Trang chủ > Công Giáo > “Có Một Người Thiên Chúa Sai Đến, Tên Là Gioan”

“Có Một Người Thiên Chúa Sai Đến, Tên Là Gioan”

Tác giả: Lm. Vũ Khởi Phụng- DCCT

Nguồn: hanhtrinhdanchua.net

1

Ngày 5.10.1958, Đức Hồng Y Roncalli, Thượng Phụ Venezia chuẩn bị lên đường đi thăm hai Xứ Đạo, chủ sự Lễ Kỷ Niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức ( Lourdes ).

ĐỨC PIÔ 12 QUA ĐỜI…

1Ngày 5.10.1958, Đức Hồng Y Roncalli, Thượng Phụ Venezia chuẩn bị lên đường đi thăm hai Xứ Đạo, chủ sự Lễ Kỷ Niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức ( Lourdes ). Điện thoại reo, đầu dây bên kia có người hỏi thăm xem ngài có biết giáo sư Gasbarrini đang ở đâu không, xin nhắn về gấp biệt điện mùa hè của Đức Giáo Hoàng ở Castel Gandolfo. Trên chiếc canô rẽ sóng rời thành phố Venezia, gương mặt Đức Hồng Y Roncalli lộ vẻ đăm chiêu. Ngài hiểu rồi, vì sao cần đến vị danh y đó…
Bốn ngày sau, 9 tháng 10, Radio Vatican báo tin Đức Giáo Hoàng Piô 12 đã qua đời lúc 3 giờ 52 sáng, thọ 82 tuổi. 19 năm trên Tòa Phêrô, ngài đã dẫn dắt Giáo Hội qua một giai đoạn phi thường trong lịch sử thế giới: Thế Chiến thứ hai, sự gia tăng vượt bậc của các chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Mác – Lê, các nước thuộc địa vùng lên đòi độc lập, mọi cơ cấu trong xã hội đều biến đổi, khoa học và kỹ thuật có những bước phát triển khổng lồ khiến cho thế giới bắt đầu hướng tới thống nhất, nhưng đồng thời thế giới lại quằn quại chia rẽ về ý thức hệ. Giữa những diễn biến bi tráng như thế, Đức Piô 12 để lại một di sản vĩ đại về đạo lý trong mọi lãnh vực. Không ai có thể phủ nhận ngài là một trí tuệ siêu việt trong một phong thái rất mực tiên phong đạo cốt. Suốt 19 năm, dung mạo ngài tỏa sáng rực rỡ trong và ngoài Giáo Hội.
Nhưng cũng như nhiều bậc thiên tài khác, Đức Piô 12 tập trung mọi quyền lực trong tay, lãnh đạo Giáo Hội một cách cô đơn trong ngôi vị chí tôn. Về sau này, với thời gian, người ta sẽ phê bình, mổ xẻ, đặc biệt là thái độ của ngài trong thời thế chiến, sự yên lặng của ngài trước thảm trạng của dân Do Thái trong chính sách diệt chủng của Đức Quốc Xã. Thật ra ngài có lên tiếng trong một số diễn từ. Hơn nữa, ngài còn kín đáo cứu được nhiều người Do Thái khỏi nanh vuốt Quốc Xã. Nhưng những người phê bình thời sau cho là như thế chưa đủ rõ, chưa đủ mạnh. Đáng lẽ phải có một thông điệp nẩy lửa cho thế giới. Biết thế nào là phải ? Một đàng là mấy nhà nghiên cứu, không phải lúc nào cũng vô tư, ngồi thảnh thơi luận thuyết phán xét cả lịch sử; một đàng là một con người cô đơn mang trên đôi vai gầy của mình gánh nặng khủng khiếp của cả Giáo Hội, cả thế giới, và mỗi lúc mỗi phải đối mặt với những vấn đề cực kỳ gay gắt và mệnh hệ ? Cái gì làm được và cái gì không làm được ? Việc gì phải làm và tai họa nào phải tránh ? Gần đây Tòa Thánh cho công bố các tư liệu vẫn lưu trữ trong văn khố Vatican. Nhưng một số nhà nghiên cứu vẫn còn tranh cãi.
Dù sao những phê bình đó là chuyện thời sau. Khi Đức Piô 12 nằm xuống, cả năm châu đều lên tiếng ca ngợi. Tổng thống Mỹ Harry Truman tuyên bố: “Đức Piô 12 là một trong những nhà lãnh đạo quốc gia vĩ đại suốt trong hai thế kỷ vừa qua. Mất ngài, và cùng với ngài là mất những nỗ lực vì hòa bình của ngài, thế giới đã bị tổn thất nặng nề hơn là nếu mất bất cứ người nào khác trong thời đại nảy !” Cả những nước rất xa lạ với Công Giáo như Iran, Ấn Độ, Pakistan, Ítraen v.v… cũng treo cờ rũ để tang cùng với Liên Hiệp Quốc. Các tôn giáo lớn đều bày tỏ sự kính trọng và phân ưu. Đúng như tờ New York Herald Tribune đánh giá: “Là bậc chân tu khổ hạnh, văn hóa cao diệu, hiểu rõ thế giới và can đảm, Đức Piô 12 đã thu phục được lòng kính trọng của mọi người, không phân biệt nam nữ hay tín ngưỡng…”
Ở ngoài Giáo Hội đã vậy, ở trong Giáo Hội sự ngưỡng mộ lại càng dào dạt. Dĩ nhiên phải trừ ra một số giới “cấp tiến” như nhóm các Linh Mục Thợ ở Pháp đã bị Đức Piô 12 giải tán, hay một số nhà thần học đã có những lập trường cách tân quá sớm và bị kiểm duyệt nghiêm khắc, một số người thông thạo về sự vận hành của guồng máy trong Giáo Hội… Thế nhưng, tất cả những người ấy cộng lại cũng chỉ là một thiểu số rất nhỏ. Tuyệt đại đa số người Công Giáo yêu mến Đức Piô 12 và có cảm tưởng ngài là một vị thánh sống. Ngài ra đi để lại một cảm giác trống trải.
Những ngày ấy nay đã lùi vào quá khứ xa xưa. Nhắc lại sự ngưỡng mộ Đức Piô 12 không phải là để vinh vang gì, nhưng để nhận ra rằng có vấn đề kế vị. Làm thế nào để kế vị được một người với tầm cỡ như thế ? Ai có thể lấp được chỗ trống Đức cố Giáo Hoàng để lại ? Giáo Hội khác với xã hội đời, chẳng có vị nào “xung phong” ra tranh cử. Chỉ có 51 vị Hồng Y, nói chung là già cả, sắp bước vào “Mật Hội” để bầu Giáo Hoàng mới. Như vậy lại càng khó dự đoán kết quả. Giáo Hội đợi chờ…
Xế chiều ngày thứ bảy 11.10.1958, trong văn phòng ở Tòa Thượng Phụ Venezia, Đức Hồng Y Roncalli sắp xếp lại giấy tờ trước khi về Roma thọ tang và phó hội: những gì chuyển qua cho Đức Cha Phụ Tá Olivotti, những gì còn giữ lại trên chiếc bàn giấy lớn. Hành trang mang theo thật gọn, chỉ những gì rất cần thôi, hiển nhiên ngài nghĩ tới một chuyến đi ngắn ngày. Sắp dọn xong, ngài ăn bữa tối nhẹ, cầu nguyện một lúc lâu, đọc mấy trang sách rồi ngủ yên như thường lệ. Sáng hôm sau, Đức Hồng Y ra ga đi Roma. Dân chúng Venezia ra tiễn đông đảo. Bầu không khí rất nồng nhiệt, bởi Đức Hồng Y là người nhân hậu, hồn nhiên, rất dễ gần…
Trong Đền Thờ Thánh Phêrô, thi hài Đức Piô 12 đặt trên một linh sàng khá cao màu đỏ. 16 giờ chiều thứ hai 13 tháng 10, nghi lễ tẩm liệm theo nghi thức cổ truyền, trong quan ngoài quách. Sau Thánh Lễ đại triều, đại hồng chung ngân rền những tiếng trầm hùng trong lúc di quan xuống địa cung Đền Thánh, nơi an táng nhiều vị Giáo Hoàng.
Quang cảnh này như chất chứa một mầu nhiệm hiệp thông. Ngọn đồi Vatican này xưa kia là ngự viên thuộc hoàng cung của bạo đế Nero. Chính ở đây những người tín hữu đã bị tẩm chất đốt và bị treo lên làm đuốc sống, mảnh đất này thấm máu của các vị Tử Đạo đầu tiên ở Roma. Và ngay bên cạnh ngự viên là nghĩa trang, nơi nhiều người bị hành hình được chôn cất. Sở dĩ Đền Thánh Phêrô được xây ở một nơi địa hình không thuận tiện chính là vì Thánh Phêrô đã được an táng nơi đây.
Xưa nay vẫn truyền lại rằng Bàn Thờ chính trong Đền Thánh được đặt đúng trên vị trí của mộ Thánh Phêrô. Từ ngày có Đền Thờ tới nay đã 13 thế kỷ, hai ba lần xây đi cất lại chồng chất lên nhau. Không ngờ khi Đức Giáo Hoàng Piô 11 qua đời năm 1939, lúc đào huyệt dưới địa cung, người ta phát hiện những chứng tích đầu tiên của một khu mộ ngay dưới Cung Thánh Đền Thờ.
Người kế vị Đức Piô 11 là Đức Piô 12 truyền lệnh khai quật di chỉ. Kết quả là tìm được một ngôi mộ với di cốt một người đàn ông trên 60 tuổi, và bên cạnh là một đài kỷ niệm nhỏ còn ghi rõ đây là sinh phần của Tông Đồ Phêrô. Và vị trí đúng là trùng hợp theo chiều thẳng đứng với Bàn Thờ chính trên Cung Thánh. Và bây giờ đến lượt Đức Piô 12, người kế vị Phêrô thứ 260, trở về cùng một lòng đất. Hội Thánh đời đời truyền nối sứ vụ Tông Đồ.

AI SẼ LÀ NGƯỜI KẾ VỊ ?

Cửu nhật đại tang còn chưa dứt, nhưng đã râm ran những suy nghĩ cùng dự đoán về người kế vị thứ 261. Và bao giờ cũng thế, có khuynh hướng bảo thủ, có khuynh hướng cách tân, và có khuynh hướng trung dung.
Người bảo thủ thì mong một vị Tân Giáo Hoàng tiếp nối phong cách của Đức Piô 12. Có thể nghĩ đến ngài Siri, mới 52 tuổi, Tổng Giám Mục Genoa, nhưng thấy bảo ngài dính líu hơi nhiều vào chính trị. Còn những vị như Ottaviani, Mimmi, Ruffini thì người ta bảo không được. Như vậy thì niềm hy vọng của phái bảo thủ là ngài Aloisio Masella, Hồng Y tại Giáo Triều, đang quyền nhiếp Thường Vụ lúc Tòa Thánh trống ngôi.
Phái cách tân lại muốn bầu một vị có phong cách khác. Họ nghĩ đến Đức Hồng Y Lercaro, Tổng Giám Mục Bologna. Nhưng cánh bảo thủ cho là ngài quá khuynh tả mà lại lập dị. Họ bảo: “Bầu ngài làm Giáo Hoàng để ngài biến điện Vatican thành cô nhi viện à ?” Chả là Đức Hồng Y đã nuôi nấng nhiều cô nhi, cho chúng sống ngay trong Tòa Tổng.
Phái thứ ba thì không dứt lhoát. Lúc này có thấy ai đủ tầm cỡ để kế vị một người như Đức Piô 12 ? Người ta bàn nên bầu một người nào trung dung, không cần ở ngôi lâu lắm, chỉ cần người chủ trì một thời gian chuyển tiếp để chờ một bản lãnh lớn có cơ may xuất hiện trong Hồng Y Đoàn. Như vậy thì có thể nhờ Đức Hồng Y Valerio Valeri, phải cái ngài đau tim. Nếu không được, thì người ta còn nhắc tới danh tánh hai vị nữa. Một là Đức Hồng Y Agagianian, người Armenia, sinh ra là công dân Nga, hiện nay lại có quốc tịch Liban. Ngài là người rất tinh tế. Vị thứ hai hay được nhắc tới là Đức Hồng Y Roncalli, người ôn hòa, dễ mến, và 77 tuổi rồi.
Nhưng đó là sự bàn tán của các giới thông thạo. Kết quả ra sao tùy thuộc vào 51 vị Hồng Y sắp vào Mật Hội kia, mà các ngài thì kín đáo lắm, nghe nhiều, chắc nghĩ cũng nhiều, và có bàn bạc gì với nhau thì cũng rất cẩn mật.
Đức Hồng Y Roncalli trú ở Nhà Thánh Mẫu, Doma Mariae, 814 via Aurelia, không xa Vatican. Ngài nghĩ sao ? Trong một bức thư viết cho Đức Cha Piazzi, Giám Mục Bergamo, ngài thổ lộ: “Tâm hồn tôi tìm được một nguồn sức mạnh, vì tôi tin tưởng sẽ có một Lễ Hiện Xuống mới, qua vị lãnh đạo mới và sự chấn chỉnh các cơ quan Giáo Hội, sẽ thổi một khí thế mới vào Hội Thánh để cho Chân Lý, Sự Thiện và Hòa Bình toàn thắng. Tân Giáo Hoàng có phải là người Bergamo hay không, điều đó không quan trọng. Mọi người phải cầu xin cho ngài là một nhà quản trị khôn ngoan và nhân hiền, xin cho ngài là một vị thánh, một người có sức thánh hóa. Thưa Đức Cha, Đức Cha hiểu tôi.”

ĐỨC HỒNG Y RONCALLI Ư ?

Như vậy là chỉ một tuần sau khi Đức Piô 12 qua đời, Đức Hồng Y Roncalli đã nghĩ rằng có thể ngài phải kế vị. Bởi ngài quê vùng Bergamo, chính xác là ở Sotto il Monte ( có nghĩa là Chân Núi ). Đó là một ngôi làng nhỏ, hẻo lánh, mùa hè ruộng lúa nương ngô bao lấy mấy xóm nghèo, mùa đông những cây tùng, cây bách in bóng xanh đen trên nền đất nâu nhấp nhô. “Chấn chỉnh các cơ quan Giáo Hội” là vì như trên đã nói, Đức Piô là người rất mực tài ba, lại có sức làm việc kinh người, đặc biệt trong những năm cuối đời, ngài một mình đôn đốc hết mọi việc lớn, nên các cơ quan Tòa Thánh có phần bị lu mờ.
Nói những lời như thế không có nghĩa là Đức Hồng Y Roncalli muốn làm Giáo Hoàng. Trong thâm tâm ngài lặp đi lặp lại lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong Vườn Cây Dầu. Thậm chí viết lên giấy trắng mực đen như trong thư gửi Đức Cha Giuseppe Battaglia, Giám Mục Faenza: “Về phần tôi, cầu Trời cho chén đắng xa đi !”
Ngày 23, chỉ còn hai hôm nữa Mật Hội sẽ khai mạc, Đức Hồng Y Roncalli đi thăm một cộng sự viên cũ, Đức Ông Dell’ Aequa: “Cha Angelo à, cha đã thấy đó, báo chí nhắc đến tên tôi như là một trong những “Papabili”. Tôi phải làm gì đây ?” – “Thưa Đức Hồng Y, xin ngài hãy đặt mình trong tay Chúa và nếu Ý Chúa là như thế, xin ngài đừng nói: Không; Xin ngài hãy buông xuôi và đương đầu với hy sinh như Chúa đòi hỏi. Sẽ không thiếu những người tốt lành và tận tụy cộng tác với ngài.”
Áp ngày Mật Hội, Hồng Y già Dalla Costa, một người bạn cố tri, còn nói với Đức Thượng Phụ Roncalli: “Ngài có thể là Tân Giáo Hoàng đấy !” – “Nhưng tôi bảy mươi tuổi rồi ! – “Ối, tôi còn hơn ngài mười tuổi kia… Nếu ngài có thể làm Giáo Hoàng mười năm thì là đủ rồi”
Nhưng đâu phải ai cũng tôn phò ngài Roncalli đâu ! Hình như ở Pháp, nơi ngài đã làm sứ thần Tòa Thánh từ 1945 đến 1952, người ta không đánh giá ngài cao lắm thì phải, chả thế mà một trong sáu vị Hồng Y Pháp khi lên đường phó hội đã nói thẳng thừng: “Có một điều chắc chắn: sẽ không phải là ngài Roncalli !” Bởi vì ngài Roncalli thì hàng Giáo Phẩm Pháp biết quá rồi, chỉ được cái xuề xòa vui vẻ tếu táo chứ có bản lãnh gì đâu !
Bảy năm làm Sứ Thần Tòa Thánh ở Pháp chẳng thiếu gì những vấn đề hệ trọng và hiểm hóc: bắt đầu là vụ chính quyền De Gaulle muốn thanh lọc hàng Giám Mục sau thế chiến thứ hai; kế đây là một loạt những canh tân mục vụ của các Giám Mục Pháp; cả về mặt Đạo lẫn mặt đời, không phải lúc nào Roma và Paris cũng thông cảm với nhau, tình hình nhiều lúc căng thẳng. Nhiều người, đặc biệt là giới trí thức, có cảm tưởng Đức Cha Roncalli là người “cù lần”, thủ cựu, chẳng hiểu thời đại.
Cha Rouquette, nhà bỉnh bút có tiếng của Dòng Tên nhớ lại: “Những bài diễn văn của ngài trước công chúng không được hay lắm. Còn khi có khách đến thăm, thì ngài chuyên nói đủ chuyện linh tinh… để khỏi phải đề cập những vấn đề nghiêm túc. Khi đọc diễn văn, thì ngài nói miên man những chuyện không đâu, để khỏi phải có lập trường. Kết quả là nhiều khi cử tọa cười cợt một cách bất kính, gần như tỏ thách đố tẩy chay.” Ví dụ trong một hội nghị long trọng bàn về những vấn đề mục vụ nóng bỏng, ngài kể lể dài dòng về một cuộc hành hương kính viếng di tích của vị Thánh ăn xin Benoit Labre, đến nỗi “mấy ngàn Linh Mục có mặt ngơ ngác, và một vị… thốt lên: “Sứ Thần là thế đấy à ?” Cũng vậy, giữa một nghi lễ trọng thể, ngài quay ra nói về rượu vang và mấy thùng ton-nô, Cử tọa cứ cười ầm lên !”
Tại sao thế ? Về sau, Đức Cha Roncalli có thổ lộ với người bạn thân Daniel-Rops: “Khi tôi đến Paris, tôi như có một cảm hứng. Tôi tự nhủ: Hoàn cảnh khó khăn là thế thì chỉ có một cách gỡ rối, dù lòng tự ái của mình có bị tổn thương: phải đóng vai ngu si thôi, phải đóng vai ngốc nghếch thôi !”
Quả là nước Pháp và Giáo Hội Pháp có nhiều cống hiến to lớn, có nhiều bậc kỳ tài, nhưng cũng có một mặt trái đây là một nỗi đam mê tư tưởng đến mức coi ý tưởng trọng hơn con người, rồi gay gắt lên, xào xáo nhau thậm tệ. Đức Cha Roncalli thì ngược lại, bao giờ cũng đặt con người trước tư tưởng. Giữa những mâu thuẫn nhức buốt như một ổ kiến lửa, thay vì đứng về phía này phe nọ, ngài thích để cho thời gian làm công việc gạn đục khơi trong. Ngài nói: “Quay một nửa vòng về phía hữu, lại quay một nửa vòng về phía tả”. Bù lại với sự cố tính không dứt khoát, là một thái độ cởi mở thân thiện với hết mọi người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội, có Đức Tin hay không có Đức Tin, trong đó có cả chủ tịch Hồ Chí Minh khi ông sang Pháp năm 1946.
Sau bảy năm ở Pháp, Đức Cha Roncalli có rất nhiều bạn bè thuộc mọi phe phái. Riêng về việc Đạo, ngài đứng ngoài vòng mọi tranh chấp chính là để có một tư thế khả dĩ làm cho Tòa Thánh Roma thông cảm được với Giáo Hội Pháp và cho Giáo Hội Pháp thông cảm được với Tòa Thánh Roma. Đàng sau cái vẻ ba phải, có một cặp mắt tinh anh quan sát người và việc. Chỉ có một vài người rất tinh ý cảm thấyăy dưới cái bề ngoài vô thưởng vô phạt ấy, có một tư duy rất tự do còn đang cất đấy, chỉ lộ ra khi đến ngày đến giờ…

2

Khi làm Giám Mục, ngài đã chọn cho mình một khẩu hiệu: “Obsedientia et Pax – Vâng Mệnh và Bình An”.

MẬT HỘI BẦU TÂN GIÁO HOÀNG

2Từ ngày ấy nay đã hơn sáu năm. Bây giờ là buổi chiều ngày 25 tháng 10, vẫn ngài Roncalli ấy cùng với 50 vị Hồng Y khác tiến vào Mật Hội, vẫn là con người giữ riêng cho mình những nhận xét của mình, và sẵn sàng nép mình nhường chỗ cho người khác. Khi làm Giám Mục, ngài đã chọn cho mình một khẩu hiệu:“Obsedientia et Pax – Vâng Mệnh và Bình An”.
Từ hậu bán thế kỷ 13 đến nay, đã thành một kỷ cương trong Giáo Hội là các vị Hồng Y cử tri hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài trong những ngày bầu cử, một khi cánh cửa Mật Hội đóng lại là nội bất xuất, ngoại bất nhập. Âu cũng là một cách để tách mình ra khỏi mọi toan tính của thế gian phàm tục, mang những ưu tư về Giáo Hội ra đối diện với Chúa và đón chờ ơn soi sáng của Thánh Thần. Ở Vatican thời đó còn giữ đủ các tập tục lễ nghi từ xưa truyền lại. Ông hoàng Sigismond Chipi Albini Della Rovere, từ bây giờ là người quản nhiệm nội điện Tông Tòa, cùng với các vệ binh Thụy Sĩ và vệ binh quý tộc tay cầm đuốc sáng đi rảo qua thanh sát một lần cuối cùng khu vực Mật Hội. Rồi mệnh lệnh vang lên 3 lần: “Extra omnes. Extra omnes” có nghĩa là tất cả những ai không có nhiệm vụ phải ra ngoài hết. Đến khi ông hoàng cùng đoàn vệ binh ra khỏi cửa, thì vị Hồng Y nhiếp chính khóa chặt 3 ổ khóa bên trong, ông hoàng khóa chặt 3 ổ khóa bên ngoài, sau đó niêm phong cánh cửa. Đó là cánh cửa duy nhất để ra vào Mật Hội. Trong Mật Hội, không có điện thoại, không có báo chí, nếu cần cung cấp lương thực thực phẩm, thư tín từ bên ngoài, thì qua một chiếc tủ xoay có Giáo Sĩ canh giữ… Mật Hội đã bắt đầu…
Dọc theo Nhà Nguyện Sixtina, dưới bức bích họa vĩ đại và trứ danh “Ngày Phán Xét” của Michelangelo, 51 vị Hồng Y ngồi trên những chiếc ngai có tán che mầu tím. Từ năm 1953, Đức Piô 12 không tấn phong Hồng Y nào, nên nay đa số các vị đều già cả. Dù Đức Hồng Y Roncalli đã ở tuổi 77, nhưng vẫn còn 24 vị lớn tuổi hơn. Mỗi ngày đầu phiếu 4 lần, buổi sáng 2 lần và buổi chiều 2 lần. Mỗi vị Hồng Y lần lượt tiến tới Bàn Thờ, tay cầm lá phiếu của mình và tuyên thệ; “Xin Đức Kitô là Đấng sẽ phán xét tôi chứng giám cho tôi: tôi bầu cho người mà trước mặt Thiên Chúa tôi xét là phải được đề cử”, rồi bỏ lá phiếu của mình vào một chén thánh. Để một vì nào đắc cử, cần phải hội đủ túc số phiếu là hai phần ba cộng một, như vậy lần này là 35 phiếu.
Lại một cổ lệ rất đơn giản mà khiến cho mọi người bên ngoài vô cùng hồi hộp: sau mỗi lần đầu phiếu, các lá phiếu được mang đốt trong một cái lò bé con, đặt dưới một cái ống khói mảnh khảành sắt tây nhô lên cao trên mái Nhà Nguyện Sixtina. Nếu đầu phiếu chưa có kết quả, thì chất đốt được tẩm nhựa tạo ra làn khói đen. Nếu đã bầu được vị Tân Giáo Hoàng, thì mấy nhánh củi khô, rơm khô, sợi khô sẽ tạo ra khói trắng. Ngoài quảng trường Thánh Phêrô, cộng đồng Dân Chúa, cũng như khách hiếu kỳ và rất nhiều phóng viên với rất nhiều máy ảnh, rất nhiều camera cứ ngong ngóng nhìn cái ống khói.
Ngày đầu phiếu đầu tiên, Chúa Nhật 26 tháng 10, bốn lần khói đen tỏa ra. Vậy là trong Mật Hội phiếu bầu còn tản mác, chưa quy tụ vào ai. Quy luật trong Mật Hội là không có bài diễn văn nào, cũng không ai giải thích công khai, vì sao mình bầu cho một vị nào đó. Chỉ có nhiều lúc mấy mái đầu già chụm lại nghĩ ngợi trao đổi nhỏ nhẹ xen lẫn với những giờ yên lặng cầu nguyện. Về sau này, vị Tân Giáo Hoàng sẽ ghi trong nhật ký: “Tôi đã không hề vận động để được chức vụ Giáo Hoàng, trái lại, đã lưu tâm từng ly từng tí để người khác đừng chú ý đến tôi. Qua những biến chuyển trong Mật Hội, tôi luôn bằng lòng khi số phiếu dồn cho tôi giảm xuống và các vị ấy chú ý tới những đấng khác mà riêng tôi cũng tôn kính và thấy là xứng đáng.”

Như vậy là trong hai ngày Chúa Nhật và thứ hai, phiếu bầu cho Đức Hồng Y Roncalli khi trồi khi sụt. Theo sự tiết lộ của chính Đức Tân Giáo Hoàng khi đến thăm Học Viện Armenia, thì phiếu bầu của Đức Hồng Y Roncalli và của Đức Hồng Y Agagianian luôn xuýt xoát nhau.
Sang đến ngày thứ ba 28 tháng 10 thì có sự biến chuyển. Buổi sáng, phiếu bầu cho Đức Hồng Y Roncalli tăng lên, hết vòng hai thì hơn hẳn so với phiếu bầu Đức Hồng Y Agagianian. Đức Hồng Y Roncalli đi thẳng về phòng riêng, gương mặt nghiêm nghị hằn lên nét trầm tư. Ngài như đơn độc trong một cõi nào sâu lắng. Bữa ăn trưa không thấy ngài xuống phòng ăn. Đức Hồng Y Fossati, Tổng Giám Mục Torino, tìm đến phòng ngài thì thấy ngài còn đang bàng hoàng.

“TÔI SẼ MANG DANH GIOAN”

Chiều ngày 28.10.1958, ngài Tisserant, đoàn trưởng Đoàn Hồng Y, tiến đến trước mặt ngài Roncalli và đặt câu hỏi bằng tiếng La-tinh theo đúng nghi lễ truyền thống: “Ngài đã đắc cử Giáo Chủ Roma đúng theo Giáo Luật. Ngài có nhận sự đề cử chăng ?”
Những giờ phút bàng hoàng hồi trưa đã qua rồi. Đức Hồng Y Roncalli khẽ cúi đầu và bằng một giọng trang trọng mà điềm đạm đọc câu trả lời cũng bằng tiếng Latinh ngài đã soạn sẵn: “Khi nghe ngài, tôi run lên sợ hãi. Những gì tôi biết về sự nghèo nàn nhỏ bé của tôi khiến tôi sượng sùng hổ thẹn. Nhưng các anh em Hồng Y tôn kính trong Hội Thánh Roma đã đầu phiếu như thế, tôi nhận thấy đó là Ý Thiên Chúa, tôi xin nhận sự bầu cử của anh em. Tôi xin cúi đầu nghiêng mình trước chén đắng, trước Thánh Giá nặng nề. Trong đại lễ Chúa Ki-tô Vua, tất cả chúng ta từng hát: Chúa là Đấng phán xét chúng ta, Chúa là Đấng dẫn dắt ta; chính Nga sẽ cứu ta.”
Đã có Giáo Hoàng mới. Những chiếc tán mầu tím phía trên các ngai của các vị Hồng Y liền hạ xuống. Đó là biểu tượng quyền bính của Hồng Y Đoàn khi Tòa Thánh trống ngôi. Nay thì chỉ còn một tán phía trên ngai của vị Tân Giáo Hoàng. Đức Hồng Y Tisserant lại hỏi tiếp:
– Ngài muốn nhận danh hiệu là gì ?
Vocabor Johannes. Tôi sẽ mang danh Gioan.

Sự bất ngờ đầu tiên. Đã lâu lắm rồi không có Giáo Hoàng mang danh hiệu Gioan. Phải lên đến tiền bán thế kỷ 14 mới thấy có Đức Giáo Hoàng Gioan 22 ( 1316 – 1334 ), thời các Giáo Hoàng lưu lạc sang đất Avignon, nay là nước Pháp. Đức Tân Giáo Hoàng giải thích ngay:
– Với chúng tôi, đó là một danh hiệu thân thương và đó là tên gọi của thân phụ chúng tôi. Thân thương vì đó là danh hiệu của Xứ Đạo quê nghèo, nơi chúng tôi đã chịu Phép Rửa. Cũng là tôn danh của hết bao nhiêu Nhà Thờ Chính Tòa trên khắp thế giới, và trước tiên là của Thánh Điện Laterano, Nhà Thờ Chính Tòa của chúng tôi, Giáo Phận Roma. 22 vị Giáo Hoàng đã mang danh hiệu Gioan… Hầu hết các vị ấy chỉ ở ngôi một thời gian ngắn… Chúng tôi danh phận mỏng manh, chỉ mong được ẩn mình trong sự truyền nối tuyệt vời của các vị Giáo Hoàng ấy… Nhưng chúng tôi yêu mến danh xưng Gioan là vì, đó là tên gọi của hai người rất gần Chúa Kitô, là Chúa Cứu Thế và là Đấng sáng lập Giáo Hội: Gioan Tẩy Giả, vị Tiền Sứ của Chúa… và vị kia là Gioan, người đồ đệ và là tác giả Tin Mừng, mà Chúa Kitô và Thánh Mẫu rất nhân hiền hằng yêu dấu. Trong bữa Tiệc Ly, người đã tựa đầu trên vai Chúa, và do đó, Người tiếp nhận một Lòng Mến mà cho tới khi rất mực già cả, vẫn bừng lên ánh lửa Tông Đồ sống động…
Thế rồi, tự nhiên trào ra một câu đầy phong vị Gioan, qua các Hồng Y, ngài đã ngỏ lời với mọi tín hữu: “Các con ơi, hãy yêu mến nhau, bởi đó là Điều Răn lớn của Chúa…”

Đức Gioan 23 rời ngài đi về phòng áo, ngài đổi Hồng Y thành Bạch Y. khi trở lại lòng Nhà Nguyện Sixtina, chỉ còn chiếc mũ phủ trên đỉnh đầu là đỏ. Vị Bí Thư Mật Hội, Đức Cha Di Jorio tiến lên dâng ngài chiếc mũ trắng. Lại một bất ngờ: Đức Gioan 23 cất chiếc mũ đỏ của mình đắp lên đầu Đức Cha Jorio: ngài vừa phong một vị Hồng Y mới. Đó là một truyền thống lâu đời, mấy đời Giáo Hoàng trong thế kỷ 20 không giữ nữa. Đức Tân Giáo Hoàng là người quyết định mau chóng.
Vị Hồng Y nhiếp chính mãn nhiệm xỏ vào tay ngài chiếc nhẫn Mục Tử. Sau đó nghi lễ thần phục bắt đầu. Mỗi vị Hồng Y vừa quỳ xuống hôn tay ngài, liền được ngài nâng dậy ôm hôn và hàn huyên thân thiết. Đức Tân Giáo Hoàng rất chân tình trong mọi giao tiếp.

“HEBEMUS PAPAM. CHÚNG TA CÓ GIÁO HOÀNG RỒI !”

Ngoài quảng trường Thánh Phêrô, lúc 17 giờ 10 phút, mọi người thấy khói bốc lên trên mái Nhà Nguyện Sixtina. Chẳng hiểu trục trặc thế nào, khói nhờ nhợ, không ra đen, không ra trắng. Năm lần trước cũng vậy, lúc đầu cứ xam xám thế, sau lại ngả màu đen. Người ta chưa dám hoan hô. Nhưng lần này không ngả đen, đã có phần hơi hồi hộp. Người bảo thế là đã có kết quả, người nói chưa đâu. Một anh nhà báo chạy ngang qua nói lớn tiếng: “Radio Vatican báo tin khói trắng… Afumata bianca” Bắt đầu xôn xao. Vài phút sau anh nhà báo hộc tốc trở lại: “Đúng rồi, Radio Vatican tái xác nhận là khói trắng”. Tin tức lan ra. Dân Roma sống lâu bên Tòa Thánh có một lối nói có lẽ không được cung kính lắm, nhưng thân mật, họ bảo là đã “làm ra Giáo Hoàng rồi: Il Papa è fatto !”.
Đèn vừa bật sáng dọc đại hành lang phía trên tiền đường Đền Thánh Phêrô. Rồi đột nhiên ánh điện bừng lên chói lọi Thánh Đường. Vòm Đền Thánh sáng vút lên đến tận đỉnh cao, in vào nền trời đêm những đường cong lâng lâng trên không gian. Đúng rồi, Il Papa è fatto !
Chuông các Nhà Thờ khắp Roma gióng lên hân hoan. Một giàn nhạc chuông mênh mang bao lấy thành phố, và giàn chuông Đền Thánh Phêrô vang lên như những giọng ca lĩnh xướng. Hai cánh màn trắng trên bao lơn lộ thiên của Đền Thánh cuộn lên. Đoàn vệ binh Thụy Sĩ đứng vào vị trí trong hành lang. Một tấm trướng mầu trắng viền đỏ rất lớn, ở giữa còn mang Giáo Huy của Đức Piô 12 được phủ lên lan can cho chảy dài xuống chính điện Đền Thờ.
18 giờ 03, Đức Hồng Y Canali xuất hiện. Trên quảng trường bây giờ mấy trăm ngàn con người đã tụ lại, yên lặng ngóng chờ. Từ các loa phóng thanh vang lên lời ngài Canali đọc công thức cổ truyền bằng tiếng La-tinh:
“Annuncio vobis gaudium magnum: Tôi loan báo cho anh chị em một niềm vui lớn…” Ngài ngừng một giây. Đã có vài tiếng hoan hô. “…Hebemus Papam. Chúng ta có Giáo Hoàng rồi”. Quần chúng lại rộ lên vui mừng. Nhưng là ai thế ? “…Eminentissimum anh em Reverendissimum Dominum Angelum Josephum. Quý tính tôn danh ngài là Angelo Giuseppe…” Thế là bên dưới có người hiểu rồi. Có ai đó kêu lên: “Hoan hô ! Cụ Venezia !” Người ta xì xào vào tai nhau. Tiếng Đức Hồng Y Canali vẫn đang vang lên: Tiếng vỗ tay vang lên như sóng cồn tràn qua quảng trường mênh mông, xuyên suốt đường Conciliazione, ra tới bờ sông Tevere. Đức Hồng Y Canali kết thúc vẫn bằng tiếng Latinh: “…Sanctae romanae Ecclesiae Cardinalem Roncalli… Roncalli Hồng Y Hội Thánh Roma…”“Ngài đã chọn danh hiệu là Gioan thứ hai mươi ba”.
Không lâu sau đó, những tà áo đỏ của các vị Hồng Y phất phới trên hành lang. Và một người áo trắng từ từ tiến ra bao lơn. Quần chúng la hò tưng bừng:“Evviva il Papa… Evviva Roncalli…”
Dân Roma tếu tếu vậy mà nhiều khi rất đúng. Họ bảo cứ một ông ốm lại một ông mập kế tiếp nhau. Đức Piô 12 gầy ốm, có nhân dáng một nhà tu khổ hạnh. Đức Gioan 23 vừa thấp lại vừa mập. Phải chăng có một quy luật lịch sử tiềm tàng làm nên sự quân bình của Giáo Hội, và quy luật ấy biết đâu có cả một âm vang thể lý ?
Đức Gioan 23 cất tiếng đọc những lời kinh mở đầu cho nghi thức chúc lành trọng thể. Tiếng Latinh đọc theo cung giọng Ý nghe du dương. Tiếng nói cũng có nét tương phản. Tiếng Đức Piô 12 nghe mong manh, như từ một cõi xa xôi nào vọng đến. Tiếng Đức Gioan 23 thì chắc nịch và ấm áp: “…Xin Phước Lành của Thiên Chúa Toàn Năng là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần xuống trên anh chị em và tồn tại luôn mãi”.
Đức Gioan 23 vừa chúc lành lần đầu tiên cho “đô thành Roma và thế giới: Urbi et Orbi”. Về sau này, Đức Giáo Hoàng thuật lại với nhà điêu khắc Manzù: “Tôi chóa mắt vì những ngọn đèn chiếu. Giáo Hoàng thì chăn dắt đoàn chiên, nhưng gặp mấy nhà nhiếp ảnh là phiền lắm. Trên bao lơn đó, ánh đèn với những chớp lóe của họ làm cho tôi như mù, chả còn thấy gì nữa. Làm Giáo Hoàng mới, giáp mặt với quần chúng, mà có nhìn ra cái gì đâu !”
Cũng câu chuyện đó, nhưng nói với một Tu Sĩ Dòng Đa Minh người Pháp, cha A.M. Carré, ngài đi vào nội tâm hơn: “Khi rời khỏi bao lơn Đền Thánh Phêrô, tôi nghĩ tới những ánh đèn chói chang từ nay sẽ chiếu vào tôi không phút nào ngơi. Và tôi tự nhủ: nếu mình không làm môn sinh của “Thầy” hiền lành và khiêm nhường trong lòng, thì sẽ không còn nhìn thấy thực tại cõi đời nữa đâu. Sẽ mù đấy…”

3

Vậy là đã có Giáo Hoàng ? Mới hôm qua phần lớn Giáo Hội, phần lớn thế giới còn chưa biết ngài Roncalli là ai, ai thế ?

