạo ảnh hưởng đối với mật hội sắp tới.

Mật Hội tháng 8.1978

Thật sự nếu trở về với các văn kiện chính thức của Công Đồng Vatican II, thì chẳng hề thấy đức tin bị đe doạ hay suy suyển điều gì; trái lại, chỉ thấy Công Đồng mở đường vào một cõi phong phú, hướng các tín hữu đến những tầm mức cao sâu mà đa số người Công Giáo ít khi ngờ tới. Nhưng khi đạt đến những tầm mức cao sâu đó rồi thì tìm thấy một bầu khí phóng khoáng; và có thể nhiều người đã lạm dụng sự phóng khoáng đó để diễn giải Công Đồng theo sở thích riêng tư của mình. Lời phê bình của Đức Hồng Y Siri nếu đúng là đúng khi nhắm vào những người quá khích đó. Dù sao, sự lên tiếng của Đức Hồng Y Siri cho người ta cảm nhận một khuynh hướng bất bình với hiện trạng Giáo Hội, và nhiều người thuộc khuynh hướng này cho rằng Công Đồng Vatican II chính là đầu mối của mọi lộn xộn.
Nhưng nếu khuynh hướng muốn làm chậm bước tiến đã tìm được một phát ngôn viên nơi Đức Hồng Y Siri, thì khuynh hướng muốn triển khai đường lối của Công Đồng Vatican II cũng chẳng thiếu phát ngôn viên. Ngày 24.8, Đức Hồng Y Benelli, Tổng Giám Mục Firenze, lại đưa ra một ưu tiên khác với Đức Hồng Y Siri về chương trình hành động của vị Giáo Hoàng tương lai. Đức Cha Benelli nhấn mạnh vào một thành quả thiết yếu của Công Đồng Vatican II là cộng đồng trách nhiệm của Giám Mục đoàn thế giới đối với toàn Giáo Hội: “Không nghi ngờ gì nữa, các Giám Mục ngày nay cùng tham gia quản trị Giáo Hội. Các Giám Mục là một tập thể mà Đức Giáo Hoàng là người đứng đầu, cho nên hiển nhiên Giám Mục đoàn dưới sự chỉ đạo của Đức Giáo Hoàng phải tham gia quản trị Giáo Hội”. Đức Cha Benelli cho rằng Thượng Hội Đồng Giám Mục mà Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đã thiết lập theo ý hướng Vatican II “là một cơ chế có thể biến đổi tuỳ theo nhu cầu của thời cuộc”, bao gồm cả “một sự phát triển có thể đưa đến quyền quyết nghị”.
Đức Hồng Y Benelli được coi như cánh tay mặt của Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI trong việc thực hiện tinh thần Công Đồng Vatican II. Có vẻ như hai khuynh hướng bảo thủ và Vatican II đã tìm được ứng cử viên của mình: các vị Hồng Y Siri và Benelli.
Một lực lượng đáng nể trong Mật Hội là 21 vị Hồng Y đến từ các nước Châu Mỹ La-tinh. Lục địa Nam Mỹ là nơi quy tụ hơn 400 triệu người Công Giáo, tức hơn 40% dân số Công Giáo trên thế giới. Trước Công Đồng Vatican II, vùng này tuy quan trọng về số lượng, nhưng ảnh hưởng lên đường lối của Giáo Hội hoàn vũ thì không bao nhiêu. Sau Công Đồng, tình hình đã đổi thay. Các Giáo Hội Mỹ La-tinh ngày càng có tiếng nói quan trọng trong Giáo Hội.
Ngày 20.8, đa số các vị Hồng Y Châu Mỹ La-tinh đã kín đáo gặp nhau tại học viện Brasil ở Rô-ma. Cuộc họp không đề cử một ứng viên nào, nhưng phác thảo nhân dáng của vị Giáo Hoàng tương lai: vị này phải là người toả ra bầu khí thánh thiện, phải thông cảm được những nhu cầu của người nghèo, phải chủ trương chia sẻ quyền bính với cộng đồng Giám Mục Đoàn, phải có sức thu hút thế giới bằng nhân cách và các đức tính của mình. Tóm lại các đại cử tri của Châu Mỹ La Tinh vẽ ra một mẫu người, nhưng không đề cử đích danh một nhân vật nào.
Một ngày sau, Đức Hồng Y Lorscheider, người Brasil, công bố với báo chí nội dung cuộc họp này. Ngài chú thích thêm là các vị Hồng Y Mỹ La-tinh đang tìm một người hiện thân của niềm hy vọng, có một thái độ tích cực với thế giới. Các vị tìm một người không cố quyết áp đặt những giải pháp Ki-tô giáo đối với những người ngoài Ki-tô giáo, người đó phải nhạy cảm với các vấn đề xã hội, biết đối thoại cởi mở và dấn thân tìm kiếm sự hiệp nhất; Các vị mong ước một đấng chăn chiên lành, một mục tử nhân hậu như Chúa Giê-su, một người chân thành tin tưởng rằng Hội Đồng Giám Mục phải có ảnh hưởng thật sự lên quyền Giáo Hoàng. Ngài phải rộng lòng tìm kiếm một giải pháp cho vấn đề điều tiết sinh sản, sao cho không mâu thuẫn với Humanae Vitae, nhưng đi xa hơn thế.
Dựa vào những nhận định như trên, xem ra các vị Hồng Y Mỹ La-tinh nghiêng về đường hướng tiếp tục triển khai tinh thần Công Đồng Vatican II.
Nhưng ít ai biết là ngay lúc ấy, Đức Hồng Y Benelli, người được coi là ứng cử viên của khuynh hướng tiến bộ ôn hoà, vừa có một quyết định sẽ ảnh hưởng đáng kể lên diễn tiến Mật Hội. Vị Hồng Y này biết rằng mình không được lòng phái bảo thủ, và nếu mình thu hút được nhiều phiếu trong mật hội, thì có thể làm phiền lòng nhiều người và gây căng thẳng trong nội bộ Hồng Y Đoàn. Do đó ngài đã âm thầm vận động để tên tuổi mình đừng nổi lên mạnh quá trong mật hội, những trao đổi kín đáo, có khi chỉ bằng điện thoại, với những vị Hồng Y thông cảm với ngài, đã mở đường để đi tìm một ứng viên có khả năng quy tụ nhiều hơn…

Một khi Đức Hồng Y Benelli đích thân vận động để bản thân mình được xóa nhòa đi, thì giống như một khoảng trời quang mây xuất hiện. Đức Hồng Y Benelli ở Firenze ( Ý ), cũng như Đức Hồng Y Suenens ở Bruxelles ( Bỉ ) và Đức Hồng Y Lorscheider ở Aparecida ( Brasil ) đều đồng lòng hướng về Đức Hồng Y Luciani, Thượng Phụ Venezia. Trong khi phái bảo thủ còn đang lo ngại và tìm cách ngăn chặn Đức Hồng Y Benelli đắc cử, thì không ngờ đã có một ứng cử viên khác khiến cho Mật Hội 1978 sẽ là Mật Hội vào loại ngắn nhất thế kỷ XX.
Bản thân Đức Hồng Y Luciani vẫn không ngờ rồi mình đang là trung tâm của một cuộc vận động rất quan trọng. Ngài đã quyết định bầu cho Đức Hồng Y Lorscheider, người Brasil, một Tu Sĩ Dòng Phan Sinh, vì ngài là một người có Đức Tin sâu sắc, văn hoá cao. Ngài rất biết nước Ý và tiếng Ý. Nhưng quan trọng hơn hết, tâm trí ngài luôn ở với người nghèo. Nhưng Đức Hồng Y Lorscheider lại đã đồng tâm với mấy vị khác dồn phiếu cho ngài.
Không phải chỉ có mấy vị Hồng Y chúng ta vừa nêu danh vận động. Người ta được biết trong những cuộc thăm dò ý kiến do các Hồng Y châu Mỹ La-tinh tiến hành, một nhân vật có uy tín và được coi là thông hiểu nội tình Giáo Hội, cha Sorges, Dòng Tên, đã phát biểu: “Nếu quý vị muốn bầu một vị Giáo Hoàng biết cách tái thiết Giáo Hội giữa lòng thế giới, thì quý vị nên bầu ngài Luciani. Nhưng xin quý vị nhớ cho, ngài không quen việc quản trị, cho nên ngài sẽ cần một vị Quốc Vụ Khanh giỏi”.
Và từ những cuộc trao đổi giữa các vị Hồng Y, chắc chắn còn nhiều người khác vận động cho Đức Hồng Y Luciani. Trong dư luận ngoài đời một số báo chí có uy tín như Time ( Anh ), Tspresso ( Ý ) và Le Monde ( Pháp ) cũng đã nêu danh ngài Luciani như là một trong những vị có khả năng đắc cử.
Một phần vì các cuộc vận động giữa các vị Hồng Y diễn ra hết sức kín đáo, phần khác, những dự đoán của báo chí thường chỉ là đoán mò, Đức Hồng Y Luciani vẫn không hề có ý tưởng mình sẽ đắc cử. Ngài là một người có phong cách cực kỳ đơn giản, nhưng không thiếu phần hóm hỉnh. Trong công tác mục vụ, ngài ưu tiên đi thẳng đến những người nghèo khó, bất hạnh, thua thiệt, và không bao giờ lệ thuộc những quyền lợi vật chất. Ngài lại khéo dung hòa sự trung thành toàn vẹn với các nguyên tắc luân lý của Giáo Hội với lòng bác ái và thương xót đối với con người trong những hoàn cảnh éo le khó khăn. Với những khuynh hướng như vậy, ngài Luciani có khá nhiều ý tưởng độc đáo và táo bạo, nhưng ngài chưa hề nghĩ là mình sẽ làm Giáo Hoàng.
Khi có phóng viên hỏi ngài về sự kiện báo chí nêu danh ngài như một người có thể đắc cử Giáo Hoàng, ngài Luciani bật cười rồi gạt phắt: “Có khá lắm thì tôi cũng chỉ ở trong danh sách C thôi”.
Cha Thư Ký Lorenzi lái xe đưa Đức Thượng Phụ Luciani từ Venezia về Roma chịu tang Đức Phao-lô VI và chuẩn bị tham gia Mật Hội. Ngài lưu trú trong ngôi nhà của các Tu Sĩ Dòng Thánh Âu-tinh gần quảng trường Thánh Phê-rô. Không như nhiều vị Hồng Y khác, ngoài những Đại Hội Hồng Y phải họp hằng ngày khi Tòa Thánh trống ngôi, ngài ít dự phần vào những chuyện bàn bạc vận động hậu trường. Ngài có vẻ như đứng ngoài lề, ngày ngày yên lặng dạo bước trong vườn. Chiếc xe hơi Lancia 2000 ngài mua đã năm năm, máy móc đã hỏng hóc. Ngài dặn cha Lorenzi cho sửa xe mau, để bàu Giáo Hoàng xong thì trở về Giáo Phận sớm.
Ngày 25 tháng 8, ba hôm trước Mật Hội, Đức Hồng Y Luciani viết thư cho cô cháu gái:
Cháu Pia thân yêu,
Bác gửi cho cháu các mẫu tem mới phát hành dịp Tòa Thánh trống ngôi, bác chúc mừng cháu đã dậu kỳ thi đầu tiên. Hy vọng sau này Chúa vẫn phù giúp cháu như vậy. Hôm nay các bác đã hoàn tất thời kỳ Tiền-Mật Hội sau phiên họp cuối cùng của Đại Hội Hồng Y. Sau đó rút thăm nhận phòng và đi thăm các phòng. Bác rút được số 60, đó là một phòng tiếp khách nay được thu dọn lại làm phòng ngủ; bác có cảm tưởng như trở về Chủng Viện ở Feltre năm 1923. Một chiếc giường sắt, một tấm nệm, một chiếc thau rửa mặt…
Bác không biết Mật Hội sẽ kéo dài bao lâu. Thật khó mà tìm được người xứng đáng để còn đương đầu với bao nhiêu vấn đề cũng là bấy nhiêu Thánh Giá rất nặng. May thay, bác ở ngoài vùng nguy hiểm. Vào những hoàn cảnh như thế này, chỉ nguyên việc bầu phiếu đã là một trách nhiệm nặng nề rồi. Bác tin chắc cháu là Ki-tô hữu tốt nên cháu sẽ cầu nguyện cho Giáo Hội vào những lúc như lúc này. Cháu cho bác gửi lời chào Francesco và bố mẹ cháu. Bác không viết thư về nhà vì ngay bây giờ bác khá bận rộn. Rất thương yêu cháu… Albino Luciani.
Một ngày sau, chỉ còn vài giờ nữa trước khi khai hội, ngài viết vài dòng ngắn ngủi cho em gái là bà Antonia:
Em thân yêu, anh viết cho em liền trước khi vào Mật Hội. Đây là những giờ phút nặng trĩu trách nhiệm, tuy rồi với cá nhân anh thì chẳng có nguy cơ gì đâu, mặc kệ báo chí muốn bàn tán linh tinh thế nào cũng được. Bầu cử một vị Giáo Hoàng vào lúc này là cả một gánh nặng. Em hãy cầu nguyện cho Giáo Hội, cho anh gửi lời chào thân thương đến Errere, Roberto và Gino. Albino Luciani.
Cho đến lúc ấy, ngài Luciani vẫn chủ quan, tin là không có điều gì xảy đến với mình. Không phải là ngài không tưởng tượng được chuyện đó, nhưng như ngài nói từ khi còn ở Venezia: “Vẫn có một cách thoát thân. Mình vẫn có quyền từ chối kia mà”. Với cha Thư Ký Lorenzi, ngài vẫn giữ nguyên một ý tưởng: “Họ mà bầu tôi thì tôi sẽ nói: “Tôi rất tiếc, nhưng tôi xin từ chối”.
Ý tưởng gọn ghẽ vậy là vì ngài không tin đó là tình huống có thể xảy ra. không ngờ khi ngài đang tự tay dệt cho mình một vỏ bọc bình an, thì sự chuẩn bị kín đáo của nhiều vị Hồng Y đã khiến cho khi 111 vị vào Mật Hội thì cứ mỗi lần bầu phiếu, số phiếu bầu Đức Hồng Y Luciani lại gia tăng một cách rất nhanh chóng…