CHÂN DUNG TỰ HỌA

3Vậy là đã có Giáo Hoàng ? Mới hôm qua phần lớn Giáo Hội, phần lớn thế giới còn chưa biết ngài Roncalli là ai, ai thế ? Trước tiên, hãy cứ nghe ngài tự giới thiệu. Ngày 15.3.1953, khi đến nhận Giáo Phận Venezia, Đức Thượng Phụ Roncalli mở lời với đoàn chiên của mình như sau:
“Anh chị em đã bồn chồn chờ đợi tôi. Người ta đã nói và viết về tôi nhiều điều quá lời so với công trạng của tôi. Tôi xin được tự giới thiệu về con người nhỏ bé của mình… Tôi may mắn có được sức khỏe tốt, tinh thần cũng có phần biết điều phải chăng, nên hữu sự cũng thấy rõ, biết nhanh về người và việc…
Tôi gốc gác dân dã, Ơn Trên cho sinh trưởng trong gia cảnh nghèo khó, ít đòi hỏi nhưng lại tạo điều kiện cho những điều thanh cao nảy nở, rèn luyện người ta cho những bước thăng tiến lớn ở đời. Thiên Chúa Quan Phòng đưa tôi ra khỏi làng quê, cho tôi ngược xuôi các nẻo đường phương Đông phương Tây, chung bước với những người khác tôn giáo, khác ý thức hệ, phải đối mặt với những vấn đề xã hội nhức buốt ngặt nghèo. Tôi đã giữ được sự điềm tĩnh và quân bình, khi tìm hiểu cũng như khi đánh giá sự việc, miễn là những nguyên lý của Đức Tin Công Giáo và của Luân Lý được bảo toàn, thì tôi luôn quan tâm đến những điều nối kết lòng người hơn là những gì gây chia rẽ và ly tán.
Vài lời như thế gọi là phác nên dung mạo một con người xét ra cũng tầm thường thôi. Đã đành là khi về nhiệm sở Venezia này, tôi được trao phó một sứ vụ lớn lao vượt quá tài sức tôi, trước tiên tôi xin anh chị em hãy lấy thiện cảm mà đón nhận một con người chỉ muốn làm người anh em niềm nở, dễ gần, biết lắng nghe… con người tôi là như thế…
Tôi còn là Linh Mục nữa; Ecce Sacerdos. Bình sinh tôi chỉ ước nguyện làm Linh Mục. Cho nên đứa con nhỏ mọn của nhân dân đã được phú cho một sứ mạng tuyệt vời để quay về phục vụ nhân dân, in his quae sunt ad Deum ( trong những gì quy hướng về Chúa ): làm người đại diện nhân dân để ngày ngày dâng lễ vật cùng với tế phẩm, để thừa hành sự xá giải tội lỗi và người tội lỗi, để tận hiến mình hằng giây hằng phút.
Linh Mục ở đó để bồi bổ và soi sáng các tâm hồn; Linh Mục có thể chu toàn nhiệm vụ ấy bởi chính bản thân mình cũng cảm thấy gánh nặng của con người yếu đuối. Chức năng của Linh Mục trước tiên là phân phát ân sủng, thừa hành các Bí Tích… Khi anh chị em nhìn về vị Thượng Phụ của mình, hãy tìm vị Linh Mục, tìm người phụng sự ân sủng chứ đừng tìm gì khác, bởi ước nguyện của tôi là được giãi bày trong nhiệm vụ của mình Ơn Gọi mình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa.
Tôi là Mục Tử: Ecce Pastor. Là con người nhỏ bé, là Linh Mục khiêm hạ, nhưng chủ yếu là Mục Tử. Chúa Giêsu là Mục Tử đời đời của linh hồn ta và là kiểu mẫu của sứ mạng phục vụ…
Hồi còn là Linh Mục trẻ, tôi chỉ ước ao được làm Cha Sở ở thôn quê trong Giáo Phận của tôi. Nhưng Chúa Quan Phòng đã muốn dẫn tôi đi một con đường khác trước khi tôi đến đây. Nhưng trong tất cả các sứ mạng Hội Thánh đã trao cho tôi, khi tiếp xúc với những con người thuộc các chủng tộc và tôn giáo khác nhau, tôi vẫn chỉ quan tâm thể hiện tính cách mục vụ, và tôi thấy thế là mừng…
Anh chị em nhìn tôi bằng ánh mắt bình an, nét mặt vui tươi, thái độ chu đáo tế nhị, khiến cho tôi cảm nhận được nơi anh chị em lòng nhân ái và sự hiệp thông tâm hồn với tôi. Từ nay tôi sẽ tìm cách đáp đền. Tôi sẽ tìm cách tiếp xúc với anh chị em, đơn giản thôi chứ không có gì long trọng: bước nhanh mà bước thầm lặng. Cung cách của người Mục Tử là như thế: Đếm chiên của mình từng con một.
…Đừng coi Thượng Phụ của anh chị em như một nhà chính trị, một nhà ngoại giao: Hãy tìm vị Linh Mục, tìm vị Mục Tử các linh hồn, đang thi hành nhiệm vụ của mình nhân Danh Chúa…”
Báo Informations Catholiques Internationales ( ICI ), sau khi công bố những lời tâm sự trên đây của Thượng Phụ Roncalli với Giáo Phận của mình, đã có mấy nhận xét rất hay: “Trước khi phát hiện bản văn này, chúng tôi đã nghiên cứu cẩn thận nhiều tài liệu; đã nhẫn nại phỏng vấn nhiều nhân chứng. Hóa ra dung mạo mà chúng tôi tổng hợp lại được không có một điểm nào khác biệt với những gì Đức Hồng Y Roncalli nói về chính mình khi ngài tự giới thiệu với Giáo Dân trong Giáo Phận của ngài. Hiếm có khi nào cảm nghiệm bản thân mình lại trùng hợp hoàn toàn như vậy với cảm nghiệm của người khác về mình.”
Sau đó, tờ báo có những suy nghĩ về yếu tố thời gian trong đời Đức Tân Giáo Hoàng: thời gian dạy người ta sống và tư duy, rằng: “Đức Giáo Hoàng đã làm nhiều điều. Nhưng tất cả những gì ngài làm thì đều làm tương đối muộn. Qúa trình của ngài diễn tiến như một cuốn phim quay chậm, cuộc đời ngài phát triển theo nhịp độ chậm chạp từ những gốc rễ nông thôn. Tác phẩm nổi tiếng của ngài về cuộc viếng thăm mục vụ của Thánh Carlo Borromeo trong Giáo Phận Bergamo, ngài khởi thảo năm 25 tuổi thì mãi đến nay mới hoàn tất: Đức Hồng Y Roncalli đã để tập bản thảo cuối cùng lại trên bàn giấy ở Venezia. Không kể những năm học Chủng Viện ở Roma để chuẩn bị làm Linh Mục, thì mãi đến năm 40 tuổi cha Roncalli mới thật sự ra khỏi Giáo Phận quê hương: đó là năm 1921, Đức Benedicto 15 yêu cầu ngài tổ chức lại công cuộc Truyền Bá Đức Tin của nước Ý. Làm Giám Mục… năm 44 tuổi… Ngài chỉ thi hành sứ vụ Giám Mục lần đầu tiên khi đã 71 tuổi, tức là lúc ngài nhận chức Thượng Phụ Venezia, tại vì trước đó ngài toàn làm ngoại giao, lần lượt đại diện Tòa Thánh ở Bulgarie ( 1925 – 1934 ), ở Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp ( 1934 – 1944 ), rồi Sứ Thần Tòa Thánh ở Pháp ( 1944 – 1953 )…”
Dù sao về điểm này, báo ICI có phần chưa thật chính xác, vì trong thời gian ở Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp, ngài kiêm nhiệm luôn chức Giám Quản cho người Công Giáo theo nghi lễ Latinh, chính ngài cũng tỏ vẻ hài lòng vì công việc ở đây là công việc “của Linh Mục và Giám Mục nhiều hơn là của nhà ngoại giao”. Đoàn chiên ở đây khoảng 85.000, rải rác trong hai nước mà tuyệt đại đa số theo Hồi Giáo ( Thổ ) và Chính Thống Giáo ( Hy Lạp ).
ICI viết tiếp: “Lại cũng năm 71 tuổi, ngài được cử làm Hồng Y… Sau hết, gần 77 tuổi, ngài được bầu làm Giáo Hoàng: trong thời cận đại, chẳng có mấy Giáo Hoàng lại lên ngôi Thánh Phêrô muộn thế…
Đức Gioan 23 đã sống từ từ… Thời gian dài cứ thủng thẳng mà đào luyện ngài. Thời gian… không chỉ dệt nên cuộc sống của ngài, thời gian còn hướng đạo, còn bảo ban ngài về tư duy, về “chính sách”. Ngài là sử gia, âu cũng chẳng phải là sự tình cờ vô ích. Người ta biết rằng khi còn ở Bergamo, ngài đã từng dạy các khoa Minh Giáo, Giáo Phụ và Giáo Sử. Sự uyên bác về sử học đó ngài đã vun trồng suốt đời, nay chắc chắn là điều hợp thời trong một thời đại mà Giáo Hội đang bị lịch sử níu kéo dữ dội. Nhất là sự trải nghiệm lịch sử đó giải mã cho tính “lạc quan điềm đạm mà làm phấn chấn lòng người” như tổng thống Auriol của Pháp đã ca tụng ngài ngày 31.12.1952. Phần chúng tôi, xin gọi đó là sự thanh thản tin tưởng đã khiến cho Silvio Negro viết: “Khó có thể tìm được người nào xác tín hơn ngài rằng thời tốt nhất để sống chính là thời ta đang sống”.

QUYẾT ĐỊNH SỚM NHẤT CỦA VỊ TÂN GIÁO HOÀNG

Nhưng xin trở lại với mấy giờ đầu tiên của vị Giáo Hoàng “thanh thản và tin tưởng”. Ngay tối hôm đắc cử, khoảng 9 giờ 30, ngài nói với thư ký riêng của mình là Don Loris: “Không thể để qua đêm nay mà không tiếp ngài Tardini”. Don Loris thưa: “Nhưng khi nãy Đức Thánh Cha đã gặp ngài rồi ?” – “Ừ đúng. Nhưng cứ cho mời ngài đi. Tôi muốn gặp ngài ngay tối nay.”
Đức Cha Tardini là quyền Quốc Vụ Khanh. Chức Quốc Vụ Khanh ở Tòa Thánh cũng như chức Thủ Tướng một quốc gia. Đức Giáo Hoàng Piô 12 là người thích tự mình làm hết mọi việc. Từ năm 1944, ngài không đặt Quốc Vụ Khanh nữa. Mọi việc ở Phủ Quốc Vụ Khanh chia cho hai vị xử lý thường vụ: Đức Ông Montini ( sau này là Đức Giáo Hoàng Phaolô 6 ) và Đức Ông Tardini, dưới sự giám sát của Đức Giáo Hoàng. Từ năm 1953, Đức Ông Montini được cử làm Tổng Giám Mục Milano. Còn lại một mình ngài Tardini ở Phủ Quốc Vụ Khanh.
Tối hôm đó, Đức Cha Tardini bước vào phòng Đức Giáo Hoàng. Đức Gioan 23 bảo: “Đấy, ngài thấy chuyện gì xảy đến cho tôi. Tôi coi tất cả những điều đó là sự bày tỏ Ý Chúa… Nhưng bây giờ tôi phải nghĩ đến công việc của Giáo Hội. Không thể để cho mọi việc dở dang mãi được. Phải có sự liên tục. Tôi cần một Quốc Vụ Khanh.” Đức Cha Tardini gật gù. Đức Gioan 23 nói tiếp: “Tôi cần ngay ngày mai. Tôi đã quyết định rồi. Ngài sẽ là Quốc Vụ Khanh”.
Đức Cha Tardini bắt đầu phân bua. Ngài bảo ngài già quá rồi. Phục vụ Đức Piô 12 quá lâu rồi. Ngài chỉ muốn về hưu sống với 70 đứa trẻ mồ côi mà ngài vẫn lo nuôi dạy. Đức Thánh Cha ngắt lời: “Ngài Tardini mà về hưu ư ? Không, chuyện đó không thể tưởng tượng được. Đàng nào thì tôi cũng có ý thăng Hồng Y cho hai vị quyền Quốc Vụ Khanh trước đây của Đức Piô 12, là ngài và Đức Cha Montini. Tôi trao tặng hồng mão cho ngài, không phải là để ngài về hưu… Thưa Đức Cha, tôi biết rằng ngài chẳng bao giờ đánh giá cao khả năng cá nhân của tôi, và ngài có lý… Còn tôi, trái lại, lúc nào cũng quý trọng ngài: ngài là một Linh Mục tốt và một tôi tá trung thành. Vì thế tôi xin ngài làm Quốc Vụ Khanh cho tôi”.
Đức Cha Tardini thưa lại: ”Tâu Đức Thánh Cha, đó có phải là một mệnh lệnh không ?” – “Vâng, tối nay, một cách rất khiêm tốn, tôi truyền lệnh ngài hãy vâng lời”. Hai người ôm hôn nhau.

NHỚ LẠI NHỮNG NGÀY SANG PHÁP

Thì ra không phải chỉ ở Pháp, ngay tại Giáo Triều Roma cũng có nhiều người coi cụ Roncalli là bất tài. Hồi cuối năm 1944, khi Đức Piô 12 quyết định cử Đức Cha Roncalli đang là đại diện Tòa Thánh ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, về làm Sứ Thần tại Pháp, ở phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh không thiếu người lẩm bẩm. Lúc ấy quan hệ giữa Tòa Thánh và Pháp đang căng thẳng. Lãnh đạo nước Pháp lúc ấy là tướng De Gaulle, một người tài ba nhưng cứng cỏi và cao ngạo. Nước Pháp vừa được giải phóng khỏi ách thống trị của Đức Quốc Xã. Chính quyền mới đã hỏi thăm khá kỹ về “lý lịch chính trị” của các Giám Mục, yêu cầu triệu hồi Sứ Thần Valeri về Tòa Thánh, và đòi bãi nhiệm hai Hồng Y, hơn hai chục Giám Mục, trong đó có cả những vị rất can đảm đương đầu với Đức Quốc Xã, nhưng cũng có ít nhiều sơ hở hồi chế độ cũ. Hành động của người làm tôn giáo với hành động của người làm chính trị, xưa nay vẫn khác nhau, vì mục đích khác nhau, đàng khác, cũng không loại trừ là có mấy vị Giám Mục Pháp thời ấy thiếu nhìn xa thấy rộng, và khuôn phép nhà đạo dễ khiến người ta bảo thủ, cách biệt với thực tế, cho nên dính líu với chế độ cũ quá mức phải chăng. Tóm lại là quan hệ chính quyền Pháp với Tòa Thánh không thoải mái.
Sau khi nhận điện tín hỏi có nhận làm Sứ Thần ở Paris không, Đức Cha Roncalli cầu nguyện một lúc rồi đi ngủ. Sáng hôm sau, ngài trả lời Đức Cha Tardini: “Tôi tự biết mình, nên muốn ở lại Istanbul hơn. Nhưng Ý Chúa Quan Phòng xem ra đã tỏ qua sự sắp đặt của Đức Thánh Cha. Cho nên tôi không có ý thoái thác mà chỉ xin phục vụ theo Ý Chúa”.
Đấy là nói với Tòa Thánh, còn nói thân tình với bạn là Đức Cha Bernareggi thì: “Tôi như Ngôn Sứ Khabacúc, tự nhiên thấy mình từ Istanbul bay về Paris cứ như là phép tiên vậy. Nhưng để tu thân, tôi vẫn ngâm nga câu thơ hình như của Merlin Cocail thì phải: Ubi deficiunt equi, trottant aselli: Ở đâu thiếu ngựa, thì mấy chú lừa chạy lon ton”.
Đức Cha Roncalli về Roma, được Đức Giáo Hoàng Piô 12 tiếp. Đức Thánh Cha nói: “Thưa Đức Cha, tôi chỉ có thể dành cho Đức Cha mười phút. Tôi xin nói ngay với Đức Cha điều này: Việc Đức Cha được cử đến Paris không phải nhờ ai tiến cử đâu. Một mình tôi thôi, đã suy nghĩ, cầu nguyện và quyết định. Cho nên Đức Cha có thể vững tâm rằng Ý Chúa đã hết sức tỏ tường. Đức Cha hãy can đảm lên.” – “Tâu Đức Thánh Cha, thế thì còn lại 9 phút chỉ là để cho con thêm lòng đạo đức nữa thôi. Con không cần hành trang nào khác để tấp tễnh đi vào con đường mới”.
Miệng lưỡi thế gian nói rằng Đức Piô 12 đang bực mình với chính phủ Pháp, nên ngài mới gửi đến Paris một ông nhà quê, một nhà ngoại giao hạng nhì, suốt hai chục năm qua lận đận trong vùng Balkans hẻo lánh xa xôi. Ác khẩu như thế là chẳng hiểu gì về Đức Piô 12 lẫn Đức Cha Roncalli. Thật ra, trong Thế Chiến thứ hai, Thổ Nhĩ Kỳ là nước trung lập, thủ đô Istanbul là một địa điểm cân não, là nơi hội tụ đủ thứ đầu mối ngoại giao và điệp vụ của mọi bên tham chiến. Phủ Đại Diện Tòa Thánh ở Istanbul là nơi cung cấp thông tin đa dạng vào bậc nhất về Vatican. Ngược lại, đây cũng là trạm trung chuyển các chỉ thị của Vatican cho nhiều vùng khác trên thế giới. Trong thư gửi hai bà em ruột hồi tháng 5 năm 1942, Đức Cha Roncalli viết: “Ở nhiệm sở này, tôi xem hết các thư tín từ Vatican đi Syria, Palestina, Ai Cập, Mesopotamia, Ba Tư ( Iran ), Ấn Độ và khắp châu Phi…” Năm sau, ngài lại viết: “Ở đây, mỗi tuần mấy lần, tôi nhận từng khối thư tín từ Vatican, hóa ra mình là một anh giám đốc bưu điện. Thật là trong cõi đời, không bao giờ ngờ được là mình sẽ phải làm những gì.”
Đã thế, Đức Cha Roncalli lại là người cởi mở, dễ làm quen, rất lắng nghe người khác. Đại sứ Đức hay đặc phái viên Mỹ đều gặp ngài để nói gần nói xa. Đức Cha Roncalli kín đáo ghi nhận hết và phúc trình Tòa Thánh. Một phần cũng nhờ lời chứng của ngài mà sau chiến tranh, đại sứ Đức Von Papen, người đã từng đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập chế độ Quốc Xã, được tòa án binh của phe Đồng Minh tha bổng.

NHỮNG NGÀY Ở THỔ NHĨ KỲ VỚI NGƯỜI DO THÁI…

Nhưng có hai việc bất hủ mà Đức Cha Roncalli đã làm hồi phục vụ ở Balkans là: cứu người Do Thái và cứu đói dân Hy Lạp. Chắc chắn Đức Cha Roncalli là một trong những nhà ngoại giao của Vatican được biết sớm nhất về số phận bi thảm của người Do Thái. Một nhóm Do Thái may mắn thoát khỏi Ba Lan, trên đường chạy về Palestina, đã ghé Thổ Nhĩ Kỳ và báo cho ngài biết tình cảnh khủng khiếp của những người đồng đạo. Đức Cha Roncalli tạo điều kiện cho họ về Palestina dễ dàng. Đến vụ chiếc tầu Struma chở người Do Thái tỵ nạn bị chính quyền Anh không cho cập bến, sau đó tầu trúng mìn nổ tung: 769 người chết, chỉ một người sống sót, Đức Cha Roncalli quyết tâm làm hết mọi cách để giúp người Do Thái. Ngài biết thêm nhiều thông tin về chính sách diệt chủng người Do Thái của Hitler, ngài gặp hai người đã đào thoát khỏi trãi Auschwitz v.v… Ngài cấp cho nhiều người Do Thái giấy chứng nhận: “Người này do Đại Diện Tòa Thánh bảo trợ”. Với tờ giấy đó, nhiều người đã trốn khỏi những vùng đất nằm trong vòng ảnh hưởng của Đức Quốc Xã…
Từ 1943, chính sách diệt Do Thái càng thêm ác liệt. Mấy nghìn người Do Thái từ Hungarie và Tiệp Khắc chạy sang Bulgarie. Nước Bulgarie đứng về phe Hitler và đã tuyên chiến với Anh – Mỹ, nhưng lại chung biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ là nước trung lập. Họ định chạy sang Istanbul bằng xe lửa. Hitler biết tin liền hạ lệnh giải họ về Đức. Vua Boris nước Bulgarie đang do dự không biết tính sao. Đức Cha Roncalli được người Do Thái cấp báo, đã can thiệp thẳng với vua Boris: “Ngài không có quyền phạm cái tội ác trời tru đất diệt ấy !” Nhà vua nghe theo. Và nhóm người Do Thái đã chạy được sang Thổ. Vài ngày sau, Hitler cho gọi vua Boris đến và nổi một cơn thịnh nộ long trời lở đất. Vua về nước thì ngã bệnh và ít ngày sau qua đời không biết do bệnh gì. Người ta đồn nhà vua bị đầu dộc.
Ngày 22.4.1944, Đại Giáo Trưởng Do Thái ở Giêrusalem là ngài Isaac Halévy Herzog sang thăm Thổ Nhĩ Kỳ chỉ duy có mục đích cám ơn Đức Cha Roncalli. Sau này, khi ngài lên ngôi Giáo Hoàng, Đại Giáo Trưởng Do Thái đã gửi điện chúc mừng, có câu: “Tôi tin chắc rằng ngài là người có Niềm Tin vào những giá trị cao quý nhất của con người như ngài đã cho thấy giữa những cảnh tàn khốc thời Quốc Xã, thì Niềm Tin ấy sẽ hướng dẫn ngài trong trọng trách mới.”

VÀ KỶ NIỆM VỚI NGƯỜI HY LẠP

Hy Lạp cũng là một nước nữa nằm trong vùng trách nhiệm của Đức Cha Roncalli. Cuối tháng 4 năm 1941, liên quân Đức – Ý đã tràn vào Hy Lạp, đè bẹp liên quân Hy Lạp – Anh. Đức Cha Roncalli nhiều lần thăm viếng các thương binh, không phân biệt người Hy Lạp hay người Anh, Đức, Ý. Cuối năm 1942, ngài cố gắng cứu một số chiến sĩ kháng chiến Hy Lạp khỏi xử bắn nhưng không thành công.
Nạn đói là một thảm cảnh lớn. Đồng Minh, chủ yếu là quân Anh, phong tỏa Hy Lạp. Nạn thiếu ăn trầm trọng đến nỗi có người chết đói ngoài đường. Đức Cha Roncalli quyết tâm xin Vatican cứu trợ. Nhưng biết làm thế nào ? Hy Lạp là nước Chính Thống Giáo, hồi đó rất ác cảm với Vatican, và dĩ nhiên không hề có quan hệ ngoại giao. Hơn nữa, vị Nhiếp Chính Hy Lạp lại là Tổng Giám Mục Chính Thống Giáo ở Athena, Đức Cha Damaskinos. Làm thế nào để Vatican can thiệp mà Hy Lạp không tỵ hiềm. Xin được yết kiến chính thức ngài Nhiếp Chính thì chắc rằng sẽ bị từ chối.
Trong tòa chung cư, nơi đặt văn phòng Đại Diện Tòa Thánh, ngài có một người bạn là Đô Đốc Meneas. Ngài xin ông Đô Đốc mời Đức Nhiếp Chính đến nhà. Khi Tổng Giám Mục Nhiếp Chính đến nơi, thì “tình cờ” gặp cụ Roncalli nói nói cười cười trong thang máy. Thế là tạo bước đột phá. Sau đó chỉ cần sáp lại với Thủ Tướng Hy Lạp Ciolakoglu để lên kế hoạch. Chỉ cần có thế, Đức Cha Roncalli hối hả về Roma, gióng tiếng báo động khắp nơi, yết kiến Đức Piô 12. Tòa Thánh vận động thế nào đó với quân Anh, mà một chuyến tầu đầy ắp sữa, đậu và thuốc men xuyên qua vòng vây vào cảng Pirée tháng 11 năm 1941. khi Giám Mục Roncalli thành Gioan 23, ở Athena vẫn còn nhiều người nhớ vị Giám Mục tươi cười tổ chức những phòng ăn gọi tên là “Tổ Ấm Chúa Quan Phòng”, phát bánh cho trẻ con, và đi thăm những gia đình nghèo khổ. Vẫn là lý tưởng “làm Mục Tử hơn là làm ngoại giao”.
André Vartas, một bác sĩ có tiếng, nhớ lại: “Khi ấy tôi học xong trường Y, và cũng như hết mọi người, tôi đói. Đức Cha Roncalli không cho tôi lương thực vì ngài biết rằng tôi sĩ diện. Thành ra ngài bảo tôi: “Ở lại với mình một lát đi. Mình không ngán cái gì bằng ngán đến bữa phải ngồi ăn một mình…”
Dạo ấy đang thời chiến, việc Đức Cha Roncalli làm, ngoài dân Athena thì không mấy ai biết. Khi ngài làm Giáo Hoàng, báo chí Hy Lạp mới tiết lộ…
Nghĩa là Đức Cha Roncalli không đến nỗi lù khù như nhiều người tưởng. Có điều ngài thường làm việc âm thầm. Đức Piô 12 chọn ngài làm Sứ Thần ở Pháp, ít ra cũng có 3 lý do: Đức Thánh Cha đánh giá cao hoạt động nhân đạo và ngoại giao của vị Đại Diện Tòa Thánh ở Thổ và Hy Lạp trong thời chiến; Ngài biết Đức Cha Roncalli đã có nhiều quan hệ với các giới chống Quốc Xã, với những người Do Thái bị bách hại, với các giới kháng chiến Hy Lạp, và cả với vị đại diện của phong trào Nước Pháp Tự Do của De Gaulle ở Thổ. Đó là những lợi thế khi tiếp xúc với chính phủ kháng chiến vừa chiến thắng ở Pháp. Sau hết, tình hình tế nhị ở Paris cần một người có khả năng biến báo linh hoạt.
Về điểm này thì Đức Cha Roncalli cù mì vậy mà còn làm thầy được cho nhiều người…

4

Đức Cha Roncalli đến Paris giữa lúc nước Pháp vừa ra khỏi cuộc chiến bi thảm, được giải phóng nhưng với bao vấn đề ngổn ngang.

4Đối với Giáo Hội thì có vấn đề chính phủ mới đòi bãi nhiệm hơn hai chục Giám Mục, còn những sáng kiến, những lập trường Mục Vụ của Giáo Hội Pháp thì không phải lúc nào Rôma cũng thông cảm.
Trong xã hội, cũng như trong Giáo Hội, người Pháp vẫn sắc xảo, sôi nổi và vẫn lắm ý kiến dị biệt, mâu thuẫn nhau. Những gì Đức Cha Roncalli đã làm ở Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp xem ra đã chìm sâu cùng với những ầm ĩ của thời Thế Chiến thứ hai. Vả lại Paris vẫn là một môi trường mới, nên vẫn có những quan điểm dai dẳng cho rằng cụ Roncalli không phải là người của tình thế. Với những tiếng bấc tiếng chì ấy, cụ chỉ đáp: “Nếu có ai đó cho rằng tôi không đủ khả năng, thì xin cứ chịu khó nhẫn nại cho. Điều quan trọng là Đức Giáo Hoàng cho rằng tôi có khả năng.”
Năm 1947, Đức Cha Roncalli viết:
“Tôi làm mọi việc một cách bình tĩnh, từng bước một nối nhau, bước trước rồi bước sau: công kia việc nọ, lúc nói năng, lúc thầm lặng, rồi nhẫn nại, an nhiên chờ đợi và nhất là luôn phát tỏa một tinh thần thanh thản, hiền hòa và đôi khi hài hước, trong khi bao nhiêu việc đang diễn tiến trước mắt mình, mà lại là những việc đáng cho mình chiêm ngưỡng. Tới nay đã là 3 năm từ khi tôi bắt đầu cuộc sống mới và bất ngờ này; vậy mà tôi cảm thấy như mình đã sống trong môi trường này từ nhiều năm rồi. Không hiểu do một hiện tượng kỳ lạ nào, kinh nghiệm hai chục năm sống ở Phương Đông, lại khiến tôi thông thạo hơn, lanh lẹ hơn khi phải xoay sở giữa những mưu chước của Phương Tây.
Tôi biết những gì có thể xảy đến cho mình và tôi sẵn sàng chấp nhận mọi sự. Mỗi khi ra khỏi nhà, tôi lại nhìn thấy những đền đài, chứng tích gợi lại bao đổi thay hưng phế của đời người. Giữa chốn kinh thành trăm hình nghìn vẻ này, với không biết cơ man nào là phương cách cho mọi loại hoạt động của con người và của chức Linh Mục, Chúa giúp tôi không bao giờ quên ngôi trường cũ, quên xóm làng quê hương và những cánh đồng, nơi những người trong gia đình tôi lao động cần cù và đơn xơ, với tấm lòng tin tưởng, cặp mắt vẫn hướng về ánh huy hoàng của Chúa.”
Sau này những nhà trí thức đến Tòa Sứ Thần gặp Đức Cha Roncalli nhiều khi bực mình: thay vì nói chuyện Thần Học, Mục Vụ hay chính trị, Đức Sứ Thần lại cứ cà kê mãi với những ảnh chụp hay tranh vẽ phong cảnh quê hương. Có người bảo ngài lẩn thẩn, có người bảo ngài né tránh vấn đề, tung màn khói cho qua chuyện. Lẩn thẩn thì chắc là không rồi. Tung màn khói thì có thể. Nhưng có một điều người ta không để ý đủ: đó là con người này khác với những nhà tư tưởng trừu tượng, lúc nào cũng dồn hết đam mê cho một vài ý tưởng chủ đạo, cho là tất cả vận mệnh tương lai phụ thưộc vào đó.
Đức Cha Roncalli thì khác, bên cạnh chuyện Thần Học, Mục Vụ hay chính trị mà ngài giữ lấy trong lòng và ngẫm nghĩ, lại có một cái Tâm rất gần gũi với cuộc sống cụ thể. Đối với Đức Cha, quan trọng và thấm thía chả thua gì những luận thuyết cao siêu của mấy bộ óc lỗi lạc, là ruộng lúa vườn nho ở ngôi làng hẻo lánh Sotto Il Molte, là ngôi trường tiểu học chỉ vỏn vẹn có hai phòng ở Camaitino ngày xưa.
Đức Cha thường nói: “Đừng bao giờ so sánh một người với ai khác, như thế là bất công. Người ta cũng giống như sao trên trời, mỗi ngôi một vẻ sáng”.
Trong một bữa tiệc, Đức Cha Roncalli ngồi bên cạnh một chính khách nổi tiếng là bài Công Giáo, ông Edouard Herriot. Mỗi lần ông ta cầm quyền là Giáo Hội gặp khó khăn. Herriot ngạc nhiên thấy Sứ Thần Tòa Thánh trích dẫn vanh vách những văn bản của phe chống Giáo Hội: “Thưa, tôi không ngờ Đức Cha lại có cảm tình với cánh tụi tôi như vậy !” – “Ôi chào ! Cái gì ngăn cách chúng ta nhỉ ? Tư tưởng phải không ? Vậy thì có gì đáng gọi là nhiều đâu ?”
Đối với một Sứ Thần Tòa Thánh, đang nói chuyện với một chính khách chống Giáo Hội, mà lại bảo sự khác biệt tư tưởng là không quan trọng, nghe có vẻ nghịch lý. Nhưng dưới cái vỏ nghịch lý ấy, có cả một xác tín cơ bản: con người, con người toàn diện, thì sâu rộng hơn những tư tưởng và lập trường của anh ta trong những tình huống nhất định. Không thể chỉ dựa vào một tư tưởng ấy, một lập trường ấy, để đánh giá, để phủ nhận hay lên án toàn thể con người. Nhưng chính con người toàn diện kia mới mang trong nó những tiềm năng để giải tỏa những gì mắc mớ trong tư tưởng hay lập trường. Cho nên, trước tiên, hãy tôn trọng và yêu mến con người.
Lần Đức Cha Roncalli đến thăm Fleury-sur-Loire, ông Thị Trưởng là đảng viên Cộng Sản đón tiếp ngài và nói: “Thưa Đức Cha, tôi là con nhà nông dân. Tôi không biết ăn nói.” – “Thưa ông Thị Trưởng, ông bày tỏ lòng tôn kính đối với tôi vì tôi đại diện cho quyền bính thiêng liêng cao nhất trên thế gian này; phần tôi vẫn lấy làm vui mừng và hãnh diện vì tôi cũng là con cháu của những nông dân rất khiêm tốn. Chúng ta hãy mở rộng vòng tay với nhau và cám ơn Chúa đã tạo ra cả hai chúng ta như thế này !”
Cứ thế, vị Sứ Thần Tòa Thánh dần dần có rất nhiều bạn trong mọi giới, kể cả những giới chống Đạo, mà ngài cũng chẳng phân biệt, kỳ thị bạn nào với bạn nào. Có lần ông Herriot, bây giờ đã trở nên bạn thân, hỏi một câu: “Cụ Roncalli này, theo cụ thì thời gian có làm cho người ta tốt nên không ?” Đáp: “Người ta cũng như rượu vang, có những loại càng để lâu càng ngon.”
Vị Sứ Thần Tòa Thánh này là người biết tự trào, tự mình cười mình:
“Có hai cách để làm một nhà ngoại giao giỏi. Một là lầm lì ít nói, để mọi người coi mình là nhân vật bí hiểm. Hai là nói liên miên khiến cho không ai biết mình nói gì nữa. Vì tôi là người Ý nên tôi thích cách thứ hai hơn.”
Dân Pháp có truyền thống ưa chuộng những người hóm hỉnh. Chẳng bao lâu người ta kể cho nhau những nhận xét và những câu trả lời tinh khôn mà có duyên của Sứ Thần Tòa Thánh.
Con người này ở địa vị cao mà không lóa mắt, vẫn coi mình là nhỏ bé; coi mình là nhỏ bé mà không mặc cảm, vẫn rộng lòng đón tiếp mọi người và bình tĩnh làm nhiệm vụ của mình. Trong cái trí tuệ thường ẩn mình, sau những câu nói khi bông đùa, khi tình nghĩa, có một cái gì khiêm nhu mà thư thái vui tươi. Vốn liếng kinh nghiệm tích lũy ở trường đời hòa lẫn vào sự hồn nhiên như trẻ thơ, nhạy cảm và thích thú với từng chi tiết mới lạ nảy ra trong cuộc sống.
Dáng người mập mạp nặng chịch, nhưng cả bước chân lẫn tinh thần đều tung tăng trong Niềm Tin vững chắc rằng mình đang làm việc Chúa, trong sự gần gũi rất mực với con người. Nếu đấy là đặc sủng Chúa ban, thì có thể áp dụng cho Đức Cha Roncalli lời Kinh Thánh nói về Đức Khôn Ngoan: “Ta ở bên Người như đứa trẻ được quý mến… Ta vui đùa trên mặt đất và tìm thấy vui thứ nơi con cái loài người.” ( Cách Ngôn 8, 30 – 31 )
Đức Cha Roncalli thích đi, thích nghe, thích nhìn những chuyện lớn chuyện nhỏ. Mỗi lần Hàn Lâm Viện Pháp đón một viện sĩ mới, bốn chục ông nhà văn được gọi là “bất tử” của nước Pháp thế nào cũng có những bài diễn văn rất tinh hoa, một ông cũ ca tụng sự nghiệp của ông mới, ông mới cám ơn và ôn lại cuộc đời và tài đức của văn hào quá cố mà mình kế vị. Đức Cha Roncalli không bỏ sót một cuộc đón tiếp nào, chăm chú ngồi nghe, mặc dù phần lớn những chuyện được đề cập chẳng liên hệ gì nhiều đến những vấn đề ngài phải lo trước mắt. Ngài bảo là trong những buổi ấy tiếp thu được nhiều điều hay lắm.
Với lại ngài thích tản bộ, có thì giờ là xuôi ngược các bờ bến sông Seine và phố xá Paris, ngài thấy những quang cảnh ấy “hấp dẫn phi thường”. Và rồi ngài ra khỏi thủ đô, thăm các Tòa Giám Mục, các Nhà Thờ Chính Tòa, hay một Nhà Thờ cổ nào đó, khi ở nơi thị tứ, khi ở thôn quê. Nếu được mời, ngài không bao giờ từ chối lên tiếng trước mọi cử tọa, mặc dù nói tiếng Pháp giọng Ý và đôi khi phạm những lỗi ngữ văn khiến cử tọa ngẩn ngơ rồi phì cười. Lại một lần nữa, Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh ở Roma không đánh giá cao những bước chân lang thang và cái tính vui chuyện của Sứ Thần ở Paris.
Trong một lần tiếp kiến, Đức Piô 12 nói: “Ở đây người ta mong Đức Cha nên có mặt ở nhiệm sở nhiều hơn một chút.” Sứ Thần xin vâng, nhưng giải thích rất thoải mái: “Con chỉ đi đó đi đây theo lời mời của các Giám Mục. Và trong mọi chuyến đi con đều cố gắng làm tai mắt, làm trái tim và bàn tay nhân ái của Đức Thánh Cha.”
Trong 8 năm, Đức Cha Roncalli đi thăm các nơi hơn hai trăm chuyến. Và dù ở Roma hay Paris đánh giá thế nào, thì kết quả vẫn không đến nỗi tồi. Thứ nhất là vụ chính phủ Pháp đòi bãi nhiệm hơn hai chục Giám Mục đã được giải quyết êm đẹp. Khi vấn đề đặt ra, thì Sứ Thần Tòa Thánh xin được xem các tài liệu về tội trạng của các vị này để điều nghiên. Xem rồi thì hỏi: “Sao lại chỉ có mấy bài báo và mấy bức thư nói xấu của những người bất mãn ? Mấy thứ này không có giá trị pháp lý. Quý ngài chưa cho tôi những lý do vững chắc để đòi các vị ấy từ nhiệm !”
Với các bạn thân thì Đức Cha Roncalli nói: “Sách lược của tôi là sách lược con tôm: hễ bị tấn công thì lùi, nhưng lùi rồi thì đi một vòng lại trở về chỗ cũ”. Với các cộng tác viên, ngài nói: “Nhiệm vụ của tôi là bênh vực các Giám Mục”. Câu chuyện đâm ra dây dưa. Rốt cuộc thì chính phủ Pháp cũng thấy rằng còn nhiều việc cần làm hơn là cứ nhủng nhẳng mãi với Tòa Thánh. Thế là Sứ Thần Tòa Thánh có thể thông báo cho chính phủ Pháp rằng Đức Giáo Hoàng chấp thuận trên nguyên tắc để “vài” Giám Mục đã dính líu quá nhiều với chế độ cũ “tự nguyện” từ chức. Kết cuộc thì có bảy vị về vườn, trong đó có vài vị đã hưu từ trước đó rồi. Bù lại, Giáo Hội Pháp được 3 Hồng Y mới.
Trong số những vị “thoát nạn” có những người như Đức Hồng Y Suhard ở Paris, người khởi xướng phong trào Tái Phúc Âm Hóa ở Pháp; Đức Hồng Y Gerlier ở Lyon, Đệ Nhất Tòa Pháp Quốc và Đức Hồng Y Liénart, sau này sẽ đóng vai trò quan trọng ở Công Đồng Vatican 2. Cả hai vị này từng lên tiếng chống lên chính sách tàn bạo của quân Đức chiếm đóng đối với người Do-thái và thường dân vô tội. Dù vậy, những vị này vẫn không thoát khỏi sự hậm hực xoi mói của những người thích vạch lá tìm sâu.
Phía chính phủ Pháp cử nhà Triết Học Công Giáo nổi tiếng thời đó là Jacques Maritain sang Roma làm Đại Sứ ở Vatican, ông đã được bổ nhiệm từ trước nhưng chưa nhận nhiệm sở vì còn bận dạy ở một trường đại học bên Mỹ. Về sau, người đối tác của Đức Cha Roncalli trong các cuộc thương thuyết này là André Latreille, Trưởng Ban Tôn Giáo thuộc Bộ Nội Vụ Pháp nhận xét về Sứ Thần Tòa Thánh như sau: “Nhờ có tính lạc quan chắc nịch, thực tế, khôn ngoan và nhẫn nại, ngài đã góp phần lớn để tái lập quan hệ ngoại giao, tạo ra một sự thân tình và cởi mở mà sáu tháng trước đó khó có thể tiên liệu.”
Đó là về vấn đề các Giám Mục, còn chuyện những đường lối mục vụ “cấp tiến” của Giáo Hội Pháp thì rất lâu về sau, người ta mới ngờ ngợ nhận ra rằng trong suốt thời gian Đức Cha Roncalli làm Sứ Thần, mặc dù Tòa Thánh rất dè dặt với những canh tân đó, nhưng quan hệ giữa Tòa Thánh và của giới Công Giáo Pháp rất bình an. Từ ngày ngài đi nơi khác mới hay xảy ra những bất đồng nhức buốt. Nhiều vụ mâu thuẫn sôi nổi với những hậu quả điêu đứng di lụy lâu dài. Nhưng đó là một câu chuyện khác…
Cuối năm 1952, Đức Cha Roncalli đã 71 tuổi. Cứ lẽ thường thì ngày về hưu không còn xa. Nhưng ngày 14 tháng 11, một bức thư của Đức Ông Montini ( sau này là Đức Phao-lô 6 ) từ Phủ Quốc Vụ Khanh báo tin Đức Piô 12 có ý giao cho Sứ Thần Tòa Thánh ở Paris nhiệm vụ kế vị Đức Thượng Phụ Venezia là Đức Cha Carlo Agostini đang đau nặng. Đến ngày 18 tháng 12 thì Đức Cha Agostini qua đời.
Ngày 12.1.1953, Đức Cha Roncalli được cử làm Hồng Y. Ngài ghi trong nhật ký: “Tước vị Hồng Y không phải là một Bí Tích, cũng không phải Á Bí Tích. Tuy thế, đó vẫn là một dấu chỉ rằng Chúa Quan Phòng dành cho tôi những trách nhiệm nặng nề mà tôi sẽ phải trả lẽ…”
Lại một lần nữa, những người độc miệng bình luận: “72 tuổi rồi, về Venezia nghỉ mát là phải. Đưa ông nội về đấy chơi với các cháu, để cho người ta còn lo việc lớn !” Quả là ở Vatican có nhiều người không ưa cái lối suy nghĩ độc lập và nói năng tự do của ngài. Cộng vào đó, cung cách đơn sơ của Đức Cha Roncalli lại càng đậm thêm những nét tương phản với một giới giáo sĩ nào đó ở Vatican vốn đạo mạo và vụ hình thức.
Tại sao Đức Piô 12 lại điều một nhà ngoại giao đã quá tuổi cổ lai hy về trấn nhiệm Tòa Thượng Phụ Venezia ? Có phải là để cho ngài thêm một trường kinh nghiệm mục vụ mà ngài còn chưa kinh qua ? Chỉ biết rằng trong năm đó, Đức Piô 12 đã làm như thế với hai vị Giáo Hoàng tương lai – sau khi Đức Cha Roncalli về Venezia vài tháng, đến lượt Đức Cha Montini được cử làm Tổng Giám Mục Milano.
Lễ nghi nhận mũ đỏ của Đức Cha Roncalli cũng hơi đặc biệt. Ở Pháp có một truyền thống từ những thời Quân Chủ xa xưa, thời các vua chúa còn có Đạo, là chính nhà vua sẽ trao mũ đỏ cho các vị Tân Hồng Y. Nay chế độ Cộng Hòa đã xóa bỏ ngôi vua, vị nguyên thủ quốc gia lại là người vô tín ngưỡng. Nhưng người ta vẫn quý trọng truyền thống xưa. Thế là lễ trao mũ đỏ cho Đức Cha Roncalli được tổ chức ngay tại điện Elysée, tức Phủ Tổng Thống Pháp, với đầy đủ nghi thức.
Cảnh tượng ngược đời: vị Tân Hồng Y quỳ gối nhận mũ đỏ, nhưng đại diện Đức Giáo Hoàng đội mũ cho Tân Hồng Y lại là một người vô thần, Tổng Thống Vincent Auriol. Âu cũng là một biểu tượng cho con người suốt đời muốn làm cầu nối, muốn làm anh em mọi người. Sau này, ông Auriol tâm sự rằng khi thấy Tân Hồng Y quỳ xuống trước mặt một kẻ không có Đức Tin như mình, ông đã chấn động, nhận ra thế nào là Đức Tin sâu sắc và sự khiêm tốn chân thực.

5

Đức Cha Roncalli thích đi, thích nghe, thích nhìn những chuyện lớn chuyện nhỏ.

5Mỗi lần Hàn Lâm Viện Pháp đón một viện sĩ mới, bốn chục ông nhà văn được gọi là “bất tử” của nước Pháp thế nào cũng có những bài diễn văn rất tinh hoa, một ông cũ ca tụng sự nghiệp của ông mới, ông mới cám ơn và ôn lại cuộc đời và tài đức của văn hào quá cố mà mình kế vị. Đức Cha Roncalli không bỏ sót một cuộc đón tiếp nào, chăm chú ngồi nghe, mặc dù phần lớn những chuyện được đề cập chẳng liên hệ gì nhiều đến những vấn đề ngài phải lo trước mắt. Ngài bảo là trong những buổi ấy tiếp thu được nhiều điều hay lắm.
Với lại ngài thích tản bộ, có thì giờ là xuôi ngược các bờ bến sông Seine và phố xá Paris, ngài thấy những quang cảnh ấy “hấp dẫn phi thường”. Và rồi ngài ra khỏi thủ đô, thăm các Tòa Giám Mục, các Nhà Thờ Chính Tòa, hay một Nhà Thờ cổ nào đó, khi ở nơi thị tứ, khi ở thôn quê. Nếu được mời, ngài không bao giờ từ chối lên tiếng trước mọi cử tọa, mặc dù nói tiếng Pháp giọng Ý và đôi khi phạm những lỗi ngữ văn khiến cử tọa ngẩn ngơ rồi phì cười. Lại một lần nữa, Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh ở Roma không đánh giá cao những bước chân lang thang và cái tính vui chuyện của Sứ Thần ở Paris.
Trong một lần tiếp kiến, Đức Piô 12 nói: “Ở đây người ta mong Đức Cha nên có mặt ở nhiệm sở nhiều hơn một chút.” Sứ Thần xin vâng, nhưng giải thích rất thoải mái: “Con chỉ đi đó đi đây theo lời mời của các Giám Mục. Và trong mọi chuyến đi con đều cố gắng làm tai mắt, làm trái tim và bàn tay nhân ái của Đức Thánh Cha.”
Trong 8 năm, Đức Cha Roncalli đi thăm các nơi hơn hai trăm chuyến. Và dù ở Roma hay Paris đánh giá thế nào, thì kết quả vẫn không đến nỗi tồi. Thứ nhất là vụ chính phủ Pháp đòi bãi nhiệm hơn hai chục Giám Mục đã được giải quyết êm đẹp. Khi vấn đề đặt ra, thì Sứ Thần Tòa Thánh xin được xem các tài liệu về tội trạng của các vị này để điều nghiên. Xem rồi thì hỏi: “Sao lại chỉ có mấy bài báo và mấy bức thư nói xấu của những người bất mãn ? Mấy thứ này không có giá trị pháp lý. Quý ngài chưa cho tôi những lý do vững chắc để đòi các vị ấy từ nhiệm !”
Với các bạn thân thì Đức Cha Roncalli nói: “Sách lược của tôi là sách lược con tôm: hễ bị tấn công thì lùi, nhưng lùi rồi thì đi một vòng lại trở về chỗ cũ”. Với các cộng tác viên, ngài nói: “Nhiệm vụ của tôi là bênh vực các Giám Mục”. Câu chuyện đâm ra dây dưa. Rốt cuộc thì chính phủ Pháp cũng thấy rằng còn nhiều việc cần làm hơn là cứ nhủng nhẳng mãi với Tòa Thánh. Thế là Sứ Thần Tòa Thánh có thể thông báo cho chính phủ Pháp rằng Đức Giáo Hoàng chấp thuận trên nguyên tắc để “vài” Giám Mục đã dính líu quá nhiều với chế độ cũ “tự nguyện” từ chức. Kết cuộc thì có bảy vị về vườn, trong đó có vài vị đã hưu từ trước đó rồi. Bù lại, Giáo Hội Pháp được 3 Hồng Y mới.
Trong số những vị “thoát nạn” có những người như Đức Hồng Y Suhard ở Paris, người khởi xướng phong trào Tái Phúc Âm Hóa ở Pháp; Đức Hồng Y Gerlier ở Lyon, Đệ Nhất Tòa Pháp Quốc và Đức Hồng Y Liénart, sau này sẽ đóng vai trò quan trọng ở Công Đồng Vatican 2. Cả hai vị này từng lên tiếng chống lên chính sách tàn bạo của quân Đức chiếm đóng đối với người Do-thái và thường dân vô tội. Dù vậy, những vị này vẫn không thoát khỏi sự hậm hực xoi mói của những người thích vạch lá tìm sâu.
Phía chính phủ Pháp cử nhà Triết Học Công Giáo nổi tiếng thời đó là Jacques Maritain sang Roma làm Đại Sứ ở Vatican, ông đã được bổ nhiệm từ trước nhưng chưa nhận nhiệm sở vì còn bận dạy ở một trường đại học bên Mỹ. Về sau, người đối tác của Đức Cha Roncalli trong các cuộc thương thuyết này là André Latreille, Trưởng Ban Tôn Giáo thuộc Bộ Nội Vụ Pháp nhận xét về Sứ Thần Tòa Thánh như sau: “Nhờ có tính lạc quan chắc nịch, thực tế, khôn ngoan và nhẫn nại, ngài đã góp phần lớn để tái lập quan hệ ngoại giao, tạo ra một sự thân tình và cởi mở mà sáu tháng trước đó khó có thể tiên liệu.”
Đó là về vấn đề các Giám Mục, còn chuyện những đường lối mục vụ “cấp tiến” của Giáo Hội Pháp thì rất lâu về sau, người ta mới ngờ ngợ nhận ra rằng trong suốt thời gian Đức Cha Roncalli làm Sứ Thần, mặc dù Tòa Thánh rất dè dặt với những canh tân đó, nhưng quan hệ giữa Tòa Thánh và của giới Công Giáo Pháp rất bình an. Từ ngày ngài đi nơi khác mới hay xảy ra những bất đồng nhức buốt. Nhiều vụ mâu thuẫn sôi nổi với những hậu quả điêu đứng di lụy lâu dài. Nhưng đó là một câu chuyện khác…
Cuối năm 1952, Đức Cha Roncalli đã 71 tuổi. Cứ lẽ thường thì ngày về hưu không còn xa. Nhưng ngày 14 tháng 11, một bức thư của Đức Ông Montini ( sau này là Đức Phao-lô 6 ) từ Phủ Quốc Vụ Khanh báo tin Đức Piô 12 có ý giao cho Sứ Thần Tòa Thánh ở Paris nhiệm vụ kế vị Đức Thượng Phụ Venezia là Đức Cha Carlo Agostini đang đau nặng. Đến ngày 18 tháng 12 thì Đức Cha Agostini qua đời.
Ngày 12.1.1953, Đức Cha Roncalli được cử làm Hồng Y. Ngài ghi trong nhật ký: “Tước vị Hồng Y không phải là một Bí Tích, cũng không phải Á Bí Tích. Tuy thế, đó vẫn là một dấu chỉ rằng Chúa Quan Phòng dành cho tôi những trách nhiệm nặng nề mà tôi sẽ phải trả lẽ…”
Lại một lần nữa, những người độc miệng bình luận: “72 tuổi rồi, về Venezia nghỉ mát là phải. Đưa ông nội về đấy chơi với các cháu, để cho người ta còn lo việc lớn !” Quả là ở Vatican có nhiều người không ưa cái lối suy nghĩ độc lập và nói năng tự do của ngài. Cộng vào đó, cung cách đơn sơ của Đức Cha Roncalli lại càng đậm thêm những nét tương phản với một giới giáo sĩ nào đó ở Vatican vốn đạo mạo và vụ hình thức.
Tại sao Đức Piô 12 lại điều một nhà ngoại giao đã quá tuổi cổ lai hy về trấn nhiệm Tòa Thượng Phụ Venezia ? Có phải là để cho ngài thêm một trường kinh nghiệm mục vụ mà ngài còn chưa kinh qua ? Chỉ biết rằng trong năm đó, Đức Piô 12 đã làm như thế với hai vị Giáo Hoàng tương lai – sau khi Đức Cha Roncalli về Venezia vài tháng, đến lượt Đức Cha Montini được cử làm Tổng Giám Mục Milano.
Lễ nghi nhận mũ đỏ của Đức Cha Roncalli cũng hơi đặc biệt. Ở Pháp có một truyền thống từ những thời Quân Chủ xa xưa, thời các vua chúa còn có Đạo, là chính nhà vua sẽ trao mũ đỏ cho các vị Tân Hồng Y. Nay chế độ Cộng Hòa đã xóa bỏ ngôi vua, vị nguyên thủ quốc gia lại là người vô tín ngưỡng. Nhưng người ta vẫn quý trọng truyền thống xưa. Thế là lễ trao mũ đỏ cho Đức Cha Roncalli được tổ chức ngay tại điện Elysée, tức Phủ Tổng Thống Pháp, với đầy đủ nghi thức.
Cảnh tượng ngược đời: vị Tân Hồng Y quỳ gối nhận mũ đỏ, nhưng đại diện Đức Giáo Hoàng đội mũ cho Tân Hồng Y lại là một người vô thần, Tổng Thống Vincent Auriol. Âu là một biểu tượng cho con người suốt đời muốn làm cầu nối, muốn làm anh em mọi người. Sau này, ông Auriol tâm sự rằng khi thấy Tân Hồng Y quỳ xuống trước mặt một kẻ không có Đức Tin như mình, ông đã chấn động, nhận ra thế nào là Đức Tin sâu sắc và sự khiêm tốn chân thực.

6

Venezia, thành phố huyền thoại trên biển Adria, được xây dựng trên 118 hòn đảo, nối với nhau bằng 177 con kênh nước mặn và 400 cây cầu. Nước biển xanh là đại lộ, chảy dài giữa những lâu đài, quảng trường, những con thuyền Gondola dập dìu thay cho xe cộ. Nơi đây tích tụ 14 thế kỷ lịch sử kiêu hùng và những kho báu văn hóa và nghệ thuật vô giá.

6Về mặt Đạo, Venezia nhận Thánh Marcô tác giả Tin Mừng làm bổn mạng. Di cốt ngài được tôn kính trong Nhà Thờ Chính Tòa, tức Đền Thánh Marcô được xây cất từ thế kỷ 9, và lừng danh về nghệ thuật. Trong thế kỷ 20, một vị tiền nhiệm của Đức Hồng Y Roncalli là ngài Sarto đã lên ngôi Giáo Hoàng năm 1903, nay là Thánh Piô 10.
Cũng như Đức Hồng Y Roncalli đã đến thủ đô Paris nước Pháp với tâm hồn khiêm tốn và bình an, 7 năm sau, ngày 15.3.1953, ngài lại đi vào Venezia vẫn cùng một tâm trạng bình an và khiêm tốn, và như ngài nói trong Đền Thánh Marco, “đơn giản chỉ muốn làm một người anh em thân tình, cởi mở, lắng nghe mọi tâm sự”.
Ít ai biết rằng bên dưới vẻ huy hoàng ngàn đời, Venezia lại là một Giáo Phận nghèo. Nói cho ngay, Venezia uy danh thì lớn, thực chất là một Giáo Phận nhỏ, chỉ có 400.000 Giáo Dân và 120 Xứ Đạo. Nếu so với Giáo Phận Milano của Đức Cha Montini thì Venezia chỉ bằng một phần năm diện tích và một phần mười dân số.
Ngay khi vừa nhận nhiệm sở, Đức Cha Roncalli đã gặp “hai mũi gai đau”. Mũi gai thứ nhất là lợi tức của Tòa Giám Mục chẳng có bao nhiêu. Thôi thì suốt đời đã nghèo, nay lại “nghèo thế này thì cũng xấu hổ và hơi lúng túng”, nhưng xin sẵn lòng chấp nhận. Mũi gai thứ hai là dân nghèo đông quá, thất nghiệp nhiều quá. Những huy hoàng sang trọng từ thuở nào vẫn dành cho một thiểu số vương giả, và ngày nay là những du khách quốc tế giàu sang. Còn đại chúng cần lao trong những ngõ ngách, ẩn mình sau những mặt tiền rực rỡ, thì vẫn cặm cụi và nhiều khi lây lất bên lề xã hội. Những người này hay lui tới Tòa Giám Mục xin giúp đỡ.
Trong những thư gửi hai người em gái là Têrêsa và Maria, Đức Cha Roncalli viết: “Từ khi làm Hồng Y và Thượng Phụ, anh lại nghèo hơn trước, bởi vì trước tiên, bây giờ anh phải lo cho những người nghèo ở Venezia… Anh là một Hồng Y nghèo lo giúp đỡ những người nghèo… Thấy mình giống như một bà mẹ gia đình nghèo đông con, phải lo cho nhiều miệng ăn.”
Trong suốt thời gian ở Venezia, vị Thương Phụ không ngừng nhắc lại những quyền của công nhân và những bổn phận của chủ nhân. Năm 1957, nhiều nhà máy vùng Veneto đóng cửa, nhiều nhà máy khác giảm giờ lao động và giảm nhân công. Đức Cha Roncalli viết một Thư Mục Vụ:
“Tôi xin kêu gọi các nhà lãnh đạo công nghiệp và chính quyền, các chuyên viên và cố vấn về kỹ thuật và kinh tế: nhân danh Thiên Chúa, tôi khẩn cầu quý vị hãy xét rằng trình độ trí tuệ cao và gia tài sản nghiệp lớn được trao cho quý vị hưởng thụ không phải là để cân bằng thu chi, nhưng là để trở nên khí cụ của Chúa Quan Phòng cho toàn thể gia đình nhân loại được nhờ. Cho nên quý vị phải tự hiến mình cho một công tác phục vụ xã hội hết sức khó khăn, nhưng cũng hết sức thiết yếu”.
Suốt đời, Đức Cha Roncalli vẫn xác tín rằng: người Công Giáo phải tạo lập một chính sách xã hội táo bạo. Giáo Hội có nhiệm vụ giúp đỡ những người nghèo khổ nhất, thua thiệt nhất. Cho nên Đức Cha luôn đứng về phía những ai tranh đấu cho một nền công bình xã hội thấm đượm tinh thần Phúc Âm.
Cũng vì lẽ đó mà ngài có mối đồng cảm sâu sắc với hai nhân vật lớn trong giới chính trị Công Giáo ở Ý.
Vị thứ nhất là một Linh Mục, Don Sturzo, người đã lập ra Đảng Nhân Dân Ý năm 1919 để hướng dẫn người Công Giáo trong sinh hoạt chính trị. Đó là tiền thân của Đảng Dân Chủ Kitô giáo sau này. Linh Mục trẻ Roncalli khi ấy đã rất hào hứng với hoạt động của Don Sturzo.
Người thứ hai chính là vị chủ tịch Đảng Nhân Dân do Don Sturzo thành lập: ông Alcide de Gasperi. Dưới sự lãnh đạo của hai nhân vật này, Đảng Nhân Dân đã quyết tâm chống đối đường lối Phát xit của Mussolini. De Gasperi từng bị tù hồi thế chiến thứ 2. Sau thế chiến thứ 2, de Gasperi lãnh đạo nước Ý từ 1946 đến 1953, chính ông đã vạch ra những định hướng căn bản cho đất nước. Đó là thời cực thịnh của Đảng Dân Chủ Kitô giáo.
Đối với hai nhân vật này, Đức Cha Roncalli thán phục và tin tưởng hoàn toàn. Nhưng khi ngài về Venezia, thì cả hai đã già. Cha Sturzo qua đời năm 1954, và de Gasperi, năm 1959. mối dây tinh thần nối kết ba người là một thái độ trân trọng đối với con người. Điều có ý nghĩa là sau khi nhận chức, chuyến viếng thăm của ngài ra ngoài thành phố dành cho các công nhân nhà máy lọc dầu Azip. Sự gần gũi với nhân dân về đây được dịp phát triển. Paul Dreyfus mô tả như sau:
“Đôi khi sáng sớm Đức Thượng Phụ đi làm Lễ ở một Nhà Thờ nào đó. Phần lớn cư dân còn đang ngủ, ngài liền đi bộ qua trung tâm thành phố. Tứ phía còn vắng lặng, bầu trời gần như trắng bệch, nhà cửa trông xam xám, chỉ có đỉnh tháp chuông phơn phớt một tia nắng hồng. Trên quảng trường Thánh Marco, mà người ta gọi là đại sảnh cẩm thạch đẹp nhất thế giới, vào giờ này do hàng trăm chim bồ câu độc chiếm. Đây là giờ xuất hiện của những phu hốt rác, những anh quét đường, những chú hầu bàn các quán cà-hê, những chàng trai mang bánh mì đi giao chuyến hàng sớm, rồi những học sinh đeo cặp trên vai đi đến trường.
Đức Thượng Phụ cứ thủng thẳng bước đều. Đức Cha ghé thăm anh láng giềng bán tranh mầu nước, chào hỏi mấy người hầu bàn cà-phê trên quảng trường, bắt tay mấy người giữ cửa khách sạn mặc sắc phục sặc sỡ, thân mật hỏi chuyện những chị bán rau, bán hoa đang bầy hàng. Ngài đi lan man qua những đường phố hẹp ngát hương cà-hê espresso và bánh mì mới ra lò. Đôi khi ngài mua vé đi canô vaporetto. Vaporetto ở Venezia thì cũng giống như xe buýt ở các thành phố trên đất liền. Ngài có một chiếc thuyền Gondola đấy chứ, mang huy hiệu Thượng Phụ đàng hoàng. Nhưng ngài thích những phương tiện bình dân, hòa mình vào dân.
Đức Cha muốn thăm thú thành phố của mình từng khu vực một, quan tâm đến từng chi tiết. Ngài dừng chân nơi các bệnh viện, trường học, cô nhi viện, và khi có dịp, vào tận các tư gia. Có hôm vào xưởng chế tạo vật dụng thủy tinh xem thợ phùng má thổi ve chai. Hôm thì đi dự đua thuyền của các tay lái thuyền Gondola. Hôm thì tổ chức một cuộc họp với cánh dân chài vẫn sinh sống trên đầm phá; hôm khác nữa lại đến thăm các học sinh trường huấn luyện hải quân…”
Venezia là nơi có lắm hội nghị và lễ hội, lắm sinh hoạt nghệ thuật: điện ảnh, kịch, âm nhạc, v.v… ấy là chưa kể vô số khách du lịch. Đức Thượng Phụ gặp gỡ và hàn huyên chẳng biết là với bao nhiêu người. Các bạn bè cũ ở Pháp, có người đã về hưu như cựu tổng thống Auriol, có người còn đang hoạt động. Có khi là nhạc sĩ Igor Stravinski, nhiều lúc khác là nhà văn Daniel-Rops. Và tất nhiên là rất nhiều các vị Hồng Y, Giám Mục, những gương mặt lớn của Giáo Hội đương thời, như các ngài Montini, Lercano, Agagianian, Tisserand, ngài Wyozynski từ Ba Lan đến, ngài Spellman từ New York sang, v.v…
Vừa tiếp xúc rộng rãi, vừa kiên trì tạo sức sống mới cho Giáo Phận. Đường lối của ngài hình như không khác bao nhiêu so với thời ở Paris: “Cai trị như một người cha trong gia đình, rộng lòng với mọi người, khi hành động đừng hấp tấp, đợi cho sự việc chín tới, biết tin tưởng con người, chịu đựng nhiều, đừng lưu tâm khi bị người khác xúc phạm nhưng đáp lại bằng một phong thái rất lễ độ.”
Ngài có chỉnh trang phần nào Tòa Thượng Phụ. Căn phòng trên lầu một trước kia là văn phòng của Thánh Piô 10 khi còn là Hồng Y Sarto, được sửa lại sao cho thật giống ngày xưa. Trên mái thì xây một sân thượng nhỏ, những lúc chiều tà, Đức Thượng Phụ lên đấy, đưa mắt nhìn khắp thành phố, những mái nhà nhấp nhô, những tháp chuông Nhà Thờ, và ngay trước mắt là quảng trường Thánh Marco tuyệt vời, tất cả nhuốm lấy những sắc màu dịu dàng và linh động của buổi hoàng hôn.
Khi mới về Venezia, Thượng Phụ nói: “Tôi bắt đầu công việc mục vụ trực tiếp vào cái tuổi mà nhiều vị khác mãn nhiệm”. Thế mà thấm thoát đã gần sáu năm qua, và Thượng Phụ đã vào tuổi 77. Cả một đời dài trôi nổi “trên những nẻo đường Phương Đông, Phương Tây”. Cảnh chiều hôm Thượng Phụ đứng trên sân thượng nhìn xuống thành phố biển, có thể làm liên tưởng tới một thủy thủ già sau bao nhiêu năm lênh đênh, đã đưa con tầu cổ của mình về neo ở một bến cảng bình an, và giã từ sóng nước. Thế rồi Đức Giáo Hoàng Piô 12 qua đời, và mọi sự diễn tiến nhanh chóng.
Truyền thuyết kể rằng ngày xưa có ông Thánh Malakia có ơn tiên tri, Thánh kê cho mỗi vị Giáo Hoàng một danh hiệu cứ trúng phóc vào cuộc đời mỗi đấng. Theo thứ tự các danh hiệu đó, thì Đức Piô 12 là “Pastor Angelicus”: Mục Tử Thiên Thần, quả là đúng với phong cách siêu thoát của Đức cố Giáo Hoàng. Còn người kế vị thì ông Thánh phong tặng cho là “Pastor et Nauta”: Mục Tử và Thủy Thủ.
Chiều ngày thứ hai 27.10.1958, Mục Tử già, Thủy Thủ già Roncalli đứng trước các anh em Hồng Y và nói: “Tôi xin nhận danh hiệu là Gioan”. Ngài từ thành phố Venezia xây trên nước biển mà đến, lời Thánh Malakia chả ứng là gì ? Chuyện tiên tri kia có thật chăng ? Điều ấy không quan hệ lắm. Chỉ biết chuyến này Thủy Thủ lại sẽ căng buồm cho một hải trình dài nhất, lạ lùng nhất, căng buồm cho con tầu vĩ đại là Giáo Hội, vào một thời điểm không thiếu gì gió to sóng lớn.
Ngày 4 tháng 11 là Lễ Đăng Quang. Hồi đó các nghi thức cổ truyền còn giữ y nguyên. Quang cảnh rất vĩ đại và vương giả, khắp cả Đền Thờ Thánh Phêrô dệt gấm thêu vàng. Giữa cảnh đón tiếp lộng lẫy, bất chợt vang lớn 3 lần tiếng vị Chưởng Nghi: “Pater Sancte, sic transit gloria mundi”: “Tâu Đức Thánh Cha, vinh quang thế gian qua đi là thế”, mỗi lần hô xong, Chưởng Nghi lại châm lửa vào một búi chỉ gai khô, ngọn lửa vàng rực bốc lên trong gây phút rồi tắt lịm, chỉ còn lại một chút tro tàn. Nhưng nếu có ai xứng đáng là bậc thầy để dạy cho mọi người chân lý rất cổ mà rất mới ấy, thì chính là vị Giáo Hoàng già, nét mặt nghiêm nghị, đang chằm chằm nhìn ngọn lửa và tro than.
Sau khi đọc Tin Mừng, Đức Gioan 23 đọc diễn từ mà ngài đã soạn trước. Theo thông lệ, Đức Giáo Hoàng không nói gì trong Lễ Đăng Quang. Nhưng ngay từ khi đắc cử, Đức Gioan 23 đã có những hành động phá lệ nho nhỏ. Hôm nay ngài lên tiếng, cũng lại thêm một lần phá lệ nữa. Diễn từ của ngài tương đối ngắn, sau đây là những ý chính:
“Người ta mong chờ Đức Giáo Tông phải là một vị lãnh đạo quốc gia nhiều kinh nghiệm, một nhà ngoại giao khôn ngoan, một nhà thông thái thiên kinh vạn quyển, biết cách tổ chức cuộc sống chung cho hết mọi người, hoặc giả một vị Giáo Tông có tinh thần cởi mở với mọi dạng tiến bộ của thời đại, không loại trừ một tiến bộ nào. Nhưng tất cả những ai nghĩ như vậy đều tách khỏi chính lộ, bởi vì họ quan niệm về vị Giáo Tông một cách không hoàn toàn phù hợp với lý tưởng chân thật cho vị Giáo Tông.”
Vậy theo Đức Gioan 23, Giáo Tông phải là người thế nào ?
Ngài phải giống như “người con ông Giacóp, khi chứng kiến các anh của mình đang khổ sở trong những ngịch cảnh nặng nề, đã không kìm được lòng thương yêu thổn thức mà phải thốt ra lời: “Tôi là em Giuse của các anh đây !”
Ngài phải như người Mục Tử nhân lành trong dụ ngôn Tin Mừng, “đi trước đàn chiên” để chỉ đường cho chiên và nói rằng: “Tôi còn nhiều chiên khác không thuộc đoàn này, tôi phải đưa chúng về hợp đoàn, chúng cũng sẽ nghe tiếng tôi và rồi chỉ có một đoàn chiên và một Mục Tử”.

7

Chuyện kể rằng, trong những ngày tháng đầu ở ngôi Giáo Hoàng, có một đêm trong cơn mơ màng, Đức Gioan vẫn còn bị ám ảnh vì một vấn đề gì đó của Giáo Hội, ngài chợt tỉnh giấc với một ý tưởng rút ra từ giấc mơ: “Phải đem chuyện này trình với Đức Giáo Hoàng mới được !” Một giây sau, ngài tỉnh hẳn: “Ơ kìa ! Đức Giáo Hoàng là mình đây thôi !… Thôi được, sẽ trình với Chúa !”

7“TÔI TÁ CỦA THIÊN CHÚA VÀ TÔI TÁ CỦA CÁC TÔI TÁ THIÊN CHÚA”

Từ tập quán nông dân xa xưa, Đức Gioan có thói quen dậy sớm. Năm giờ sáng, mọi người ở Roma còn ngủ cả, phòng Đức Giáo Hoàng đã sáng đèn. Vị quản gia, Đức Ông Di Cornigliano đề nghị: “Nếu Đức Thánh Cha muốn, chúng con có thể điều nhân viên đến làm việc sớm hơn” – “Ấy đừng, tôi dậy từ tinh mơ chính là để được ở một mình đấy chứ”. Một mình, để trình mọi việc với Chúa.
Thư ký của ngài, cha Loris Capovilla ( về sau làm Giám Mục ) nhận định: “Ngài không phải là một người cả lo, không vội vã, không hấp tấp. Ngài biết rằng hết đời ngài, thế giới này vẫn tiếp tục, cho nên ngài bình an, làm việc một cách rất thanh thản.”

Trong phòng ngủ, ngài tích chứa những kỷ niệm của cả đời, từ cây Thánh Giá, bức tượng Đức Mẹ đem từ Đông Âu về, đến các ảnh Thánh. Chung quanh giường ngủ, ngài tự tay lồng kính và treo chân dung của các người thân trong gia đình: cha mẹ, ông chú, ba chị và một em trai đã qua đời, ba người em trai còn sống, các Linh Mục và Giám Mục đã từng hướng dẫn ngài, bốn vị Giáo Hoàng ngài đã phục vụ, từ Đức Piô 10 đến Đức Piô 12, các ảnh kỷ niệm, phong cảnh quê hương. Đức Gioan là người trung thành với mọi nỗi niềm thân thương trong đời.
Trên chiếc bàn đêm, quyển Kinh Nhật Tụng và Kinh Thánh, đặt bên cạnh chiếc radio cũ là một tập giấy đánh máy với nhan đề viết tay: “Các Linh Mục Giáo Phận Bergamo đã qua đời từ tháng 6.1899”. Tổng cộng là 1.706 vị. Trong số này, Đức Giáo Hoàng ghi lại: “Tôi đã quen biết 1.500 vị. Theo như tôi biết, tất cả các vị đều để lại danh thơm tiếng tốt cho hàng Linh Mục. Nhiều vị từng là học trò tôi. Tôi không hề làm phiền lòng một vị nào. Đấy là những người bạn tốt đang chờ đón tôi ở trên trời.” Trên mặt lò sưởi, đồng hồ điểm giờ bằng nhạc chuông theo cung Ave Maria của Lourdes. Mầu nhiệm Các Thánh Hiệp Thông cụ thể là như vậy.
Bên cạnh phòng ngủ là văn phòng riêng có một cửa sổ mở ra trên quảng trường Thánh Phêrô. Nhận xét của chủ nhân: “Gọi là văn phòng riêng, thật ra không xứng đáng lắm. Người ta đến đây tìm tôi dễ dàng, dễ hơn ở nơi khác, vì phòng nhỏ lắm, có chỗ nào ẩn mình được đâu !” Nhà điêu khắc Manzù đã từng tới đây nhiều lần để khắc tượng Đức Gioan, nhận xét căn phòng đó giống như “Văn phòng một ông chưởng khế làng quê hoặc văn phòng của một vị Giám Mục thiếu tiền !” Tường thì phủ kín bằng hai sắc gấm đỏ – vàng, ngoài ra,mọi sự đều rất đơn giản. Một chiếc bàn lớn với nhiều ngăn kéo, chất đầy những sách vở, tài liệu, giấy tờ xem ra không thứ tự lắm; một tủ sách chứa những tác phẩm thường phải tham khảo, một tivi, và một bàn giấy cổ bằng gỗ sồi, trên mặt bàn có một cây đèn bằng kim khí và một máy chữ trắng có gắn gia huy của Đức Giáo Hoàng, cùng với những giấy tờ ngài đang xử lý.
Đức Giáo Hoàng có một phương pháp làm việc thoải mái. Ngài nêu rõ những ý tưởng cốt yếu, ấn định quan điểm, gợi lên toàn cảnh rồi giao cho các cộng tác viên thi hành, không xét nét chi li. Nhiều khi ngài lấy một tờ giấy, bất kể giấy gì, khổ gì, mầu gì, rồi bắt đầu viết thẳng một mạch một cách dễ dàng, không sửa một câu, không gạch một chữ, nhưng rất lưu loát mạch lạc, không thiếu một dấu phẩy. Có hàng nghìn trang giấy như vậy…
Ban đêm, Đức Giáo Hoàng dễ ngủ, nhưng không ngủ lâu. Khoảng 1 hay 2 giờ sáng, ngài thức dậy, bật đèn đọc sách. 1 giờ sáng là lúc vị thư ký Loris Capovilla đã hoàn tất công việc soạn thảo những diễn văn Đức Giáo Hoàng sắp đọc hoặc những văn kiện sắp công bố. Từ lầu ba, Don Loris nhẹ bước đi xuống bằng một cầu thang riêng. Nếu thấy phòng ngủ tối đèn thì đẩy tất cả giấy tờ qua khe cửa. Nếu đèn đã sáng thì gõ nhẹ. Đức Giáo Hoàng mặc áo ngủ mở cửa bước ra. “Thưa cha, bản văn đây”. Đức Thánh Cha đưa bản văn vào phòng đọc kỹ… “Được, tốt đấy. Nhưng cha vui lòng để lại đây cho tôi sửa vài chỗ.”
Sáng mai, Don Loris nhận lại bản văn đã sửa chữa: có những đoạn sửa rất ít, đoạn khác ngài thay đổi khá nhiều. Có những đoạn đổi hẳn. Mỗi đêm, Đức Gioan 23 lặng lẽ làm việc vài tiếng như vậy, rồi ngủ tiếp 3 tiếng để thức dậy trước khi trời sáng…
Một khung cảnh bình thường, một lối làm việc bình tĩnh, nhẩn nha, phải chăng như thế là đã bước vào một triều đại mà nhiều người coi là một “thời gian chuyển tiếp”, một “bước quá độ” không lâu lắm, vài năm thư giãn để chờ một vị lãnh tụ mới xuất hiện ? Nhiều người vẫn còn cái cảm giác rằng Đức Gioan 23 là một người xuề xòa, vô thưởng vô phạt. Ở Pháp, một vị Giám Mục nổi tiếng nọ đã buồn đến mức khóc òa lên, khi hay tin Giáo Hoàng mới là cụ Roncalli, là vì thương cho Giáo Hội quá ! Trước mắt vị Giám Mục này, làm sao một người như thế lại có thể lãnh đạo trong cái thời đại đầy những biến động lớn lao này ?
Một năm trước, Liên Xô làm cả thế giới kinh ngạc khi phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên: Sputnik 1. Nước Mỹ giật mình, vội vàng phóng vệ tinh của mình vào năm 1958. kỷ nguyên chinh phục không gian đã bắt đầu… bao hàm biết bao là khả năng của con người, biết bao nhiêu ứng dụng lành hay dữ cho tương lai ? Ở Liên Xô, Khruchtchev lên cầm quyền báo hiệu một khúc quanh mới, ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông phát động phong trào công xã nhân dân. Chủ Nghĩa Xã Hội Mác – Lê trên thế giới đang có những bước phát triển phức tạp, ảnh hưởng trước tiên lên cả tỷ người đang sống trong các xã hội ấy, nhưng cũng ảnh hưởng lên toàn thế giới nữa.
Cũng một năm trước, Albert Camus, nhà văn hiện sinh vô thần người Pháp đoạt giải Nobel Văn Chương: khuôn mặt của cả một thế hệ trí thức phương Tây đấy. 1958, Nobel Văn Chương lại về tay Boris Pasternak của Liên Xô với bộ tiểu thuyết lớn: Bác sĩ Jivago. Tuy hoàn cảnh khiến cho Pasternak không nhận giải, nhưng sự việc gợi lên biết bao điều cả về quá khứ lẫn hiện tại, tương lai trong tâm linh những con người ở các xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa.
Về phía các dân tộc nghèo, sau các nước Đông Nam Á, đến lượt các nước Châu Phi được độc lập: trong năm 1958 này, đó là Cameroun, Togo, Guinea. Đại khối các dân tộc nhược tiểu đã có tiếng nói và bắt đầu xuất hiện trên vũ đài hoàn cầu. Những biến cố ấy như mở ra những thế giới mới sâu rộng khôn lường. Nhân loại đi vào những vùng biển lạ, sóng nước hiểm nghèo mà lại rất hứa hẹn. Biết đâu là họa là phúc, là bờ là bến cho con người ? Liệu Gioan 23 có phải là người thích hợp để làm hoa tiêu cho con tầu Giáo Hội giữa những đầu sóng ngọn gió của thời đại không ? Tiếng khóc của vị Giám Mục thiết tha với Giáo Hội kia cho thấy dưới sự tôn kính tất nhiên dành cho ngôi vị Giáo Hoàng, nhiều người gọi là “biết chuyện” trong Giáo Hội đang có những lo âu.
Về sau này, ở Pháp, lại vẫn ở Pháp, có người viết lên báo rằng Thần Khí Thiên Chúa đã đột chiếm lấy một cụ già trước đây chỉ là một người hề hà ba phải, khiến cho cụ già bừng bừng lên một ngọn đuốc soi sáng cả thế gian: Viết vậy đúng mà cũng không đúng. Đúng, theo nghĩa rằng trong bao nhiêu năm, ngài Roncalli không hề có tham vọng lãnh đạo Giáo Hội, mà chỉ muốn làm người tôi tá thầm lặng và tận trung thi hành mọi sứ mệnh được giao phó, trong tinh thần thật sự khiêm tốn và yêu mến mọi người, gạt một bên cái tôi của mình cho ai muốn phán xét hay đàm tiếu gì cũng được.
Nhưng sẽ không đúng nếu cho rằng tự nhiên có một Gioan 23 từ trời rơi xuống, mà không có những bước chuẩn bị từ rất xa của Ơn Thánh. Có điều sự chuẩn bị ấy không đi qua những con đường của trí tuệ siêu phàm hay thành tích lừng lẫy, mà lại đi qua một tâm hồn khiêm nhu bình an, và vì vậy rất trong sáng. Lúc nào cũng thu mình nhỏ bé, nhưng mình vẫn luôn luôn là mình, giữ kỹ trong lòng sự tự do Tin Mừng ban cho. Đến khi hoàn cảnh đưa lên ngôi cao, làm đèn sáng đặt trên đế, thì cái Tâm sáng ấy mới lộ ra.
Đức Gioan 23 bắt đầu viết nhật ký về đời sống nội tâm của mình từ khi còn là Tiểu Chủng Sinh. Là người trung kiên, chung thủy, ngài cứ bền bỉ viết mãi, mỗi lúc một ít, đến khi lên ngôi Giáo Hoàng vẫn tiếp tục viết. Về sau ( 1984 ), nhật ký này được xuất bản dưới nhan đề: “NHẬT KÝ TÂM HỒN” ( IL GIORNALE DELL’ANIMA ). Một năm sau ngày lên ngôi, trong cuộc Tĩnh Tâm thường niên ở Vatican ( 29.11 – 5.12.1959 ), ngài gi vào nhật ký như sau:

“Từ ngày Chúa muốn cho tôi, dù tôi tồi tàn đến mức nào, được phục vụ công việc lớn lao này, tôi cảm thấy mình không còn thuộc về riêng một điều gì trên đời này: dù đó là gia đình, tổ quốc trần gian, dân tộc, thiên hướng riêng về chuyện nghiên cứu, dự định, dù tốt đẹp đến đâu. Bây giờ hơn bao giờ, tôi nhận ra mình bất xứng và bé nhỏ trong nhiệm vụ “tôi tá của Thiên Chúa và tôi tá của các tôi tá Thiên Chúa”.