Theo một số nguồn tin có vẻ phản ánh đúng sự thực, buổi sáng đầu tiên ngày 26.8, Đức Hồng Y Siri dẫn đầu số phiếu, nhưng Đức Hồng Y Luciani theo sau bén gót. Đức Hồng Y Siri được nhiều phiếu nhất, không phải vì Hồng Y đoàn nói chung nghiêng về chủ trường ngưng công trình cải cách theo tinh thần Công Đồng Vatican II; nhưng các vị chủ trưởng tiếp tục đi theo con đường Vatican II lại suy cử những ứng viên khác nhau như các ngài Luciani, Pignedoli, Lorscheider, v.v…
Đức Hồng Y Luciani lại ngạc nhiên hơn ai hết vì số phiếu dành cho mình. Ngài vẫn không tin là mình sẽ đắc cử. Với những anh em đang kín đáo tỏ vẻ chúc mừng, ngài nói: “Chỉ là một cơn giông mùa hè đấy thôi”.
Nhưng đến chiều ngày 26.8, số phiếu dành cho ngài Luciani tăng đột biến. Phiếu của các vị muốn tiếp tục công trình của Vatican II bắt đầu tập trung. Ngài nhận ra rằng không phải mình “Ở ngoài vùng nguy hiểm”, mà trái lại, ở chính tâm bão. Phiếu bầu ngài Luciani cao đến mức chỉ còn thiếu vài phiếu nữa sẽ đạt túc số đắc cử. Càng nghe xướng danh, Đức Hồng Y Luciani càng thảng thốt.
Cuối cùng ngài lau mồ hôi trán và lắp bắp: “Đừng. Xin làm ơn. Đừng”. Không hẹn mà hai vị Hồng Y ngồi bên cạnh là ngài Willebrands và ngài Riberio, cùng đưa tay nắm lấy ngài Luciani. Ngài Willebrands nhỏ nhẹ: “Xin ngài can đảm lên. Chúa ban gánh nặng thì Chúa cũng ban sức mạnh để gánh nặng”. Ngài Riberio còn xác quyết hơn: “Toàn thế giới đang cầu nguyện cho đức tân Giáo Hoàng”.
Đức Hồng Y Konig ở xa hơn nhìn sắc mặt Đức Hồng Y Luciani và có cảm tưởng chắc chắn ngài sẽ từ chối. Đức Hồng Y Felici là người suốt buổi sáng đã bầu cho ngài Siri cầm một phong thư đưa cho ngài Luciani. Trang giấy trong phong thư vỏn vẹn mấy chữ: “Đường Thánh Giá”.
Đức Hồng Y Hoffner về sau tiết lộ cho báo chí rằng đến vòng phiếu thứ tư thì kể như không cần phải đếm phiếu nữa, bởi hầu như phiếu nào cũng ghi danh ngài Luciani.
Cả hội trường vỗ tay vang dội. Lúc ấu là 18 giờ ngày 26.8. Cánh cửa Nhà Nguyện Sistina mở ra đón các vị chưởng nghi tiến vào để tháp tùng Đức Hồng Y Nhiếp Chính Villot đi đến trước mặt ngài Luciani. Đức Nhiếp Chính chính thức đặt câu hỏi: Ngài có chấp nhận sự đề cử theo giáo luật để làm vị thượng tế tối cao không ?
Đức Hồng Y Ciappi thuật lại: “Ngài ngồi sau tôi ba hàng ghế, cho đến tận lúc đắc cử ngài vẫn còn do dự. Đức Hồng Y Villot đặt câu hỏi ngài vẫn tiếp tục do dự. Rõ ràng là hai Đức Hồng Y Willebrands và Riberio đang nâng đỡ khuyến khích ngài”. Cuối cùng, Đức Hồng Y Luciani trả lời: “Xin Thiên Chúa tha thứ cho anh em điều anh em vừa làm cho tôi. Tôi nhận”. Ngài Villot: “Ngài muốn mang danh hiệu nào ?” Sau một giây do dự, nụ cười chợt trở lại trên gương mặt ngài Luciani: “Tôi xin mang danh hiệu Gio-an Phao-lô”.
Tiếng lao xao nổi lên trong Hồng Y Đoàn, sự ngạc nhiên xen lẫn sự thích thú. Lần đầu tiên trong lịch sử, một vị Giáo Hoàng mang danh hiệu kép. Thông thường vị tân Giáo Hoàng chọn danh hiệu là có ngụ ý về đường lối mình sẽ theo đuổi. Hai danh hiệu, một của vị khai sáng Công Đồng Vatican II, và một của vị hoàn tất Công Đồng, ghép lại với nhau đủ nói lên chí nguyện của Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô I.