“Toàn thế giới là gia đình tôi”. Cảm giác rằng tôi thuộc về toàn thế giới khiến cho tâm trí và hành động của tôi trở nên phấn chấn và linh động.
Quan điểm ấy, cảm giác đại đồng ấy, trước tiên tạo sinh khí cho sự cầu nguyện hằng ngày, triền miên không ngớt: khi đọc Kinh Nhật Tụng, lúc dâng Thánh Lễ, khi lần trọn vẹn chuỗi Mai Khôi, những lúc trung thành thăm viếng Chúa Giêsu trong Nhà Tạm, tất cả đều là những phương thức đa diện để kết hợp với Chúa Giêsu, Người Bạn tâm giao…
Trên hết, tôi tri ân Chúa vì Người đã ban cho tôi một tính khí khiến tôi không biết đến những sự lo âu sợ hãi vô ích. Tôi cảm thấy mình đang vâng mệnh trong mọi sự, và tôi nhận thấy rằng thái độ như thế “trong việc lớn cũng như việc nhỏ” tạo cho con người bé nhỏ của tôi một sức mạnh đơn sơ mà táo bạo, và vì có tính Tin Mừng thuần túy, nên được mọi người đem lòng kính trọng. “Lạy Chúa, con không xứng đáng. Lạy Chúa, xin Ngài là sức mạnh và niềm vui của lòng con”. Thiên Chúa của tôi là Đấng xót thương tôi.
Sự niềm nở tức khắc và lâu dài của tất cả những ai đến gần con người bé nhỏ của tôi vẫn là một điều làm tôi kinh ngạc. Ngạn ngữ “hãy biết mình” đủ để cho tôi giữ được sự bình an tâm linh và sự cảnh giác. Bí quyết của thành công là đấy: là “không tìm những gì vượt quá sức mình” ( Hc 3, 22 ), “khiêm nhường và hiền lành trong lòng” là đủ rồi. Trong sự khiêm nhường và hiền lành của tâm hồn, có niềm hoan hỷ để đón tiếp, nói năng, trọng đãi, nhẫn nại chịu đựng, yên lặng khuyến khích”.

“ĐỨC GIOAN NGOẠI THÀNH”

Ba năm sau, trước khi khai mạc Công Đồng, và không đầy một năm trước khi qua đời, Đức Gioan 23 lại Tĩnh Tâm. Lần này ngài ghi vào nhật ký một “bản tóm tắt những ân huệ lớn lao đã ban xuống cho một người không coi mình là trọng”. Ơn thứ nhất là “đón nhận một cách đơn sơ vinh dự và gánh nặng của chức vụ Giáo Tông” sau khi đã “không hề làm một điều gì” để tìm kiếm ngôi cao. Ơn thứ hai là “tôi được thấy là đơn giản và có thể thi hành ngay tức khắc một vài ý tưởng không phức tạp chút nào, trái lại, rất đơn giản, nhưng có một tầm rộng lớn và rất quan trọng cho tương lai, lại có kết quả ngay tức khắc. Nắm bắt những hứng khởi tốt lành Chúa gửi đến, đơn sơ và tin tưởng. Sự ấy ý nghĩa biết chừng nào !”
Lúc đầu thì chỉ như vài cơn gió mát thoảng qua thôi. Những “hứng khởi tốt lành” được ‘nắm bắt” với lòng “đơn sơ và tin tưởng” đúng là “có kết quả ngay tức khắc”. Và đúng là “không phức tạp chút nào”. Chả là Đức Giáo Hoàng thích đi thăm viếng nơi này nơi khác.
Đầu tiên ngài đến Đền Thờ Thánh Gioan Laterano, tức Nhà Thờ Chính Tòa của Giáo Phận Roma. Rồi thăm Chủng Viện và Đại Học Công Giáo Laterano. Có hôm đến thăm Đền Thờ Đức Bà Cả. Công chúng đã bắt đầu quen với sự xuất hiện gần gũi và thân tình của Đức Thánh Cha giữa nhân dân. Sở dĩ những chuyến viếng thăm này được coi như những biến cố bất ngờ, là vì từ gần một trăm năm rồi, các Đức Giáo Hoàng có lệ “cấm cung”, không ra khỏi Điện Vatican.
Noel 1958, chuyến viếng thăm Bệnh Viện Bambino Gesù ( Hài Đồng Giêsu ) rất đơn sơ mà cảm động. Phía trên một cột trụ ở cửa ra vào, có khắc tam tầng vương miện và chìa khóa Thánh Phêrô, đó là ký hiệu cho thấy bệnh viện nhi đồng này ngày xưa do các Đức Giáo Hoàng thành lập. Bệnh viện có 800 giường, chia ra thành từng phòng lớn. Đức Thánh Cha đi qua từng phòng một. Bọn trẻ ríu rít như chim: “Đức Giáo Hoàng ơi, Đức Giáo Hoàng ơi, lại đây với con” – “Suỵt ! Im nào ! Cha lại ngay mà”. Có đứa thân mật gọi tên ngài: “Giovanni ! Giovanni !” Đức Thánh Cha hỏi một đứa: “Tên con là gì ?” – “Angelo” – “Ơ hay nhỉ, cha cũng tên là Angelo đấy. Ấy là ngày xưa ấy, còn bây giờ người ta đã khiến cha chọn một tên khác rồi.”
Chú bé Carmine Lemma, bị mù sau một cơn viêm màng não và tủy sống, cứ nắm tay Đức Giáo Hoàng mãi không chịu buông: “Cha là Đức Giáo Hoàng. Con biết cha là Đức Giáo Hoàng nè ! Nhưng con không nhìn thấy cha”. Mặt chú bé buồn thiu. Đức Thánh Cha không cầm được nước mắt. Ngài ngồi bên giường vuốt ve Carmine hồi lâu.
Ngày hôm sau, 26.12, Đức Thánh Cha đi thăm nhà tù. Biết là thế nào cũng có người can ngăn, ngài phân trần trước: “Các tù nhân đi thăm tôi thì còn khó hơn là tôi đi thăm họ.” Họ tụ tập cả ở ngoài sân.
“Các con thân mến, cha đến thăm các con mà cha cứ nhớ mãi, ngày xưa khi cha còn trẻ, trong gia đình cha cũng có người bà con đi săn không giấy phép, bị cảnh sát bắt giam. Ôi chao ôi ! Tội nghiệp quá ! Có những chuyện xảy đến cả khi ta không có ý xấu. Nếu ta sai lầm thì ta phải trả giá và ta phải dâng các sự đau khổ cho Chúa”.
Ngài nói tiếp rằng ngài đến từ cõi Bình An và ngài muốn đưa đến cho anh em ơn Bình An nội tâm. Cánh tù nhân cứng cỏi vậy đấy, nhưng trong lòng thầm ao ước sự yêu thương. Đức Giáo Hoàng đến với họ, lại gần, tươi cười tay nắm tay, đó là điều làm họ bàng hoàng, họ vỗ tay vang rền. Một tay giết người quỳ xuống nắm lấy tay Đức Giáo Hoàng hôn nhẫn và hỏi một câu đớn đau: “Những lời hy vọng cha vừa nói đó có áp dụng cho con được không ? Con tội lỗi lắm !” Thay vì trả lời, Đức Thánh Cha cúi xuống và ôm hôn.
Trước khi ra về, ngài muốn đi thăm vài phòng giam. Một tù nhân đã vẽ một bức tranh, có ý dâng Đức Giáo Hoàng, nhưng cai tù không cho. Ngày hôm sau Đức Thánh Cha đọc báo mới biết chuyện. Ngài cho người đến nhà tù nhận quà, và dặn thêm: “Nhớ đừng quên nói với anh ta thông cảm cho cha, tại cha không biết nên anh ta phải buồn lòng”. Tất cả các báo đồng loạt ca ngợi. Tờ Unita của Đảng Cộng Sản Ý cũng nồng nhiệt nhận định rằng cuộc viếng thăm này gợi lên “lòng nhân ái và trắc ẩn của Đạo Kitô”.
Một buổi chiều, Đức Gioan 23 ngưng hết mọi công việc để đi bệnh viện thăm một người bạn thân, Đức Ông De Luca bị bệnh ung thư giai đoạn cuối.
– Ôi Đức Thánh Cha ! Sao ngài lại đến tận đây ?
– Tại sao tôi lại không đến thăm anh chứ ? Không phải là một nhiệm vụ Linh Mục của tôi sao ?
– Nhưng ngài còn trăm công nghìn việc.
– Chẳng có việc nào quan trọng hơn việc này.
Một đồ đệ, một người đại diện của Chúa Giêsu đi thăm nhi đồng, tù nhân, bệnh nhân, có gì tự nhiên hơn ? Thế tại sao những chuyến viếng thăm này lại thành biến cố, thành tin sốt dẻo, báo chí bình luận sôi nổi ? Đó là vì, như trên đã nói, từ gần 100 năm rồi, các Đức Giáo Hoàng hầu như không ra khỏi điện Vatican nữa.
Trước Đức Gioan 23, vị Giáo Hoàng hay đi lại trong đường phố Roma là Đức Piô 9, người được phong Chân Phước cùng một ngày với Đức Gioan 23. Cuộc đời Đức Piô 9 ( 1846 – 1878 ) là một thảm kịch. Xét về mặt con người, ít ai hấp dẫn bằng ngài; nói về lòng Nhân ái thì ngài là một người rất mực nồng hậu.
Người ta kể chuyện một lần Đức Piô 9 đi dạo chơi ngoài phố gặp một chú bé đang khóc nức nở, ngài dừng lại hỏi thăm. Chú bé con nhà nghèo, mẹ sai ra quán mua một cút rượu vang, chẳng biết lóng ngóng thế nào lại đánh vỡ toang cút rượu, về nhà sợ ăn đòn. Đức Thánh Cha liền đi vào quán, tự tay mua rượu cho chú bé cầm về nhà. Lần khác đang ngồi trên xe ngựa, gặp đám tang một người đàn bà nghèo, lèo tèo chỉ có vài người đi theo xe tang, vì gia đình quá neo đơn. Đức Thánh Cha xuống xe đi theo đưa tang một hồi lâu. Vậy mà cũng Đức Piô 9 này lại là người mở đầu cho lệ “cấm cung” của các Đức Giáo Hoàng sau này.
Nguyên do là việc thống nhất nước Ý, cho đến hậu bán thế kỷ 19, vùng đất bây giờ là nước Ý được chia ra làm nhiều nước khác nhau, tuy cư dân của tất cả các nước ấy chỉ là một dân tộc. Từ thế kỷ thứ 9, chính quyền Tây Âu thời toàn tòng đã cắt đất dâng Đức Giáo Hoàng để ngài làm vua một nước riêng. Đó là một biện pháp để bảo đảm cho Đức Giáo Hoàng được tự do khỏi mọi áo lực chính trị.
Từ đó đến thời Đức Piô 9 đã cả nghìn năm. Thời thế đổi thay, đã mấy lần cách mạng. Thế kỷ 19 là lúc ở Ý cũng như ở Đức, người ta muốn dựa trên nguyên lý dân tộc để quy tụ các nước nhỏ lại thành một quốc gia lớn. Nhưng Nước của Tòa Thánh lại là một phần khá lớn của lãnh thổ bây giờ là nước Ý. Mà Đức Piô 9 cho rằng không thể nhượng bộ phong trào thống nhất được, vì nước Tòa Thánh không phải là của riêng ngài, đó là di sản chung của Giáo Hội mà ngài phải gìn giữ, vì nó bảo đảm sự tự do của các Đức Giáo Hoàng.
Lại nữa, Châu Âu thời bấy giờ nói chung, và nước Ý nói riêng, đang bị chi phối bởi những tư tưởng chống tôn giáo. Đức Piô 9 là một con người tôn giáo, chứ không phải nhà chính trị. Khi mới lên ngôi, ngài cũng muốn đáp ứng những khát vọng của thời đại, và ngài được hoan nghênh nhiệt liệt. Đến khi bắt tay vào việc mới thấy rằng dù lý tưởng có đẹp chăng nữa, thì những giới chính trị đang đối mặt với ngài vẫn có quá nhiều trò ma giáo, tráo trở, độc ác.
Sự thất vọng não nề đó khiến cho ngài quay ra cự tuyệt toàn bộ những khát vọng của thời mới. Sở dĩ Nước Tòa Thánh còn duy trì được, là nhờ Hoàng Đế Napoléon 3, vì cần lấy lòng người Công Giáo còn đông và mạnh thế ở Pháp, đã cho quân đội Pháp đóng ở Roma để bảo vệ Nước Tòa Thánh.
Năm 1870, chiến tranh Pháp – Đức bùng nổ. Quân Pháp rút về nước và bại trận. Nước Ý liền tiến vào chiếm Roma, hoàn tất công cuộc thống nhất. Từ đó Đức Piô 9 tự coi mình như tù nhân, ngài không ra khỏi cung điện Vatican nữa. Giáo Hội bế quan tỏa cảng với mọi sự đổi mới của xã hội, và trở nên một thành trì bảo thủ, nuối tiếc những thời đã qua.
Người có công gỡ thế bí này là một vị Giáo Hoàng thiên tài, Đức Lêô 13 ( 1878 – 1903 ). Ngài làm sáng tỏ mọi vấn đề chính trị, xã hội, học thuật, mở đường cho người Công Giáo đi vào xã hội mới. Nhưng riêng vấn đề mâu thuẫn với nước Ý thì vẫn chưa giải quyết được. Cho nên từ 1870 đến Đức Piô 11, các Giáo Hoàng vẫn giam mình trong điện Vatican, không bao giờ ra ngoài. Phải đợi đến năm 1929, vấn đề mới được giải quyết. Đức Giáo Hoàng Piô 11 từ bỏ chủ quyền trên các vùng đất cũ, chỉ giữ lại vài chục mẫu đất làm “Quốc Gia Vatican” được nước Ý và quốc tế công nhận.
Tuy nhiên sự “cấm cung” của các Giáo Hoàng đã trở thành nếp, vả lại ra khỏi Vatican là ra “nước ngoài” rồi. Khốn nỗi, như thế thì tuyệt đại đa số con cái của Đức Thánh Cha đều ở “nước ngoài” cả. Họa hoằn Đức Giáo Hoàng mới ra khỏi Vatican, ví dụ để đi nghỉ ở biệt điện mùa hè Castel Gandolfo, hoặc như thời Thế Chiến thứ hai, Roma bị oanh tạc, nhiều người chết oan, Đức Piô 12 liền tức tốc đến hiện trường ủy lạo và cầu nguyện.
Đúng là cái sẩy nẩy cái ung. Có những sự thể chẳng phải là chủ ý, nhưng hoàn cảnh làm nên cơ sự. Lối sống xa cách và thâm nghiêm của các Đức Giáo Hoàng là một trường hợp. Hay như Đức Gioan 23 nói với các tù nhân: “Có những chuyện xảy đến cả khi ta không có ý xấu”.
Thế rồi năm 1958, có một vị Giáo Hoàng rất hồn nhiên lên ngôi. Ngài cứ hồn nhiên gỡ bỏ những trói buộc cũ, hồn nhiên đi đến với con người. Chỉ thế thôi mà mọi người đều cảm thấy một luồng gió Tin Mừng dịu mát thổi qua Giáo Hội. Mọi người cảm thấy như được giải thoát khỏi một thứ trói buộc vô hình, như có một khuôn mặt mong đợi đã lâu nay mới thấy hiện ra. Dân Roma nói vui: “Ở Roma có Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành, Nhà Thờ Thánh Lôrensô Ngoại Thành, từ nay lại có Đức Gioan Ngoại Thành nữa !”
Dù sao bỏ một thói quen lâu đời bao giờ cũng có người chống đối. Có những vị bảo thủ ở Vatican lẩm bẩm rằng Đức Giáo Hoàng muốn làm tài tử xinêma. Các vị không ngờ rằng sự gần gũi thân tình với con người cụ thể sẽ còn đưa Đức Giáo Hoàng đi xa hơn nữa, mà những cuộc viếng thăm đột xuất kia mới chỉ là khai vị thôi.
Chỉ hai tháng sau ngày lên ngôi, bất ngờ Đức Gioan 23 loan báo một biến cố làm biến đổi toàn thể Giáo Hội: Ngài triệu tập Công Đồng !

8

89 năm sau khi Công Đồng Vatican 1 bị bỏ dở, Đức Gioan 23 triệu tập một Công Đồng mới. Trong những hành lang ở Vatican có mấy người làu bàu: “Công Đồng ư ? Lại sắp có một dịch cúm trong Giáo Hội rồi”. Có người còn tỏ ra bất kính: “Gặp phải lúc Đức Gioan 23 lên cơn điên…”

8
ĐỨC GIOAN 23 QUYẾT ĐỊNH TRIỆU TẬP CÔNG ĐỒNG

Ngày 25.1.1959, Lễ Thánh Phaolô trở lại, Đức Gioan 23 vừa lên ngôi được chín mươi ngày. Hôm đó là Chúa Nhật, Đức Thánh Cha chủ sự một nghi lễ nhân ngày bế mạc Tuần Lễ Hiệp Nhất, tổ chức ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành. Đền Thờ lừng danh này được vị hoàng đế Roma đầu tiên tin đạo Chúa Kitô là Constantino cho xây dựng hồi đầu thế kỷ thứ tư, trên mộ của Thánh Phaolô. Từ ngày đó đã tu sửa và tái thiết nhiều lần. Di cốt của vị Tông Đồ lương dân bị hoàng đế Nêrô xử trảm vẫn an nghỉ dưới bàn thờ chính. Kế bên Đền Thờ là Đan Viện Biển Đức, ngày ngày Kinh Nhật Tụng trong giai điệu Bình Ca vẫn như một dòng suối Đức Tin ngân nga mãi qua thời gian.
Trong nghi lễ, Đức Gioan 23 đã giảng về sự hiệp nhất Giáo Hội. Nghi lễ kết thúc, Đức Giáo Hoàng triệu tập một cơ mật hội Hồng Y, với 18 vị có mặt. Nơi họp là phòng hội của đan viện trên lầu một. Đó là một căn phòng hình chữ nhật, không lớn lắm, ánh sáng trời tràn vào qua hai cửa sổ cao rộng. Đức Viện Phụ đã cho bày mười tám chiếc ghế da nâu sậm dọc theo bốn bức tường sơn màu vàng, và một chiếc ghế bành dành riêng cho Đức Giáo Hoàng.
Khi mọi thành viên đã an vị, Đức Ông chưởng nghi Enrico Dante hô to theo truyền thống: “Extra Omnes”: Mọi người ( không phận sự ) ra ngoài !”
Đức Gioan 23 lên tiếng: “Chư tôn đệ tử thân mến, ngày lễ Thánh Phaolô trở lại đã về, chúng ta quây quần nơi Tông Lăng này bên Thánh điện của người, chúng tôi tin tưởng anh em là những người nhân hiền và quảng kiến, nên muốn được tâm sự về một số điều đặc biệt quan trọng của hoạt động Tông Tòa, do những ngày tháng đầu tiên hiện diện và giao tiếp với cộng đoàn Giáo Hội ở Roma gợi ý cho chúng tôi. Chúng tôi chỉ có một mục đích là mưu ích cho các linh hồn và làm sao cho tân triều này đáp ứng thật đích đáng, thật chính xác những nhu cầu thiêng liêng của giờ phút hiện tại”.
Đức Giáo Hoàng dành phần đầu của buổi nói chuyện để đề cập những vấn đề mục vụ của Roma; sang phần hai, ngài nói về những nhu cầu tâm linh của thế giới. Ngài lo rằng “sự hấp dẫn của những lợi lộc vật chất” và “bước tiến của kỹ thuật hiện đại” khiến cho người đời sao lãng việc hướng thượng, tâm hồn trở nên bạc nhược, kỷ luật và trật tự cổ truyền cũng bị buông lơi.
“…Nhận định như thế, lại xét rằng, chúng tôi chỉ là một linh mục khiêm hạ, vậy mà ý chỉ của Thiên Chúa Quan Phòng, bất chấp thân phận bất xứng, lại đưa chúng tôi lên chức vụ Thượng Tế tối cao, nên chúng tôi đã quyết ý trở về với một số phương cách cổ truyền để khẳng định đạo lý và chấn chỉnh kỷ luật giáo hội; qua dòng lịch sử và vào những thời kỳ cần canh tân, những phương cách này đã làm phát sinh những thành quả kiến hiệu phi thường, để minh xác tư tưởng, thắt chặt sự hiệp nhất trong đạo, phục hưng lòng sốt sắng cho Ki-tô hữu…”
Tới đây, Đức Giáo Hoàng công bố quyết định như sau: “Chư tôn đệ tử thân mến, chúng tôi không khỏi xúc động ít nhiều, nhưng đồng thời với lòng khiêm tốn chúng tôi cũng đã quyết chí, chúng tôi xin nói ra trước anh em rằng chúng tôi đề xuất hai Khánh Hội: một đại hội nghị cho Giáo Phận Roma, và một Công Đồng Chung cho toàn thể Giáo Hội”.
Đức Giáo Hoàng dừng lại giây lát, xem mười tám vị Hồng Y đang ngồi chung quanh phản ứng ra sao, các vị có tán thành hay không ? Ngài chỉ có một cảm giác, là các vị hết sức kinh ngạc, ngồi như hóa đá. Mọi người trầm ngâm lặng thinh, chỉ nghe thấy những tiếng động vọng lên từ con đường Ostiense phía dưới.
Quả là Hồng Y Đoàn đang bỡ ngỡ. Công Đồng Chung bao giờ cũng là biến cố rất lớn trong lịch sử Giáo Hội. Nếu muốn quy chiếu Thánh Kinh, thì có thể nói Công Đồng Chung đầu tiên là Công Đồng Giêrusalem do các Tông Đồ họp khoảng năm 51 để giải quyết vấn đề có nên bắt người bên lương phải giữ luật đạo Do Thái khi họ gia nhập Giáo Hội Chúa Kitô không.
Như ta đã biết, Công Đồng đã ra nghị quyết: người dân ngoại trở lại khỏi phải vào đạo Do Thái. Đó là một quyết định cực kỳ táo bạo: Hội Thánh, trong có một câu, cởi bỏ hết những ràng buộc cổ kính hơn ngàn năm tuổi của đạo Do Thái, và dứt khoát mở rộng cửa đón lương dân. Về cả Tín Lý lẫn về lịch sử và văn hóa, quyết định này có những hậu quả không nói sao cho hết.
Tuy nhiên, lịch sử Giáo Hội coi Công Đồng đầu tiên là Công Đồng họp ở Nica, nay là Iznik, Thổ Nhĩ Kỳ, để xác định rõ chân lý “Chúa Giê-su là Thiên Chúa” vì khi đó chân lý này bị Linh Mục Ario phủ nhận. 5 Công Đồng kế tiếp: Constantinopoli ( 381 ), Epheso ( 431 ), Chalcedonia ( 451 ), Constantinopoli 2 ( 553 ), Constantinopoli 3 ( 650 – 684 ) làm rõ những chân lý về Thiên Chúa Ba Ngôi và về Chúa Kitô, tức là nền tảng của Đức Tin và Tín Lý.
Công Đồng thứ bảy, Nica 2, họp năm 787 về vấn đề ảnh tượng; một vấn đề như thế, tuy không phải là cốt yếu đối với Đức Tin, nhưng vẫn có thể gây ra nhiều sự nhiễu nhương trong Giáo Hội.
Công Đồng thứ tám, Constantinopoli 4 có thể coi là một triệu chứng bất tường: những sự bất đồng và căng thẳng trầm trọng đã bộc lộ giữa Phương Tây ( Roma ) và Phương Đông ( Constantinopoli ) khiến cho phải họp Công Đồng để giải quyết. Lần ấy giải quyết xong, nhưng những nhân tố bất hòa cứ âm ỷ mãi để rồi 200 năm sau đưa đến sự đoạn tuyệt giữa Giáo Hội Phương Tây ( Latinh Công Giáo ) và Giáo Hội Phương Đông ( Hy Lạp Chính Thống ). Từ đó về sau, tuy có vài lần cố gắng hòa giải, nhưng kết quả không lâu bền. Giáo Hội Công Giáo vẫn tiếp tục triệu tập các Công Đồng Chung, nhưng trừ Công Đồng Lyon ( 1274 ), thì từ nay vắng mặt Phương Đông Hy Lạp.
Các Công Đồng thời Trung Cổ: Laterano ( 1123 ), Laterano 2 ( 1139 ), Laterano 3 ( 1179 ), Laterano 4 ( 1215 ), Lyon ( 1245 ), Lyon 2 ( 1274 ), Vienne ( 1312 ), chủ yếu tập trung vào kỷ luật nội bộ của Giáo Hội Công Giáo: thời kỳ này xã hội Tây Âu đã thành ra toàn tòng, việc đạo việc đời hòa quyện vào nhau trong cơ chế phong kiến Trung Cổ; Giáo Hội nghiễm nhiên là một cơ chế quyền lực hùng mạnh, công trạng nhiều, gai góc cũng nhiều. Các vấn đề lâu đời chồng chất đến cuối thời Trung Cổ đã nổ ra thành khủng hoảng lớn.
Từ 1414 đến 1418, Công Đồng Konstanz có công chấm dứt được giai đoạn quái lạ trong lịch sử Giáo Hội được mệnh danh là cuộc “Đại Phân Ly Phương Tây”, khi mà cùng một thời điểm có ba người xưng là Giáo Hoàng. Trong ba người đó có một người chắc chắn là nguỵ Giáo Hoàng, còn hai người kia thì không phân định được ai là Giáo Hoàng thực !
Tuy Konztanz chấm dứt được vụ khủng hoảng đầy tai tiếng đó, nhưng quyền lực vẫn là vấn đề gây trăn trở trong lòng Giáo Hội. Công Đồng Chung thứ 17 họp ở Besel ( Thụy Sĩ ) sau chuyển về Ferrare và Firenze ( nay là nước Ý ), cũng như Công Đồng Laterano 5 ( 1512 – 1577 ) phản ảnh tâm trạng bứt rứt đó. Quyền bính của Đức Giáo Hoàng phải chật vật lắm mới được nhìn nhận và vấn đề chỉ được giải quyết dứt khoát với Vatican 1 ( 1869 – 1870 ).
Hai Công Đồng Chung cận đại là Trento, họp nhiều khóa, qua mấy lần gián đoạn, từ 1545 đến 1563 mới kết thúc. Trento có công chấn chỉnh lại Giáo Hội Công Giáo sau khi những buông thả và tập quán xấu từ nhiều đời đã gây ra cuộc ly khai của anh em Tin Lành. Trento xác định Tín Lý, cải tổ nếp sống, đề ra kỷ cương phân minh, đưa Giáo Hội Công Giáo ra khỏi tình trạng rã đám, nhưng đồng thời cũng tạo ra cho Giáo Hội một tính cách có phần thủ thế, khép kín.
Vatican 1 ( 1860 – 1870 ) thì họp vào một thời điểm thế giới Phương Tây đi vào một quá trình chuyển mình sâu rộng. Những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học đang từng bước khai sinh ra từ thời hiện đại. Trong quá trình đó, Giáo Hội bị phi bác từ nhiều phía, bị coi như một lực lượng trì trệ, lạc hậu, nhiều người thuộc những tầng lớp tiên phong trong mọi lãnh vực đang dần dần xa lánh Đức Tin.
Công Đồng Vatican 1 có cao vọng làm sáng tỏ Đức Tin giữa những dòng nước ngược đó. Nhưng Công Đồng chỉ họp được một khóa, lên án thuyết duy lý và công bố Ơn Vô Ngộ của Giáo Hoàng khi ngài chính thức xác định một điều gì về Đức Tin và Luân Lý, với tính cách là người kế vị Thánh Tông Đồ Phêrô ( Ex cathedra ). Sau đó chiến tranh bùng nổ giữa Pháp và Đức, nước Pháp bịi trận. Nước Ý thừa cơ chiếm lấy Nước Tòa Thánh. Đức Piô 9 xét rằng Giáo Hội không có được sự tự do cần thiết ở Roma, nên truyền lệnh ngừng họp Công Đồng.
Như vậy là trong lịch sử hai mươi thế kỷ, Giáo Hội họp hai mươi Công Đồng Chung, đủ thấy rằng đó là những biến cố lớn. Họp Công Đồng có nghĩa là Giáo Hội đang đứng trước những vấn đề hệ trọng, khiến cho các Giám Mục, là những người kế vị các Tông Đồ, từ khắp bốn phương phải quy tụ về quanh người kế vị Thánh Phêrô để nói lên tiếng nói quyền uy, và tỏ bầy giáo huấn chân truyền và chính thức của Giáo Hội. Công Đồng kết hợp với Đức Giáo Hoàng, và dưới sự lãnh đạo của ngài, là quyền bính tối thượng trong Giáo Hội.
89 năm sau khi Công Đồng Vatican 1 bị bỏ dở, Đức Gioan 23 triệu tập một Công Đồng mới. Đức Giáo Hoàng đưa mắt nhìn các vị Hồng Y đang lặng người kinh ngạc. Ngài kết luận: “Với các chư tôn đệ tử đây, thì không cần phải dài lời giải thích vì ý nghĩa lịch sử và pháp lý của những điều… chúng tôi vừa đề xuất”. Rồi ngài đi ra hành lang bên ngoài. Cộng đoàn đan sĩ khoảng ba chục anh em đã tề tựu chờ đón ngài. Ngài tươi cười: “Cha vừa thông báo một đại sự. Chiều nay, các đài phát thanh và báo chí thế nào cũng nói tới. Còn với các con, thì cha xin các con cầu nguyện”.

DƯ LUẬN XÔN XAO…

Chiều hôm đó, quả các đài phát thanh có loan tin. Ngày hôm sau, các báo ở Ý đăng tin này trên trang nhất. Nhưng phải công nhận rằng ngay lúc ấy tin này không gây chấn động. Người ta đang quan tâm tới việc thủ tướng Chu Ân Lai đến Moskva, sau khi chủ tịch Mao Trạch Đông thoái thác lời mời của ông Khruchtchev; tình hình hỗn loạn ở Algérie và Congo thuộc Bỉ, việc Liên Xô viện trợ cho Ai Cập 3 chiếc tầu ngầm.
Phản ứng của tờ báo chính thức của Vatican, Osservatore Romano cũng kỳ lạ. Một bài 8 cột dưới hàng tít: “Đức Giáo Hoàng Gioan 23 dự lễ cầu nguyện đặc biệt trong Đền Thánh trên đường Ostia”. Hàng tít phụ ghi: “Đức Thánh Cha loan báo những biến cố lịch sử trong đời sống Giáo Hội”, không nói rõ là biến cố gì. Hầu hết trang nhất ghi lại bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng trước công chúng. Về Công Đồng chỉ vỏn vẹn có 23 hàng trên 2 cột, nằm ở góc bên phải phía trên trang nhất. Mấy ngày sau nữa, tờ báo của Tòa Thánh vẫn chẳng có một lời nào về Công Đồng. Thì ra hầu hết mọi người ở Tòa Thánh đều chưng hửng, Osservatore Romano cũng chưa chuẩn bị gì về biến cố này.
Trong ca đoàn của đại học Urbaniana hát lễ hôm 25.1.1959 ở Đền Thánh Phaolô Ngoại Thành, có một Linh Mục sinh viên trẻ người Việt Nam đang học Phụng Vụ ở Roma là cha Nguyễn Văn Hòa. Ngày 11.12.2002, khi Tổng Giáo Phận Sàigòn tổ chức 3 ngày học hỏi và hội thảo để kỷ niệm 40 năm khai mạc Vatican 2, cha Nguyễn Văn Hòa, nay là Giám Mục Nha Trang và là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã nhắc lại bầu khí ở Roma trong những ngày ấy.Dư luận cho rằng việc Đức Hồng Y Roncalli thành Giáo Hoàng Gioan 23 là một bất ngờ, và ngài đưa Giáo Hội từ bất ngờ này sang bất ngờ khác; và Công Đồng là bất ngờ lớn nhất !
Các báo Ý dùng một lối nói giật gân, bảo rằng Đức Giáo Hoàng làm “đảo chính”. Từ “đảo chính” không thích hợp, không đúng. Từ 20 thế kỷ nay, Công Đồng vẫn là một cơ chế của Giáo Hội, không thể gọi là đảo chính được. Xem chừng các nhà báo có ý nói rằng Công Đồng sẽ lay chuyển một số thói quen lưu cữu trong Giáo Hội. Đức Cha Hòa kể lại một câu chuyện tiếu lâm không biết do ai sáng tác nhưng cánh nhà báo hứng chí loan truyền. Chuyện kể rằng Đức Hồng Y Ottaviani, vốn là một thủ lãnh của phe bảo thủ, mỗi sáng thức dậy đều băn khoăn tự hỏi: không biết hôm nay Đức Giáo Hoàng lại sắp loan báo chuyện gì đây ? Và vị Hồng Y già sốt sắng cầu nguyện để được chết trong Giáo Hội Công Giáo, kẻo Đức Giáo Hoàng loan báo thêm vài quyết định nữa, thì chẳng biết Giáo Hội có còn là… Giáo Hội Công Giáo nữa chăng ?
Tiếu lâm thì nói vậy, sự thật là ở Vatican có những người không mặn mòi lắm với sáng kiến của Đức Giáo Hoàng. Thái độ bảo thủ có cái lý của nó. Người bảo thủ là người đã tìm ra thế ổn định của mình trong một thể chế nào đấy có thể là không còn thích hợp với ai đó ở ngoài, nhưng lại rất bình an với người ở trong. Nhưng Công Đồng chắc chắn sẽ tạo ra những đổi mới. Trong những hành lang ở Vatican có mấy người làu bàu: “Công Đồng ư ? Lại sắp có một dịch cúm trong Giáo Hội rồi”. Có người còn tỏ ra bất kính: “Gặp phải lúc Đức Gioan 23 lên cơn điên…”
Ở Vatican đã vậy, trên thế giới, các vị Giám Mục cũng thấy ngỡ ngàng. Đức Hồng Y Spellman, Tổng Giám Mục New York, lúc đầu không tin: “Tôi nghĩ không phải Đức Giáo Hoàng loan báo Công Đồng đâu. Lời nói của ngài bị người ta hiểu sai đó thôi !”
Ở Pháp, những phản ứng đầu tiên trong hàng Giáo Phẩm không lấy gì làm nồng nhiệt. Người ta thắc mắc về ý nghĩa của quyết định, nhưng chưa lường được hậu quả. Hình như một số Giám Mục đã quá quen với định kiến từ ngày Đức Cha Roncalli còn làm Sứ Thần ở Pháp, rằng ngài chỉ là một người xuề xòa ba phải.
Một người không bảo thủ tí nào, trái lại, rất cởi mở, và sẽ là một nhân vật sáng chói trong Công Đồng, Đức Hồng Y Lercano, Tổng Giám Mục Bologna, cũng vô cùng phân vân. Trong chỗ riêng tư, ngài tâm sự với nhà văn Vittorio Gorresio: “Làm sao Đức Giáo Hoàng lại dám triệu tập một Công Đồng mới, một trăm năm sau Vatican 1 và không đầy ba tháng sau ngày ngài đắc cử ? Đức Giáo Hoàng Gioan là một người táo tợn, rất hấp tấp. Ngài thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm, thành ra hay làm chuyện ngược đời. Biến cố này lớn quá: sức khỏe ngài đã suy yếu sẽ tan biến mất thôi; người ta cứ khen ngài vì các nhân đức đối thần, đối nhân, chuyến này không khéo sụp đổ cả !”
Có lẽ Đức Hồng Y cũng nhận ra mình quá lời, ngài lại nêu ra giả thuyết khác: “Hoặc là Đức Giáo Hoàng Gioan đã hành động một cách táo bạo mà có tính toán, nhưng thật sự không tiên liệu được mọi chi tiết, và ngay cả nội dung các chất liệu sau này sẽ phát triển, hoặc là ta phải nhìn nhận rằng ngài ý thức rõ ràng về các nhu cầu và ngài có những lý do sâu xa của ngài”.
Giữa những bỡ ngỡ đó, có một vị Giám Mục đã tinh tế nhận ra ngay tầm quan trọng của biến cố: “Đây sẽ là Công Đồng lớn nhất, kích thước bao trùm cả hoàn cầu, và quan hệ cho toàn thế giới hiểu cả theo nghĩa địa lý lẫn nghĩa nhân văn… Công Đồng sẽ làm cho Roma trở nên thủ đô tâm linh của hoàn vũ, từ đó ánh sáng sẽ lan tới mọi nơi nào, mọi cơ chế nào có những con người xây dựng sự hợp nhất các dân tộc, sự an bình trong xã hội, sự cứu vớt những kẻ bé mọn, tiến bộ, công lý, tự do”.
Người có tầm nhìn cao vời như thế là Đức Cha Montini, Tổng Giám Mục Milano, là người sẽ kế vị Đức Gioan 23 trên Tòa Phêrô với danh hiệu Phaolô 6, và sẽ đưa Công Đồng Vatican 2 đến hoàn tất…

9

Đức Gioan 23 là người hồn nhiên và vui chuyện. Ngài nhiều lần kể lại ý tưởng họp Công Đồng đã đến với ngài như thế nào. Nhưng ngài kể trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, trong những mạch văn khác nhau, cũng chẳng quan tâm lắm vào sự xác định thời điểm trước sau thế nào…

9Theo lời ngài kể với một đoàn hành hương từ Venezzia đến, thì ngài quyết định ngỏ ý triệu tập Công Đồng với Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tardini vào sáng ngày 20 tháng 1. Sáng hôm ấy, ngài cử hành Thánh Lễ trong bản doanh của Đoàn Vệ Binh Quý Tộc, ngài khẩn khoản kêu mời cộng đoàn cầu nguyện cho “một ý chỉ đặc biệt”. Ngài vẫn thấp thỏm không biết vị Quốc Vụ Khanh sẽ phản ứng ra sao.
9 giờ sáng, theo thường lệ, ngài tiếp kiến Quốc Vụ Khanh. Đức Giáo Hoàng bắt đầu gợi lên cảnh “thế giới chìm đắm trong những âu lo cùng nhiễu động”. Giáo Hội phải làm gì đây ? “Con thuyền huyền nhiệm cũng Chúa Kitô bị bỏ mặc cho ba đào vùi dập, và trôi dạt theo sóng gió chăng ? Hay trái lại, người ta đang chờ đợi nơi Giáo Hội chẳng những là một cảnh báo mới, mà còn là một gương sáng rõ ràng nữa ? Nhưng ánh sáng đó là gì ? Đột nhiên một ý tưởng lớn trào lên trong chúng tôi, rực sáng cả tâm hồn. Chúng tôi đón nhận nó với một Lòng Tin không lời nào tả xiết vào Thầy Chí Thánh và phát ra một lời tôn nghiêm, một hiệu lệnh. Lần đầu tiên chúng tôi nói ra thành tiếng: một Công Đồng”.
Còn Hồng Y Tardini thì “Mở to mắt như thế này này…” Vị Quốc Vụ Khanh nói: “Vâng, vâng, một Công Đồng… Đúng là một ý tưởng lớn. Những việc đẹp đẽ và mới mẻ đó, là hay lắm, thời đại này đòi hỏi như vậy !”
Khi đó Đức Giáo Hoàng mới tiết lộ rằng ngài có ý thông báo dự định của mình cho các Hồng Y vào Chúa Nhật sau ngày 20 tháng 1, ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành. Đức Hồng Y Tardini thưa: “Tâu Đức Thánh Cha, ngài có lý. Cách làm đó tiếp nối những truyền thống cổ của Đức Giáo Hoàng”.
Ngài Tardini cáo từ. Trái với điều một số người đã viết, sự tán đồng của vị Quốc Vụ Khanh không phải là tán đồng chiếu lệ cho phải đạo. Vì ngay chiều hôm đó, ngài ghi vào ký sự của mình cuộc hội kiến lịch sử, rằng sáng kiến của Đức Giáo Hoàng là “tân kỳ” và “rất hợp thời”.
Trở lại với Đức Thánh Cha, như trên đã nói, ngài không quan tâm lắm đến thời điểm chính xác. Đúng là ngài đã ngỏ ý với Đức Hồng Y Tardini lần đầu vào ngày 20 tháng 1. Nhưng ý tưởng về “con thuyền huyền nhiệm của Chúa Kitô giữa sóng gió biển khơi” thì đã đeo đuổi ngài từ lâu trước. Còn “đột nhiên một ý tưởng lớn trào lên” và được “đón nhận với một Niềm Tin không lời nào tả xiết” thì chính xác là lúc nào ? Hình như không phải là trong buổi sáng ngày 20 tháng 1 đó.
Khi Đức Gioan 23 nói rằng “trước đó”, ngài “chưa bao giờ nghĩ tới”, thì phải hiểu “trước đó” là trước khi lên ngôi Giáo Hoàng. Ngay sau khi đắc cử, ngài muốn tham khảo ý kiến của Hồng Y Đoàn. Từ những ngày đầu tiên, ngài đã tiếp kiến nhiều vị, với mỗi vị ngài đều nói: “Hãy chỉ cho tôi thấy những cải tổ nào ngài xét là cần thiết. Đừng ngại nói thẳng với tôi. Tôi muốn biết tất cả mọi sự”.
Chỉ một ít lâu, Đức tân Giáo Hoàng đã nhận ra rằng tư tưởng của nhiều vị Hồng Y cũng trùng hợp với tư tưởng của ngài: có nhiều điều trong Giáo Hội phải cải cách. Nhưng làm thế nào và phải bắt đầu từ đâu ?
Chỉ 5 ngày sau khi đắc cử, tức là chiều 2 tháng 11, ngài đã nói với thư ký riêng:“Ci vuole un concilio – Phải có một Công Đồng mới được”. Ngày đó và nhiều ngày sau nữa, cho đến tận sau Lễ Giáng Sinh, ngài gợi lên vấn đề này với nhiều người. Một người bạn cũ, Don Giovanni Rossi, tường thuật lần nói chuyện với Đức Gioan 23 ngày 9.1.1959:
“Tôi phải nói cho ông biết một điều quan trọng. Đêm vừa rồi tâm trí tôi nẩy ra ý tưởng lớn: loan báo một Công Đồng Chung. Còn giữ kín đấy, ông đừng nói với ai…” – “Tâu Đức Thánh Cha, đó là một ý tưởng rất đẹp”.
Đức Gioan gật gù rồi cười mím chi: “Này, bảo rằng Chúa Thánh Thần trợ giúp Đức Giáo Hoàng là không đúng đâu !” Cha Giovanni ngạc nhiên: “Thưa Đức Thánh Cha nói sao ?” – “Tôi bảo nói Chúa Thánh Thần trợ lực Đức Giáo Hoàng là không đúng đâu. Tôi đang hầu việc Người thì có. Bởi vì chính Người mới làm tất cả. Công Đồng là ý tưởng của Người đấy chứ”.
Chẳng qua là một cách hóm hỉnh để nói về “Lòng Tin không lời nào tả xiết” của một tâm hồn đã hay đang “rực sáng”. Những lúc tha thiết với một điều gì, ngôn ngữ của Đức Gioan 23 có chất thơ: “Ý tưởng về Công Đồng không phải là trái chín của những suy nghĩ lâu ngày, nhưng như hoa của một mùa xuân tôi không chờ đợi”.
Thì đúng là ngài không chờ đợi. Bởi mãi cho đến năm 1958, cả ngài lẫn những người khác có chờ đợi việc ngài lên ngôi Giáo Hoàng đâu ? Vậy nhưng cả lúc không ai ngờ, cuộc đời vẫn lẳng lặng chuẩn bị đường đi nước bước khiến cho những năm cuối đời, những năm tuổi già lại cho ngài ghi vào lịch sử và Giáo Hội dấu ấn đậm đà và phong phú nhất.
Hồi còn là Linh Mục trẻ, 24 tuổi, cha Roncalli được Đức Cha Radini Tedeschi, Giám Mục Bergamo chọn làm thư ký riêng. Đức Cha Radini này là một nhân vật đặc sắc. Lịch sử Giáo Hội giống như những trường canh trong một bản nhạc, có thì nặng thì nhẹ, những thời kỳ Giáo Hội xông xáo mở những con đường mới, sẽ được nối tiếp bởi một thời kỳ bảo thủ hơn để củng cố nội bộ. Khi Angelo Giuseppe Roncalli chào đời năm 1881, Giáo Hội đang sống dưới triều đại của vị Giáo Hoàng thiên tài Lêô 13 ( 1778 – 1802 ), người mở đường cho Giáo Hội vốn rất bảo thủ biết đường đi vào thế giới mới đã thành hình trong mọi địa hạt chính trị, xã hội, văn hóa, học thuật.
Năm Chủng Sinh Roncalli chịu chức Trợ Phó Tế và lấy bằng cử nhân Thần Học, thì đến khi Đức Lêô 13 qua đời ( 20.7.1903 ), và triều đại của Đức Thánh Giáo Hoàng Piô 10 ( 1903 – 1913 ) bắt đầu, sẽ bảo thủ hơn, khép kín hơn, tạo ra một bước lùi biện chứng trong nhịp đi bước nặng bước nhẹ của Giáo Hội. Đức Cha Radini là một Giáo Sĩ xuất sắc làm việc dưới quyền của Đức Hồng Y Rampolla trong phủ Quốc Vụ Khanh của Đức Lêô 13. Năm 1905, Đức Piô 10 cử ngài làm Giám Mục Bergamo, quê hương của cha Roncalli, vừa được thụ phong Linh Mục và lấy bằng tiến sĩ Thần Học có vài tháng trước.
Đức Piô 10 nói với vị tân Giám Mục: “Để cổ võ Đức Cha, tôi có thể đoan chắc với Đức Cha rằng xét về những an ủi mục vụ đối với một vị Giám Mục, thì Bergamo là Giáo Phận đứng nhất nước Ý”. Thế nhưng những người biết chuyện vẫn cảm thấy rằng đây là một vụ thăng quan để đẩy đi xa. Và quả nhiên Đức Piô 10 tuy rất quý mến Đức Cha Radini, vẫn tỏ ra e dè vì Đức Cha Radini rất phóng khoáng với những tư tưởng mới. Phần Đức Cha Radini cũng có lần đau đớn than rằng: “Bao nhiêu công sức của bốn mươi năm qua đã tan tành hết”. Âu đó là quá trình của hạt giống gieo xuống lòng đất. Không phải mọi cái đều tan tành, nhưng nếu hạt giống không tan biến đi, thì nó không sinh nhiều hạt khác.
Quả thế, đến năm 1914, một người đồng nghiệp của Đức Cha ở phủ Quốc Vụ Khanh và cũng được gửi đi làm Giám Mục ở xa trung ương là Đức Hồng Y Della Chiesa, lên ngôi Giáo Hoàng với danh hiệu Bênêđitô 15, tiếp nối đường lối của Đức Lêô 13 nhưng khi đó Đức Cha Radini vừa qua đời.
Cha Roncalli được sát cánh với vị Giám Mục vừa tân tiến, vừa đầy sức sống này. Cha được mệnh danh là “bóng Đức Giám Mục”. Rất nhiều công việc chồng chất lên vai cha. Không biết sao giữa lúc bận bịu thế, cha Roncalli lại bắt đầu thích nghiên cứu. Cha tìm hiểu về ba nhân vật lớn của lịch sử Giáo Hội Ý: Hồng Y sử gia Caesar Baronius ( 1538 – 1607 ), Hồng Y Gregorio Barbarigo, Giám Mục Bergamo ( 1627 – 1697, sau này được phong Thánh ) và nhất là Thánh Carlo Borromeo ( 1538 – 1584 ), Tổng Giám Mục Milano.
Vì nghiên cứu về Thánh Borromeo cho nên cha Roncalli nhiều lần tìm gặp vị quản thủ thư viện nổi tiếng Ambrosiana ở Milano, là Đức Ông Ratti, sau này sẽ là Đức Giáo Hoàng Piô 11 ( 1922 ). Càng đọc những trang viết tay của Thánh Borromeo, rút ra từ trong tàng thư, cha Roncalli càng mê. Từ đó, mỗi khi có thì giờ rảnh rỗi, cha lại nghiên cứu và trước tác, cứ như thế kiên trì suốt 49 năm. Kết quả là một công trình nghiên cứu khổng lồ: “Gli atti della visita apostolica di S. Carlo Borromeo a Bergamo” ( 1575 ): Tư liệu về cuộc viếng thăm mục vụ của Thánh Carlo Borromeo ở Bergamo ( 1575 ), gồm 5 quyển dày cộm, quyển đầu xuất bản năm 1936, và quyển cuối năm 1957, chỉ một năm trước khi Đức Cha Roncalli lên ngôi Giáo Hoàng.
Có thể nói đây là duyên tiền định giữa ngài Roncalli với Thánh Carlo Borromeo, bởi Carlo Borromeo chính là vị Thánh đã “phục vụ Giáo Hội trong một Công Đồng”, là Công Đồng Trento, và “hoàn cảnh cho thấy Chúa đã quan phòng cho ngài góp phần vào thành công chung cuộc của Công Đồng; rồi suốt hai mươi năm sống thánh thiện và thánh hóa người khác ( từ 1565 – 1584 ), ngài đã hiến cả cho sự áp dụng thành công tốt đẹp các quyết định của Công Đồng, phục hưng được sự sống trong Giáo Hội…” ( Diễn văn ngày 4.11.1962 ).
Thành ra nghiên cứu lịch sử Thánh Carlo chính là nghiên cứu những tác động tốt lành của Công Đồng Chung thứ 19. Suốt 49 năm tâm đắc với Thánh Borromeo, chẳng bao giờ ngài Roncalli lại nghĩ rằng có ngày mình sẽ là người triệu tập Công Đồng Chung thứ 21. Vậy mà cái ngày ấy đến, đột ngột mà như được thầm kín chuẩn bị từ bao giờ…

10

Vào lúc cha Roncalli bắt đầu nghiên cứu Thánh Carlo Borromeo, quan điểm của cha về các vấn đề xã hội cũng có bước phát triển.

10Trong thế kỷ 19, sự phát triển mau chóng của công nghiệp, kỹ nghệ làm thay đổi nếp sống và các mối tương quan xã hội. Giai cấp công nhân hình thành. Người lao động bị bóc lột, đưa tới bất ổn xã hội nghiêm trọng. Vấn đề công bình xã hội cần phải được đặt lại vì cơ sở vật chất và các mối tương quan kinh tế đã thay đổi. Phải nhìn nhận người Công Giáo đã chậm chân trong lãnh vực này. Tuy có một số người đại độ lao vào nghiên cứu và đề nghị giải pháp, nhưng Giáo Hội nói chung và Giáo Quyền nói riêng, đã thiếu nhạy cảm trước một thực tại sẽ chi phối tương lai lâu dài.
Hạ bán thế kỷ 19, những người xông xáo nhất ở Châu Âu đã đấu tranh cho các công nhân bị bóc lột, tiếc thay, lại là những người vô thần, và trong số những người ấy nổi lên gương mặt của Karl Marx. Sự thể này sẽ để lại nhiều di lụy đau đớn cho Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng Lêô 13 tạo ra đột phá cho thế bí này với Thông Điệp Rerum Novarum ( 1891 ) về các vấn đề xã hội. Nhờ sự mở đường này, các tín hữu Công Giáo ở Tây Âu đã góp phần đáng kể tạo ra xã hội hiện đại và làm sáng tỏ các giá trị Kitô giáo.
Từ ngày về làm thư ký cho Đức Cha Radini, cha Roncalli được tiếp xúc với nhiều chiến sĩ xã hội. Giáo Phận Bergamo là nơi tích cực học tập và hưởng ứng Thông Điệp Rerum Novarum. Mùa Thu 1909, tám trăm công nhân nhà máy dệt ở Ranica, gần Bergamo, thành lập “Liên Minh Công Nhân”. Ban giám đốc nhà máy phản ứng bằng cách sa thải phó chủ tịch Liên Minh, và giảm giờ làm việc. Toàn thể công nhân liền đình công. Họ đòi nhà máy phải thu nhận lại vô điều kiện người phó chủ tịch, tăng lương và ký hợp đồng minh bạch với công nhân. Cuộc đình công kéo dài 50 ngày từ 21 tháng 9 đến 8 tháng 11 năm 1909.
Chỉ đình công có nửa tháng là các gia đình công nhân đã lâm cảnh thiếu thốn. Đình công một tháng thì trắng tay. Tờ báo Công Giáo “Eco di Bergamo”, rất thân cận với Tòa Giám Mục, quyết định mở lạc quyên để ủng hộ các công nhân đình công. Đức Cha Radini liền tỏ rõ lập trường. Ngài là người đầu tiên đăng ký đóng góp, số tiền là 500 lira. Ngay hôm sau, tờ báo bảo thủ miền Lombardia, “Perseveranza” đăng bài đả kích dữ dội vị Giám Mục và tố cáo ngài “thiên vị”: “Dâng cúng như vậy là phong Thánh cho vụ đình công, là ra mặt ủng hộ một chế độ hiển nhiên là xã hội chủ nghĩa !” Đây đó phe bảo thủ làm ầm ĩ chuyện này. Thậm chí ở Vatican cũng có người tỏ thái độ ác cảm.
Trong dịp này, Đức Giáo Hoàng Piô 10 đã thẳng thắn bênh vực Đức Cha Radini. Giữa lúc đình công còn đang tiếp diễn, ngài viết cho Đức Cha một bức thư: “Tôi không thể phi bác những điều mà Đức Cha, với tất cả sự thận trọng, đã nghĩ là cần phải làm, vì Đức Cha biết rõ địa phương, biết người, biết hoàn cảnh…”
Lá thư của Đức Giáo Hoàng làm cho những người chống đối Đức Cha Radini phải im tiếng. Mà nào Đức Cha Radini có “đỏ”, có cấp tiến gì đâu cho cam. Có thể đặt Đức Cha, cũng như Đức Lêô 13 vào số những người bảo thủ sáng suốt, tức là những người hiểu rất rõ phần hồn của những gì là tốt trong những cái cũ, và vì thế mà có khả năng “ứng vạn biến”, mở ra cái mới để tiếp nối cái phần hồn tốt lành đó, trong khi những người thủ cựu chỉ biết bám lấy những lề thói, những công thức sáo mòn, còn cái vỏ nhưng hết sức sống rồi.
17 năm sau Thông Điệp Rerum Novarum, Đức Cha Roncalli chỉ ứng dụng những chỉ đạo của Đức Lêô 13. Nhưng vụ việc cũng cho thấy 17 năm vẫn chưa đủ để xói mòn những thách đố trì trệ và những lực cản trong Giáo Hội. Nói chung, cuộc sống trong Giáo Hội vẫn là một tiến bước nhẫn nại kiên trì. Giáo Hội không ưa đảo lộn, không thích coi thường hạ bệ người cũ, chỉ thích làm dòng suối nước chảy đá mòn, dù có lúc dòng suối cũng oằn oại, sủi tăm, biến thành thác lũ. Như vậy có chậm chạp quá, có thủ phận quá chăng ? Hay là nhờ thế mà tránh được nhiều điều bi thảm thường không thể tránh trong những khi “cách mạng”. Vấn đề vẫn cần phải đặt ra cho Dân Chúa lựa chọn đường mình đi, ở mỗi tình huống cụ thể…
Đến tháng 11, cuộc đình công Ranica đã chấm dứt. Cha Roncalli viết một bài dài về vụ này, đăng trong tờ nội san “Sinh Hoạt Giáo Phận” ( Vita Diocesana ). Đại để cha viết rằng hiển nhiên ta phải tìm kiếm sự an bình trong sinh hoạt và trong xã hội. Và một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Linh Mục là rao giảng hòa bình. Nhưng khi những quyền của con người bị đe dọa thì đình công là điều chính đáng. Chức năng của Linh Mục không phải là đích thân trực tiếp tham gia vào hoạt động xã hội. Nhưng Linh Mục phải dứt khoát bênh vực các tổ chức do nhu cầu nghề nghiệp.
Bảy năm sau, cha Roncalli còn trở lại vấn đề này như sau: “Những người, kể cả những người tốt bụng, vẫn nghĩ rằng một chính nghĩa không thể được ủng hộ nữa, mỗi khi dùng đến một số phương tiện có thể đưa đến những sự sa sẩy. Đức Cha Radini Tedeschi thì không nghĩ thế. Ở Ranica, sự được thua không phải là chuyện lương bổng hay cá nhân, nhưng là một nguyên lý: nguyên lý căn bản về tự do và về sự tổ chức lao động theo tinh thần Đạo Kitô, đứng trước tổ chức hùng mạnh của tư bản. Vì lẽ đó, đối với Đức Giám Mục, dứt khoát đứng về phía những người đình công là chu toàn một hành động có tính Kitô cao sâu, là một công trình của lẽ công bằng, của bác ái, và của hòa bình xã hội.”
Nếu xét rằng, hồi ở Chủng Viện, chủng sinh Roncalli đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng thủ cựu, thì lập trường của cha bây giờ cho thấy cha đã đi một chặng khá dài vào thực tế thời đại, dưới sự hướng dẫn của Đức Cha Radini. Hai năm trước cuộc đình công Ranica, Thông Điệp Pascendi của Đức Giáo Hoàng Piô 10 đã mở đầu cho giai đoạn gay gắt của cuộc khủng hoảng mang tên là cuộc khủng hoảng duy tân ( modernisme, modernism ). Trong lịch sử Giáo Hội đầu thế kỷ 15, “duy tân” là tên gọi không phải của một học thuyết nào nhất định, nhưng là một khuynh hướng bàng bạc nổi lên trong nhiều lãnh vực.
Trào lưu duy tân xuất phát từ những bước đầu muốn đưa những thành quả của tư duy và phương pháp nghiên cứu cận đại vào lãnh vực Thần Học và Giáo Hội. Triết lý duy tân cuối thế kỷ 19 cộng với lối tiếp cận Thánh Kinh bằng khoa phê bình văn sử, đưa đến một số lập luận không phải là không hay, nhưng trong khí thế canh tân, có nguy cơ tác động tai hại đến Đức Tin, giống như khi một người chưa thạo lái xe càng tăng tốc.
Trong số những chân lý được khuynh hướng duy tân làm nổi rõ, ta có thể kể:
1. Cảm nghiệm tôn giáo nội tâm là nhân tố cốt yếu của đời sống tâm linh; Đức Tin bắt nguồn và phát xuất từ đó.
2. Những công thức tín lý không bao giờ có thể lột tả hết được nội dung hàm chứa bên trong.
3. Mạc khải trước tiên và trên hết là để cứu độ con người, để đưa lại cho nhân sinh một chất lượng mới, chứ không phải là để tạo ra những câu chữ lý thuyết.
4. Mạc khải được triển khai từ từ từng bước trong đời sống Giáo Hội, và phải trải qua nhiều nỗi thăng trầm.
5. Kinh Thánh, cũng như mọi nguồn của truyền thống Đạo Kitô, phải được nghiên cứu bằng cách ứng dụng những phương pháp phê bình khoa học nhất mà ta hiện có.
Những điểm trên đây ngày nay được Giáo Hội công nhận. Nhưng những chân lý này được chuyển tải giữa những lập luận, những lối diễn tả và những thái độ sống vàng thau lẫn lộn, có nguy cơ làm tan biến Đức Tin, vì:
a. Cảm nghiệm tôn giáo nội tâm dẫu quan trọng vẫn không thể tự nó làm phát sinh ra Đạo Kitô được.
b. Các công thức tín lý không chỉ là kết quả của những cố gắng gọt dũa câu chữ cho sát với một cảm nghiệm nội tâm nhất thời. Nhưng tự chúng quay về một nội dung khách quan nhất định, không lệ thuộc cõi nội tâm chủ quan của con người.
c. Sự phát triển Tín Lý và sự hiểu biết mạc khải không chỉ là một tiến trình thuần túy tự nhiên. Tiến trình tự nhiên có khi soi sáng cho ta nhiều điều, những khi khác có thể bóp méo Tin Mừng.
d. Kinh Thánh và các nguồn khác làm chuẩn mực Tín Lý không chỉ là những văn kiện lịch sử thuộc về sử học, đó còn là những cách diễn tả, những kết tinh của Đức Tin chung của Giáo Hội, không thể lãnh hội bên ngoài Đức Tin chung đó.
Nói tóm lại, nguy cơ của khuynh hướng duy tân là giản lược Đạo vào Đạo nội tâm chủ quan của con người, với tất cả những biến đổi vô chừng của nó.
Đức Giáo Hoàng Piô 10 không phải là một trí tuệ xuất chúng như vị tiền nhiệm của ngài là Đức Lêô 13. Nhưng ngài nổi tiếng vì sự nhân từ, vì đời sống cầu nguyện và thần hiệp, vì Lòng Tin trong sáng rực cháy như lửa hồng. Ngài không biện luận nhiều, nhưng thấy rõ rằng những lập luận nghe ra có vẻ sâu sắc trên những tầng cao trí thức có thể đẩy Đức Tin đơn sơ của cộng đồng Dân Chúa vào một thể tan loãng, bồng bềnh, mờ mịt.
Thế là ngài quyết định cắt khối u. Ba biện pháp lớn nối tiếp nhau ! Sắc Lệnh Lamentabili của Bộ Thánh Vụ năm 1907 lên án một số mệnh đề Thần Học, được tiếp nối bởi Thông Điệp Pascendi của Đức Giáo Hoàng cũng trong năm đó. Ba năm sau, 1910, Tòa Thánh bắt tất cả các Giáo Sĩ đều phải tuyên lời thề chống duy tân.
Ngày nay, Giáo Hội phải cám ơn Đức Piô 10, vì trong một tình thế tư tưởng chông chênh, ngài đã tạo ra một điểm dừng cần thiết, có thể gây bất bình cho một số nhà trí thức, nhưng Giáo Hội là toàn Dân Chúa đang lữ hành, không thể không có thì giờ để kiểm điểm và định hướng trước những chân trời mới.
Nói thế không có nghĩa là những biện pháp chống duy tân của Tòa Thánh không tạo ra những khó khăn mới. Thói đời có những người thích đánh hôi, một khi đã có thể núp bóng Đức Giáo Hoàng, họ liền ra tay, không biết để thỏa những ấm ức gì. Có thể là trong lòng họ có những dồn nén bất an nào đó. Dù sao chỉ trong một thời gian ngắn, cả một mạng lưới dò xét, giống như một cơ quan mật vụ, đã thành hình. Từ chủng sinh còn ngồi trên ghế nhà trường, đến các giáo sư trên bục giảng; từ các vị Linh Mục trong nhiệm vụ giảng thuyết đến các vị Giám Mục, Hồng Y, không một ai thoát khỏi sự xoi mói. Một bầu khí nặng nề bao trùm lên Giáo Hội. Những người danh tiếng như Đức Hồng Y Mercier, Tổng Giám Mục Malines ( Bỉ ), hay Đức Hồng Y Ferrari, Tổng Giám Mục Milano ( Ý ) đều bị theo dõi.

11

Hồi Thế Chiến thứ nhất, quân đội Đức chiếm đóng nước Bỉ một lần khám nhà một luật gia ở Gand và tịch thu một số tài liệu. Khi kiểm duyệt thì thấy những tài liệu này không liên quan gì tới chính trị, nhưng toàn nói chuyện tôn giáo, với nhiều bí danh, mật mã. Họ trả lại mớ tài liệu này cho khổ chủ, sau khi đã sao chụp để lưu giữ.

1Từ đó người ta mới phát hiện là đã có cả một tổ chức bí mật, được một Giáo Sĩ điều động từ Roma, phân nhánh đi khắp Châu Âu. Tổ chức này mang tên Sodalitium Pianum ( Hội Ái Hữu Thánh Piô 5 ) với bí danh La Sapinière, chỉ chuyên theo dõi, vạch lá tìm sâu, bôi nhọ, gây dư luận xấu, và nhiều lần ném đá giấu tay, để làm hại bất kỳ ai mà họ nghi ngờ là có ít nhiều hơi hướng Duy Tân.
Thì ra trong Giáo Hội có một số người nào đó có tâm trạng hoảng loạn, ám ảnh, nhìn đâu cũng thấy anh em mình rối đạo. Và họ đã cùng nhau tạo ra cả một bầu khí mật vụ, khủng bố tinh thần.
Đức Giáo Hoàng Piô 10 có can thiệp một vài lần, khi ngài biết chuyện. Có những anh “nhà báo Công Giáo” bị gọi vào Vatican, phải quỳ nghe Đức Giáo Hoàng quở trách nặng lời và bắt đi xin lỗi những vị Giám Mục mà họ vu khống. Nhưng đã gọi là tổ chức bí mật thì Đức Giáo Hoàng làm sao biết hết được việc họ làm. Cho nên những trò đả kích công khai lẫn lén lút vẫn đục ngầu ở khắp nơi. Nhiều vị Hồng Y, Giám Mục phải lên tiếng cảnh báo.
Đức Cha Mignot, Tổng Giám Mục Albi ( Pháp ) phải thừa nhận: “Lòng quý mến đối với Giáo Hội đang mất dần, nhất là nơi những nhà tư tưởng và nhà bác học”, còn trong Giáo Hội thì “những người lao động trí thức bị mất tinh thần, họ bị tố giác, săn đuổi, hay thóa mạ trên một số báo chí nằm trong tay của một quyền lực ngấm ngầm”… “Các Đại Chủng Viện, các Học Viện của các Dòng Tu và các giới đại học đều không thoải mái”.
Trong bối cảnh đó, Đức Cha Radoni và thư ký của ngài, cha Roncalli, không thoát khỏi sự dòm ngó. Người của tổ chức Sodalitium Pianum ở Bergamo là một Tu Sĩ, cha Mattiussi. Cha giảng dạy ngay trong trường Công Tác Xã Hội ( Scuola Social ) do Đức Cha Radini sáng lập. Cha liền sử dụng bục giảng để liên tục đả kích phái Duy Tân, phái cấp tiến, báo chí Công Giáo vùng Lombardie, và phong trào xã hội. Kể cả Đức Giáo Hoàng Lêô 13, cha cũng không tha. Về mặt công khai, đó là gián tiếp kết án Đức Cha Radini và đường lối của ngài. Còn ngấm ngầm thì đã có người tố cáo Đức Cha cùng với cha Roncalli lên Bộ Giáo Sĩ ở Roma.
Đến một lúc Đức Cha Radini chịu hết nổi. Ngài giao cho 10 giáo sư Chủng Viện, trong đó có cha Roncalli ( đang dạy môn Giáo Sử ), mổ xẻ tới nơi tới chốn các bài diễn thuyết của cha Mattiussi và đưa ra câu trả lời. Chính cha Roncalli được giao nhiệm vụ chấp bút để trả lời trên nội san Giáo Phận. Cha viết một bài khá mạnh, không thiếu sự châm chọc. Trong bài cha bày tỏ sự ngán ngẩm đối với não cuồng tín trong tôn giáo.
Vài năm sau, cha còn nhắc lại việc này và nói thêm: “Đúng là ta phải nói sự thật, tất cả sự thật, nhưng tôi không hiểu tại sao lại phải pha chế vào đấy những sấm rền chớp giật của núi Sinai, thay vì sự bình an thanh thản của Chúa Giê-su trên bờ hồ và trên sườn núi. Nhiều lần, khi nghe cha Dòng diễn thuyết, tôi đã cố gắng theo phản xạ tự nhiên của mình để cảm nhận những sự tốt lành trong hệ thống của cha. Nhưng xin thú thực là tôi không cảm được. Cung cách của cha tương khắc với tôi nhiều quá”.
Tình trạng căng thẳng này trong Giáo Hội kéo dài từ 1907 đến 1912 thì bắt đầu có dấu hiệu biến chuyển. Trong tài liệu người Đức phát hiện ở Bỉ có đoạn ghi: “Vào mùa Xuân, Charles đã dọa Michel và Georges rằng nàng Nellie sẽ chết vì thiếu tự do. Ông Georges vốn thận trọng vô cùng nên đã áp lực không ngừng lên nàng Nellie tội nghiệp khiến cho nàng có nguy cơ sẽ chết vì kiệt sức.” Tất cả những bí danh đó có nghĩa là: “Vào mùa Xuân, Đức Ông Benigni đã dọa Đức Giáo Hoàng Piô 10 và Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Merry Del Val rằng báo Correspondance de Rome ( Tin Thư Roma ) sẽ chết vì thiếu tự do. Hồng Y Merry Del Val vốn thận trọng vô cùng đã gây áp lực khiến cho tờ báo có thể phải đóng cửa”.
Đức Ông Benigni làm việc trong Bộ Giáo Sĩ, về sau, tài liệu phát hiện ở Bỉ cho biết chính đó là người điều khiển tổ chức Sodalitium Pianum. Còn “Tin Thư Roma” là tờ báo của Đức Ông Benigni viết bằng tiếng Pháp làm đầu trò cho tất cả hệ thống thông tin và gây dư luận nghi kỵ trong Giáo Hội. Cũng trong năm đó, đột nhiên Đức Ông Benigni phải ra khỏi điện Vatican. Và đến năm sau, 1913, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Merry Del Val ra lệnh đóng cửa báo Correspondance de Rome.
Một ngày mùa Xuân 1914, Đức Giáo Hoàng Piô 10 đứng trước các Hồng Y trong Giáo Triều và xướng danh 14 vị tân Hồng Y mà ngài vừa tuyển chọn. Người ta để ý một chi tiết: tên các vị tân Hồng Y đã được Phủ Quốc Vụ Khanh viết chữ rất đẹp, nhưng ở giữa danh sách, Đức Giáo Hoàng đã tự tay viết thêm vào tên Đức Cha Giacomo Della Chiesa, Tổng Giám Mục Bologna.
Năm 1907, Đức Cha Della Chiesa đang làm việc ở Phủ Quốc Vụ Khanh được cử đi làm Tổng Giám Mục Bologna. Ngay từ lúc đó đã râm ran dư luận rằng đây là một vụ thăng chức để đẩy đi xa, vì Đức Cha Della Chiesa không đồng ý với chiến dịch tố cáo đang bùng phát trong Giáo Hội. Dư luận này xem ra có lý: theo truyền thống thì Tổng Giám Mục Bologna bao giờ cũng là một Hồng Y, có khi vừa được phong Tổng Giám Mục đã nhận ngay mũ đỏ, nếu không thì cũng lãnh mũ đỏ trong lần phong Hồng Y gần nhất. Với Đức Cha Della Chiesa thì không thế, một năm, hai năm, ba năm, rồi sáu năm qua đi, vẫn chẳng có áo đỏ, mũ đỏ, khiến cho dân Bologna vừa ngạc nhiên, vừa buồn.
Thế rồi đến năm thứ bẩy, Đức Thánh Cha tự tay ghi thêm tên ngài vào trong một danh sách đã soạn sẵn. Như vậy, phải chăng đường lối Đức Cha theo đuổi, vì nó mà ngài bị nghi ngờ, nay đã được Ơn Trên soi thấu ?
Đã đến một khúc quanh mới trong Giáo Hội và trong xã hội. Hai tuần sau khi vị tân Hồng Y trở về Giáo Phận Bologna, xảy ra vụ ám sát Đại Quận Công Thái Tử Francis Ferdinand của nước Áo và phu nhân ở Sarajevo hôm 18.6.1914. Tháng sau, ngày 28 tháng 7, nước Áo tuyên chiến với Serbia. Trong thế trận liên minh giữa các nước hồi đó, như thế có nghĩa là chiến tranh sẽ lan rộng ở Châu Âu. Ngày 1 tháng 8, nước Đức vào cuộc và tuyên chiến với nước Nga. Ngày 3 tháng 8, Đức tuyên chiến với Pháp. Ngày 4 tháng 8, Anh tuyên chiến với Đức, và quân Đức vượt biên giới xâm lăng nước Bỉ trung lập. Thế Chiến thứ nhất đã bắt đầu.
Thánh Piô 10 là một người có ơn tiên tri. Ngài đã nhiều lần tiên báo về một cuộc đại chiến sẽ xảy ra trước cuối năm 1914. Từ đầu năm 1914, người ta thấy ngài buồn bã khác thường. Những khi ngài nhắc tới cuộc chiến sắp tới, người ta có cảm tưởng như ngài đang nhìn thấy trước mắt những cảnh máu lửa khủng khiếp. Một nỗi đau xé lòng đối với ngài là khi các Chủng Sinh thuộc 8 nước tham chiến đang du học ở Roma bị gọi về nước để thi hành nghĩa vụ quân sự. Ngày đêm ngài cầu nguyện: “Tôi xin dâng mạng sống khốn khổ của tôi này làm lễ vật toàn thiêu, để ngăn cản bao nhiêu con cái tôi khỏi cảnh tương tàn thảm sát”… “Tôi đau đớn cho tất cả những ai ngã gục trên chiến trường… Chao ôi ! Cuộc chiến này !… Cuộc chiến này, tôi sẽ chết vì nó mất thôi !”
Ngài kêu gọi mọi người cầu nguyện cho chiến tranh lùi xa, cho các nhà lãnh đạo biết nghĩ đến hòa bình, đừng gây tang tóc. Tiếc thay, ở các nước tham chiến, cả người Công Giáo cũng chỉ nghĩ đến chuyện hận thù. Người ta nói, chỉ trong vài tuần, ngài già đi cả chục tuổi. Giáo sư Marchiafava, bác sĩ của ngài, nói không thể bảo chiến tranh là nguyên nhân trực tiếp khiến ngài tắt thở, nhưng hiển nhiên chiến tranh đã làm cho ngài chết sớm. Đức Giáo Hoàng qua đời lúc 1g15 ngày 20.8.1914, không đầy 3 tuần sau khi Thế Chiến bùng nổ. ( Đức Piô 10 được tuyên phong Hiển Thánh ngày 29.5.1954 ).
Ngày 31 tháng 8, 57 vị Hồng Y vào Mật Hội để bầu Giáo Hoàng kế vị. Sáng ngày 3.9, khói trắng bốc lên trên nóc nhà nguyện Sixtina, báo hiệu bầu cử đã có kết quả. Dân Roma và khách quốc tế lại tưng bừng đổ về quảng trường Thánh Phê-rô. Hồng Y Della Volpe xuất hiện ở lan can sân thượng tiền đình Đền Thờ Thánh Phêrô để xướng danh Đức Tân Giáo Hoàng: “Ngài Giacomo Della Chiesa, đã nhận danh hiệu là Bênêđitô 15”. Thì ra là vị Tổng Giám Mục Bologna, người đã 7 năm như bị Trung Ương quên lãng, chỉ mới được phong Hồng Y trước đó 3 tháng.
Tháng 11.1914, Thông Điệp đầu tiên của vị tân Giáo Hoàng nhan đề “Ad Beatissimi”, cho thấy những định hướng của Giáo Hội trong giai đoạn mới. Đức Bênêđitô 15 tha thiết kêu gọi hòa bình. Kế đó, ngài đề cao những thành quả của triều đại Piô 10: lòng đạo đã được nâng cao trong toàn thể Giáo Hội, Giáo Sĩ cũng như Giáo Dân; hoạt động của các Hiệp Hội Công Giáo có kỷ cương hơn trước; giáo quyền được củng cố và mở rộng; việc giáo dục trong các Chủng Viện có nề nếp hơn; chủ nghĩa Duy Tân bị lên án; Phụng Vụ được chấn hưng, đặc biệt trong lãnh vực Thánh Nhạc; Đạo Chúa được loan truyền.
Phần nói về đường lối đối nội của Giáo Hội cũng được người đọc rất lưu ý. Trước tiên, Đức Bênêđitô nêu lên đòi hỏi thuận hòa:
– Những vấn đề không tổn hại gì đến Đức Tin và kỷ luật, thì có thể tự do tranh luận, vì Tòa Thánh chưa quyết định… Mỗi người được tự do phát biểu và bênh vực ý kiến của mình, nhưng phải giữ sự ôn hòa, đừng tự cho mình quyền bài bác Đức Tin và tinh thần kỷ luật của người khác chỉ vì họ có ý kiến trái ngược với mình.
– Gần đây, có thói quen dùng những tên gọi này khác để kỳ thị người Công Giáo này với người Công Giáo khác. Bản Tòa muốn rằng cách làm đó phải chấm dứt. Phải tránh đưa ra những tên gọi như thế, không những vì đó là những từ ngữ dung tục mới đặt ra, không đúng và không công bình, mà còn vì chúng tạo ra những rối loạn và ngộ nhận nghiêm trọng trong cộng đồng Công Giáo… Đức Tin đã tuyên xưng, thì không cần gì phải gắn thêm vào đấy những tính từ mới để đánh giá Đức Tin ấy. Khi đã nói: Họ tôi là Ki-tô, teên tôi là Công Giáo, thì đã đủ rồi, chỉ cần cố gắng trung thực với danh xưng của mình mà thôi”.
Tuy Đức Bênêđitô 15 không nói rõ tên người nào, nhưng ai cũng hiểu ngài nhắm vào những người tự phong cho mình là “Công Giáo toàn diện” ( Catholiques intégraux – Integral Catholics ) để lên án người khác.
Đối với Đức Cha Roncalli, giai đoạn vừa trải qua làm cho cha càng thấy rõ một não trạng hẹp hòi nào đấy, tưởng là sốt sắng, nhiệt thành, mà nhiều khi trái ngược với Tin Mừng đến mức nào.
Hơn 40 năm sau, cha Roncalli đã 78 tuổi, và đã thành Đức Giáo Hoàng Gioan 23. Một hôm, cha lại tò mò muốn xem ngày xưa người ta tố cáo mình vì tội gì. Hồ sơ về vụ việc này vẫn còn lưu trữ ở Bộ Giáo Sĩ. Thì ra tội của cha là có quen biết với cha Buonaiuti, một lãnh tụ Duy Tân ở Ý, và đã có viết thư cho cha này. Tội trạng là như thế, nhưng trong hồ sơ không thấy một bức thư nào cả. Cha Roncalli hồn nhiên, nhưng cũng là sử gia thận trọng, viết thư cho ai vẫn giữ một bản lưu. Vị Giáo Hoàng già, hóm hỉnh, liền sao chép thư từ, ghép vào những lời tố cáo cũ để “bổ túc hồ sơ” và gửi lại cho kho lưu trữ của Bộ Giáo Sĩ. Việc xa xưa, nhưng chắc cũng để lại kinh nghiệm cho các vị Giáo Hoàng tương lai.
Tóm lại, câu chuyện về “vụ Duy Tân” trong Giáo Hội là câu chuyện về một thời người ta khám phá ra những chiều kích mới của thực tại, bao la bát ngát đến nỗi có thể làm người ta say mê chuếnh choáng; là câu chuyện về một vị Giáo Hoàng rực rỡ trong thánh thiện ( Đức Piô 10 ) đã vững tay chèo lái, định hướng cho con thuyền Đức Tin; nhưng cũng là câu chuyện về những vẩn đục của lòng người giữa một thời sóng gió, và là câu chuyện của những người nhẫn nại vượt qua khó khăn để tìm đến sự thanh thản của chân lý.