Như mọi người đều biết, đời Giáo Hoàng của Đức Gio-an Phao-lô 1 quá ngắn ngủi, cho nên không thể nói nhiều về đường lối và sự nghiệp của ngài. 33 ngày ở trên Tòa Thánh Phê-rô đủ để dân chúng yêu mến tặng ngài danh hiệu “Đức Giáo Hoàng tươi cười”.
Ngài để lại ấn tượng về một vị Giáo Hoàng rất khiêm tốn, đơn sơ, trong sáng, hứa hẹn nhiều quan điểm sâu rộng. Ngài chấm dứt truyền thống làm Lễ “đăng quang”, trong đó vị tân Giáo Hoàng nhận ba tầng vương miện để làm vua các vua. Đúng ra, vị tiền nhiệm đã mở đường cho ngài: Đức Phao-lô 6 đã gửi chiếc mũ ba tầng của các vị Giáo Hoàng sang bán đấu giá ở New York để lấy tiền giúp người nghèo, ngụ ý Giáo Hội đã thoát ly những cung cách vương giả truyền thống để trở về với sự giản đơn thanh bạch của Tin Mừng. Đã không còn ba tầng vương miện, sao lại làm Lễ “đăng quang” ?
Đức Gio-an Phao-lô I cho tổ chức “Thánh Lễ trọng thể để đánh dấu bước khởi đầu sứ vụ mục tử của vị đệ nhất thượng tế”. Ngài cũng không còn dùng chiếc kiệu Sedia Gestatoria, nhưng cùng đi bộ với các vị đồng tế ra quảng trường dâng lễ. Từ nay không còn kèn đồng chào đón, không còn đoàn quý tộc tuỳ tùng Đức Thánh Cha nữa. Thay vì nghi lễ “đội triều thiên”, từ nay quan trọng là giây phút nhận dây Pallium, biểu tượng quyền bính thiêng liêng và tinh thần phục vụ. Khi nói về mình, Đức Gio-an Phao-lô I chỉ xưng “tôi” đơn giản, chứ không dùng ngôn ngữ trịnh trọng “chúng tôi” hoặc “Ta” như các vị Giáo Hoàng trước.
Những người thông thạo tình hình Giáo Hội cũng chỉ đưa ra những phỏng đoán về đường lối của vị tân Giáo Hoàng. Những người mong muốn Giáo Hội dấn thân mạnh hơn nữa để đến với dân nghèo đặt nhiều hy vọng vào chủ trương của Đức Hồng Y Luciani như ngài đã đề xuất trong Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1971:
“Để nêu gương trợ giúp cụ thể cho các nước nghèo, tôi xin đề nghị các Giáo Hội giàu có hơn cả hãy tự đánh thuế mình để rót một phần trăm lợi tức vào các tổ chức viện trợ của Vatican. Ta có thể gọi khoản một phần trăm đó là “phần đóng góp của anh em”, ta sẽ hiến tặng khoản tiền đó không phải để làm một món quà từ thiện, nhưng để trả một món nợ, để đền bồi sự bất công do chúng ta đã dính líu với cả thế giới tiêu thụ này, chống lại thế giới còn đang phát triển, và để sửa chữa một cách nào đó các tội xã hội mà tất cả chúng ta đều phải ý thức rõ”.
Những người mong muốn Giáo Hội cởi mở hơn trong các vấn đề đạo đức sinh học lại kỳ vọng vào một lập trường Đức Hồng Y Luciani vừa bầy tỏ ngay sau khi Đức Phao-lô VI qua đời. Một đứa trẻ, Louise Brown, vừa ra đời ở Anh nhờ phương pháp thụ thai trong ống nghiệm. Giáo Hội Công Giáo vốn không chấp nhận sự thụ thai bằng những kỹ thuật không tự nhiên. Vụ Louise Brown hiển nhiên thành vấn đề cho Giáo Hội. Được phỏng vấn, Đức Hồng Y Luciani trả lời: “Tôi gửi lời chúc mừng chân thành nhất đến cô bé người Anh đã được thụ thai do kỹ thuật nhân tạo. Còn với cha mẹ cháu bé, thì tôi không có quyền lên án họ. Nếu họ đã hành động với chủ ý lương thiện theo lòng thành, thì thậm chí họ có công nghiệp trước mặt Thiên Chúa vì điều họ đã quyết tâm và đã yêu cầu các bác sĩ “thực hiện”.
Câu trả lời gây ấn tượng: một là nó có tính tích cực, đề cao sự sống vừa được tạo ra; hai là nó không mang tính luân lý khắt khe đối với hai người cha mẹ; ba là nó không hề phủ nhận giáo huấn truyền thống của Giáo Hội, nhưng chỉ nói rằng ý định chủ quan của hai người cha mẹ có thể là đáng khen. Có người cho rằng câu trả lời này cũng góp phần làm cho Đức Hồng Y Luciani đắc cử Giáo Hoàng. Người ta cho rằng thái độ này sẽ mở đường cho ngài đến với lòng người thời đại.
Những người mong muốn cởi mở hơn tìm thấy nơi Đức tân Giáo Hoàng những lý do để hy vọng. Nhưng những người muốn Giáo Hội chặn đứng những kiểu tiến bộ quá đà lại cũng có lý do để vui mừng.
Ví dụ như thái độ của Đức Thánh Cha đối với thần học giải phóng. Nhiều nhà thần học khởi đi từ sự phân tích những bất công hữu ý hay vô tình đang áp bức con người ở Châu Mỹ La-tinh, đi đến chỗ xác định sứ mạng giải phóng của Giáo Hội theo những mô hình và ngôn ngữ có nhiều phần trùng lặp với những chủ trương của chủ nghĩa xã hội mác xít. Đức Gio-an Phao- lô I cho rằng không thể đồng hoá sứ mạng giải phóng của Giáo Hội với dự phóng chính trị – kinh tế của ý thức hệ mác xít. Ngài cảnh cáo: “Nói rằng ở đâu có Lê-nin, ở đó là Giê-ru-sa-lem” ( Ubi Lenin, ibi Jerusalem ) là sai lầm”. Kế đó, ngài gửi một người phê bình nghiêm khắc thần học giải phóng, Đức Hồng Y Ratzinger ( ngày nay là Giáo Hoàng Benedicto XVI ) làm đặc sứ của mình để tham dự đại hội Thánh Mẫu ở Ecuador tháng 9.1978. Đại hội này là dịp để Đức Hồng Y Ratzinger một lần nữa cảnh báo về một nguy cơ tiềm tàng là đức tin bị biến chất.
Tóm lại, nơi Đức Gio-an Phao-lô I, mấy khuynh hướng khác nhau trong Giáo Hội đều thấy có một điều gì đó để hy vọng. Không ai có thể nói chắc nếu ngài có thời gian triển khai ý lực của mình, thì chính sách và sự nghiệp của ngài ra sao. Giới bình dân không thông thạo lắm những vấn đề thần học hóc búa, người ta chỉ cảm thấy yêu mến Đức Giáo Hoàng vì thái độ đơn sơ, vui tươi, rất gần gũi với đời thường của ngài. Cung cách này lộ ra trong những buổi tiếp xúc hằng tuần với Giáo Dân.
Lời lẽ của các vị Giáo Hoàng trong những dịp này thường trịnh trọng, trang nghiêm, hoặc như với Đức Gio-an Phao- lô II sau này hàm chứa những tư tưởng cao siêu bay bổng. Trái lại, Đức Gio-an Phao-lô I có một văn phong nhẹ nhàng, dí dỏm. Người ta có cảm tưởng như ngài đang kể chuyện vui. Dưới đây xin trích vài hàng làm ví dụ:
“Một hôm có người tìm đến một cửa hàng bán xe để mua một chiếc xe hơi mới. người bán xe có vài lời giới thiệu. “Đây, chiếc xe này rất tốt, xin ông quan tâm bảo dưỡng nó. Ông hãy đổ cho nó xăng supper và dùng loại dầu nhớt thượng hạng cho máy chạy”. Ông khách đáp: “Ôi không ! Tôi không chịu được mùi xăng, mùi nhớt. Tôi sẽ cho xe chạy bằng rượu sâm-banh, còn dầu nhớt thì tôi nghĩ cứ dùng các loại mức trái cây nấu chín là được”. Người lái xe nhún vai: “Tuỳ ý ông thôi, nhưng nếu xe của ông lao xuống hố, xin ông đừng trở lại đây mà khiếu nại làm gì”.
“Chúa cũng cư xử với chúng ta tương tự như thế. Ngài ban cho chúng ta một thân xác có hồn, khiến ta thông minh, và có ý chí. Chúa nói: bộ máy này tốt lắm đây, nhưng nhớ bảo dưỡng nó cẩn thận nghe”.
Có khi Đức Gio-an Phao-lô I gọi ngay một chú bé mười tuổi từ giữa đám đông bước lên, và đối thoại với chú bé một cách thật hồn nhiên. Nhân dân rất thích thú. Người ta nói: “Đức Gio-an XXIII đã trở về”. Đàng sau dáng vẻ rất đơn sơ này thực ra là cả một kho kiến thức, nhưng là những kiến thức luôn luôn gắn chặt với sự sống cụ thể. Đức Gio-an Phao-lô I đã chứng tỏ ngài là người bao quát rất nhiều. Khi ngài viết những lá thư gửi các bậc danh nhân lịch sử trong tác phẩm illustrissomi, xuất bản năm 1970. Trong tác phẩm này, Đức Hồng Y Luciani “đối thoại” với rất nhiều nhân vật, từ các thánh trong Giáo Hội, đến những nhà tư tưởng tác động lên lịch sử, từ các văn hào cỡ thế giới đến những người chuyên viết chuyện giải trí. Hình như ngài động đến hết mọi vấn đề nhân sinh, nhưng lúc nào cũng nhẹ nhàng, ngắn gọn, như bơi lội giữa dòng chảy của cuộc đời thực tế.
Mọi người còn đang nhìn về Đức Gio-an Phao-lô I với rất nhiều thiện cảm thì đời Giáo Hoàng của ngài chấm dứt đột ngột.
4 giờ 30 phút sáng ngày thứ sáu, 29.9.1978, theo lệ thói quen đã gần 20 năm, soeur Vincenza, bà quản gia của Đức Gio-an Phao-lô Luciani, mang một bình cà-phê đặt trong phòng làm việc của ngài. Rồi vẫn theo thông lệ, bà gõ cửa phòng riêng của ngài và nói lớn: “Xin chào Đức Thánh Cha”. Theo thông lệ, bà ra khỏi phòng làm việc. Thường thì Đức Thánh Cha sẽ từ phòng riêng ra phòng làm việc uống một chén cà-phê. Mười lăm phút sau, sơ Vincenza trở lại phòng làm việc của Đức Thánh Cha để thu dọn. Bình cà phê vẫn còn nguyên đó. Bà thấy hơi kỳ lạ, bà phục vụ Đức Luciani từ năm 1959, chưa bao giờ ngài ngủ quên. Một chi tiết khác khiến bà hơi lo, khác với mọi khi, hôm nay lúc bà cất tiếng chào, không nghe trong phòng riêng có tiếng đáp lại. Bà tiến đến trước cửa phòng riêng, qua khe cửa sát mặinh tế đất thấy trong phòng có đèn sáng. Bà đánh bạo gõ cửa, lúc đầu gõ nhẹ, rồi gõ mạnh hơn. Vẫn không một tiếng trả lời. Về sau bà kể: “Tôi sống sót được qua giờ phút ấy phải kể là phép lạ, vì tôi yếu tim mà”.
Khi bà đánh liều mở cửa phòng riêng, thấy Đức Thánh Cha tựa lưng vào thành giường cứng đơ, ngài vẫn đeo kính và tay còn cầm một xấp giấy tờ. Đầu ngài nghẹo sang bên tay mặt và đôi môi hé mở. Nhưng đây không phải là gương mặt tươi cười thường lệ, nét đau đớn hằn lên. Bà bắt mạch cho ngài, rồi bấm chuông gọi hai cha thư ký. Cha Lorenzi ở phòng gần đấy, còn cha Magee thì ở tầng trên. Kế đó bà báo động ở đầu bên kia phủ Giáo Hoàng, nơi có Cộng Đoàn các nữ tu phục vụ việc nội trợ.
Cha Magee điện thoại cho Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Villot ở dưới Đức Thánh Cha hai tầng lầu. Lúc 5 giờ sáng, Đức Hồng Y Villot đã có mặt trong phòng Đức Thánh Cha và chứng kiến sự việc. Lần lượt các nhân vật quan trọng ở Vatican được thông báo. 7 giờ 27, Đài Phát Thanh Vatican báo tin Đức Thánh Cha qua đời: “Lương y của ngài, bác sĩ Renato Buzzonetti được triệu vời khẩn cấp, đã xác nhận ngài qua đời khoảng 11 giờ đêm hôm trước, và nhận định ngài đột tử có thể là do nhồi máu cơ tim cấp tính”.
Về sau có người viết sách về đời Giáo Hoàng ngắn ngủi của Đức Gio-an Phao-lô I với nhan đề “Thoáng một nụ cười” (Le temps d’un sourire ). Và năm 1978 được gọi là năm có ba Giáo Hoàng: Đức Phao-lô VI, Đức Gio-an Phao-lô I, và Đức Gio-an Phao-lô II. Giáo Hội đang lập hồ sơ để tôn phong Đức Gio-an Phao-lô I lên hàng Chân Phước.

Thời gian Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô I ở ngôi quá ngắn: chỉ có 33 ngày. Khi ngài qua đời đột ngột trong đêm 28 rạng ngày 29.9.1978, tình hình Giáo Hội cũng như tình hình thế giới chưa có thay đổi gì lớn so với khi ngài lên ngôi.
Lại một lần nữa, cũng như khi Đức Phao-lô VI qua đời, các nhà bình luận ra sức bắt mạch Giáo Hội, chẩn bệnh, bốc thuốc, suy đoán xem vị tân Giáo Hoàng phải là người thế nào. Có những ý kiến của các vị Hồng Y, như ngài Joseph Ratzinger, Tổng Giám Mục Munchen ( và nay là Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI ) cảnh báo rằng có “những sức mạnh từ phái tả đang gây áp lực” với Giáo Hội, hình như ngài ám chỉ một số thành phần cấp tiến và có ảnh hưởng trên các phương tiện truyền thông, đang cổ võ cho một vị Giáo Hoàng “hiện đại” sẽ thay đổi những định hướng đạo lý truyền thống bị coi là cứng nhắc. Đức Hồng Y Terence Cooke, Tổng Giám Mục New York thì phát biểu: “Tôi không muốn một vị Giáo Hoàng chính trị. Sở dĩ Đức Phao-lô VI là một vị Giáo Hoàng tuyệt hảo là vì trên hết Ngài là một vị mục tử hơn là một nhà ngoại giao”.
Có ý kiến của những nhân vật vị vọng trong Giáo Hội. Ví dụ: cha Pedro Arrupe, Bề Trên Cả Dòng Tên nói trong một cuộc họp báo rằng vị Giáo Hoàng sắp tới cần quan tâm nhiều đến Thế Giới Thứ Ba. Nhà thần học lỗi lạc Yves Congar, người rất có ảnh hưởng trong Công Đồng Vatican II ( và sau này sẽ được Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 phong tặng Hồng Y ) viết một bài dài trên nhật báo Công Giáo Pháp La Croix, gợi ý rằng đã đến lúc nên có một vị Giáo Hoàng không phải là người Ý, có thể là người của Thế Giới Thứ Ba, và ngài nên có tinh thần Đại Kết. Thậm chí cha Congar còn táo bạo đề nghị hai ứng cử viên ngài coi là sáng giá: Đức Hồng Y Johannes Willebrands, bí thư người Hà Lan của Hội Đồng Toà Thánh Vận Động Hợp Nhất Ki-tô giáo và Đức Hồng Y Paulo Evaristo Arns, vị Tổng Giám Mục Tu Sĩ Dòng Phan-xi-cô của Giáo Phận Sào Paolo, Brazil ( người ta còn nhớ trong Mật Hội tháng 8.1978, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô I, khi ấy còn là Hồng Y Luciani, cũng đã kiên trì bầu cho một vị Hồng Y Brazil, Đức Cha Lorscheider ). Hai nhà thần học lớn người Đức là Johannes B.Metz và Karl Rahner kêu gọi các vị Hồng Y bầu lên một vị Giáo Hoàng có khả năng đáp ứng các nguyện vọng của dân nghèo trong Thế Giới Thứ Ba.
Nhiều nhóm đồng tâm đồng chí cũng lên tiếng. Ví dụ một nhóm các cộng đoàn cơ bản ở Rô-ma kêu gọi bầu cử một vị Giáo Hoàng sẽ từ bỏ những đặc quyền trần thế và chức năng chính trị của Giáo Hoàng để tập trung sức lực làm vị sứ giả của tâm linh, đứng trong tư thế ngôn sứ để ngỏ lời với các thế lực trần gian. Một nhóm Công Giáo cấp tiến khác ở Ý vận động cho Đức Hồng Y Ugo Poletti, vị đại diện cho Đức Giáo Hoàng cai quản Giáo Hội Rô-ma, nhằm đưa ngôi vị Giáo Hoàng về nguồn cội là Giám Mục Toà Rô-ma.
Nổi đình nổi đám vào bậc nhất, gây huyên náo nhất có lẽ là một nhóm ở Mỹ có tên là Uỷ Ban Vận Động Bầu Cử Giáo Hoàng Một Cách Có Trách Nhiệm ( Committee for a Responsible Election of the Pope, viết tắt là CREP, một cách chơi chữ nhại lại danh xưng CREEP, tức Committee for the Reelection of the President, tức Uỷ Ban Vận Động Tái Cử Tổng Thống của ông Richard Nixon ). Phát ngôn viên chính của nhóm này là một Linh Mục ở Chicago, cha Andrew Greeley, một nhà xã hội học kiêm tiểu thuyết gia. Cha Greeley nổi danh vì đã nói toang ra điều mà nhiều người Công Giáo Mỹ có khuynh hướng cấp tiến tự do vẫn nghĩ thầm. Cha nói rằng bức Thông Điệp “Sự sống con người” (Humanae Vitae ) của Đức Phao-lô VI, nhắc lại lập trường cố hữu của Giáo Hội cấm đoán những phương pháp ngừa thai nhân tạo, là một thảm hoạ. Dựa trên kết quả thăm dò dư luận, cha Greeley chứng minh rằng nguyên nhân đầu tiên khiến cho sau Công Đồng Vatican II số Linh Mục, số người đi Lễ, và sự tuân thuận các tín điều cơ bản của Giáo Hội đồng loạt suy giảm ở phương Tây không phải là do Công Đồng, nhưng do thông điệp Humanae Vitae. Lần này cha Greeley và các bạn đến Rô-ma với cao vọng “đóng góp một phần có ý nghĩa cho Giáo Hội và cho các Hồng Y cử tri”. Nhóm này dựa trên những nghiên cứu xã hội học mà đề ra những tiêu chuẩn để lựa chọn tân Giáo Hoàng.
Trong một cuộc họp báo có đông người tham dự, cha Greeley tuyên bố: “Vào thời điểm mệnh hệ này của lịch sử, đối diện với cuộc khủng hoảng có lẽ là nhức buốt nhất từ thời Cải Cách tới nay, và phải đối đãi với một thế giới đang tìm kiếm đến mức tuyệt vọng niềm tin và cuộc sống cộng đồng, ngai Giáo Hoàng đang đòi hỏi một bậc thánh nhân, một người của hy vọng và của niềm vui; nói cách khác, dựa vào xã hội học để mô tả nhiệm vụ của Giáo Hoàng thì phải kết luận rằng Giáo Hội Công Giáo đang cần một thánh nhân biết tươi cười làm người lãnh đạo”. Cha Greeley nêu gương Đức Gio-an Phao-lô I, ngài có cung cách một con người hạnh phúc, tích cực tiến bước; mặc dù chỉ ở ngôi một thời gian ngắn ngủi, nhưng được mọi người tôn là “Đức Giáo Hoàng tươi cười”.
Nói cho ngay, báo chí tỏ ra không có cảm tình với phong cách của nhóm CREP, nhưng những gì CREP nói được phổ biến khắp nơi. CREP phổ biến một cuốn sách của nhà báo Công Giáo kỳ cựu Gary MacEoin mô tả nhân dáng của các vị Hồng Y. Một vài vị đã mang cuốn sách này vào Mật Hội để tham khảo. Hơn nữa, đã nói là làm, cha Greeley tổng hợp các đức tính cần thiết cho vị tân Giáo Hoàng, với dung mạo của các vị Hồng Y, rồi lập trình cho máy điện toán đưa ra một danh sách các vị có khả năng làm Giáo Hoàng nhất.
Máy điện toán đã đưa ra một danh sách bảy người có nhiều khả năng làm Giáo Hoàng nhất. Chỉ có điều trong danh sách bảy vị này, không thấy có tên của vị Hồng Y sắp đắc cử Giáo Hoàng thực sự. Không biết là do Hồng Y Đoàn của Giáo Hội Công Giáo không biết nhân tính thế thái, hay do Đức Chúa Thánh Thần hoạt động không giống ai.
Nhưng ít nhất có một người đã đoán đúng: vị Hồng Y người Pháp Jean Villot, Quốc Vụ Khanh Toà Thánh. Ngài Villot là người quyền uy, kỹ lưỡng. Miệt mài với công tác quản trị Toà Thánh, Hồng Y Villot chỉ thư giãn bằng cách hút thuốc lá liên tục ( người ta nói ngài hút đến 40 điếu mỗi ngày ). Ngoài ra, ngài có một hầm rượu vang thượng hảo hạng.
Ngày 18.5.1978, ba tháng trước ngày Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI qua đời, Đức Hồng Y Villot tổ chức một bữa ăn trong vòng thân mật để mừng sinh nhật thứ 58 của Đức Hồng Y Ba Lan Karol Wojtyla, Tổng Giám Mục Krakow, khi đó đang ghé qua Rô-ma. Lúc đó, ngài Wojtyla đã là một khuôn mặt quen thuộc đối với các bậc vị vọng ở Rô-ma. Ngài được Đức Phao-lô VI phong tặng Hồng Y năm 47 tuổi, tuổi rất trẻ đối với một Hồng Y. Câu chuyện quanh bàn ăn có lúc đề cập đến vấn đề ai sẽ kế vị Đức Phao-lô VI. Ngài Villot đưa tay chỉ ngài Wojtyla và nói một điều mà các vị khác về sau coi như lời tiên tri. Ngài nói Đức Hồng Y Wojtyla có lẽ là ứng cử viên duy nhất có thể đạt hai phần ba số phiếu trong Mật Hội. Sau khi Đức Gio-an Phao-lô II đắc cử, Đức Hồng Y Villot còn minh nhiên xác nhận điều mình đã nói bằng giấy trắng mực đen gửi cho một Hồng Y Ba Lan khác, ngài Andrzej Descur, cũng là một thực khách hôm 18.5. Ngài Villot viết: “Tôi xin xác nhận điều tôi đã nói, đó không phải là một lời buột miệng”.
Ba tháng sau, Đức Phao-lô VI qua đời. Như mọi người đều biết, trong một Mật Hội vào loại ngắn nhất lịch sử, các Hồng Y đã mau chóng suy cử ngài Luciani, chứ không phải ngài Wojtyla. Không biết có ai chê Đức Hồng Y Villot là tiên tri tồi không. Nào ngờ chỉ hơn một tháng sau đó, các vị Hồng Y lại phải họp Mật Hội, và lời tiên đoán của ngài Villot thành sự thực.
Một vị khác cũng tiên đoán đúng: theo tuần báo Blanco Y Negro xuất bản ở Tây Ban Nha thì Đức Hồng Y Antonio Samore, có nói: “Hồi tháng 8, có hai ứng viên mà báo chí chẳng hề nói tới: đó là ngài Luciani và ngài Wojtyla”… Thật ra Đức Hồng Y Samore chỉ nói đúng có một nửa: Hồi tháng 8 có nhiều báo đã nêu tên ngài Luciani như một ứng viên mạnh, trong đó có những tờ báo lớn như Time, L’Espresso, Le Monde. Nhưng đúng là báo chí không nhắc tới ngài Wojtyla. Đức Hồng Y Samore nói tiếp: “Ngài Luciani chết rồi, thế thì….”

.

( Khác với những loạt bài trước đây thường tổng hợp các sự kiện từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, trong bài này chúng tội theo rất sát những thông tin do nhà báo Mỹ John Allen Jr. cung cấp trong cuốn “Conclave”, Doubleday, một chi nhánh của Random House, Inc., xuất bản tại New York, Hoa Kỳ, năm 2002. John Allen Jr. là phóng viên của tuần báo National Catholic Reporter tại Vatican. Xin chân thành cám ơn ông Allen. )