12

“Clama, ne cesses”: “Hãy cất tiếng kêu, đừng bao giờ ngừng”… Kêu đây là kêu gọi hòa bình.

2Thế Chiến bùng nổ, cuộc đời cha Roncalli cũng đi vào khúc quanh. Chỉ hai ngày sau khi Đức Piô 10 qua đời, Đức Cha Radoni cũng thở hơi cuối cùng. Trước đấy, Đức Cha đã yêu cầu cha Roncalli giúp ngài một việc cuối cùng, là báo cho ngài biết khi nào đến giờ…
Ngày 21.8.1914, các bác sĩ giải phẫu ghi nhận ung thư ruột đã di căn, hết phương cứu chữa. Khi Đức Cha tỉnh dậy, cha Roncalli đứng bên giường, thưa:
– Thưa Đức Cha, mạng sống chúng ta ở trong tay Chúa.
– Được, tôi hiểu rồi. Ta hãy chúc tụng Chúa và quy hướng về một mình Chúa mà thôi.
Đức Cha còn sống thêm được một ngày rưỡi, không một lời than van, chỉ tạ ơn Chúa, chúc lành cho mọi người, cầu nguyện, và sáng suốt đến giây phút cuối cùng. Khoảng 24g30 ngày 23 tháng 8, Đức Cha vẫn hổn hển dâng hiến Chúa mạng sống mình, vì Hội Thánh, vì vị tân Giáo Hoàng Chúa sắp ban cho Hội Thánh, vì đoàn chiên, vì đất nước, và Đức Cha lớn tiếng: “Vì hòa bình… hòa bình !” Ngài nhìn mọi người chung quanh, trên môi thoáng một nụ cười, và tắt thở.
Cha Roncalli ghi trong nhật ký: “Đột nhiên, hóa ra tôi đứng trước một chân trời mới. Nhưng tôi không vì thế mà mất tinh thần… Tôi sẽ lưu tâm để đừng lo lắng gì cho tương lai”.
Tương lai của cha không lấy gì làm vui vẻ. Cha vẫn dạy môn Giáo Sử ở Chủng Viện, cầu nguyện, nghiên cứu và làm việc mục vụ. Nhưng cuộc sống bình thản ấy không được lâu. Ngày 23.5.1915, nước Ý nhập cuộc với Pháp và Anh, và tuyên chiến với Áo, mong sẽ chinh phục được vùng Trentin, Trieste và Istrie ở bên kia biên giới Đông Bắc, nơi cư dân nói tiếng Ý. Có nghĩa là cha Roncalli sẽ phải nhập ngũ. Đời sống trong quân ngũ không hẳn là xa lạ với cha, vì năm 20 tuổi ( 1901 ), Chủng Sinh Roncalli đã thi hành nghĩa vụ quân sự. Lúc đầu thì thật khổ, anh Chủng Sinh trong sáng rơi vào giữa nếp sống lính tráng dung tục. “Ôi ! Sao thế gian xấu xa thế ! Bẩn quá, nhơ nhớp quá… Đời lính là một con suối thối tha…”
Nhưng dù sao dân Ý là dân có đạo, Angelo lại là người đàng hoàng dễ mến, chỉ cần vài tuần là sự ngán ngẩm với đời lính “hầu như tan biến hết”. Cả các sĩ quan lẫn lính trơn đều tỏ ra rất tử tế. Anh Roncalli giải ngũ với cấp bậc trung sĩ.
Và đến nay thì lại được động viên: “Ngày mai tôi lên đường nhập ngũ trong ngành Quân Y, không biết tôi sẽ được phái đi đâu ? Có lẽ ra tiền tuyến chăng ? Tôi có còn được trở về quê hương Bergamo hay là Chúa đã định cho tôi giờ cuối cùng là ở chiến trường ? Không thể biết được. Tôi chỉ muốn một điều, là Ý Chúa trong mọi sự, ở mọi nơi; hy sinh mình đến tận tuyệt vì vinh quang của Chúa. Chỉ có như thế tôi mới ngang tầm với Ơn Gọi của mình và tỏ bày bằng hành động lòng yêu mến đối với tổ quốc và linh hồn các anh em tôi. Tôi đã sẵn sàng và trong lòng vui vẻ”.
Trung sĩ Roncalli đến trình diện ở bệnh viện San Ambrogio, thành phố Milano. Các thương binh đầu tiên đang được đưa về từ mặt trận. Trung sĩ Roncalli được điều ngay về làm y tá ở bệnh viện Bergamo, và mười một tháng sau được cử làm Tuyên Uý, cấp bậc trung úy. Ngày nay, ta còn một tấm ảnh chụp cha Tuyên Uy, với một bộ ria mép khá rậm.
Tâm trạng của cha Roncalli cũng giống như tâm trạng của người dân các nước lâm chiến thời đó, nghĩa là yêu nước tuyệt đối và rất dân tộc chủ nghĩa. Cha viết cho chú em Giuseppe khi đó đã bị bắt làm tù binh: “Những người đã và đang cai trị chúng ta không xứng đáng để ta phải hy sinh cho họ; nhưng tổ quốc ngày nay đang lâm nguy thì xứng đáng để ta hy sinh mọi sự: con người qua đi nhưng tổ quốc trường tồn !”
Cha lại viết cho một người em khác, Zaverio: “Bây giờ kẻ thù đã ở trong nhà, phải đuổi nó đi bằng mọi giá, nếu không thì còn tồi tệ hơn. Ai có nhà nấy. Chúng ta cũng có những sự sai trái, nhưng ngày nay bổn phận của chúng ta là chấp nhận mọi hy sinh để đẩy nước Đức ra ngoài, ra khỏi nước Ý !”
Những ý tưởng như trên đây rất phổ biến trong lời nói cũng như thư từ của vô số người Châu Âu, không phân biệt nam nữ, trong thời Thế Chiến thứ nhất. Đó là những ý tưởng chân thành mà lại quá dgian. Nếu so sánh những ý tưởng ấy của cha Roncalli với bức Thông Điệp nổi tiếng “Hòa Bình trên Thế Giới” ( Pacem in Terris ) của Đức Giáo Hoàng Gioan 23 năm mươi năm sau, ta mới thấy trong năm mươi năm ấy, ngài đã đi một đoạn đường dài như thế nào.
Vào lúc sắt máu ấy, chỉ có một nhà lãnh đạo ở Châu Âu có một tầm nhìn bao quát để đề cao hòa bình: Đức Giáo Hoàng Bênêđitô 15. Ngay từ khi lên ngôi, ngài đã có 3 điều quyết tâm: Tuyệt đối vô tư giữa các bên tham chiến – Nỗ lực không ngơi nghỉ để làm việc thật tối đa cho mọi người không phân biệt cá nhân, quốc tịch, tôn giáo – Không từ nan một việc gì khả dĩ chấm dứt chiến tranh càng sớm càng tốt”.
Tiếc thay, thời đó phe nào cũng đòi toàn thắng. Phe nào cũng trách móc gay gắt Đức Giáo Hoàng là đã không đứng về phe mình. Đức Bênêđitô 15 nhận định rằng hai phe đều không tiếc lời đả kích ngài, thì đó là bằng chứng đối với lương tâm ngài rằng ngài đúng là vô tư thật. Ngài dùng lời sách Isaia ( 58, 1 ) làm kim chỉ nam: “Clama, ne cesses”: “Hãy cất tiếng kêu, đừng bao giờ ngừng”… Kêu đây là kêu gọi hòa bình.
Ngày 1.8.1917, Đức Bênêđitô 15 đề xuất hẳn một chương trình 7 điểm để chấm dứt chiến tranh:
1. Lấy “sức mạnh của công lý” thay cho sức mạnh của võ khí.
2. Cả hai bên tham chiến đồng thời tài giảm binh bị trên cơ sở có qua có lại.
3. Thiết lập một định chế trọng tài quốc tế.
4. Tự do gthong đường biển cho mọi nước.
5. Cả hai bên đều không đòi hỏi bồi thường chiến tranh.
6. Triệt thoái và phục hồi các lãnh thổ bị chiếm đóng.
7. Xem xét “trong tinh thần hòa giải” những tranh chấp về lãnh thổ của đôi bên.
Ngài phong chức Tổng Giám Mục cho một vị đặc sứ để thương lượng, soạn thảo và xúc tiến kế hoạch này: vị đặc sứ đó là Đức Cha Pacelli, sau này sẽ là Giáo Hoàng Piô 12.
Lại một lần nữa, kế hoạch bị cả hai bên khước từ. Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson cho gửi đến Vatican một bức thư dài, lời lẽ khá nghiệt ngã, đại ý nói rằng không thể chấp nhận một kế hoạch như thế bao lâu chưa đập tan tành đế chế Đức ( nước Mỹ đã nhảy vào vòng chiến ngày 6.4.1917 ).
Một điều đáng buồn là các giới Công Giáo ở cả Pháp lẫn Đức, kể cả những vị trong hàng Giáo Phẩm, cũng bị cuốn vào cơn hăng máu chiến tranh, và không muốn nghe lời Đức Giáo Hoàng. Ở Pháp, có vị Linh Mục nổi tiếng còn lên cả tòa giảng, trước mặt các bậc vị vọng đạo đời, để giảng một bài nảy lửa: “Thưa Đức Thánh Cha, vào lúc này, chúng con không thể chấp nhận lời ngài kêu gọi hòa bình; chúng con chủ trương chiến tranh quyết liệt. Chúng con là những đứa con đôi khi nói: Không, không, giống như đứa con có vẻ cứng đầu trong Tin Mừng”.
Khi Đức Thánh Cha đưa ra lời cầu nguyện: “Ôi Vua Hòa Bình, chúng con khiêm tốn khẩn cầu Ngài ban Ơn Hòa Bình mà chúng con khao khát”, có vị Giám Mục lại tự tiện dịch thành: “Chúng con khiêm tốn khẩn cầu Ngài ban cho một nền hòa bình làm vinh danh đất nước chúng con”, một vị Giám Mục khác lại diễn giải như sau: “Tiếp tục chiến tranh để chinh phục hòa bình: như thế chắc chắn sẽ đáp ứng lòng mong mỏi của Đức Bênêđitô 15”.
Thế mới biết có những đam mê tập thể to lớn đến nỗi người có Đức Tin mà không cảnh giác cũng bị quáng mắt, và sẽ lấy Đức Tin làm một món ngụy trang hời hợt cho những tham lam rất trần tục, và cả những người tưởng như đã từ bỏ mọi sự vẫn sa vào chước cám dỗ của ý chí kiêu căng. Và thế là đại chiến cứ phát triển đến mức tận cùng, cho đến tháng 11 năm 1918. khoảng 9 triệu người chết vì chiến cuộc, trong đó, Đức và Áo 3.000.000, Pháp 1.450.000, Nga 1.700.000… Không kể vô số chấn thương vật chất và tinh thần.
Bây giờ thì đế chế Đức đã sụp đổ. Bây giờ đến lượt tổng thống Wilson đưa ra kế hoạch hòa bình nổi tiếng, gồm 14 điểm, điểm then chốt là thành lập Hội Quốc Liên để giải quyết mọi tranh chấp bằng đường lối ngoại giao, kế hoạch này rất giống với kế hoạch 7 điểm của Đức Thánh Cha một năm trước đó.
Ngày nay, nói chung, người ta nhìn nhận kế hoạch của ông Wilson được xây dựng trên những gợi ý của Đức Thánh Cha. Ông Wilson trở nên thân thiện với Tòa Thánh. Nhưng nay đến lượt ông thất bại. Các nhà chính trị đầu có sạn ở Châu Âu bực bội coi ông là người mơ màng, lý tưởng hão ( ông xuất thân là giáo sư Triết Học ), còn Quốc Hội Mỹ thì có khuynh hướng cô lập, không thích can dự vào việc quốc tế, bản thân ông Wilson cũng sắp suy sụp vì tai biến mạch máu não, Hội Quốc Liên chỉ có hình thức mà không có thực chất. Cuối cùng thì chủ trương “được ăn cả” đã thắng. Nhưng nó để lại những uất hận dọn đường cho Hitler lên nắm chính quyền ở Đức, và gây ra Thế Chiến thứ hai, làm chết 55 triệu người.
Các đề nghị trung gian hòa giải và kế hoạch hòa bình của Đức Bênêđitô không được ai chấp nhận; ngài chỉ có thể hết sức cứu giúp những người đau khổ. Năm 1915, ngài yêu cầu các nước lâm chiến phóng thích hoặc trao đổi những dân thường bị tù chiến tranh theo thứ tự ưu tiên: Phụ nữ và thiếu nữ, trẻ nam dưới 17 tuổi, người lớn trên 55 tuổi, các bác sĩ, các Giáo Sĩ, mọi người bị khuyết tật hoặc không có khả năng quân dịch.
Chỉ trong một tháng, 3.000 người Bỉ và 20.000 người Pháp liền được trở về gia đình. Qua năm 1916, ngài lại đề nghị những tù nhân có 4 con nhỏ được xuất trại và an dưỡng ở Thụy-sĩ. Hai phe đều tích cực hưởng ứng và chính phủ Thụy-sĩ tiếp tay nhiệt tình. Qua năm 1917 là dịch vụ săn sóc các tù binh bị bệnh ho lao. Những người này được phóng thích vô điều kiện và đưa đi an dưỡng ở một số vùng núi cao. 12.376 người Pháp, 8.594 người Đức, 1.822 người Bỉ, 964 người Anh được chiếu cố.
Thường dân bị tan nát nhà cửa, trẻ con ốm đói thì đông vô số. Đức Thánh Cha mang hết ngân quỹ của Tòa Thánh ra cứu trợ, đến nỗi khi ngài qua đời đầu năm 1922, Tòa Thánh phải đi vay tiền để trang trải chi phí Tang Lễ và tổ chức Mật Hội bầu Giáo Hoàng mới.
Một hoạt động nữa là thăm viếng các tù nhân. Ở mọi nước lâm chiến, Tòa Thánh đều cử đại diện để làm công việc này. Một việc từ thiện khác rất xuất sắc là giúp các gia đình bị ly tán vì chiến cuộc liên lạc lại được với người thân. Ngày ấy chiến tranh vô cùng dữ dội, mọi thông tin liên lạc đều khó khăn.
Từ ngày Đức Thánh Cha huy động nhân lực của Vatican, với nhiều Nữ Tu, vào công việc này, không biết bao nhiêu thư từ gửi đến xin tìm chồng, cha, con, anh, em mất tích. Có những mảnh giấy viết lem nhem bằng bút chì, có những tờ đầy lỗi chính tả của những người cùng khổ ở khắp hang cùng ngõ hẻm gửi đến cầu cứu.
Cho tới khi đó, chưa có một tổ chức quốc tế nào vượt qua nổi những chiến tuyến thù địch sắt máu để nối lại liên lạc. Sáng kiến của Đức Thánh Cha được hưởng ứng đến mức trở nên hiện tượng, và hàng Giám Mục Đức, Áo, Thụy Sĩ cũng noi gương vào cuộc. Vậy mà công cuộc này sẽ phải ngưng lại, vì phe chống Giáo Hội ở Ý vu khống ầm ĩ rằng đây là một tổ chức gián điệp. Dù sao thì cũng đã có rất nhiều người gửi thư đến Vatican cám ơn vì họ đã nhận được tin tức của người thân.
Giữa cảnh bi thảm bao trùm cả Châu Âu và cả Giáo Hội đó, cha Roncalli làm gì ? Công việc không thiếu. Mỗi ngày các xe cứu thương từ những trạm cấp cứu ở tiền tuyến trở về đầy những thương binh, người mất tay, người cụt chân, có những người băng bó kín bưng cả đầu cả mắt. Ngày đêm cha Tuyên Uý vẫn có mặt trong bệnh viện, đi hết giường này đến giường khác, cử hành các Bí Tích, tâm sự tỉ tê với từng người.
Một thương binh nhớ lại: “Mỗi ngày cha đều đến ngồi bên giường tôi… Lúc nào cha cũng có sẵn một lời khích lệ, đem đến một tia hy vọng. Cha có cả một tổ chức rất tốt để chuyển thư từ, mặc dù hồi đó sự liên lạc khó khăn. Cha bảo một lá thư từ gia đình gửi đến thì hiệu quả hơn 2 tuần chữa trị”.
Ngày 24 tháng 10 năm 1917, quân đội Ý bại trận thê thảm ở Caporetto, trước quân Áo – Đức. 180.000 người bị bắt làm tù binh, 1.500 đại bác bỏ lại trên chiến tuyến. Những ngày sau đó các bệnh viện miền Bắc Ý đầy nghẹt thương bệnh binh. Dịch cúm do tàn quân từ mặt trận đưa về được thể lan tràn dữ dội. Chỉ trong 2 tháng, mấy ngàn người chết vì cơn bệnh này. Cha Roncalli ở bên giường những người hấp hối hàng mấy giờ liền. Cha thì thầm vào tai họ những lời bình an, ghi nhớ những tâm sự trối trăng của họ. Lúc này cha không còn phân biệt họ là người Ý hay tù binh Áo – Đức.
Trong một bức thư đề ngày 4.4.1918, cha viết:
“Chiến tranh đã tạo dịp cho tôi lại gần các tâm hồn hơn trước và học được những đường lối tốt nhất để động tâm họ. Cho nên đây là một kinh nghiệm đã và vẫn đang gây nhiều hậu quả tốt lành nơi tôi, nhờ thế mà bản thân tôi tốt hơn, tôi biết thông cảm hơn với những lỗi lầm của người khác, biết quên mình và quên tất cả những gì có thể tạo danh giá cho tôi ở đời này”.

13

Cha Roncalli nhận xét về chính mình trong những năm niên thiếu ấy như sau: “Một chàng trai tốt bụng, vô tội, hơi nhút nhát”, chỉ mơ làm “Linh Mục để phục vụ những tâm hồn đơn sơ cần được săn sóc ân cần và nhẫn nại”.

3Chiến tranh như một cơn điên cuồng khát máu. Rồi chiến tranh qua đi, người ta như tỉnh một cơn mê, lại bắt đầu xây dựng, có khi lâu bền, có khi là gieo mầm cho những xung đột khác. Đồ đệ của Chúa, trong chiến tranh phải cố gắng sao cho ánh sáng nhân ái đừng tắt lịm, hết chiến tranh lại phải nỗ lực vun đắp cho hòa bình, từ mong manh trở nên lâu bền và vững chãi. Tháng 11.1918, mặt trận ở Ý im tiếng súng. Cha Roncalli còn tiếp tục phục vụ ở các quân y viện đến tháng 3.1919 thì giải ngũ.
Cha trở về trường cũ, Chủng Viện Bergamo. Năm vào học ở đây ( 1892 ) thì Angelo Roncalli mới 11 tuổi. Tám năm đèn sách ở nơi này, hồi ấy, Angelo còn là một chàng trai nông thôn mộc mạc, đạo đức theo một cung cách truyền thống. Cha Roncalli nhận xét về chính mình trong những năm niên thiếu ấy như sau: “Một chàng trai tốt bụng, vô tội, hơi nhút nhát”, chỉ mơ làm “Linh Mục để phục vụ những tâm hồn đơn sơ cần được săn sóc ân cần và nhẫn nại”. Nhưng cha cũng tự phê phán là “hơi điên, hơi ngu”, tinh thần lang bang “như bướm”. Mặt khác, cũng là loại người ngày nay người ta thường phê là “có tâm hồn ăn uống” và “có những lúc tôi rất mau miệng, có lẽ đã nói quá nhiều”.
Từ những ngày tưởng như chưa xa ấy, cuộc đời đã diễn tiến… Cha đã đi học Roma ở Chủng Viện Apollinario ( 1901 ), đã thi hành nghĩa vụ quân sự ( 1901 – 1903 ), lấy bằng tiến sĩ Thần Học và thụ phong Linh Mục ( 1904 ), làm thư ký cho Đức Cha Radoni, dạy và nghiên cứu lịch sử Giáo Hội ( 1905 – 1914 ), đã xuất ngoại mấy lần để đi hành hương Lộ Đức ( Lourdes, 1905, 1911 ), tham dự Đại Hội Thánh Thể ở Áo, rồi thăm Ba Lan và Hung Gia Lợi ( 1912 ) và hòa mình vào những khổ đau của con người trong thời Thế Chiến.
Nay trở về trường cũ, cha đã mất đi cái khờ khạo của chàng trai làng năm xưa. Cha được sai về đây để làm linh hướng cho các Chủng Sinh. Chủng Viện Bergamo là một tòa nhà rộng, nhưng đường nét khắc khổ, không tiện nghi. Đối với cha Roncalli, nó không chỉ gợi lại những kỷ niệm thời trai trẻ, nó còn quý báu vì cha là người nghiên cứu Thánh Carlo Borromeo. Tòa nhà được xây lại năm 1821, nhưng nó là một trong những chủng viện đầu tiên được thành lập ở Ý ( 1567 ), do sự đốc thúc của Thánh Carlo, theo đường lối chấn chỉnh Giáo Hội của Công Đồng Trento ( 1545 – 1563 ).
Chủng viện xây trên núi, đứng trên sân rộng trồng nhiều cụm hoa hồng, giữa tiếng chim hót líu lo, nhìn xuống thấy đồng bằng vùng Lombardia với hơn ngàn năm Kitô giáo, vị linh hướng với kiến thức về công trình hồi sinh Giáo Hội của Thánh Carlo, với trải nghiệm bốn năm máu lửa, chắc là đã suy nghĩ nhiều về những nhu cầu của người đời.
Ở Roma, Đức Giáo Hoàng Bênêđitô 15 lại càng suy nghĩ nhiều về sứ mạng của Giáo Hội. Bốn năm chiến tranh đã kềm hãm biết bao nhiêu sáng kiến của ngài. Chiến tranh cũng cho ngài nhìn thấy những giới hạn, những hẹp hòi và những hiểm họa bi đát của lòng người. Bây giờ là lúc phải giốc toàn lực để phục vụ Ơn Đức Độ. Đức Thánh Cha nghĩ tới những vùng đất mênh mông, Châu Á, Châu Phi còn đang chờ đợi Tin Mừng của Chúa. Ngày 30.11.1919, ngài công bố Tông Thư Maximum Illud về nhiệm vụ truyền giáo. Tông thư này được coi như văn kiện quan trọng vào bậc nhất trong đời Giáo Hoàng của ngài.
Đọc lại các chỉ thị của Maximum Illud, thấy như đó là những chân lý đương nhiên, trong sáng. Đấy là đứng trên bình diện lý tưởng mà nói. Trong thực tế, con người, kể cả người Thừa Sai, chìm vào trong hoạt động bộn bề trước mắt, và với cá tính riêng của mình, dễ sa đà vào những thói quen thường tình, nhưng phản tác dụng.
Đức Thánh Cha yêu cầu “đào tạo và gây dựng hàng Giáo Sĩ bản xứ, là nguyên nhân của bao hy vọng tốt đẹp trong các vùng mới đón nhận Đạo Kitô. Mọi sự, từ nguồn cội, đến Tâm Lý, tình cảm, lý tưởng đều gắn chặt Linh Mục bản xứ với các con chiên của mình, cho nên Linh Mục bản xứ có điều kiện tuyệt vời để vun trồng chân lý trong lòng người… Linh Mục bản xứ có thể dễ dàng tiếp xúc nhiều linh hồn mà Linh Mục người ngoại quốc không thể mon men đến gần…” Nhưng nếu muốn vậy, thì “hàng Giáo Sĩ bản xứ phải được đào tạo và chuẩn bị thích đáng”, không thể chỉ là “nhập môn sơ đẳng lơ mơ” mà phải là “đào tạo đầy đủ, hoàn bị mọi mặt” như ở các nước văn minh, để có ngày còn “nắm quyền lãnh đạo”.
Thứ đến, Đức Thánh Cha nhấn mạnh người Thừa Sai phải thành tâm thiện ý, đừng đặt quyền lợi dân tộc của mình cao hơn Nước Trời: “Thật thảm hại khi mà các Thừa Sai ngộ nhận về phẩm tước của mình đến độ dành ưu tiên cho những quan tâm về tổ quốc trần gian của mình so với quan tâm về Nước Trời”, bởi vì nếu thế thì “người dân có bản năng rất nhạy bén, sẽ nhận ra ngay” và “mọi việc làm của Thừa Sai liền mất tư cách trước mắt người dân; người ta sẽ dễ dàng nghĩ rằng Đạo Kitô chỉ là một tôn giáo của ngoại bang, và theo Đạo có vẻ như là chấp nhận sự bảo hộ và chế ngự của một ngoại cường mà chối bỏ tổ quốc của mình”.
Ngài tâm sự: “Chúng tôi cảm thấy đau buồn sâu sắc khi nhận thấy rằng một số chuyên san định kỳ về truyền giáo được phổ biến mấy năm sau này đã cho thấy những người viết báo nhiệt tình cổ võ sự bành trướng của đất nước mình, hơn là cổ võ sự quảng bá Nước Thiên Chúa. Và điều kỳ lạ là người ta không hề lo ngại rằng đường lối như thế sẽ gây tai tiếng cho Đạo Thánh nơi những người chưa tin”.
Đức Thánh Cha còn nhớ rõ lắm: hồi Thế Chiến, người Công Giáo ở Pháp, ở Đức đã gạt phăng những lời kêu gọi hòa bình của Cha chung để hô hào bắn giết như thế nào.
Một điểm nữa, ngài lưu ý các Thừa Sai là phải thông thạo tiếng nói của các dân tộc mà mình đang phục vụ, “nói sõi, nói đúng”, và hơn nữa, phải đạt đến trình độ uyên bác.
Tông Thư Maximum Illud được coi như một biến cố lớn trong lịch sử truyền giáo. Vị Giáo Hoàng ngồi trong văn phòng thâm nghiêm, hóa ra sáng suốt hơn nhiều Thừa Sai ở thực địa. Năm 1919 này là lúc phe đồng minh Pháp – Anh – Mỹ chiến thắng đang tìm cách xóa sạch ảnh hưởng của Đức, kể cả trong lãnh vực truyền giáo. Đức Bênêđitô 15 gửi đến Paris một nhà ngoại giao tài giỏi của Tòa Thánh, Đức Ông Cerretti, để tác động lên hòa hội Versailles. Với sự trợ giúp nhiệt tình của tổng thống Wilson, ngài đã thành công bảo vệ tự do cho các Thừa Sai người Đức lúc đầu tưởng như sẽ bị đuổi hết về nước.
Dù bận bịu hay mệt mỏi tới đâu, hễ có dịp là Đức Giáo Hoàng tiếp các Thừa Sai từ phương xa về Roma, nói chuyện hồi lâu, hỏi han những chi tiết rất cụ thể. Năm 1920, Đức Giáo Hoàng quyết định tổ chức lại Bộ Truyền Bá Đức Tin. Ngài đặt Đức Hồng Y Van Rossum, người Hà Lan, đứng đầu bộ này. Công việc của bộ liên quan đến hàng trăm Giám Mục Thừa Sai và các vị Đại Diện Tông Tòa, hàng chục ngàn Thầy Giảng, hàng triệu tín hữu. Vị Hồng Y đứng đầu Bộ Truyền Bá Đức Tin trở thành một cộng tác viên quan trọng vào bậc nhất của Đức Giáo Hoàng. Người ta mệnh danh Đức Hồng Y Van Rossum là “Giáo Hoàng đỏ”.
Đức Bênêđitô 15 đang tìm một vị Linh Mục có khả năng để tiến hành công việc tổ chức lại guồng máy của Bộ Truyền Bá Đức Tin. Ngài nổi tiếng là có trí nhớ tuyệt vời. Khi đã quyết định một điều gì quan trọng, thì ngài vừa bồn chồn vừa dứt khoát. Hôm đó ngài đang đưa mắt lướt nhanh một danh sách những người có thể đưa vào chức vụ ngài đang quan tâm. Bỗng nhiên ngài kêu lên sôi nổi: “Ông này ! Ông này !”
Đó là ông Angelo Roncalli. Chả là ngày trước, khi còn làm việc ở Phủ Quốc Vụ Khanh, thì hai vị Giacomo della Chiesa và Radini đã là đôi bạn thân. Về sau, đích thân Đức Piô 10 phong hai vị làm Giám Mục. Đức Cha Radini chọn cha Roncalli làm thư ký riêng. Bên bàn tiệc mừng vị tân Giám Mục, Đức Ông della Chiesa ngồi bên cạnh cha Roncalli, hai người nói chuyện với nhau thấy đã mặn mà. Năm 1909, Đức Cha Radini đi thăm người bạn chí cốt bây giờ đã làm Tổng Giám Mục Bologna, cha Roncalli cũng đi theo. Lần này cha không chỉ quen biết một mình Đức Cha della Chiesa, mà quen luôn với gia đình của ngài. Cha Roncalli rất cảm phục vị Tổng Giám Mục Bologna. Chính vị Tổng Giám Mục ấy nay là Đức Bênêđitô 15.
Ngày 10.12.1920, cha Roncalli được tin Đức Thánh Cha muốn bổ nhiệm cha vào Bộ Truyền Bá Đức Tin. Cha tìm đến xin ý kiến của một người mà cha rất quý trọng: Đức Hồng Y ( Chân Phước ) Ferrari, Tổng Giám Mục Milano. Khi ấy Đức Cha sắp qua đời vì ung thư họng, ngài trả lời ngắn gọn: “Ý Chúa đã quá rõ rồi: Giáo Hoàng “đỏ” là âm vang của Giáo Hoàng “trắng”, và Giáo Hoàng “trắng” là âm vang của Chúa. Thiên Chúa gọi ta đi đâu, thì cứ đi, phó mình hoàn toàn cho tình yêu Quan Phòng của ngài. Làm như vậy, cha sẽ được bình an, thanh thản”.
Giữa tháng giêng 1921, cha Angelo lên đường về Roma nhận nhiệm sở mới, lòng không khỏi bùi ngùi. Từ nay, nếu có về cũng chỉ được vài ngày nghỉ, môi trường của cha bây giờ là thế giới rộng lớn.
Bốn năm liền, cha Roncalli đi khắp đó đây, nối kết hoạt động truyền giáo của các địa phương để quy về một giềng mối. Cha đi vào những xứ sở nắng thiêu và bần cùng của miền Trung và miền Nam nước Ý, khác xa với miền Bắc quê hương cha. Rồi cha thăm viếng Châu Âu: Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đức. Cũng là một cơ hội để biết người, tìm hiểu tâm tư đa dạng của người ta, học cho biết muốn cùng làm việc với nhau trong Giáo Hội thì phải thế nào. Cha nói: “Trước tiên, cần phải tìm cách gây dựng những trung tâm trong mỗi nước, sao cho năng động, và bừng cháy lòng nhiệt thành Tông Đồ, được hàng Giáo Sĩ hỗ trợ nhằm phát triển hoạt động Thừa Sai”.
Cha cảnh báo về nước Pháp: “Cứ xem nước Pháp đấy: xét về tỷ lệ thì Pháp vẫn còn đóng góp nhiều; nhưng mỗi năm sự đóng góp một giảm đi. Nếu hàng Giáo Sĩ Pháp không tỉnh ngộ, và vận động lòng sốt sắng của nhân dân, thì tôi sợ rằng Pháp sẽ bị các nước khác qua mặt”.
Đúng là vậy. Trong quá khứ Pháp đã góp phần hết sức lớn vào việc Thừa Sai của Giáo Hội Công Giáo. Ngày nay thì lại quá khan hiếm nhân sự. Nhưng Pháp cũng làm được một việc này, là trước khi nhân sự Pháp trở nên khan hiếm, thì các Thừa Sai Pháp đã đào tạo được những hàng ngũ Giáo Sĩ bản xứ đông đảo khả dĩ tiếp nối sứ mạng và lãnh trách nhiệm lãnh đạo Giáo Hội trên quê hương mình.
Không chỉ đi lại ngược xuôi đôn đốc công việc, cha Roncalli còn liên lạc thư từ với khắp nơi. Những thư tín trao đổi được bảo quản, đóng thành tập cùng với các báo cáo của các Thừa Sai từ khắp nơi, Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc, làm thành một văn khố hết sức quan trọng, phản ảnh hoạt động của Giáo Hội khắp nơi trên thế giới, trong những nền văn hóa rất đa dạng.
Năm 1920 đó, hình như Đức Bênêđitô 15 có những linh cảm kỳ lạ. Đức Thánh Cha là một người bề ngoài mong manh ốm yếu, nhưng chẳng bệnh tật gì và làm việc không biết mệt. Cuối tháng 4.1920, tự nhiên ngài cho gọi Đức Hồng Y Merry del Val, quản nhiệm Đền Thánh Phêrô, để tháp tùng ngài xuống thăm địa cung Đền Thánh, nơi an nghỉ của nhiều vị Giáo Hoàng. Rồi ngài chỉ một mảnh đất đối diện với mộ của Thánh Piô 10, nói rằng ngài chọn nơi đó làm sinh phần.
Qua năm sau, 13 tháng 6, có một lễ tấn phong Hồng Y. Đức Thánh Cha nhỏ nhẹ như đang tư lự với chính mình: “Mấy hôm nay đã ban phát nhiều áo đỏ, nhưng sắp tới đây sẽ phát áo trắng, và áo trắng sẽ phủ lên vai một vị trong số các vị đây ! Các Hồng Y vội kêu lên rằng việc ấy còn xa. Đức Thánh Cha chỉ mỉm cười như thể trong thâm tâm đã biết một điều gì đó mà khthe chia sẻ với người khác.”
Chỉ sáu tháng sau, đột nhiên ngài trở bệnh nặng. Ngài yêu cầu để ngài ở yên một mình hồi lâu để chuẩn bị tâm hồn chịu Mình Thánh Chúa như Của Ăn Đàng. Chịu Lễ rồi ngài nói: “Nếu Chúa muốn tôi làm việc thêm ít lâu nữa cho Hội Thánh, thì tôi xin sẵn sàng phục vụ; nhưng nếu Chúa bảo: Thôi ! ( Basta ) thì xin cho Thánh Ý thành sự”. Khiêm tốn như một trẻ thơ, ngài phó thác mình cho Đức Mẹ.
Ngài bình tĩnh và vui vẻ thăm hỏi, và tỏ ý săn sóc mọi người quen biết có mặt lẫn vắng mặt. 16 giờ ngày 21.1.1922, ngài bắt đầu hôn mê, và khi tỉnh dậy thì nói rất rành mạch và lớn tiếng cho cả những người ở phòng bên và ngoài hành lang nghe rõ: “Chúng tôi xin vui lòng dâng hiến mạng sống vì hòa bình thế giới”. Ngài xưng mình là “chúng tôi” như những lúc đọc diễn văn trang trọng.
Đến tối, tự nhiên ngài hỏi mấy giờ rồi. Người chung quanh thưa: 9 giờ. Ngài nói như thể đang có chuyện gì hài lòng: “À, vậy còn lâu mới đến 6 giờ”. Mọi người tưởng ngài hôn mê. Và sau đó ngài hôn mê thật. 2 giờ sáng, rõ ràng cơn hấp hối đã bắt đầu. Đức Hồng Y Georgi đứng bên giường, nói chậm rãi mà lớn tiếng: “Tâu Đức Thánh Cha, xin ngài chúc lành cho gia đình ngài”. Đức Thánh Cha mắt nhắm nghiền nhưng bàn tay mặt hơi nhúc nhích phác hình Thánh Giá ba lần.
Hồng Y lại tiếp: “Bây giờ xin Đức Thánh Cha chúc lành cho tất cả những người phục vụ ngài”. Đức Thánh Cha cũng đáp lại như lần trước. Hồng Y Georgi chưa chịu thôi: “Tâu Đức Thánh Cha, xin chúc lành cho nhân dân đang khao khát hòa bình”. Lần này, Đức Thánh Cha kéo tấm mền đang đắp như muốn ngồi dậy, ngài giơ tay vạch hình Thánh Giá rất lớn ba lần, và với âm lượng mạnh phi thường, ngài long trọng đọc: “Nguyện xin phước lành của Thiên Chúa Toàn Năng, Cha, Con và Thánh Thần xuống trên anh chị em và ở lại luôn mãi”… Đúng 6 giờ sáng, Đức Bênêđitô 15 tắt thở, hưởng thọ 67 tuổi, ở ngôi 7 năm 4 tháng 19 ngày.
Hai tuần sau, Giáo Hội có Giáo Hoàng mới. Đúng là người mới được phong Hồng Y sáu tháng trước: ngài Ratti, Tổng Giám Mục Milano, danh hiệu Piô 11. Đối với cha Roncalli, tân Giáo Hoàng không phải là người xa lạ. Trước kia, ngài chính là vị quản thủ Thư Viện Ambrosiano, nơi Linh Mục trẻ Roncalli thường lui tới để tìm đọc tài liệu về Thánh Carlo Borromeo. Ngài Ratti chia sẻ với cha Roncalli sự thích thú đối với vị Thánh đã từng áp dụng thành công các chỉ thị của Công Đồng Trento. Đức tân Giáo Hoàng vẫn đánh giá cao khả năng và trí tuệ của cha Roncalli.
Khi Đức Piô 11 mới đắc cử, có người đã kêu: “Sao lại bầu một ông thủ thư làm Giáo Hoàng ? Suốt đời chìm trong sách vở thì biết gì về những vấn đề thực tế”. Những người nói vậy là những người không biết gì về ông thủ thư. Đức Piô 11 sẽ là trong những vị Giáo Hoàng sáng suốt và cương nghị vào bậc nhất. Đặc biệt ngài được mệnh danh là “Giáo Hoàng của các xứ Truyền Giáo”. Suốt 18 năm ở ngôi, ngài vẫn canh cánh bên lòng nỗi thao thức về sứ mạng truyền giáo. Ngài thổ lộ: “Mỗi lần nghĩ tới còn một tỷ người trên trái đất chưa biết Chúa Kitô là suốt đêm tôi không sao chợp mắt được”.
Ngài đẩy mạnh đường hướng Đức Bênêđitô 15 đã đề xuất trong Tông Thư Maximum Illud. Chính Đức Piô 11 sẽ tấn phong những vị Giám Mục tiên khởi người Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, cũng chính ngài sẽ tấn phong vị Giám Mục Việt Nam tiên khởi: Đức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng. Cũng chính ngài tuyên phong hiển thánh cho Têrêxa Hài Đồng Giêsu, sẽ là Bổn Mạng các xứ Truyền Giáo.
Để phát huy công trình truyền giáo, Đức Thánh Cha duy trì Đức Hồng Y Van Rossum ở nhiệm vụ bộ trưởng Bộ Truyền Bá Đức Tin. Vị Hồng Y Hà Lan này bề ngoài hơi lạnh lùng, nhưng là người có những quyết định táo bạo, và đã quyết định thì dứt khoát thực hiện.
Tinh thần và hoàn cảnh như thế, cha Roncalli cũng tiếp tục hành động của mình. Các đề nghị của cha được Đức Giáo Hoàng chấp nhận và cho thi hành, theo hướng thống nhất chặt chẽ các công trình hỗ trợ truyền giáo dưới sự chỉ đạo của Bộ Truyền Bá Đức Tin.