Thực ra một số quan sát viên ở Rô-ma cho rằng ngài Wojtyla sẽ có phiếu trong Mật Hội lần này, bởi vì trong Mật Hội tháng 8 trước ngài cũng đã có phiếu, và trong Hồng Y Đoàn có những vị nhiệt tình ủng hộ ngài. Nhưng họ không dám bạo phổi coi Đức Hồng Y Wojtyla là ứng viên mạnh, vì đã hơn bốn trăm năm nay, chưa từng có một vị nào không phải người Ý mà đắc cử Giáo Hoàng, ( vị Giáo Hoàng cuối cùng không phải người Ý là Đức Hadriano VI, người Hà Lan, làm Giáo Hoàng một thời gian ngắn ngủi từ 1522 đến 1523. Phải nói rằng triều đại Giáo Hoàng của ngài không được thành công lắm, dù ngài là một người đạo đức rất muốn cải tổ Giáo Hội cho đàng hoàng hơn, thánh thiện hơn. Người ta cho rằng sự không thành công đó cũng có phần là do ngài không phải người Ý, nên không thông thạo những điểm lắt léo trong cuộc sống ở Rô-ma ).
Phần đông các nhà quan sát đều tiên đoán rằng lần này cũng như trong Mật Hội tháng 8, hai vị có nhiều phiếu nhất vẫn là Đức Hồng Y Siri, Tổng Giám Mục Genoa, và Đức Hồng Y Benelli, Tổng Giám Mục Firenze. Khuynh hướng muốn tiếp tục áp dụng tinh thần Công Đồng Vatican II, theo đường lối Đức Phao-lô VI, thì ủng hộ ngài Benelli. Trái lại, những ai lo rằng Đức Phao-lô VI đã đưa Giáo Hội đi quá xa, nay cần trở lại với những lập trường thủ cựu hơn, thì ủng hộ ngài Siri.
Ngài Siri không hề che giấu những phê phán của mình đối với một số định hướng của Công Đồng Vatican II. Xem ra ngài cảm thấy mình có bổn phận, có sứ mệnh phải chống đỡ Giáo Hội đang có nguy cơ tan loãng. Ngài Benelli có thể được coi là người thân tín của Đức Phao-lô VI, ngài được nhiều người cảm phục. Trong Mật Hội tháng 8, tự ngài đã vận động cho mình đừng đắc cử, và do đó ngài đã vận động cho Đức Gio-an Phao-lô I. Nhưng lần này thì sao ?
Tới đây xảy ra một vụ việc làm cho dư luận bàn tán eo sèo. Đức Hồng Y Siri trả lời phỏng vấn nhật báo Ý Gazzetta del Popolo. Nội dung có thể coi như một lời chỉ trích thẳng thừng Công Đồng Vatican II về một định hướng Công Đồng đề cao: Sứ vụ tập thể của Giám Mục Đoàn. Lập trường của ngài Siri quyết liệt đến mức một bài diễn văn của Đức Gio-an Phao-lô I đề cao sứ vụ tập thể này bị ngài phủ nhận gọn lỏn: “Bài diễn văn ấy là do những người khác viết cho Đức Giáo Hoàng, ngài chỉ có việc đọc thôi”. Về phần mình, ngài Siri “chẳng biết phát huy trách nhiệm tập thể của Giám Mục Đoàn là cái gì… Thượng Hội Đồng Giám Mục không bao giờ có thể thành một định chế có quyền quyết nghị trong Giáo Hội, vì trong cơ chế thiên định của Giáo Hội không có nhắc nhở gì đến cái Thượng Hội Đồng ấy”. Ngài Siri cũng không ưa việc nhiều người nhấn mạnh vào tính cách “mục tử” của Đức Giáo Hoàng: “Chỉ nói từ “mục tử” là trảm quyết Giáo Hoàng đấy. Không chỉ là hạ thấp, mà là xử trảm, là chém đầu. Tôi đồng ý ngài phải là mục tử, nhưng ngài cũng phải cai trị nữa chứ. Nếu không cai trị Giáo Hội thì ngài làm gì, ngồi nhìn đàn chiên gặm cỏ ư ?”
Sự oái oăm ở đây là Đức Hồng Y tin rằng báo Gazzetta chỉ công bố bài phỏng vấn vào ngày 15.10 sau khi Mật Hội bắt đầu. Đến lúc đó thì các vị Hồng Y đã cấm cung, chỉ chuyên tâm cầu nguyện, suy nghĩ và bầu Giáo Hoàng mới, sống cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, không đọc báo, nghe đài gì hết. Không ngờ báo Gazzetta tung bài phỏng vấn ra trước khi Mật Hội khai mạc. Và không biết có ai đó đã thu xếp để trước khi vào Mật Hội, mỗi Hồng Y đều nhận được một bản phỏng vấn này. Báo Gazzetta del Popolo về sau biện bạch cho sự sai hẹn với Đức Hồng Y Siri bằng lý do là Đức Hồng Y Siri cũng đã trả lời phỏng vấn của một đài phát thanh rồi, nên nhà báo tưởng rằng không đòi bảo mật cho đến ngày 15.10 nữa.
Bài phỏng vấn dĩ nhiên gây ra một số phản ứng tiêu cực trong Hồng Y Đoàn. Đức Hồng Y Konig của nước Áo, một người thuộc khuynh hướng cởi mở nhưng cung cách rất điềm đạm cho rằng ngài Siri có những “ý tưởng kỳ lạ”.
Sở dĩ dư luận về sau bàn tán là vì mọi sự diễn ra như thể có những thủ pháp nhằm mục đích bầu cử. Đức Hồng Y Siri muốn công bố bài phỏng vấn chỉ sau khi Mật Hội bắt đầu, như vậy các vị trong Hồng Y Đoàn không có cơ hội đọc. Thế rồi cuối cùng có ai đó làm cho bài phỏng vấn được công bố trước Mật Hội, và lại còn chuyển đến từng vị Hồng Y. Có phải là muốn ngăn chặn Đức Hồng Y Siri đắc cử ?
Dù sao thì trong hai vị Siri và Benelli, được coi là hai ứng viên sáng giá, không vị nào nắm chắc được đa số hai phần ba để bảo đảm đắc cử. Phái ôn hoà ( khuynh hướng Benelli ) đông hơn, nhưng phái bảo thủ ( khuynh hướng Siri ) được tiếng là những người kiên trì quyết đoán.
Nếu không khuynh hướng nào tập hợp được đa số hai phần ba cho ứng cử viên của mình, thì sớm muộn cũng phải tìm ra một người thứ ba, thứ tư, thứ năm.

Người ta kể chuyện rằng, vài ngày trước khi qua đời, Đức Gio-an Phao-lô I nói với Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Villot trong bữa ăn tối: “Đáng lẽ có thể chọn được một người tốt hơn tôi. Đức Phao-lô VI đã chỉ ra người kế vị ngài: người ấy ngồi ngay trước mặt tôi ở Nhà Nguyện Sistina… Người ấy sẽ đến, bởi vì tôi sẽ ra đi”. Người ngồi trước mặt Hồng Y Luciani ở Nhà Nguyện Sistina trong Mật Hội bầu Giáo Hoàng chính là Đức Hồng Y Ba Lan Wojtila.
Không biết câu chuyện trên có thật hay đó là một trong nhiều câu chuyện mà người ta thêu dệt theo trí tưởng tượng mỗi khi có một Giáo Hoàng qua đời và một Giáo Hoàng khác lên kế vị. Nhưng nó được ghi lại trong một tác phẩm có uy tín về Đức Gio-an Phao-lô II do hai nhà báo cự phách viết: cuốn “His Holiness John Paul II and the hidden history of our time” ( Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II và lịch sử thầm kín của thời đại ta ) của Carl Bernstein và Marco Politi, do Bantam Doubleday Dell xuất bản ở New York năm 1984. Carl Bernstein là nhà báo Mỹ đã cùng với Bob Woodward phanh phui vụ Watergate, còn Marco Politi là nhà báo hàng đầu của Italia đã hai mươi năm chuyên viết về các Đức Giáo Hoàng. ( Cuốn sách này đã được dịch ra tiếng Việt và Công An Nhân Dân xuất bản ở Hà Nội năm 1997, nhưng phải nói là bản dịch tiếng Việt vô cùng dở và luộm thuộm, vì hai dịch giả là những người chẳng hiểu gì về chuyện Giáo Hội, và cũng chả buồn nhờ những người hiểu biết chỉ dẫn cho, có vẻ vì thấy đề tài ăn khách nên làm vội vã để câu độc giả ).
C. Bernstein và M. Politi ghi nhận tỉ mỉ nhiều sự kiện chung quanh Mật Hội tháng 10.1978 trong chương đầu phần III. Đêm 28.9.1978, dường như Đức Gio-an Phao-lô I mới ở ngôi được 33 hôm, đã có một linh cảm lạ lùng; ngài nói với cha thư ký Magee: “Tôi đã thu xếp xong mọi việc cho kỳ tĩnh tâm Mùa Chay sắp tới. Bây giờ tôi chỉ mong được chết bình an”. 7 giờ 42 phút sáng hôm sau, Đài Phát Thanh Vatican báo tin Đức Thánh Cha đã qua đời trong đêm vì một cơn đau tim.
Ở Krakow, bên Ba Lan, hai người nghe đài rồi vội vã chạy đến báo tin cho Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Wojtila là cha Malinski và anh Mucha, tài xế của Đức Hồng Y. Ngài vừa dâng Thánh Lễ xong và ngồi ăn điểm tâm trong căn phòng nhỏ kế liền với nhà bếp. Anh Mucha đề nghị với một chị Nữ Tu lo việc bếp núc: “Sơ phải nói với Đức Tổng là Đức Giáo Hoàng đã chết ở Roma”. Mặt bà sơ tái đi: “Đức Giáo Hoàng đã chết cả tháng nay rồi mà !” – “Không, Đức Giáo Hoàng mới cơ”. Có vẻ sơ vẫn chưa tin: “Tôi không nói được đâu, anh muốn nói thì vào mà nói”. Mucha bực bội thò đầu qua cánh cửa thông vào phòng ăn và nói với cha thư ký Dziwisz: “Thưa cha, cha đã nghe tin Đức Gio-an Phao- lô I qua đời chưa ?”
Ngài Wojtila vừa pha một thìa đường vào tách trà. Ngài sững người tái mặt, cánh tay phải vẫn còn đang giơ lên. Trong thinh lặng, tiếng động duy nhất là tiếng cái thìa rơi xuống mặt bàn. Ngài khẽ rên: “Ôi, không !” Đức Cha Wojtila vội vã trở lên Nhà Nguyện, giam mình trong đó suốt mấy tiếng đồng hồ. Sau đó, theo lịch trình công tác, ngài đi thăm một Xứ Đạo. Suốt ngày ngài có vẻ căng thẳng. Mới hôm nào đi Mật Hội trở về, ngài như cất được một gánh nặng. Chả là trong Mật Hội ấy ngài cũng đã có phiếu. Sơ Andrea Górska, nguyên Bề Trên Dòng Ursuline, thấy Đức Hồng Y Wojtila trở về Varsava rất vui vẻ, đã có lời khen: “Trông Đức Hồng Y trẻ hơn trước nhiều”. Ngài đáp: “Bởi vì chúng tôi đã bầu được một vị Giáo Hoàng tuyệt diệu. Ngài thật sự là con người của Đức Tin, rất giản dị, nhưng đầy Đức Tin”.
Như để thư giãn sau những ngày căng thẳng, thượng tuần tháng 9, ngài tập họp nhóm bạn trẻ của mình, cùng nhau đi bơi thuyền suốt một tuần lễ trên các hồ vùng Tây Bắc Ba Lan. Ngài cứ tưởng đã thoát được gánh nặng, không biết rằng đó là lần cuối cùng ngài được vùng vẫy thỏa thích như vậy giữa cảnh thiên nhiên của quê hương Ba Lan. Sự việc không ngờ xảy tới: cuối tháng 9, ngài lại chuẩn bị mấy món hành lý xoàng xoàng lên đường đi Roma dự một Mật Hội mới. Lần này tâm trạng ngài nặng trĩu âu lo.
Sơ Andrea ở Varsava đã đón Đức Hồng Y Wojtila từ Roma về sau Mật Hội lần trước, lần này lại tiễn ngài đi Roma. Hôm ấy sắc mặt Đức Hồng Y tái xanh, ngài có vẻ đãng trí. “Thưa Đức Hồng Y, con không biết phải chúc cho ngài điều gì, chúc ngài trở về hay không trở về”. Đức Hồng Y Wojtila ủ rũ đáp: “Thôi mà, sơ, có nhiều điều chúng ta không biết được đâu. Trong cuộc sống của chúng ta, chỉ có Chúa mới biết tất cả mọi điều”.
Ngài Wojtila đến Roma thì hai khuynh hướng bảo thủ và cởi mở trong Hồng Y Đoàn đã hình thành trận thế. Bernstein và Politi viết: liên minh những người bảo thủ tụng niệm “một chuỗi dài những lời phàn nàn: hàng Giáo Sĩ đang lâm vào khủng hoảng, lòng mộ đạo suy giảm, các Chủng Viện thì lộn xộn, các nhà Thần Học thì nổi loạn, giáo huấn của Giáo Hội trong lãnh vực giới tính bị phủ nhận, nguyên lý quyền bính bị thách thức, chủ nghĩa Cộng Sản đang trỗi dậy ở Châu Âu và Châu Mỹ La-tinh”. Tất cả những điều đó đều quy cho là do đường lối của Đức Phao-lô VI. Phái bảo thủ ở Trung Ương Giáo Hội cao ngạo cho rằng Đức cố Giáo Hoàng đã điều khiển “đầu tầu mà không hề biết rằng đoàn tầu của mình đang đi về đâu !”
“Ngài Karol Wojtila chia sẻ những mối bận tâm này; nhiều người ở Tòa Thánh biết rõ như thế. Thế nhưng ngài không bi quan như các vị kia. Ngài không cảm thấy rằng Giáo Hội phải quay lưng lại với Công Đồng Vatican II”. Ngài cũng không đồng ý với cách phe bảo thủ nhận định về Đức Phao-lô VI. Trái lại, ngài có một niềm ngưỡng mộ sâu xa đối với Đức cố Giáo Hoàng. Nơi Đức Phao-lô VI, ngài cảm phục một vị “vừa có lòng đạo vừa thông minh, kiên nhẫn, tiệm tiến, có khả năng nối kết, có quyết tâm bảo vệ Giáo Lý của Giáo Hội, và khao khát đối thoại với thế giới hiện đại”. Thái độ tích cực và cởi mở của Đức Hồng Y Wojtila đối với Đức Phao-lô VI cũng được nhiều giới ở Vatican cảm nhận.
Đang khi khuynh hướng bảo thủ tập họp chung quanh Đức Hồng Y Siri, các vị trong Hồng Y Đoàn muốn đi tiếp con đường Vatican II cũng đang hội ý để làm sao tránh cho Giáo Hội đừng trở lùi về quá khứ. Ngày 11 tháng 10, tại Chủng Viện Pháp, hơn một chục vị Hồng Y tên tuổi, hầu hết không phải là những người phục vụ ở Giáo Triều, đã gặp nhau để hội ý: hai vị người Pháp, ngài Guyon và ngài Marty; hai vị người Canada: ngài Flahiff và ngài Roy. Từ Brasil có ngài Arns và ngài Lorscheider; ngài Hume của nước Anh, ngài Gantin đến từ Benin ( Phi Châu ), ngài Kim đến từ Hàn Quốc, ngài Suenens từ nước Bỉ. Hai vị người Ý là ngài Colombo và ngài Pappalardo. Tất cả các vị này đều quyết tâm bảo vệ thành quả của Công Đồng Vatican II. Đây là hạt nhân khiến cho ngài Siri khó đắc cử. Nhưng khác với cánh bảo thủ, các vị họp mặt hôm ấy không đưa ra tên tuổi của một ứng viên nào; dựa vào khuynh hướng của các vị, có chăng chỉ dự đoán các vị có thể ủng hộ ngài Benelli.
Dù sao, dưới bề mặt rất mực hoà nhã, lịch sự, bác ái, đang có một cuộc đấu tranh tư tưởng nóng bỏng trong và ngoài Hồng Y Đoàn. Đức Hồng Y Wojtila từ Ba Lan xa xôi đến Roma, nhưng ngoài kinh nghiệm riêng của ngài, ở Roma vẫn có nhiều vị giáo sĩ Ba Lan làm việc. Đấy là những người rất thông thạo tình hình; qua họ, Đức Cha Wojtila cũng như vị Hồng Y niên trưởng của Ba Lan, ngài Wyszynski, cảm thấy được những người có trách nhiệm tìm một vị Giáo Hoàng mới cho Giáo Hội đang đi những bước cam go như thế nào.
Cùng một ngày với cuộc họp của hơn 10 vị Hồng Y ở Chủng Viện Pháp, vị Giám Mục Ba Lan làm việc ở Vatican, Đức Cha Deskur tổ chức một bữa ăn tối thân mật ở tư thất của mình, trong số thực khách có hai vị Hồng Y: ngài Wojtila, và ngài Cody, Tổng Giám Mục Chicago ( Hoa Kỳ ). Ngài Deskur là một trí thức hoạt bát và thích giao du, rất khéo dẫn câu chuyện trở nên hứng thú, sôi nổi. Trong hoàn cảnh ấy, có lúc câu chuyện đề cập đến việc bầu Giáo Hoàng sắp tới, tất nhiên là một cách rất nhẹ nhàng, chung chung, đúng cách của các vị Giáo Sĩ biết tôn kính Giáo Hội. Đức Ông Levi, có mặt hôm đó, về sau ghi lại cảm tưởng về ngài Wojtila: “Một người đồng bàn kỳ lạ. Ngài chỉ nói vài lời trong khi những người khác nói cười vui vẻ”.
Là vì ngài Wojtila hiểu rằng lần này có thể mình bị “chiếu mạng”. Đây đó trong Giáo Hội đã có những tiếng xì xào. Hơn nữa Mật Hội lần trước đã là một dự báo. Suốt những ngày ở Roma, Đức Hồng Y Wojtila trầm ngâm, kín đáo, ít tham dự vào những bàn tán trong các nhóm, có chăng chỉ hỏi thăm tình hình với một vài người tin cẩn. Ít nhất thì đã có một Hồng Y nói thẳng với ngài. Vẫn là một bữa ăn tối, với Hồng Y Rocca trong một Tu Viện nữ, vẫn ngài Deskur tổ chức cuộc gặp mặt. Ngài Rocca đã 75 tuổi, là một nhân vật kỳ cựu ở Vatican. Người ta cho rằng ngài có nhiều ảnh hưởng. Giữa bữa ăn, ngài Rocca nói thẳng: “Đối với tôi, chỉ có một ứng viên: Đức Hồng Y Wojtila”. Ngài Wojtila đâm ra lúng túng trước sự ngỏ lời đường đột. Ngài đáp: “Những chuyện thế này không thể bàn được trong một bữa ăn tối. Chúng ta hãy để cho Chúa định đoạt”.
Chúa Nhật 8.10, vẫn Đức Cha Deskur mời Đức Hồng Y Wojtila đi dạo chơi vùng tây bắc Roma chung quanh hồ Vico. Đức Cha nhớ lại: “Ngài hỏi tôi có Nhà Thờ nào có thể dừng lại suy nghĩ một lúc và cầu nguyện trước Thánh Thể”. Đức Cha đưa ngài đến Nhà Thờ Storta, nơi có di tích của Thánh Ignatio thành Loyola, vị sáng lập Dòng Tên. Một lúc sau, Đức Hồng Y Wojtila ra khỏi Nhà Thờ và hỏi tôi lịch sử nơi này là thế nào ? Đức Cha Deskur giải thích bức họa trong Nhà Thờ: Đây là nơi Thánh Ignatio được thị kiến Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con xác nhận với thánh nhân rằng ơn gọi của ngài là phục vụ sự canh tân Giáo Hội, đặc biệt là bằng cách trung thành tận tuỵ với Đức Giáo Hoàng. Đức Chúa Cha phán: “Chúng con đến Roma, Cha sẽ phù hộ” ( Ego ero vobis Romae propitius ). “Ngài lắng nghe tôi tường thuật vắn tắt câu chuyện, rồi ngài trở lại bàn thờ và cầu nguyện tiếp. Tôi có cảm tưởng khi ra khỏi Nhà Nguyện, ngài đã được trợ lực và cảm thấy hạnh phúc… Mười lăm năm sau, tôi vẫn còn xúc động khi nghĩ về chuyến hành hương ở Storta. Hình như thị kiến của Thánh Ignatio đã toả sáng lên linh đạo của triều Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, ngài cũng từ một đất nước xa xôi đến Roma”.

Cục diện trư­ớc Mật Hội tháng 10 năm 1978 còn đang căng thẳng giữa hai khuynh hư­ớng tạm gọi là “bảo thủ” và “tiến bộ” thì một vị Hồng Y thuộc hàng “cao thủ” đã mở ra một h­ướng thứ ba: Đức cha Konig, Tổng Giám Mục Wien (nước Áo ). Theo lẽ th­ường, ngài Konig đứng vào hàng ngũ những người muốn bảo vệ Công Đồng Vatican II mới phải. Và đúng là ngài tha thiết với Công Đồng. Tuy nhiên, bộ óc nổi tiếng là phóng khoáng của ngài lại nhìn ra một ứng viên độc đáo: Đức Hồng Y Wojtyla. Và Ngài không ngần ngại vận động thẳng thắn cho vị Hồng Y Ba Lan này.

Đức Hồng Y Konig h­ướng về ngài Wojtyla cũng là do kinh nghiện bản thân. Năm 1963 Đức Chân Ph­ước Gio-an XXIII đang tạo ra một mùa xuân mới trong Giáo Hội với Công Đồng Vatican II. Một ngày nọ, Đức Thánh Cha gọi ngài Konig về Rô-ma và giao cho một nhiệm vụ bất ngờ: Ngài phải sang Đông Âu tìm cách nối lại liên lạc với các “Giáo hội thầm lặng”. Đức Gio-an XXIII vẫn hay có những ý t­ưởng rất đơn sơ nhưng khi áp dụng lại hóa ra cách mạng. Ngài Konig không giấu đ­ược sự kinh ngạc. Đó là thời kỳ chiến tranh lạnh. Trừ trư­ờng hợp Ba Lan, một “bức màn sắt” ngăn cách các Giáo Hội Đông Âu với Rô-ma. Ngài hỏi Đức Thánh Cha làm cách nào v­ượt qua đ­ược những trở ngại. Đức Gio-an XXIII trả lời Ngài làm thế nào đó thì làm, nhưng phải thi hành nhiệm vụ lập tức. Ngài Konig không nén đ­ợc sự bực bội tr­ước một quyết định nghiêm trọng mà cứ như­ ngẫu hứng không cần chuẩn bị chi tiết tỉ mỉ. Nhưng lệnh đã ban ra; nội trong vài ngày, Đức Hồng Y Konig xách va-li đi Đông Âu.

Xem ra Đức Gio-an XXIII không chọn lầm người. Không kể tinh thần rất khoáng đạt, Đức Hồng Y Konig còn có những khả năng sinh động hơn người. Ngài là một người cao lớn sừng sững, đã quen chịu đựng mệt nhọc và khắc phục trở ngại. Ngài thư­ giãn bằng cách leo lên những đỉnh núi dựng đứng chót vót. Và Ngài nói l­u loát sáu thứ tiếng La-tinh, Anh, Pháp, Nga, Ý, Đức. Ngài là vị Hồng Y đầu tiên từ bên ngoài khối các n­ước xã hội chủ nghĩa viếng thăm Nam Tư­ của thống chế Tito, rồi đến Budapest ( Hungari ) để tiếp xúc với Đức Hồng Y Mindszenty đang giam mình tỵ nạn trong sứ quán Mỹ kể từ sau vụ biến động năm 1956.

Sau 15 năm thử thách, gư­ơng mặt Đức Hồng Y Mindszenty hằn lên nét khắc khổ già nua mà đầy c­ương nghị. Vừa gặp sứ giả của Đức Thánh Cha trong một căn phòng của sứ quán, có một lính thủy quân lục chiến Mỹ canh giữ ngoài cửa, Đức Hồng Y Mindszenty đã mở radio hết âm l­ượng, đề phòng bị nghe trộm nếu có micros dấu ở trong phòng. Hai vị Hồng Y nói chuyện suốt ba giờ đồng hồ bằng tiếng La-tinh . Vị Hồng Y Hungari đã ngoài 70 tuổi vẫn duy trì một lập tr­ường cứng rắn: ngài không chịu về Rô-ma, ngài muốn ở trong n­ớc làm một mũi gai nhọn đối với chính quyền. Tuy nhiên, chuyến viếng thăm của ngài Konig cũng có kết quả: ba tuần sau đó, chính quyền Hungari “giải quản” năm vị Giám Mục. Đồng thời hai Giám Mục và một Giám Quản đ­ược đi dự Công Đồng.