14

Sau một tháng bị gián đoạn, nay BBT xin được tiếp tục gửi đến quý độc giả bài viết nhiều kỳ về Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan 23…

4Cha Roncalli miệt mài phục vụ công trình truyền giáo mà Đức Piô 11 ước ao phát huy trên toàn thế giới. Nhưng thế giới là chốn mà nhiều cao vọng trái ngược đương đầu với nhau, quần thảo không bao giờ dứt. Cha còn đang nhắm về một tương lai rực sáng Đức Tin vào Chúa, thì những nhân tố trái ngược đã bắt đầu manh nha.
Ở nước Ý, có một người còn thua cha hai tuổi, nhưng đã bắt đầu gây ra đảo lộn, và với thời gian, những đảo lộn đó đã sinh trái độc: Benito Mussolini ( 1883 – 1945 ) đang nổi lên như một lãnh tụ chọc trời khuấy nước, có thể xóa sạch hình thái chính trị cũ, và mở ra một chính cuộc hoàn toàn mới.
Chính quyền ở Ý, từ ngày thống nhất đất nước năm 1870, chưa bao giờ là một chính quyền vững mạnh. Sau cuộc Đại Chiến, nó lại càng suy yếu. Bất công xã hội, tham nhũng, phe đảng, chênh lệch giàu nghèo gây bất bình trong nhân dân. Tháng 3.1919, Mussolini tập họp một số cựu binh, lập ra “Đoàn sơmi đen”, tức là Đảng Phátxít, chủ trương: Thiết lập nền Cộng Hòa, phế bỏ chế độ quân dịch và các tước vị quý tộc, quy định mức lương tối thiểu, ruộng đất về tay nông dân…
Không chỉ hô hào và tuyên truyền, Đảng Phátxít dùng cả bạo lực để tấn công các đảng phái khác vốn đã mất uy tín. Ngày 28.10.1922, 50.000 đảng viên mặc sơmi đen có vũ trang tiến về thủ đô Roma, không gặp một cản trở nào. Nhà vua buộc phải cử Mussolini làm thủ tướng.
Nắm được chính quyền rồi, một mặt Mussolini kích động quần chúng, mặt khác thẳng tay đàn áp những người chống đối, kể cả bằng bạo lực, chém giết, thủ tiêu. Kể từ 1921, một chế độ độc tài đã được thiết lập tại Ý. Mussolini tự xưng mình là người lãnh đạo dân tộc. Tuy là người vô thần, ông rất muốn lấy lòng Giáo Hội Công Giáo, khác với chế độ cũ được thiết lập trên sự tước đoạt quốc thổ của Đức Giáo Hoàng, và do đó luôn ở vào thế căng thẳng đối với Tòa Thánh ( mâu thuẫn giữa Tòa Thánh và Nhà Nước Ý sẽ được giải quyết vào năm 1929, với Thỏa Ước Laterano công nhận quốc gia Vatican ).
Nhiều người Công Giáo còn buồn phiền vì những xung đột và thiệt thòi dưới chế độ cũ, cùng những ngang trái nhiễu nhương trong xã hội, đã không che dấu thiện cảm với chế độ của Mussolini. Cha Roncalli không đồng ý. Cha giải thích: “Vì chức vụ tôi đang nắm giữ ở Tòa Thánh, tôi không thể và không được bày tỏ lập trường công khai bằng bất cứ hình thức nào… Nhưng theo lương tâm, với tư cách là Kitô hữu và là Linh Mục, tôi không thể nào bỏ phiếu cho Đảng Phátxít… Tôi chỉ biết chắc một điều: Nước Ý không thể nào được cứu vãn nhờ tay Mussolini. Mặc dù ông ấy là người khôn khéo. Mục đích ông ấy theo đuổi có lẽ là tốt lành và chính trực. Nhưng những phương thế mà ông ấy sử dụng thì gian tà và nghịch quy luật Tin Mừng”.
Cục diện ở Ý, ở các xứ truyền giáo và mọi nơi khác, biến chuyển như vũ bão. Và giữa vũ bão như thế, người đồ đệ Chúa, với tất cả tăm tối và yếu đuối của mình, phải gieo hạt giống nhỏ li ti, hạt giống nhẹ tênh vô hình của Tin Mừng. Rồi ra gió bão lịch sử qua đi, sẽ nghiệm thấy cái gì nổi, cái gì chìm, cái mất, cái còn.
Cha Roncalli không chỉ phục vụ cho cái khó nghèo của Tin Mừng, bản thân cha cũng là một người nghèo, hiểu theo nghĩa cụ thể nhất. Xuất thân từ gia đình bần nông, có đất có ruộng nhưng cũng có quá nhiều miệng ăn, ngoài Đức Tin trong sáng, cha chẳng thừa hưởng được gì nhiều. Hồi chịu chức Linh Mục năm 1904, cha phải vay nợ mới may nổi một chiếc áo thâm chùng và mua nổi một đôi giày tử tế, cùng với “vài món lặt vặt thôi nhưng cần thiết”. 15 năm, 20 năm qua, Linh Mục trẻ nay đã đứng tuổi và có chức vụ tương đối quan trọng, nhưng khả năng vật chất không cải thiện được nhiều; không đến nỗi nghèo khổ, nhưng chỉ vừa đủ cho một nếp sống đạm bạc. Là vì gánh gia đình quá nặng.
Là người con thứ tư trong một gia đình 13 anh chị em, một người em gái mất sớm, cha phải nuôi hai chị em gái, hai em trai đông con. Hai chị em gái cũng nặng gánh gia đình, một em trai độc thân và mù lòa, cha mẹ già yếu, mùa màng năm được năm mất, ngoài cửa thì lúc nào cũng có nhiều người nghèo xin giúp đỡ, chức vụ quan trọng thì cũng nhiều khoản phải chi tiêu. Tóm lại, không đạm bạc thì không sao đương nổi.
Được cái cha Roncalli đúng là một người “an bần lạc đạo”. Trong một bức thư gửi cho cụ thân sinh, cha viết: “Con sẽ không bao giờ giàu đâu. Linh Mục mà lợi dụng chức vụ của mình để làm giàu thì có mà xuống hỏa ngục !” ( 19.11.1924 )
Với các chị em gái, cha viết: “Cái nghèo đã ôm choàng lấy tôi từ ngày còn bé và cho đến tận bây giờ nó vẫn không buông tay… Ta chẳng nên phàn nàn làm gì, bởi vì nếu ta biết nhẫn nại chdung khó nghèo, ta sẽ giống Đức Giêsu Kitô hơn và bảo đảm hơn đường lên Thiên Đàng. Vả lại, dù ta có gặp khó khăn, nhưng sẽ chẳng bao giờ thiếu thốn những điều nhu yếu. Với lại chị em thấy đấy, nhiều tiền lắm của cũng chẳng làm cho người ta và các gia đình hạnh phúc hơn” ( 26.6.1926 ).
Trong Nhật Ký Tâm Hồn, cha viết: “Tôi sinh ra đã nghèo, tôi phải chết nghèo, và tôi muốn thế. Tôi xác tín rằng, cũng như đã xảy ra trong quá khứ, khi đến giờ Chúa Quan Phòng sẽ không để tôi thiếu thốn những điều nhu yếu, nhưng sẽ ban cho tôi những gì tôi cần và thậm chí còn nhiều hơn thế nữa. Vô phúc cho tôi nếu tôi gắn bó với của cải thế gian, dù chỉ mảy may”.
Hồi 1921, cha Roncalli về thăm quê đã mặc áo tím. Bà con trong làng đến hỏi thăm bà cụ thân sinh: “Cha nhà lên Giám Mục hồi nào mà chúng tôi không biết ?” Thật ra cha không phải là Giám Mục. Tòa Thánh vẫn có thói quen tạo uy tín cho một số Giáo Sĩ bằng những màu mè bên ngoài. Tước vị của cha Roncalli là “Đức Ông” ( Monsignore ).
Nhưng rồi ngày phải làm Giám Mục cũng đến. Đức Piô 11 đang tìm người đề cử làm Kinh Lược ở Bulgarie, một đất nước mà tuyệt đại đa số nhân dân theo Chính Thống Giáo. Đảm nhiệm được chức vụ này phải là một người tế nhị, mềm dẻo, xuề xòa, nhưng khi cần, lại phải có bản lĩnh. Đức Thánh Cha để ý đến cha Roncalli. Trong thời gian phục vụ ở Bộ Truyền Bá Đức Tin, cha đã tỏ ra là người có khả năng, biết tổ chức, mà đồng thời vẫn tươi cười, khéo léo, ngoại giao…
Ngày 17.1.1925, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Gasparri cho gọi cha Roncalli để thông báo quyết định. Người đứng đầu ngành ngoại giao của Vatican giải thích về mục đích yêu cầu. Cha Roncalli mỉm cười: “Cứ như là Thánh Giuse vậy !” Vị Hồng Y bỡ ngỡ… “Vâng, thưa Đức Hồng Y, đúng là như thế. Cần phải đại diện Chúa, nhưng đôi khi cũng phải dấu Chúa đi để dọn đường cho người ta đón tiếp Chúa tốt hơn. Lại cũng phải biết thinh lặng, nói năng mực thước, tận tụy phục vụ, bất kể việc vẻ vang hay mờ nhạt. Dù có phải ngậm bồ hòn vẫn phải ngọt ngào… và vâng lời kể cả khi không hiểu”.
Về một phương diện nào đó, chức vụ Kinh Lược ở Bulgarie là một trọng trách tiên phong, về một phương diện khác lại giống như bị phát lưu đến một vùng biên ải xa vắng và nghèo xác xơ. Đối với bản thân cha Roncalli, đó là bắt đầu một con đường mới sẽ có ảnh hưởng lớn sau này.
Nhìn lại lịch sử sẽ giúp ta hiểu vì sao lại như thế. Năm 1054 là một năm bất hạnh đối với Giáo Hội. Đó là thời điểm Roma và Tòa Thượng Phụ Constantinopolis đoạn giao với nhau. Có thể nghĩ sẽ hàn gắn như đã xảy ra vài lần trước đó. Không ngờ kéo dài 9 thế kỷ, cho tới ngày nay vẫn chưa giải quyết thỏa đáng mọi vấn đề. Mặc dù Công Đồng Vatican 2 do Đức Gioan 23 triệu tập đánh dấu một bước tiến rất lớn trên đường hiệp nhất, Giáo Hội của Chúa Kitô vẫn chia thành Công Giáo và Chính Thống Giáo.
Nghĩ như về mặt tín lý, sự khác biệt không trầm trọng đến nỗi phải chia tay nhau, nhưng nhiều nhân tố thế gian đã xen vào, làm cho vấn đề bị nhiễm độc, sinh ra nhiều di chứng. Thời đó, về mặt chính trị và văn hóa, Roma và Tây Âu nói chung, đã suy yếu rất nhiều so với xưa kia, còn Constantinopolis đang là một Trung Tâm chính trị và văn minh, văn hóa to lớn của thế giới Kitô giáo. Tâm lý Phương Đông, Phương Tây có nhiều nét dị biệt, tương khắc. Tâm tính cá nhân của những người lãnh đạo khiến cho những mâu thuẫn đã không được giải tỏa mà ngày càng chồng chất thêm. Thời gian đã khiến cho đôi bên cứ xa cách thêm mãi. Rồi chính trị cũng xen vào, chia ra những vùng ảnh hưởng đối nghịch. Nhiều biến cố thảm hại, đặc biệt là cuộc Thập Tự Chinh thứ 2, càng đổ dầu vào lửa.
Người Việt ta nói: “Thương nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau trái bồ hòn cũng méo”. Dần dần Chính Thống Giáo với Công Giáo nhìn nhau thấy cái gì cũng méo cả. Có một số ít nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu nhận ra những giá trị cũng hai bên. Trong thực tế, quan hệ đôi bên chủ yếu là bài xích nhau, không tìm được tiếng nói chung. Mỗi bên đều có những kho báu tâm linh mà bên kia vô tình hay cố ý không muốn đếm xỉa.
Đến một ngày khi Đức Gioan 23 nói: Những điểm chúng ta đồng tâm nhất trí với nhau thì nhiều hơn và căn bản hơn những điều mâu thuẫn với nhau”, hoặc khi người kế vị Đức Gioan 23 là Đức Phaolô 6 quỳ xuống hôn chân một vị Giám Mục Chính Thống Giáo để rồi sau đó hai bên cùng đốt Sắc Lệnh Tuyệt Thông lẫn nhau năm 1054, hoặc khi Đức Gioan Phaolô 2 nói: “Giáo Hội phải thở bằng cả hai lá phổi Đông và Tây…” Thì ta mới đo lường được Giáo Hội hai bên đã tiến được một đoạn đường dài đến thế nào trong thế kỷ 20 mặc dù khó khăn còn nhiều…
Vào năm 1925, chưa thể đạt được những kết quả như thế. Nhưng Đức Giáo Hoàng Piô 11 vẫn muốn mở lại những đường liên lạc với thế giới Chính Thống Giáo. Giáo Hội Chính Thống lớn nhất bây giờ không phải là Constantinopolis nữa. Từ thế kỷ 15, chế độ ở Constantinopolis đã sụp đổ dưới sức tấn công của các đạo quân Hồi Giáo.
onstantinopolis nay là Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ, một đất nước theo Hồi Giáo. Tín hữu Chính Thống chỉ còn một nhóm nhỏ. Tòa Thượng Phụ Constantinopolis về danh nghĩa vẫn là đệ nhất Tòa Chính Thống Giáo, nhưng Giáo Hội Chính Thống lớn nhất, đông nhất bây giờ nằm ở nước Nga, thuộc quyền Tòa Thượng Phụ Moskva.
Nhưng nước Nga bây giờ là Liên Xô. Lénin vừa qua đời, Stalin đang nắm quyền bính. Tòa Thánh không có cách gì đặt chân tới đó được. Nhưng ở các vùng Balkans Đông Âu thì may ra… Năm 1923, một nhà ngoại giao Bulgarie, Cristo Kalkov, sau này sẽ làm ngoại trưởng kiêm bộ trưởng tôn giáo vụ, đã hội kiến với Đức Giáo Hoàng và Hồng Y Quốc Vụ Khanh.
Bulgarie là một nước nhỏ đã từng sống dưới quyền đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ 500 năm, mới chỉ dành lại được độc lập năm 1875. Không may, đến Thế Chiến thứ 2, Bulgarie lại liên minh với phe Đức – Áo, và bại trận tơi tả, mất người, mất đất, tình cảnh xiểng liểng. Có lẽ chính vì thế phải tìm thêm bạn. Sau Thế Chiến, uy tín của Tòa Thánh lên cao lên cao ở Châu Âu.
Năm 1924. một nhân vật cao cấp của Tòa Thánh, ngài Tisserant làm Quản Thủ Thư Viện Vatican, đã d8i Bulgarie tìm mua sách quý. Rất nhiều Tu Viện Chính Thống ở Nga và ở Đông Âu đã bị tan tác vì Thế Chiến và vì Cách Mạng tháng 10 ở Nga. Nhiều sách vở vô giá của các Tu Viện đó trôi nổi lưu lạc. Không có người hiểu biết để bảo quản thì bao nhiêu tài liệu quý sẽ thành tro bụi. Sứ mạng của ngài Tisserant là một sứ mạng bác học: nhưng ngài cũng nhân cơ hội tìm hiểu tình hình của các nhóm Công Giáo thiểu số ở Bulgarie. Khi về roma, ngài tâu với Đức Giáo Hoàng xin cử một vị Kinh Lược của Tòa Thánh đến Bulgarie. Đức Thánh Cha nghĩ đến cha Roncalli.
Khác với Sứ Thần Tòa Thánh, vị Kinh Lược không thuộc ngoại giao đoàn, đối với nước sở tại thì không có vị thế chính thức. Cũng như Khâm Mạng Tòa Thánh, vị Kinh Lược chỉ đến thăm rồi về, không ở lại lâu. Không ngờ chuyến kinh lược ấy làm cho cha Roncalli trụ lại và lặn lội gần 20 năm ở những vùng ngoài Công Giáo, và ngoài Kitô giáo, xa cách Trung Tâm Roma. Ai biết được những nẻo đường kỳ lạ của Chúa Quan Phòng ?

15

Câu chuyện đến đoạn cha Roncalli chuẩn bị được phong Thánh chức Giám Mục năm 1925. Khẩu hiệu Giám Mục ngài chọn là: “Obedientia et Pax – Vâng Lời và Bình An”…

4Từ ngày 13 đến 17.3.1925, cha Roncalli tĩnh tâm để chuẩn bị được thánh phong Giám Mục. Cha suy nghĩ, chiêm niệm, cầu nguyện lâu giờ. Cha ghi lại:“Tôi sắp thành Giám Mục, vậy là thời gian chuẩn bị đã xong rồi. Không phải tôi đã tìm kiếm hay mong ước sứ vụ này, nhưng Chúa đã chọn tôi với những ý chỉ hiển nhiên đến mức nếu cưỡng lại thì tôi coi là có lỗi nặng”.
Mục tiêu đời làm Giám Mục của cha có thể tóm gọn trong một câu: “Tôi sẽ là người phục vụ ơn hòa giải”. Khẩu hiệu cha chọn là: “Obedientia et Pax – Vâng Lời và Bình An”. Cuộc đời cha từ đấy về sau sẽ trung tín với mục tiêu và khẩu hiệu ấy. Mọi thành công và mọi phiền muộn cũng là do mục tiêu và khẩu hiệu ấy cả. Không còn nghi ngờ gì nữa, cha đã theo đuổi trọn đời ý hướng đã có từ đầu đời Giám Mục.
Để “hòa giải”, để “vâng lời và bình an” đừng chỉ là mỹ từ, thì cần rất nhiều sự khiêm tốn; muốn “hòa giải”, muốn “vâng lời và bình an” phải trả giá bằng sự quên mình, để luôn luôn nhìn thấy mình nhỏ bé, nhìn thấy có cái gì đó lớn hơn, cao sang hơn mình, khiến mình tự nguyện xóa nhòa mình đi.
Ngày 19.3.1925, Lễ Thánh Giuse, cha Roncalli chịu chức Giám Mục, trước mặt song thân và anh chị em trong gia đình. Hình như những nhân tố sẽ làm nên dung mạo tinh thần của cha luôn theo cha như bóng với hình. Cha chịu chức trong Nhà Thờ dâng kính Thánh Carlo Borromeo, trái tim của thánh nhân còn lưu giữ trong phòng thánh. Và giữa Thánh Đường lộng lẫy xây cất bằng đá cẩm thạch nhiều mầu, trần và đỉnh cột thiếp vàng với những tượng đá trắng như bay vụt từ đất lên trời theo phong cách baroque, bàn thờ chính lại gắn hàng chữ rất lớn: “Humilitas”: Khiêm Nhường !
Ngày 25.4.1925 chuyến tầu lửa Simplon Orient-Express, sơn hai màu vàng và lam đậm, tuôn khói tiến vào ga Sofia. Đây là tuyến đường sắt dài nhất Châu Âu, khởi hành từ Luân Đôn nước Anh, đi qua Pháp, Thụy Sĩ, Ý, Serbie, Bulgarie, và dừng lại ở Thổ Nhĩ Kỳ: 3034 km. Chuyến tầu huyền thoại, đã nhiều lần đi vào văn học và điện ảnh, với những hành khách đậm đà bản sắc, những doanh nhân, chính khách, những nhà ngoại giao, văn sĩ, điệp viên, những giai nhân cùng khách giang hồ quốc tế…
Lần này, vị khách từ trên tầu Orient-Express bước xuống ga Sofia, bề ngoài không có gì để gợi hứng cho một nhà văn, hay một đạo diễn điện ảnh. Chỉ là một vị Giáo Sĩ mập tròn, hơi lùn, áo chùng thâm đơn giản. Nhưng đối với Giáo Hội Công Giáo, đây là một bước đi quan trọng: lần đầu tiên từ 700 năm nay, Đức Giáo Hoàng mới lại có đại diện ở mảnh đất hầu như toàn tòng Chính Thống Giáo này.
Đức Cha Roncalli chỉ có một cộng tác viên duy nhất, ngài đã chọn làm thư ký: cha Constantin Bosschaerts, vị Tu Sĩ Dòng Biển Đức người Bỉ này ôm ấp một hoài bão là làm sao lập được một Đan Viện Công Giáo ở Bulgarie, chuyên tâm lập quan hệ với bên Chính Thống. Ý hướng đại kết đã lộ diện từ lúc này.
Nhưng lúc này thậm chí một ngôi nhà riêng cho vị Kinh Lược cũng chẳng có. Đức Cha Roncalli tạm thời ở nhờ ngôi nhà nhỏ bé của Linh Mục Kurtev. Tuy không có tư cách ngoại giao, nhưng nhiệm vụ thì công khai, cho nên việc đầu tiên của Đức Cha là gửi điện văn kính chào và trình diện tới quốc vương Boris 3 và vị bộ trưởng ngoại giao. Việc thứ hai là bắt đầu học tiếng Bulgarie, và học cả chữ viết theo mẫu tự Kyrillo.
Đức Cha Roncalli nhận nhiệm vụ ở Bulgarie vào một thời đất nước này đang khủng hoảng nghiêm trọng. Vua Boris 3, năm ấy 30 tuổi, cũng muốn phục hưng đất nước sau thảm họa Thế Chiến thứ nhất. Nhưng trong những chế độ phong kiến suy tàn, tầng lớp lãnh đạo và nhân dân không có tiếng nói chung. Những quyền lợi chồng chéo tạo ra những ngăn cách khó lòng dẹp bỏ. Nhân dân khốn khổ vì nghèo đói và bất công. Tầng lớp lãnh đạo dựa vào các thị dân rủng rỉnh giàu sang làm gia tăng mâu thuẫn xã hội.
Chế độ đối phó bằng những diễn văn sáo rỗng, duyệt binh rầm rộ để phô trương lực lượng thị uy, nhưng kinh tế thì bết bát lụn bại. Các vấn đề không tìm được lối thoát thỏa đáng thì dễ nảy sinh bạo lực. Những người bất mãn dùng đến hạ sách khủng bố. Giới lãnh đạo trả đũa bằng đàn áp gắt gao. Số người bị bắt giam, thậm chí bị tử hình, tăng lên.
Hai tuần trước khi Đức Cha Roncalli đến Bulgarie, tình hình rất bi thảm. Vua Boris đi săn trên miền rừng núi, bị ám sát hụt ngày 13 tháng 4. 9 nghi can bị bắt ngay và treo cổ. Đáp lại, phe âm mưu giết vua lại hạ sát tướng Constantin Gheorghiev ngày 14 tháng 4. Ngày 16 tháng 4 làm lễ quốc táng cho ông tướng ỏ Nhà Thờ cổ Svata Nedala. Phe âm mưu cho rằng nhà vua về dự Lễ, liền đặt chất nổ dưới chân vòm lớn. Giữa cuộc Lễ, cả mái vòm lớn nổ tung và sập xuống, hơn một trăm người chết và khoảng một nghìn người bị thương.
Hoạt động đầu tiên của Đức Cha Roncalli là xin được đi thăm viếng những người bị thương. Địa bàn đầu tiên của ngài là các bệnh viện ở Sofia. Lấy lòng nhân đạo làm đầu. Bởi về mặt tôn giáo thì còn khó khăn. Tờ báo Tzaken Vestruk, cơ qua phát ngôn chính thức của Giáo Hội Chính Thống, không dấu vẻ hằn học đối với sự có mặt của vị Kinh Lược Công Giáo trên đất nước Bulgarie. Đức Cha Roncalli lẳng lặng chịu đựng mối ác cảm. Ngài hy vọng thái độ an vui hòa nhã và tinh thần cởi mở sẽ gỡ bỏ dần các chống đối.
Trước mắt hãy tập trung vào nhiệm vụ chính, là thăm viếng và săn sóc cho thiểu số Công Giáo. Cả nước Bulgarie, Công Giáo chỉ có khoảng 60 nghìn người, trong số đó 50 nghìn theo nghi lễ La-tinh. Người Công Giáo theo nghi lễ Đông Phương hồi giữa thế kỷ 19 có 60 nghìn, nhưng bị đế chế Nga đàn áp, có khi Giám Mục bị bắt giam trong Tu Viện Chính Thống, thêm với chiến tranh loạn lạc, nay chỉ còn khoảng 10 nghìn, sống trên vùng núi hẻo lánh miền Nam.
Đức Cha Roncalli quyết định đi thăm viếng đoàn chiên của Chúa càng sớm càng tốt. Liên tiếp có ba chuyến đi dài ngày. Lần thứ nhất, từ 20 đến 28.5, đi về miền Đông, đến bờ Biển Đen. Lần thứ hai từ 8 đến 26.6 về hướng Đông Nam, đến biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Lần thứ ba, từ 9.7 đến 9.8, lại về miền Đông Nam, rồi lên Đông Bắc, đi luôn sang Roumanie, đến Bucarest. Đi đến những thành phố như Plovdiv thì không khó lắm, và Đức Cha Roncalli đã ở lại đó mấy ngày. Nhưng Đức Cha muốn thăm hết các Xứ Đạo, kể cả những nơi heo hút núi rừng. Đến những chỗ đó, làm gì có xe, có đường. Không sao, vậy thì thuê một con ngựa, hay một con lừa.
Dọc theo các thung lũng, người ta truyền miệng cho nhau: “Có đại diện Đức Giáo Hoàng đến thăm ta”. Giáo Dân tụ họp chờ đợi. Thế rồi hai con lừa lóc cóc vào làng. Khách đường xa vắt vẻo trên cỗ yên gỗ phủ da dê, mồ hôi nhễ nhại, áo dòng đen lấm bụi đường, có khi ướt nhẹp vì lừa phải lội qua suối, nhưng vị khách rất hớn hở. Đó là Đức Cha Kinh Lược và cha Kurtev tháp tùng. Ông từ kéo chuông. Các cô gái tặng những bó hoa tươi. Người già hôn tay. Đức Cha làm Lễ, ban Phép Thêm Sức, giảng…
Lễ xong, ngồi ăn bánh mì với phô-mai cùng với dân làng. Thi thoảng có chêm một ly rượu mận, thường thì chỉ uống nước lã hoặc uống trà. Buổi tối, Đức Cha ngủ lại trong nhà xứ, mà nhà xứ thì cũng tuềnh toàng, chả hơn gì mấy so với những nông trại bệ rạc chung quanh. Có chỗ nhà xứ cũng chẳng có, lại ra quán trọ, hai người chia nhau một phòng, chia giường với rệp, trằn trọc cả đêm.
Những chuyến kinh lược không rềnh ràng nghi lễ, được bù đắp bởi tình thân của dân nghèo. Hết ba chuyến thăm viếng, giáo dân Bulgarie đã gọi Đức Cha Roncalli là Diado, một từ thân mật giống như “ông nội” hoặc “bố già”.
Qua một mùa hè, Diado đã thăm hết mọi địa sở Công Giáo. Thăm xong mọi địa sở, phải tính tới việc bổ túc ban lãnh đạo. Vị Giám Mục lãnh đạo cộng đồng Công Giáo theo nghi lễ Đông Phương qua đời đã cả năm. Đức Cha Roncalli đề nghị một danh sách ứng cử viên, kèm theo nhận xét riêng là nên chọn vị trẻ tuổi nhất và có khả năng nhất: không ai khác ngoài cha Kurtev, vị Linh Mục đã đón tiếp Đức Cha trú ngụ trong nhà mình, cũng là người đã tháp tùng Diado khắp các nơi thâm sơn cùng cốc Bulgarie. Ngày 5.12.1926, cha Kurtev được tấn phong long trọng ở Roma, Đức Cha Roncalli có mặt.
Rồi nào lập trường học, xây Nhà Thờ, giải quyết các vụ hôn nhân khác tôn giáo và nhất là hướng dẫn hàng Giáo Sĩ. Bởi vì hàng Giáo Sĩ vướng vít với lắm vấn đề nội bộ, với những thói quen trong bốn bức tường Nhà Thờ, lắm khi cũng sa đà vào những chuyện lẩn thẩn, những cạnh tranh phân bì vô lý, cần phải khắc phục bằng nỗ lực về nguồn tâm linh, gây dựng tinh thần đoàn kết liên đới, và coi trọng vấn đề chiêu mộ và đào tạo.
Đức Cha Roncalli cố gắng mở được hai Chủng Viện. Các Dòng Tu Nam Nữ đang phát triển ở Bulgarie cũng được Đức Cha dành cho khá nhiều thì giờ.
Paul Dreyfus viết:
“Một mối quan tâm hàng đầu của Đức Cha là tạo quan hệ với anh em Chính Thống Giáo. Xin yết kiến Thượng Hội Đồng Chính Thống mất bốn tháng mới được nhận lời, mà không phải Đức Thượng Phụ Stéphan tiếp, mà chỉ là vị phó chủ tịch Hội Đồng. Xem ra bên Chính Thống cố tình không tỏ ra mặn mà. Đức Cha Roncalli vẫn nhẫn nại đi từng bước một. Ngài phát hiện vẻ huy hoàng của Phụng Vụ Chính Thống. Ngài cũng thấy rõ ngoài vấn đề quyền bính tối thượng của Đức Giáo Hoàng ra, thì có rất ít vấn đề thật sự ngăn cách người Công Giáo với người Chính Thống: đôi bên cùng hết lòng sùng kính Thánh Thể, cùng rất mực mến yêu Đức Mẹ; và một điểm nổi trội của linh đạo Chính Thống: rất nhạy cảm với mầu nhiệm Chúa Thánh Thần.
Sống bên Giáo Hội Chính Thống, Đức Cha quan sát các Linh Mục Đông Phương, có vợ, có con, nặng gánh gia đình, vất vả với những vấn đề vật chất. Sự thể này như củng cố thêm tính xác đáng của luật độc thân nơi hàng Giáo Sĩ Phương Tây. Nhưng mặt khác, Đức Cha thành thực thán phục sinh chứng Đức Tin nơi những Giáo Sĩ nghèo khổ lận đận ấy. Với lại còn những Đan Viện lớn nơi rừng núi, ở đấy, ngọn lửa Đức Tin cháy bừng bừng.
Đức Cha quan sát, lắng nghe, nghiên cứu. Ngài thường nói: “Rất ít người có cơ may nghiên cứu Phương Đông ở Phương Đông”. Ngài đã học được sự tôn trọng xác tín của người khác. Nghi thức và truyền thống địa phương có khác nhau, nhưng đó mới chỉ là bề mặt. Ở trong chiều sâu tâm linh, Đức Tin vẫn là một nền tảng vững vàng duy nhất. Ngài đang mở rộng cõi lòng…”

16

“Sau này, bất luận tôi phải đi đâu trên thế gian này, nếu ban đêm có người Bulgarie nào lâm cảnh vất vưởng đi qua trước nhà tôi, người ấy sẽ thấy trên cửa sổ tôi một ngọn đèn thắp sáng. Xin hãy gõ, hãy gõ cửa ! Tôi sẽ không hỏi người anh em Bulgarie ấy có phải người Công Giáo hay không, xin cứ vào ! Một vòng tay huynh đệ sẽ tiếp nhận, một tình bạn nồng hậu sẽ đón mừng người anh em”.

5
Việc này nối tiếp việc kia. Chức vụ Kinh Lược tưởng là tạm thời cứ thế kéo dài ra. Đức Cha Roncalli cũng chẳng ở nhờ nhà Đức Cha Kurtev nữa. Năm 1929, ngài được Toà Thánh giúp đỡ, đã mua được một căn nhà rộng lớn với hai tầng lầu, và năm 1931 được cử làm Khâm Mạng Toà Thánh.
Bề ngoài Đức Cha Roncalli lúc nào cũng tươi cười, trong lòng thì vẫn thanh thản. Có điều chẳng có thành tích gì rực rỡ. Không biết ngài có mộng tưởng gì cao sâu chăng, nếu có hẳn là phải thất vọng. Đức Cha viết cho một người bạn:
“Tôi có mang một phẩm tước mà tôi không xứng đáng được mang và tôi có một quyền Thánh Chức mà bất cứ Linh Mục nào cũng thi hành, nhưng tôi thì không bao giờ, họa hoằn mới có dịp thuyết pháp; không bao giờ giải tội.
Tôi bây giờ ở trong một ngôi nhà đẹp mà suốt ngày chỉ bận bịu với chiếc máy đánh chữ, hoặc là thảo luận những chuyện chán ngấy, giữa nhiều khó khăn và gai nhọn; giữa những người thuộc về Chúa Giêsu Kitô và lẽ ra thì thuộc Giáo Hội Công Giáo, nhưng họ không có một tâm thức nào về Chúa Kitô và lại càng không có một tâm thức nào về Giáo Hội; lúc nào tôi cũng giao tiếp với những người gọi là ông to bà lớn của thế gian này, nhưng khi đụng đến cõi siêu nhiên lại cảm thấy tê tái vì tinh thần họ sao mà hẹp hòi…
Tôi cẩn thận chuẩn bị cho những biến cố tưởng là sẽ phát sinh ra bao nhiêu điều lành, nhưng rốt cuộc chỉ chứng kiến sự mong manh của mọi điều lòng người hy vọng”.
Một người nuôi chí nguyện Tông Đồ lại cứ phải tiến lui ứng phó với chính trị thế gian, làm sao khỏi cảm thấy so le ? Người làm tôn giáo với người làm việc đời, thường đánh giá khác nhau về vấn đề thế nào là hẹp hòi, thế nào là quảng kiến. Ở giữa thế gian mà không thuộc về thế gian, là một tư thế khó chịu.
Vua Boris vốn gốc Công Giáo đã bò theo đạo Chính Thống khi làm vua Bulgarie. Sau đó nhà vua cưới một bà công chúa người ý làm hoàng hậu. Vừa làm lễ cưới Công Giáo xong, nhà vua đưa hoàng hậu về nước quy thuận Giáo Hội Chính Thống. Đến khi sinh được một công chúa, nhà vua làm ngược lại điều đã hứa với Giáo Hội Công Giáo, lại làm Phép Rửa cho con trong Giáo Hội Chính Thống.
Đức Cha Roncalli không can dự vào vụ việc này. Mọi sự thương thảo đều diễn ra bên Ý. Tuy nhiên, đến khi câu chuyện vỡ lở thì ở Vatican cũng bắt đầu có những tiếng bấc tiếng chì đối với vị đại diện Toà Thánh ở Sofia – Đức Piô 11 dư biết Đức Cha Roncalli chẳng có chút trách nhiệm nào trong vụ ôi át này. Có điều Đức Cha không che dấu sự bực dọc. Toà Thánh rất cứng rắn trong vấn đề hôn nhân khác tôn giáo. Đức Cha Roncalli chỉ còn cách hết sức khéo léo để tránh một vụ đoạn giao giữa Bulgarie với Vatican.
Nhưng nếu những “khó khăn” và “gai nhọn” là những việc như vậy, có lẽ là chuyện thường tình. Nhưng Đức Cha Roncalli còn ghi mấy hàng sau đây trong sổ tay năm 1926: “Dự đoán cũng dễ thôi, sứ vụ của tôi nhiều nỗi gian khổ. Nhưng điều lạ thường là những gian khổ không do người Bulgarie, là những người dốc sức phục vụ, mà do các cơ quan trung ương quản trị Giáo Hội. Tôi không ngờ lại phải thất vọng và bị hất hủi từ phía đó, khiến cho tôi đau khổ nhiều”.
Đức Cha không nói cụ thể đó là những vụ việc gì. Chỉ biết rằng khi đó ngài đang lệ thuộc ba cơ quan trung ương: trước tiên là bộ các Giáo Hội Đông Phương; tiếp đó là phủ Quốc Vụ Khanh, vì tuy trong nhiều năm, ngài không có chức vụ chính thức về ngoại giao, nhưng trong thực tế, vẫn phải đảm nhiệm một số công tác ngoại giao; sau nữa ngài phải thi hành các chỉ thị của bộ Truyền Bá Đức Tin.
Các cơ quan trung ương của Toà Thánh nhiều khi cứng nhắc, áp dụng các nguyên tắc một cách máy móc, Còn Đức Cha Roncalli thì sống rất hồn nhiên, rất gần với những cảnh ngộ cụ thể của con người. Rất có thể đó là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu thông cảm của cấp trên.
Những lời sau đây trong “Nhật Ký Tâm Hồn” phải chăng phản ảnh những căng thẳng đó:
“Mọi kiểu thiếu tin tưởng, mọi cách đối xử thiếu lễ độ đối với bất kỳ ai, mọi thô bạo, mọi phán đoán thiếu suy nghĩ đều làm cho tôi buồn phiền và đau đớn trong tâm hồn. Tôi im lặng, nhưng lòng tôi rướm máu”.
Hình như có sự tương khắc giữa nội tâm Đức Cha với thế giới bên ngoài. Bên ngoài cả phần đạo lẫn phần đời, là một thế giới cứng cỏi, dệt bằng những tính toán vô hồn, những nước cờ ăn thua nhau, những thống kê và tương quan lực lượng. Dù muốn dù không, để chu toàn nhiệm vụ của mình, Đức Cha Roncalli phải tỉnh táo len lỏi giữa những phòng tuyến đó của thế gian. Nhưng trong thâm tâm còn một con người khác, đang khát khao tìm kiếm một cõi nhân gian khác. Ở đây, dòng suối mát Tin Mừng là một mạch nước ngầm, tưới nhuần một cõi riêng tư đơn sơ, trong sáng và khiêm tốn.
Năm 1927, song thân Ngài mừng Kim Khánh Hôn Nhân, bức thư Đức Cha Roncalli gửi về nhà phản ánh tinh thần đó:
“Con xin hết lòng cảm tạ Chúa: vì không những Chúa đã giữ gìn cha mẹ được khoẻ mạnh trong suốt 50 năm qua, nhưng còn vì cả gia đình ta vẫn giữ được tinh thần đơn sơ mộc mạc, nghèo mà coi cái nghèo là một vinh dự, chứ không phải là một gánh nặng, và luôn biết kính sợ Chúa; trước mặt thế gian thì không làm bộ làm tịch, đó vừa là nguyên nhân để được thanh thản bình an suốt cuộc đời này, vừa là đảm bảo cho niềm vui vĩnh cửu đời sau. Con lấy làm mừng vì các con của cha mẹ đều quyết tâm không thay đổi cung cách sống, và đến lượt chúng con lại chủ trương dưỡng dục con cháu như cha mẹ đã dưỡng dục chúng con”.
Nhờ tấm lòng thanh thản bình an ấy, Đức Cha Roncalli dù gặp “khó khăn” và “gai nhọn”, vẫn không oán than, không cay cú. Cha viết cho người chị ruột Ancilla: “Ngày lại ngày, em vẫn tiếp tục gieo những hạt giống nhỏ. Khi đến thời đến buổi, hoặc em hoặc người khác sẽ hái được trái chín”.Những ngày tháng qua đi, có vẻ như cây mọc chậm, biết đến bao giờ trái chín. Nếu có trái, chắc chắn người khác hái, chứ không phải Đức Cha Roncalli.
Năm 1931, tĩnh tâm trên bờ biển Bujukada, Đức Cha ghi lại: “Tôi đã ở vào tuổi năm mươi. Vậy là đứng bóng rồi, về già rồi: biết đâu giờ chết đã gần. Một nửa thế kỷ trên đời, được ơn gọi làm Linh Mục, tôi có làm được gì nhiều đâu… nhưng tôi nhìn về tương lai trong binh an, thanh tĩnh, và tin tưởng”.
1932, một lời tâm sự: “Giám Mục hay Linh Mục, mà rốt cuộc chỉ làm công việc ngoại giao và làm công việc bàn giấy, ôi cuộc đời mới tội nghiệp làm sao !”
1934, viết thư cho một người bạn đang rất buồn phiền vì nhiệm sở Giám Mục giao cho: “Anh tưởng tôi cũng thích ở đây lắm sao, sống mãi ở Bulgarie thế này sao ? Nhưng tôi vui lòng ở lại, bởi vì đó là ý Chúa đối với tôi; ngoài ý Chúa, ở đâu cũng là khốn khổ; còn với ý Chúa, tôi được hưởng một niềm bình an bao người thèm khát mà không có được, tôi sẽ không đánh đổi bình an ấy lấy bất cứ sự thăng quan tiến chức nào, dù cho vẻ vang nhất trên đời đi nữa. Đây là dấu chỉ rằng Chúa rất thích dẫn đưa ta để ta làm một cái gí đó khác hẳn với cái ta tưởng ta làm được”.
Và trong nhật ký: “Khi tôi tự hỏi mình tôi phải làm gì để đẹp lòng Chúa hơn nữa và để nên thánh, tôi không nghe thấy câu trả lời nào khác câu này: hãy tiếp tục sống trong sự vâng lời, như bây giờ, hãy làm công việc bình thường, ngày lại ngày, đừng bồn chồn, đừng lập dị, nhưng hãy luôn uớc ao được sốt sắng hơn, hoàn thiện hơn”. Đức Cha viết cho người em ruột Giovanni: “Càng sống anh càng xác tín rằng lý tưởng là ta chỉ có những gì cần thiết cho ngày hôm nay, và chỉ lo lắng cho những điều nhu yếu mà thôi”.
30.3.1935, trong một thư khác gởi về gia đình, Đức Cha giải thích: “Tôi có được tinh thần an nhiên như thế trong tay Chúa quan phòng một phần là do đã sinh ra ở nông thôn, trong một gia đình nghèo tiền của, nhưng giàu Đức Tin và giàu lòng kính sợ Chúa, quen sống đơn giản với thiên nhiên từng ngày, từ năm này qua năm khác”.
Ta có thể tìm thấy rất nhiều những lời lẽ tương tự trong bút tích của Đức Cha Roncalli, và sau này, của Đức Giáo Hoàng Gioan 23. Tư tưởng của ngài có thể cô đọng trong một câu: “Chúa muốn được mang danh là Chúa của người nghèo”. Và thế là Đức Cha sống một cuộc đời tương đối trầm lặng, và nhẫn nhục suốt 9 năm ở Bulgarie.
Tháng 11 năm 1934, Đức Cha Roncalli về Roma và được Đức Giáo Hoàng Piô 11 tiếp kiến. Ngày 17, ngài được tin Tòa Thánh giao cho ngài nhiệm vụ làm Khâm Sứ Tòa Thánh ở Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp. Tháng 12, Đức Cha trở lại Bulgarie để viếng thăm từ giã các nơi đã từng phục vụ.
Trong thời gian ngài ở Bulgarie, với thành quả bị đánh giá là không mấy xuất sắc, ấn tượng sâu đậm nhất ngài để lại cho đất nước này không phải là những vụ việc lỉnh kỉnh về ngoại giao hay quản trị nội bộ Giáo Hội, nhưng là một thái độ gần gũi với những con người bình thường. Người ta còn nhớ vụ động đất năm 1928, chấn tâm ở gần Plodiv, thành phố lớn thứ nhì ở Bulgarie. Nhiều nạn nhân, và thiệt hại rất nặng nề, cảnh tượng thật điêu linh. Đức Cha Roncalli đã vội vã đến nơi bị tàn phá nhất, làng Cirpan, để chứng kiến tận mắt thảm cảnh. Rồi ngài hối hả báo động với Vatican, yêu cầu viện trợ khẩn cấp.
Ba ngày sau, Tòa Thánh mở cho ngài nguồn kinh phí. Đức Cha Roncalli trở lại những nơi họa tai. Người ta còn sợ những dư chấn, đêm đêm mọi người ngủ ngoài trời. Đức Cha Roncalli cũng màn trời chiếu đất như mọi người. Suốt từ tháng 4 đến tháng 7, ngài có mặt ở khắp nơi, mở những “quán ăn của Đức Giáo Hoàng”, cung cấp lương thực miễn phí cho nạn dân. Tháng 7 hết tiền, ngài về tận Roma vận động để cứu giúp những người nghèo khổ nhất. Cũng kiếm được đủ để cứu trợ trong tháng 8… Từ cơn tai biến này về sau, người Bulgarie coi Đức Cha Roncalli như bạn thân, và như một người tín cẩn.
Noel 1934, Đức Cha Roncalli thuyết giảng lần cuối cùng ở Bulgarie trong Nhà Nguyện của Dòng Capucino. Sau khi đã kêu gọi các anh em ly cách, Đức Cha kết luận: “Sau này, bất luận tôi phải đi đâu trên thế gian này, nếu ban đêm có người Bulgarie nào lâm cảnh vất vưởng đi qua trước nhà tôi, người ấy sẽ thấy trên cửa sổ tôi một ngọn đèn thắp sáng. Xin hãy gõ, hãy gõ cửa ! Tôi sẽ không hỏi người anh em Bulgarie ấy có phải người Công Giáo hay không, xin cứ vào ! Một vòng tay huynh đệ sẽ tiếp nhận, một tình bạn nồng hậu sẽ đón mừng người anh em”.
Ngày 3.1.1935, vua Boris tặng Đức Cha Roncalli huân chương cao quý nhất của vương quốc Bulgarie, và hai món quà kỷ niệm: một chân dung nhà vua trong khung ảnh bạc, nói lên quan hệ cá nhân thân tình và một cây Thánh Giá, xuất phát từ danh sơn Athos của Chính Thống Giáo, như bảo chứng của một chân lý và một lòng mến chung vẫn tồn tại bất chấp những nghịch cảnh lịch sử.
Ngày 4.1.1935, tuyết rơi dày đặc. Đức Cha Roncalli lên xe lửa đi Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, nhận nhiệm sở mới…

17

“Mặc áo thâm chùng hay mặc quần tây thì có quan hệ gì đâu, miễn là chúng ta loan báo Lời Chúa”.

6Thổ Nhĩ Kỳ ( Turkey ), đối với Giáo Hội, là một vùng đất mang biết bao kỷ niệm. Quốc gia nằm vắt ngang eo biển Bosphorus này, nơi cực đông Địa Trung hải ( biển Marmara ), tiếp giáp với Biển Đen, cũng là nơi Châu Á tiếp giáp với Châu Âu. Diện tích Thổ Nhĩ Kỳ 3 phần Âu, 97 phần Á. Thời cổ gọi nơi này là Tiểu Á ( Asia Minor ).
Ở biên giới phía Đông giáp với Armenia, ngọn núi Ararat ngất trời tuyết phủ. Theo huyền sử Thánh Kinh, con tàu của Nôê khi hồng thủy rút, đã đậu lại trên sườn núi. Ngày nay vẫn còn có những người quả quyết đã nhìn thấy xác một con tàu lớn ở độ cao trên dưới 5.000m, khiến cho nhiều đoàn thám hiểm nối tiếp nhau đi tìm. Chỉ thấy hang sâu vực thẳm, vách đá và tuyết băng, còn xác con tàu hình như ẩn hiện mãi giữa núi non trùng điệp, không ai đặt tay vào được. Con tàu huyền hoặc ấy cứ gợi lên mãi trong tâm trí người ta những ấn tượng về tội lỗi gian tà lẫn hồng ân cứu vớt trên thế gian bảy sắc cầu vồng.
Nhưng nếu ta xuống núi tìm về đồng bằng ven Địa Trung Hải, quả nhiên gặp lại rất nhiều địa danh đã được ghi trong chính sử của Giáo Hội. Những nơi đã ghi vết chân của Thánh Tông Đồ Phaolô trên đường truyền giáo, từ đó đi vào Thánh Kinh Tân Ước, trong sách Công Vụ Tông Đồ, hay trong các đề thư của vị Tông Đồ lương dân: Tarso, Iconio, Derbe, Lystra, Epheso, Mileto, Colosse…, những Smyrna, Philadelphia, Laodikea của sách Khải Huyền… Và sinh quán của Thánh Phaolô vẫn còn mang tên Tarsus.
Chính ở đây đã bừng sáng lên khuôn mặt của các Giáo Phụ những thế kỷ đầu: Polycarpo, Giám Mục Smyrna, truyền nhân của Thánh Gioan Tông Đồ; Ignatio Antiokia Tử Đạo đi xuyên qua đây trên đường dài về Roma để làm “tinh bột dưới răng dã thú”, đã viết những lá thư rực lửa làm ấm lòng Dân Chúa mãi đến ngày nay và mai sau.
Vị hoàng đế Roma đầu tiên quy phục Chúa Kitô, là Constantino, đã thiên đô về đây lập nên kinh thành Constantinopoli hơn một nghìn năm lẫy lừng. Và Giáo Hội đã phát triển rực rỡ, với những bậc vĩ nhân như Basilio Caisaria, Gregorio Nazianza, Gregorio Nissa, v.v… Tiếc thay, cũng chính Constantinopoli là nơi xảy ra sự chia rẽ và ngăn cách Giáo Hội Phương Đông với Phương Tây năm 1054, mãi tới nay hàn gắn vẫn không xong.
Tất cả những thời đại ấy đã thuộc về quá khứ. Vì từ thế kỷ thứ 7, người Ả Rập đã đưa đạo Hồi đến cửa ngõ của đế chế Roma Phương Đông. Thế kỷ 11, người Thổ theo đạo Hồi xâm chiếm và hoàn toàn làm chủ vùng Châu Á của Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1453, họ hạ luôn kinh đô Constantinopoli, và Thổ Nhĩ Kỳ thành một đế quốc toàn tòng Hồi Giáo.
Ngày nay mấy ai còn có dịp hành hương những nơi linh địa xưa. Constantinopoli đã thành Istanbul, Đền Thờ Sophia huy hoàng rực rỡ do hoàng đế Justiniano xây cất được cắm thêm những tháp nhọn để biến thành Nhà Thờ Hồi Giáo, trước khi chế độ cộng hòa đổi thành viện bảo tàng.
Những vùng đất gắn liền với lịch sử những thế kỷ Kitô Giáo đầu tiên đều thay tên khác. Colosse nổi tiếng vì bức thư của Thánh Phaolô nay chỉ còn một vài phế tích gần Hovaz. Tám Công Đồng Chung đầu tiên đánh dấu những thành tựu khổng lồ trên đường xác định nội dung Niềm Tin căn bản vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và mầu nhiệm Chúa Kitô đều họp ở Thổ Nhĩ Kỳ. Không kể Constantinopoli đã trở thành Istanbul, Nica ngày nay mang tên Iznik.
Thành phố Epheso, năm 431, nhân dân nô nức rước đuốc mừng Đức Maria Thiên Mẫu, vì Công Đồng họp ở đây đã tuyên xưng nơi Đức Kitô: Thiên Chúa và người chỉ là một bản vị duy nhất, nay thu lại trong ngôi làng nhỏ Selxuk. Còn Chalkedon, với Công Đồng họp năm 451, nay là Kadikoij. Lịch sử cho thấy có những nơi Đức Tin bừng sáng rồi Đức Tin lại vắng xa. Chẳng ai biết chắc ngọn gió Thần Khí từ đâu đến rồi đi đâu; và đi xa rồi đến bao giờ trở lại…
Đức Cha Roncalli được gửi đến vùng đất biết bao thân thương mà đã thành xa lạ ấy. Hồi còn là Linh Mục trẻ, ngài đã từng dạy lịch sử Giáo Hội và Giáo Phụ học, hẳn non nước này gợi lên cho ngài nhiều điều. Nhưng ngài là người lạc quan. Nhìn xuống eo biển Bosphorus, ngài không thấy “nước còn chau mặt với tang thương”, chỉ thấy những con thuyền đủ màu đủ sắc đang lướt êm giữa hai bờ Âu – Á. Ngài vẫn gọi thành phố bằng tên cũ: “Địa thế Constantinopoli quả là đẹp nhất thế giới !”
Trên đồi núi nhấp nhô, những tháp nhọn thẳng vút của các Nhà Thờ Hồi Giáo vẫn phát ra tín hiệu gọi người thế gian cầu nguyện và phó thác. Giữa thành phố, hai kiệt tác kiến trúc, một của Kitô giáo xưa kia, Viện Bảo Tàng Sophia, và một Đền Thờ Hồi Giáo do Soliman Tuyệt Mỹ kiến thiết. Những tường thành cổ úa vàng do đại đế Theodose thời Kitô giáo dựng lên, vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”, còn khu vực thượng uyển trong cung viện của các hoàng đế Hồi Giáo xưa là một ốc đảo bát ngát hoa thơm cỏ lạ. Khu phố cổ đầy ắp những hàng hóa muôn mầu, nồng nàn hương vị Đông Phương. Đúng vậy, bên kia eo biển chính là nơi khởi đầu của Châu Á mênh mông. Còn ở khắp các đường phố hẹp thoải dốc, quần chúng dân nghèo sinh sống, xập xệ mà linh hoạt, nào thợ thủ công, nào dân chài, nào phu khuân vác, nào những trẻ đánh giầy.
Đức Cha Roncalli đâu phải không biết những khó khăn đang chờ đợi mình ở nhiệm sở mới này. Một là: Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia có truyền thống và văn hóa Hồi Giáo lâu đời. Hai là: chế độ mới thành lập ở Thổ Nhĩ Kỳ là một chế độ duy thế tục. Sau Thế Chiến, một cuộc cách mạng đã nổ ra ở Thổ, lật đổ đế chế cũ, và thiết lập chế độ Cộng Hòa. Người lãnh đạo cách mạng là Mustafa Kemal, thường được mọi người biết đến dưới danh xưng Kemal Atatrk. Danh xưng này giàu nghĩa tượng trưng, bởi “Kemal” có nghĩa là “hoàn hảo” và “Atatrk” có nghĩa “Cha của mọi người Thổ”.
Cũng như nhiều nhà cách mạng khác, Kemal Atatrk nóng vội, muốn ngay lập tức biến đổi đất nước từ tình trạng lạc hậu thủ cựu thành một quốc gia hiện đại. Do đó, ông xúc tiến cải tổ với bàn tay sắt, đảo lộn cả phong tục lẫn tôn giáo. Ngày chủ nhật được lấy làm ngày nghỉ hàng tuần thay ngày thứ sáu Hồi Giáo. Các trường dạy Kinh Koran, các tòa án tôn giáo, những hội cầu nguyện hơi co tính đồng thiếp của các derviches đều bị xóa bỏ. Thổ Nhĩ Kỳ từ nay tính năm tháng theo dương lịch ( lịch Gregorio ), xử dụng mẫu tự ltinh, du nhập hình luật của Ý và dân luật của Thụy Sĩ. Chế độ đa thê bị hủy bỏ. Phụ nữ không được trùm đầu, trùm mặt theo truyền thống Hồi Giáo. Nam giới không được đội chiếc mũ fez cổ truyền. Và thủ đô thiên về Ankara, vừa ở trung độ của đất nước, vừa là trung tâm của đế chế Hittit bốn ngàn năm trước.
Nhân dân theo Hồi Giáo, chính thể lại duy thế tục, cả nhân dân lẫn chính thể đều chẳng có thiện cảm nào cho một đại diện của Vatican.
Việc đầu tiên của Đức Cha Roncalli khi đến Istanbul là phải đi trình diện với ông giám đốc công an. Theo lệ, khâm mạng Tòa Thánh cứ đến hạn phải đi trình diện như vậy để gia hạn tạm trú. Trình diện xong, Đức Cha Roncalli ra về với giấy phép thường trú. Vị thư ký Tòa Khâm Mạng tròn mắt ngạc nhiên: “Đức Cha làm sao mà tài vậy ?” – “Ôi chào ! Thì tôi nói chuyện thân tình với ông ấy, toàn những chuyện linh tinh thôi. Thế là mọi việc ổn thỏa”. Không để mất một phút, Đức Cha lại viếng thăm xã giao ông thống đốc Muhiddin Ustundag. Ông này người gầy mà cao lênh khênh, mặt lạnh như tiền. Một tiếng đồng hồ sau, hai người tươi cười ra khỏi phòng, ra sân ngồi vọng cảnh biển Bosphorus. Ông thống đốc nâng ly rượu thơm Raki: “Tôi xin chúc Đức Cha may mắn. Nhưng ngài sẽ khổ với bọn tôi đấy. Chúng tôi là những người Hồi Giáo rất thế tục”. Những người ngồi dự chưng hửng. Vị Khâm Sứ Tòa Thánh cười khà: “Tôi đã làm cho những người còn cứng lòng hơn các vị ăn năn trở lại đấy ạ !”
Đức Cha Roncalli có tài làm cho người ta cảm thấy ngài không đại diện cho một mưu toan quyền lực nào, trước tiên ngài là một người rất tự nhiên, rất hồn hậu. Gọi là “tài” e không đúng. Đó là một nét rất trung thực của con người Roncalli. Ngài thấy và làm cho những người đối tác cũng thấy rằng chính con người cụ thể đang sống đây là đối tượng cần trân trọng và phục vụ, chứ con người ấy không phải là phương tiện cho bất cứ cái gì.
Vậy là sự giao tiếp với chính quyền Thổ đã trót lọt. Trước khi nhận nhiệm sở, ngài đã viết cho một người bạn: “Xứ này mưa gươm gió kiếm, tôi sẽ cố gắng hết sức nép mình vào tường mà tiến, sẽ đi từ từ, hy vọng đi xa, dù người ta đã báo trước, dù gập ghềnh gian nan. Vào được trong nước là mãn nguyện rồi”. Nay thì đã vào được. Nhiệm vụ cốt yếu là nhiệm vụ tôn giáo. 15 triệu dân Thổ kể như toàn tòng Hồi Giáo.
Trước đây có một thiểu số người Armenia rất thành tâm gắn bó với Đạo Kitô, có văn hóa và truyền thống đậm bản sắc Kitô giáo. Nhưng Thổ và Armenia là hai dân tộc đối nghịch. Người Thổ ra sức đàn áp, hành hạ người Armenia. Trong Thế Chiến thứ nhất, một cuộc diệt chủng thật sự đã xảy ra. Mấy trăm ngàn người Armenia bị hạ sát. Ai may mắn thoát chết thì hoảng sợ tìm đường chạy ra nước ngoài. Nhóm Armenia tan biến, cộng đồng Kitô hữu càng trở nên đàn chiên bé nhỏ.
Tòa Thượng Phụ Constantinopoli cho đến thế kỷ 15, là trung tâm của Chính Thống Giáo. Ngày nay, các cộng đồng Chính Thống rải rác trên thế giới, từ Trung Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ, Uc, Tân Tây Lan ( New Zealand ) vẫn quy phục Đức Thượng Phụ ở đây. Nhưng trong nước Thổ, Đức Thượng Phụ, từ trong cung điện Phanar nổi tiếng, chỉ cai quản khoảng 100.000 Giáo Dân.
Đàn chiên của Đức Cha Roncalli lại càng nhỏ bé. Là Khâm Mạng Tòa Thánh, ngài kiêm nhiệm sứ mạng Giám Quản cộng đồng Công Giáo theo nghi lễ Latinh, 35.000 người trong khắp nước. Số Công Giáo theo các nghi lễ Đông Phương còn ít hơn. Nhà Thờ Chính Tòa dâng kính Chúa Thánh Thần chỉ là một Giáo Đường nhỏ, rất tối. Không biết duyên nợ thế nào Đức Cha Roncalli lại có một anh hầu phòng có tay nghề chạm gỗ. Tự tay anh này chạm trổ cho Đức Cha ngai Giám Mục đặt trên Cung Thánh. Ngoài ra, người Công Giáo Latinh còn có 21 Nhà Thờ, một Chủng Viện. Các Dòng Tu khá đông. Một Giáo Hội nhỏ nhưng rất sống động và đã bám rễ sâu trong đất nước Hồi Giáo này. Đức Cha có vẻ hài lòng vì công việc ở đây đúng là “công việc của Linh Mục và Giám Mục”.
Khi ở Sofia, Đức Cha đã học tiếng Bulgarie, nghe người ta nói và đọc sách báo được. Sang Istanbul lại học tiếng Thổ. Ngày ấy Giáo Hội Công Giáo trong mọi lễ nghi chuyên đọc kinh và hát bằng tiếng Latinh. Hay và đẹp tuyệt vời. Có điều nhân dân không hiểu, dân Thổ xa lạ với Đạo Kitô lại càng không hiểu. Một Chúa Nhật, Giáo Dân đi Chầu Thánh Thể bỡ ngỡ nghe Đức Cha yêu cầu họ lặp lại theo ngài những lời kinh đã dịch ra tiếng Thổ: “Chúng con xin chúc tụng Chúa”, mọi người ồm oàm đọc theo: “Tamre Mubarek Olsun”. Công việc dịch kinh không thiếu khó khăn. Muốn dịch “lạy Chiên Thiên Chúa”, nhưng người Thổ chỉ biết cừu thôi. Cừu già hay cừu non cũng chỉ là cừu. Vậy “Agnus Dei” là “lạy cừu của Allah” nghe không ổn tí nào v.v…
Các bộ ở Vatican chau mày. Vị Khâm Mạng này đổi mới nhiều quá. Chắc là Bộ Giáo Hội Phương Đông có ý kiến. Đức Cha Roncalli lại viết thư về nhà: “Tôi nhận thấy cách tôi đánh giá tình hình tại chỗ với cách nhìn cùng một vấn đề từ Roma còn cách xa nhau. Tôi buồn phiền lắm. Duy chỉ có điều ấy thật sự là Thập Giá của tôi !”
Ngày 13.6.1935, ông Atatrk quyết định: Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia thế tục, vậy thì khi ra khỏi Nhà Thờ hay Tu Viện, các giới tôn giáo không được mặc tu phục. Ngày đó, Linh Mục Tu Sĩ không quen mặc thường phục. Có những Tu Viện phát hoảng. Đức Cha Roncalli điềm tĩnh: “Mặc áo thâm chùng hay mặc quần tây thì có quan hệ gì đâu, miễn là chúng ta loan báo Lời Chúa”.
Ngài tập họp hàng Giáo Sĩ và cử hành một Thánh Lễ. Lễ xong, mọi người từ trong Nhà Thờ bước ra thì đã thành người đời cả. Đức Khâm Mạng người tròn trịa, chiếc áo khoác ngoài chật căng, trông khác lạ. Soi gương tự mình lại bật cười mình…

18

Đức Thánh Cha Chân Phúc Gioan 23, lúc còn làm Khâm Mạng Tòa Thánh tại Hy Lạp, đã nói đùa về chuyện ly khai đáng tiếc giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo: “Tôi mà được làm Giáo Hoàng lúc xảy ra vụ ly khai, thì đã không có ly khai”.

7Đức Cha Roncalli viết thư về nhà thăm các chị em gái: “Tôi sống với người Thổ ra sao thì chị em biết rồi đấy. Nhưng với người Hy Lạp lại càng khó hơn”. Vì Đức Cha kiêm nhiệm chức vụ Khâm Mạng Tòa Thánh ở Hy Lạp. Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ tiếp giáp nhau. Nhưng từ Thổ sang Hy, là từ Á sang Âu, từ Đông sang Tây.
Hy Lạp chính là cái nôi của nền văn minh Phương Tây. Trước công nguyên bảy thế kỷ, ở đây đã có một nền văn minh rực rỡ nhất thế giới. Ngày nay các học giả Phương Tây vẫn tiếp tục say mê thi ca, văn học, triết học, nghệ thuật Hy Lạp. Người ta vẫn tìm về ngọn đồi Acropolis trông xuống thủ đô Athena, không chỉ để chiêm ngưỡng kiến trúc và nghệ thuật, mà như tìm về cội nguồn nhân bản sáng rực của mình.
Từ Acropolis nhìn sang phía Tây thấy đồi Are, chính là nơi Thánh Phaolô đã dừng chân trong chuyến đi truyền giáo lần thứ hai: “Kính thưa quý vị người Athena, xét về mọi mặt, tôi nhận thấy quý vị rất mực sùng tín. Vì ngang qua đây, tôi ngước mắt nhìn các nơi thờ tự thì đã thấy một tế đàn có hàng chữ khắc: Kính Thần Vô Danh. Vậy Đấng các vị không biết nhưng có thờ kính, thì này tôi xin loan báo về Ngài…” ( Cv 17, 22 – 23 ).
Lần ấy Thánh Phaolô giảng có kết quả, nhưng không nhiều, mặc dù đã cố gắng vận dụng thi ca Hy Lạp trong lời rao giảng. Dù sao, dòng chảy của Tin Mừng từ Phương Đông đã quanh qua Phương Tây, vì như sách Công Vụ nói, lần này “Thánh Thần ngăn cản không cho giảng Lời ở Tiểu Á” và “Ban đêm, Phaolô thấy thị kiến: một người Makedonia đứng khấn xin với ông rằng: hãy qua Makedonia cứu giúp chúng tôi… Chúng tôi tìm cách trẩy đi Makedonia, vì hội ra được là chính Thiên Chúa đã gọi chúng tôi đến rao giảng Tin Mừng cho họ” ( Cv 16, 6 – 10 ).
Makedonia chính là vùng nội địa Đông Bắc Hy Lạp. Còn những thành phố ven biển thì đã trở nên những danh xưng quen thuộc với những ai đọc Tân Ước nhờ những mối quan hệ thư từ của Thánh Phaolô: Philip, Thessalonike, Corintho… Trong suốt những thế kỷ đầu, tiếng Hy Lạp là ngôn ngữ thông dụng và chính thức của Giáo Hội. Thành ra ngày nay không thể nghiên cứu Tân Ước hay cổ sử Giáo Hội, hay các Giáo Phụ mà không động đến cổ ngữ Hy Lạp. Cũng như ở Tiểu Á, Giáo Hội ở đây sau thời cấm cách đã có một giai đoạn huy hoàng mà kinh đô Constantinopoli là một biểu hiện.
Nhưng cũng như Tiểu Á, vùng Hy Lạp dưới sự điều động của Thượng Phụ Constantinopoli đã đoạn tuyệt với Roma. Giáo Hội chia thành Công Giáo và Chính Thống Giáo từ đó. Qua thế kỷ 14, người Thổ đã chiếm Tiểu Á và Hy Lạp rơi vào quyền đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ. Tiểu Á thành đất của người theo Đạo Hồi, nhưng dân Hy Lạp thì vẫn gắn bó với Chính Thống Giáo. Phải gần 400 năm sau, khi đế quốc Thổ đã suy yếu, và với sự giúp đỡ của các nước Tây Âu, Hy Lạp mới dành lại được độc lập, lấy Chính Thống Giáo làm quốc giáo.
Đứng về mặt địa lý, việc Đức Cha Roncalli, nhiệm sở ở Istanbul, kiêm nhiệm luôn chức Khâm Mạng Tòa Thánh ở Hy Lạp là điều dễ hiểu: cả hai nước đều có rất ít người Công Giáo và lại tiếp giáp với nhau. Nhưng về mặt lịch sử và tâm lý, sự kiêm nhiệm này không khỏi có điểm tréo ngoe. Một bên là cựu đế quốc, một bên là cựu chư hầu, quan hệ không lấy gì làm thân thiện. Để đi từ Thổ sang Hy Lạp, thủ tục chiếu khán khá nhiêu khê.
Vị tiền nhiệm của Đức Cha Roncalli là Đức Cha Margotti, giải quyết vấn đề bằng cách chọn những lộ trình vòng vo, để vào Hy Lạp bằng những đường khác, không qua cửa khẩu biên giới Hy – Thổ, chẳng khác nào lẻn vào Hy Lạp không xưng danh tính. Thế nhưng vào trong nước rồi, ngài lại cắm cờ Vatican lên xe hơi rất đường bệ. Nhà cầm quyền Hy Lạp không khỏi phật lòng.
Đức Cha Roncalli chọn một đường lối khác. Ngài xử sự như người dân thường. Bốn tháng sau khi đến Thổ, ngài xin chiếu khán du lịch để vào Hy Lạp một tuần lễ. Vừa bước chân vào đất Hy Lạp, liền có trinh sát theo dõi. Hy Lạp đã không thân thiện với Thổ Nhĩ Kỳ, những diễn biến sau Thế Chiến lại càng làm cho tình hình thêm căng thẳng.
Trong Thế Chiến, phe thân đồng minh Pháp – Anh – Mỹ chiếm được chính quyền ở Hy Lạp. Hy Lạp thành nước chiến thắng. Thổ Nhĩ Kỳ ngả theo hai đế chế Trung Âu là Đức – Áo thành nước chiến bại. Sau Thế Chiến, hai nước tranh chấp đất đai và lại đánh nhau trong hai năm ( 1922 – 1924 ). Theo Hiệp Ước Locarno và Ankara ( 1925 ), một triệu người Hy Lạp rời Thổ Nhĩ Kỳ về nước, và 300.000 người Thổ cũng rời Hy Lạp về nước. Trong số người Hy Lạp hồi hương, có một nhóm Công Giáo trở về đất nước hầu như toàn tòng Chính Thống. Sự xuất hiện của nhóm Công Giáo trong số kiều bào hồi hương, tuy chẳng nhiều nhặn gì, nhưng vẫn khiến cho dân Chính Thống khó chịu và nghi kỵ.
Vừa là Khâm Mạng Tòa Thánh ở Thổ, vừa là thủ lãnh Công Giáo, Đức Cha Roncalli bị theo dõi cũng là điều dễ hiểu. Đức Cha hiểu rất rõ tình thế này. Ở Athena một tuần, ngài cư xử rất thận trọng. Toàn thời gian dùng để tiếp xúc với các Giám Mục Hy Lạp. Và đúng hạn một tuần, ngài trở về Thổ. Lại một lần nữa, cung cách Roncalli tạo ấn tượng.
Sau tuần lễ đó, chính quyền Hy Lạp không còn nghi ngờ gì nữa. Đức Cha Roncalli được phép vào Hy Lạp bất kỳ lúc nào, và ở lại bao lâu tùy ý. Trong mười năm, ngài đi Hy Lạp mười chín lần, và cũng như ở các nhiệm sở khác, ngài đã đi khắp nơi, đất liền cũng như hải đảo, và đến thời Thế Chiến thứ hai, trở nên người cứu đói được nhân dân không phân biệt tôn giáo yêu mến.
Trên bình diện tôn giáo, nhiệm vụ cũng tế nhị. Hy Lạp là một quốc gia 6 triệu dân, theo Chính Thống Giáo. Ký ức của người Hy Lạp về Công Giáo rất xấu. Biến cố nhớ đời vẫn là cuộc Thập Tự Chinh thứ hai, thế kỷ 13. Mấy đoàn quân Công Giáo từ Châu Âu viện cớ sang Đất Thánh đánh quân Hồi Giáo để chiếm lại Mồ Chúa, đã ngang qua Hy Lạp. Thật ra, đây là những đoàn quân ô hợp và cực kỳ tham tiền. Đi qua đế đô Constantinopoli, họ bị hớp hồn vì cảnh giàu sang ở đây. Thế là Thánh Địa với Mồ Chúa tan biến đi đâu mất. Cả tướng lẫn quân quay ra cướp của trắng trợn, tàn phá kinh thành, và đánh lộn lẫn nhau, và cuỗm châu báu về Châu Âu. Dẫu là Công Giáo với Chính Thống, thì cũng là anh em Ki-tô hữu với nhau, vậy mà…
Thánh Bernard de Clairvaux là người nhiệt thành cổ võ cho cuộc Thập Tự Chinh này, đã đau đớn biết bao vì cái kết thúc thê thảm và ô nhục đó. Biết sao được, người chiến sĩ hào hiệp trong óc của đấng Thánh với con người võ biền ngoài đời là hai con người khác nhau. Khi nào Giáo Hội tưởng rằng có thể dùng vũ lực để bảo vệ quyền lợi, kể cả quyền lợi chính đáng, thì vẫn hay rơi vào những cảnh trớ trêu phản đạo như thế. Vụ việc này có một vị trí khá đậm trong những lời tạ lỗi của Đức Gioan Phaolô 2 trong Năm Thánh 2000 vừa qua.
Khi Đức Cha Roncalli đến Hy Lạp ( và cả ngày nay ), ấn tượng đó, cùng với mấy cuộc chiến tranh khác, vẫn không chịu phai đi trong ký ức Chính Thống Giáo. Một biến cố hắc ám, tự nó bị giới hạn trong không gian và thời gian, có thể làm lu mờ biết bao nhân tố tích cực khác. Nó đã cung cấp một mô hình, không chính xác nhưng đơn giản và tiện lợi để người ta nhìn mình. Bất công, nhưng thường tình. Người phục vụ Giáo Hội trong hoàn cảnh đó đành phải lội ngược dòng, lấy cái Tâm của mình để khắc phục từng mối ác cảm.
Chúa ban cho Đức Cha Roncalli một tâm trạng không hướng về những giận hờn lưu cữu. Cõi Tâm ấy có đủ cởi mở và hồn nhiên để thấy cái hay, cái tốt, cái dễ thương của người khác, dù người khác đó không ưa mình. Càng ngày Đức Cha càng thấy rõ sự ngăn cách về mặt tín lý giữa người Chính Thống và người Công Giáo không sâu thẳm đến nỗi không thể vượt qua.
Cũng một niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, vào mầu nhiệm Cứu Độ nơi Đức Giêsu Kitô chết và Phục Sinh, vào tác động của Thánh Thần trong Giáo Hội. Cũng bảy phép Bí Tích, cũng hệ cấp giáo quyền với các Giám Mục kế vị các Tông Đồ, cũng một lòng yêu mến đối với Đức Mẹ Maria. chỉ có một trở ngại lớn: người Chính Thống không nhìn nhận quyền bính tiên thượng của Đức Giáo Hoàng trong Giáo Hội. Có chăng là những chuyện cãi cọ đã bị những nhân tố bên ngoài, nhiều khi rất phàm tục, xen vào làm cho thêm cay cú.
Đức Cha đi thăm mấy đan viện Chính Thống nổi tiếng ở Meteores, vùng Thessalia. Ngài hỏi Mình Thánh Chúa đặt ở đâu. Vị Bề Trên Tu Viện cau có dẫn ngài vào thâm cung, rõ ràng là miễn cưỡng mà hướng dẫn, chỉ mong khách ra về sớm cho rảnh nợ. Nhưng khách lại quỳ cầu nguyện hồi lâu, khi đứng lên thì nói: “Cũng như các vị, tôi sùng kính Chúa hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể”.
Tháng 5.1936, Đức Cha đến viếng thăm nơi danh địa của Chính Thống Giáo: núi Athos. Trên ngọn núi cao 2.033m, hai mươi Đan Viện thành lập từ thế kỷ thứ 10 với hàng ngàn Đan Sĩ, không kể những vị ẩn cư độc tu trọn đời trong những hang động cheo leo trên sườn núi, có khi chỉ liên hệ với bên ngoài bằng một sợi dây thừng để kéo thực phẩm lên vách núi cao.
Trong thư gửi về thăm mẹ, Đức Cha kể lại: “Trên ấy cây cỏ đẹp tuyệt vời, nhưng khổ một nỗi là chẳng có đường xá gì cả. Đi đâu cũng phải cưỡi ngựa qua những lối mòn rất chênh vênh. Nhiều lần con cứ phải cầu khấn Thánh Giuse và các linh hồn trong gia đình ta, xin cho đừng ngã ngựa, xưa nay con vẫn làm thế. Mà đúng, con không ngã ngựa lần nào. Con ở lại trên núi ba ngày, mỗi ngày ít là năm tiếng trên mình ngựa hoặc trên mình la; cho nên xương cốt con rã rời hết; đã thế, ăn uống lại kham khổ, đêm ngủ nằm ngay mặt đất v.v…”
Cùng một Chúa, một Đức Tin, một Phép Rửa, một Cha chung, mà con đường hiệp nhất lại quanh co tít mù. Lòng người khó thế. Vẫn trong thư gửi các chị em ruột ở quê nhà, Đức Cha viết: “Người ở đây dành cho tôi những lời nói ngon ngọt, nhưng đến khi hành động thì chị em biết đấy, sao mà họ sợ Đức Giáo Hoàng quá ! Cho nên tôi phải nhẫn nại. Mà nên nhẫn nại quá mức thì hơn. Chỉ lỡ một lời là hỏng hết !”
Trong tình thế ấy, giả sử có tranh luận về Giáo Lý thì cũng là cuộc đối thoại của những người điếc. Chỉ có bao giờ đôi bên gỡ bỏ được những ác cảm và thành kiến, đặt mình vào tâm trạng của bên kia, biết quý trọng những mặt tích cực của nhau; lại phải khiêm tốn nhận ra mình chưa ngang tầm với những đòi hỏi của Tin Mừng và thú nhận những lỗi lầm đã phạm trong lịch sử để sám hối và cầu nguyện, lúc đó mới mong cái lý nội tại phát sinh từ sự sống chân chính của Giáo Hội sẽ thẩm thấu cuộc sống chung và làm tan loãng mối mâu thuẫn.
Và chắc là Tòa Thánh Công Giáo cũng cần tìm ra một cung cách khác để thi hành quyền bính của Phêrô. Ngày nay, sau mấy chục năm nỗ lực đại kết, những nguyên tắc trên đây hầu như đã được đôi bên công nhận. Nhưng từ nguyên tắc đến thực tế còn nhiều điểm nan giải.
Còn hồi Đức Cha Roncalli làm Khâm Mạng ở Hy Lạp, đề cao những nguyên tắc ấy e rằng sẽ bị cả hai bên lên án. Trong đời sống cộng đồng cũng như cá nhân, có những nhận thức mà người ta chỉ đạt được sau một quá trình dài trải nghiệm, cọ xát với những góc cạnh của sự thật mà lúc thường mình không ngờ tới.
Một hôm, Đức Cha Roncalli nói đùa với một người bạn Hy Lạp: “Tôi mà làm Giáo Hoàng lúc xảy ra vụ ly khai, thì đã không có ly khai”. Tưởng nói vui thế, không ngờ gần ba mươi năm sau Đức Cha làm Giáo Hoàng thật. Xem chừng có những tiên tri không hề biết mình là tiên tri. Năm 1959, Đức Gioan 23 triệu tập Công Đồng Vatican 2. Được hỏi đại diện các Giáo Hội Kitô khác có được tham dự không, ngài đáp, nếu các vị đại diện các anh em ly cách muốn tham dự thì “phải đón tiếp tử tế, bởi vì Giáo Hội vẫn là Nhà của các anh em ấy, họ đã bỏ đi xa là do những thăng trầm trong lịch sử”.
Khi đón tiếp các quan sát viên không Công Giáo, ngài nói: “Xin anh em hãy đọc trong trái tim tôi. Anh em sẽ tìm thấy nhiều điều hơn là những lời tôi nói”. Và Đức Thượng Phụ Athenagoras của Tòa Constantinopoli, thốt lên lời: “Có một người Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan”.
Chỉ bấy nhiêu thôi đã là một chặng đường khá dài. Và những trở ngại trước mặt vẫn còn khá nặng, quan hệ mấy năm gần đây của Giáo Hội Công Giáo với Chính Thống Nga, Ukraina, Hy Lạp, v.v… đã cho thấy như thế. Cho nên trong những năm ở Hy Lạp, Đức Cha Roncalli không tranh luận. Ngài dựa vào chữ Tâm. Hoạt động tích cực của ngài là nhằm phục vụ 50.000 người Công Giáo ở Hy Lạp, trong những giới hạn eo hẹp mà chính quyền Hy Lạp dành cho họ. Ngài gia tăng sự tiếp xúc với mọi người, dù họ theo nghi lễ Latinh hay Đông Phương, hay là tín đồ Đạo Chính Thống. Phương châm là: “Hãy rất thân ái với mọi người, dành tất cả sự quan tâm cho từng người”.
Như thế đã đủ để cảm thấy thời gian quá ngắn. Ngài chỉ được ở yên từ 10 giờ đến 12 giờ mỗi đêm. Chúa Nhật, sau Kinh Chiều, ngài thích dạy Giáo Lý trong Nhà Thờ Chính Tòa Athena. Mỗi khi có dịp, ngài sang ngôi trường tư thục nhỏ gần bên Tòa Khâm Mạng, nói chuyện thân tình như cha con với các học sinh…

19

“Tôi không lo sợ gì về số phận Giáo Hội. Giáo Hội chỉ yêu cầu một điều, là được tự do…”

8Theo lối nhìn thường tình thời gian, Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp giống như những vùng biên ải heo hút của Giáo Hội Công Giáo. Đức Cha Roncalli vui lòng dồn hết tâm trí của mình cho đàn chiên nhỏ bé ở hai nơi ấy. Nhưng ở những nơi gần kề Trung Ương Giáo Hội, cơn khủng hoảng bi thảm đang vần vũ.
Trước hết là ở nước Ý, quê hương Đức Cha. Trước khi đi nhận nhiệm sở Bulgarie, Đức Cha đã nhận xét Mussolini không thể là cứu tinh