Người kế vị Đức Gio-an XXIII là Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đặt ngài Konig đứng đầu Phòng Đặc Trách Những Người Vô Tín Ngư­ỡng của Tòa Thánh, chính vì thành tích và kinh nghiệm của vị Hồng Y này trong quan hệ với người Mác-xit, cả về mặt văn hóa lẫn chính trị. Đến tháng 10 năm 1978 Đức Hồng Y Konig đã có 15 năm kinh nghiệm đi về với các n­ước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Quá trình đó khiến cho ngài quen thân với Đức Hồng Y Ba Lan Wojtyla, Tổng Giám Mục Krakow. Mỗi khi đi Rô-ma, Ngài Wojtyla đều ghé lại tòa Tổng Giám Mục Wien. Hai vị trao đổi với nhau lâu giờ về tình hình Đông Âu.

Bây giờ ở Rô-ma, ngài Konig nói với nhiều vị Hồng Y rằng vị Giáo Hoàng kế tiếp phải là một người khỏe mạnh, trẻ tuổi và không phải là người Ý. Thật ra ngay từ khi Đức Phao-lô VI qua đời, Đức Hồng Y Konig đã tuyên bố rằng các vị Hồng Y Đông Âu có quyền để cử ứng viên từ nhóm mình. Lần nay, ngài nói vì sao ngài Wojtyla có khả năng đắc cử: Ngài không phải là người ý và ngài đến từ một n­ước Cộng Sản, đó là hai điểm thuận lợi; hơn nữa, ngài đã gây đ­ược ấn t­ượng tốt từ những lời ngài phát biểu giữa Công Đồng Vatican II và trong các Th­ượng Hội Đồng Giám Mục, tài hùng biện của Ngài cũng lôi cuốn nhiều người.

Thỉnh thoảng ngài Konig nhắc lại Đức Phao-lô VI đã đánh giá Đức Hồng Y Wojtyla là người “dũng cảm và cừ khôi”; vả chăng, Đức Phao-lô VI đã chọn ngài Wojtyla để giảng tĩnh tâm Mùa Chay ở Vatican năm 1976. Ngay cả khi đùa bỡn ngài Konig vẫn một mực phò tá ứng viên của mình, nh­ư hôm ngài kéo ông bạn Wojtyla đi ăn tối, ngài đã nói với ông tài xế taxi: “Lái cẩn thận đấy, trên xe của anh có Đức Giáo Hoàng t­ương lai”.

Một nhân vật khác thuộc hàng “tuổi trẻ tài cao” của Hồng Y đoàn cũng đã vào cuộc vận động cho Đức Hồng Y Wojtyla. Ngài Lorscheider, Giám Mục Fortaleza, vừa là lãnh tụ của Giáo Hội Brasil, vừa kiêm luôn chức chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ La-tinh và mới mang Hồng Y đ­ược hai năm. Cũng nh­ư nhiều Giám Mục danh tiếng khác ở Châu Mỹ La-tinh, ngài Lorscheider nổi tiếng vì chống chế độ độc tài, và đấu tranh cho công bình xã hội, ngài tán thành các “cộng đoàn cơ sở” có tư­ t­ưởng “tả khuynh”.

Trong Mật Hội tháng 8, Đức Hồng Y Lorscheider đã nồng nhiệt ủng hộ Đức Gio-an Phao-lô I. Giờ đây, ngài chủ trư­ơng bầu Ngài Wojtyla. Ngài vẫn ngư­ỡng mộ vị Hồng Y Ba Lan vì những lời phát biểu tại Công Đồng và các Thư­ợng Hội Đồng Giám Mục, vì tinh thần kiên trí loan báo Tin Mừng, vì sự nhậy cảm đối với các vấn đề công bình xã hội, và thái độ cởi mở với mọi người thuộc các Châu lục và các nền văn hóa.

Nếu Đức Hồng Y Konig là khuôn mặt nổi bật ở cả Đông lẫn Tây Âu, thì Đức Hồng Y Lorscheider lại có nhiều ảnh h­ưởng đối với Thế Giới thứ Ba. Thành ra trong khi đa số các vị Hồng Y tên tuổi từ các n­ước phát triển đang dồn tâm lực vào cuộc đấu tranh giữa khuynh hư­ớng Siri và khuynh h­ướng Benelli, thì một giải pháp thứ ba đang kín đáo hình thành dù người ngoài cuộc không mấy ai để ý.

Đúng vào hôm Đức Hồng Y Wojtyla có vẻ hơi lầm lỳ trong bữa ăn thân mật tại nhà Đức Cha Deskur, thì Đức Hồng Y Konig quyết định tiến thêm một b­ước nữa. Ngài mời người đứng đầu Giáo Hội Ba Lan, Đức Hồng Y Wyszynsky đi chung một chuyến xe để dễ trao đổi. Ngài Konig thăm dò “Th­ưa Đức Hồng Y, ngài có thấy một ứng viên nào nổi lên ở chân trời không ?” – “Theo như­ tôi thấy thì không có ai nổi bật”. Ngài Konig tiếp tục gợi ý: “Có thể là Ba Lan sẽ có một ứng viên chăng ?” Ngài Wyszynsky thảng thốt: “Ngài nói cái gì ?” Vị Hồng Y già ngỡ là ngài Konig ám chỉ mình. Ngài kêu lên: “Ý Wyszynsky Ngài nói là tôi phải về Rô-ma chăng ? Nhưng nếu tôi rời khỏi đất nước, thì đó sẽ là một thắng lợi của Cộng Sản”. Ngài Wyszynsky x­ưa nay vẫn đối đầu cứng rắn với chế độ và chính quyền Ba Lan. Ngài Konig đi b­ước kế tiếp: “Nhưng còn một người khác kia mà.” Hai vị Hồng Y Ba Lan Wyszynsky và Wojtyla, một già một trẻ, tuy rất quý mến nhau, nhưng lại có những sắc thái khác nhau. Ngài Wyszynsky nói với ngài Konig rằng ngài Wojtila chưa đủ độ chín để nhận nhiệm vụ và ngôi vị tối th­ượng trong Giáo Hội.

Nói vậy, nhưng ngài Wyszynsky không khỏi trăn trở về sự ngỏ ý của Đức Hồng Y Konig. Hôm sau, ngài họp mặt kín với mấy vị giáo phẩm kỳ cựu người Ba Lan ở Rô-ma để tham khảo ý kiến. Mấy vị này đều cổ võ cho giải pháp Wojtyla. Đến bây giờ lại có thêm một cổ động viên nữa: Đức Hồng Y Krol, ngư­ời Mỹ gốc Ba Lan, và dĩ nhiên còn một nhân vật thần thế khác vẫn ít nói nh­ưng đã tỏ rõ lập trư­ờng từ khi Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI còn tại thế: Đức Hồng Y Villot, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh.

Cuộc gặp mặt kín với hai vị giáo phẩm Ba Lan dường như có ảnh hưởng sâu đậm đến lối suy nghĩ của Đức Hồng Y Wyszynsky. Đức Cha Deskur nhớ lại: khi đến họp “Chúng tôi tuyệt nhiên không biết Đức Hồng Y muốn gì từ chúng tôi. Chúng tôi đến họp, hoá ra Ngài hỏi chúng tôi ai sẽ là Giáo Hoàng kỳ tới. Cả Đức Cha Rubin và tôi đều trả lời như nhau: Wojtyla”. Hình như Đức Hồng Y Wyszynsky bị chấn động: “Sao các vị biết ?”. Đức Cha Deskur đáp: “Thưa Đức Hồng Y, con đã sống ở Rô-ma 30 năm rồi”. Hoá ra Đức Hồng Y Wojtyla không “non” như Ngài Wyszynsky tưởng.

Trong Giáo Hội Ba Lan, Đức Hồng Y Wyszynsky là bậc huynh trưởng dầy dạn luôn đương đầu với những thách thức mà Giáo Hội phải giáp mặt. Đức Hồng Y Wojtyla thuộc một thế hệ trẻ hơn. Ngài cũng đương đầu với các thách thức một cách dứt khoát chẳng kém gì Ngài Wyszynsky, nhưng thêm vào đó vị Tổng Giám Mục Krakow còn biểu lộ một khả năng lắng nghe và thấu hiểu các vấn đề đến tận những sắc thái tế nhị nhất. Ngài có nhiều mối quan hệ với giới trí thức và các sinh viên. Nơi Ngài niềm tin sắt đá được hoà vào một phong cách quyến rũ, nồng hậu, thoải mái. Cho nên Ngài có một tầm nhìn rất sâu rộng, khiến cho Ngài thành một nhân vật nổi bật trong Giáo Hội Ba Lan.

Trưa ngày 14.10.1978, Thánh Lễ kính Đức Chúa Thánh Thần được cử hành trong đền thờ Thánh Phê-rô. 13 giờ 30 phút, 111 vị Hồng Y tiến vào Mật Hội. Từ giây phút này các vị sẽ tách biệt với thế giới bên ngoài. Ngài Karol Wojtyla xách hành lý đạm bạc vào căn phòng rất đơn sơ dành riêng cho mình, mang số 91. Trông Ngài có vẻ bình thản. Vài người còn thấy Ngài ngồi yên trong phòng, đọc một cuốn tạp chí về chủ nghĩa Marx.

Ngày hôm sau, Chúa Nhật 15.10, tiến trình bầu cử bắt đầu. Theo như những gì người ta biết được về hai khuynh hướng xung khắc nhau: trở về quá khứ hay tiếp tục triển khai thành quả của Công Đồng Vatican II, có thể đoán rằng cuộc bầu cử lần này căng thẳng. Nhưng dù căng thẳng đi nữa, thì một cuộc bầu Giáo Hoàng vẫn chẳng giống những cuộc vận động bầu bán ngoài đời. Đức Cha Wuerl, khi đó còn là Linh Mục tuỳ tùng Đức Hồng Y John Wright (Pittsburgh, Hoa Ky ø), trong Mật Hội, hồi tưởng: “Cảnh tượng không khỏi có vẻ kỳ lạ, ngôi Nhà Nguyện nhỏ Paulina đầy những người trầm ngâm cầu nguyện cả tiếng đồng hồ trước khi đi qua điện Sistina để bỏ phiếu”. Còn Đức Hông Y Konig thì tường thuật: “Mọi người cứ nghĩ chúng tôi đang thảo luận hết sức quyết liệt trong mật nghị. Sự thật không phải thế: mọi sự đều diễn ra từ tốn. Hai hay ba người nói chuyện với ai đó, rồi mọi người trở về phòng mình”. Và dĩ nhiên Ngài Konig là một trong những người đàm luận tích cực nhất.

Trưa ngày 16.10, hướng đi của Mật Hội đã rõ nét: trong bữa ăn trưa, Đức Hồng Y Wojtyla trông căng thẳng đến mức một vài người ủng hộ Ngài sợ rằng Ngài có thể khước từ nếu đắc cử. Chiều hôm đó, bầu không khí yên lặng bao trùm Mật Hội. Mọi người đều biết một bước đột phá lớn sắp xảy ra trong lịch sử Giáo Hội. Người ta thấy Đức HồngY Wojtyla trong phòng Đức Hồng Y Wyszynsky, nét mặt đau khổ, và sụt sùi nước mắt. Ngài đang tìm sự nâng đỡ nơi bậc huynh trưởng của mình. Ngài Wyszyuski trấn an: “Nếu họ bầu cha, cha phải chấp nhận”.

17 giờ 15 phút ngày 16.10, Đức Hồng Y Tổng lý Jean Villot tiến đến trước mặt Đức Hồng Y Wojtyla và chiếu theo nghi thức đặt câu hỏi:

– Ngài có nhận sự đề cử không ?

Đức Hồng Y Wojtyla im lìm bất động, mặt tái mét như người chết. Hai dòng lệ trào ra. Các Hồng Y nín thở đợi chờ. Gần đó, Đức Hồng Y Furstenberg thì thầm bằng tiếng La tinh : “Dominus adest et vocat te” ( “Chúa đang ở đây và Ngài gọi cha” ).

Giây phút xúc động đi qua, Đức Hồng Y Wojtyla trấn tĩnh, và cất tiếng trả lời rõ ràng: “Vì Chúa Ki-tô, với lòng tín thác nơi Đức Trinh Nữ Mẹ Giáo Hội, và mặc dầu có những khó khăn to lớn, tôi xin chấp nhận”. Đây là câu Ngài đã soạn ra giấy trước khi Ngài ra khỏi phòng Đức Hồng Y Wyszynski. Các Hồng Y thở phào khoan khoái, tiếng vỗ tay vang dội. Đức Tân Giáo Hoàng xin nhận danh hiệu Gio-an Phao-lô II. Danh hiệu ấy tự nó đã nói lên ý nguyện triển khai đường lối của Công Đồng Vatican II.

Các vị Hồng Y lần lượt đến quì gối trước mặt Đức Tân Giáo Hoàng để tỏ lòng thần phục. Đến lượt Đức Hồng Y Wyszynski chuẩn bị quì gối, nhưng Đức Giáo Hoàng đã đứng lên đưa cả hai tay nâng Ngài dậy. Hai người Ba Lan kiệt xuất ôm chặt lấy nhau. Giờ phút này với cả hai vị có một chiều sâu tâm linh đặc biệt: khí thiêng sông núi, quốc hồn quốc túy của Ba Lan, linh hồn của cả một Giáo Hội đã gắn bó ngàn đời với dân tộc Ba Lan, kết tinh nơi đôi vòng tay ôm của hai con người. Cuộc tiến bước kiên trung, hào hùng và đau thương, cõi lòng thẳm sâu phong phú của một giống nòi cuối cùng đã lên đến đỉnh cao, đã trở nên ngôi thành xây trên chỏm núi đầu non, nên ngọn đèn sáng rực trong nhà Chúa. Đầu thế kỉ XIX, giữa một dân tộc tả tơi trong những biến động lịch sử, nhà thơ Ba Lan Juliusz Slovacki, trong một giây phút linh cảm, đã viết:

“Nhân tâm li tán, thế cuộc rối bời
Thiên Chúa điểm một tiếng chuông rền vang
Ngài tặng ngai báu cho một Giáo Hoàng người Slav,
Kìa Giáo Hoàng người Slav đang tiến về Rô-ma.
Ngài lên tiếng nói
Tim ta máu hồng cuồn cuộn phong ba.”

Dân Slav là dân sinh sống trên vùng đất Đông Âu, từ Ba Lan sang đến nước Nga, lan xuống miền Nam đến tận Ukraina, Nam Tư. Hơn một thế kỷ rưỡi sau, tiên cảm của nhà thơ đã thành sự thực. Hôm nay, ngày 16.10.1978, theo lịch Phụng Vụ chung của Hội Thánh, là ngày kính thánh nữ Margarita Maria Alacoque, vị Tông Đồ của Thánh Tâm Chúa Giê-su, nhưng theo lịch Phụng Vụ riêng của đất nước Ba Lan lại là ngày lễ của một Thánh Bổn Mạng của dân tộc: Thánh nữ Jadwiga, phu nhân của Ba Lan Quận Công Henryk I. Sau khi chồng qua đời, bà đã rút vào trong Đan Viện Xi-tô do chính bà đã thành lập trước kia ở Trebnitz và qua đời ở đó ngày 15.10.1243.

Bây giờ Đức Giao-an Phao-lô II bình thản đi giữa những người hộ tống tới một căn phòng phủ thảm đỏ thắm mang tên là Phòng Nước Mắt: Camera lacrimatoria. Hẳn là vì các vị Tân Giáo Hoàng đến đây thường vẫn còn bàng hoàng sau khi đắc cử. Ngài ngồi đây một mình trong giây lát đợi người ta mang đến bộ áo bào màu trắng để Ngài thay. Mỗi khi có Mật Hội, do không biết ai sẽ đắc cử, người ta chuẩn bị sẵn ba bộ bạch y, một bộ nhỏ nhắn, một bộ kích thước trung bình, và một bộ to lớn. Với Đức Gio-an Phao-lô II tất nhiên chỉ mặc bộ lớn nhất mới vừa.

Trên quảng trường thánh Phê-rô, trời đã tối nhưng mọi người đều háo hức đợi chờ. Lần đầu tiên từ 450 năm nay, có một vị Giáo Hoàng không phải người Ý. Lần đầu tiên trong suốt lịch sử gần 2000 năm của Giáo Hội, có một vị Giáo Hoàng người Ba Lan, người Đông Âu.

Những ngọn đèn pha cực mạnh chiếu thẳng vào tiền đình đền thánh Phê-rô. Các máy thu hình chuẩn bị truyền đi khắp thế giới những giây phút đầu tiên vị Mục Tử mới gặp gỡ Dân Chúa. 19 giờ 21 phút, cây thánh giá vàng xuất hiện. Rồi Đức Tân Giáo Hoàng bước ra, áo khoác vai màu đỏ phủ trên chiếc áo chùng trắng muốt kèm một dây stola rộng bản tuyệt đẹp biểu hiện của quyền bính. Dáng người như lực sĩ, Ngài cất tiếng sang sảng: “Ngợi khen Đức Giê-su Ki-tô ! Anh chị em rất thân mến…”. Dân Rô-ma nghe Đức Giáo Hoàng mới nói tiếng Ý lưu loát, liền khoái chí hoan hô ầm ĩ thật dài…

Ở bên Đức, bạn của Đức Giáo Hoàng là ông Malinski nhìn quang cảnh này trên màn ảnh truyền hình. Ông có cảm tưởng Đức Tân Giáo Hoàng không được tự nhiên như mọi khi, ông hiểu rằng Ngài đang xúc động bồi hồi. Mới có mấy ngày mà mặt Ngài đã gầy rọp đi, ông nhận ra rằng thời gian qua Ngài đã khóc nhiều.
Nhưng ngay khi đó, Đức Gio-an Phao-lô II đã lấy lại bình tĩnh và để lộ những đức tính từ nay sẽ cuốn hút các đám đông. Ngài an nhiên, hồn hậu, tươi cười. Giọng nói ấm áp vang xa: “Chúng ta còn đang đau buồn, ủ dột vì mất Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô I yêu dấu, ( công chúng vỗ tay như sấm động, biểu lộ sự đồng tình ) thì các Đức Hồng Y đã gọi một Giám Mục mới về Rô-ma ( dân chúng lại hoan hô ). Các Ngài đã gọi Giám Mục ấy từ một đất nước xa xôi; xa xôi nhưng rất mực gần gũi nhờ ơn hiệp thông trong đức tin và truyền thống đạo Ki-tô. Tôi đã sợ hãi khi được đề cử, nhưng tôi đã chấp nhận trong tinh thần vâng phục Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, và tín thác hoàn toàn nơi Thánh Mẫu Đồng Trinh ( cộng đoàn vỗ tay nhiệt liệt ). Tôi không biết tôi có thể bày tỏ rõ ràng nỗi lòng hay chăng bằng tiếng Ý của anh chị em… à không, tiếng Ý của chúng ta ( dân Rô-ma khoái chí hoan hô một hồi lâu ). Nếu tôi nói sai, anh chị em sẽ sửa lỗi cho tôi ! Thôi, thế tôi trình diện trước anh chị em để tuyên xưng đức tin chung, và niềm hy vọng của chúng ta, tuyên xưng niềm phó thác nơi Đức Mẹ Chúa Ki-tô, Đức Mẹ của Giáo Hội, và cũng để nhờ ơn Thiên Chúa và Hội Thánh phù trợ mà tiếp tục bước đi trên con đường lịch sử của Giáo Hội…!”

Quảng trường thánh Phê-rô đang vui mừng khoan khoái, nhưng phải nói là một cơn bão vui mừng đang đổ ập xuống nước Ba Lan. Nhân dân Krakow rối rít tràn xuống đường, các Nhà Thờ trong phút chốc đầy nghẹt người. Trên các quảng trường, chợ búa, trên xe buýt, người ta ôm hôn nhau, chúc mừng nhau thắm thiết. Chân dung “Đức Tổng” được treo lên tượng đài nhà văn Adam Mickiewiez, thi hào lãng mạn và cũng là chiến sĩ đấu tranh cho độc lập dân tộc của Ba Lan trong thế kỷ 19. Hoa tươi chất chồng như núi ở những ngôi nhà trước đây “Đức Tổng” đã cư ngụ.

Một tiếng rền vang từ trên đỉnh tháp chuông Nhà Thờ Chính Toà Krakow vọng xuống. Đại hồng chung mang tên Zygmunt, nặng tám tấn, tám mét chu vi, được treo lên đây từ năm 1520 lắc lư như một chàng khổng lồ bắt đầu nhảy múa; chuông của tất cả các Nhà Thờ trong thành phố đồng loạt rung theo. Nửa đêm, Nhà Thờ Chính Toà cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn.

Ở một thành phố rất nhỏ khác, Wadowice, người dân cũng đang bàng hoàng. Đây là quê hương, là nơi Karol Wojtyla đã sống suốt những năm thơ ấu. Cha xứ già Edward Zacher, 75 tuổi, khóc nấc lên trong cơn xúc động mừng vui. Cha đi tìm quyển sổ rửa tội cổ kính to đùng của năm 1920, ở trang 549, ngày Chúa Nhật 20 tháng 6, ghi rõ Giáo Xứ đã rửa tội cho Karol Wojtyla. Còn một khoảng trắng bên góc trái, cha già cầm bút run run viết thêm một hàng chữ La tinh: ad Summum Pontificatum electus et imposuit Sibi nomen Joannes Paulus secundus ( ñaõ ñöôïc baàu leân ngoâi Giaùo Hoaøng vaø mang danh hieäu Gio-an Phao-loâ ñeä nhò ).

Từ Rôma, Đức Gio-an Phao-lô ghi lại vài hàng ngắn ngủi mà súc tích gửi về tổ quốc cho nữ tu Jadwiga: “16 tháng mười, 7 giờ: Thánh lễ đồng tế kính thánh nữ Jadwiga. Mật Hội, khoảng 17 giờ 15, Gio-an Phao-lô II.”

***

( Các chi tiết cụ thể trong bài này, chúng tôi tìm được chủ yếu trong hai tác phẩm:

1. Carl Bernstein và Marco Politi
Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II và lịch sử bị che đậy của thời đại ta.
Người dịch: Nguyễn Bá Long và Trần Quí Thắng,
Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1997

2. Bernard Bulayn Jean-Paul II le Grand, prophête du IIIe millinaire
Editions du Parvis, Hauteville, Suisse, 2002 )

Advertisements
Chuyên mục:Công Giáo Thẻ:
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: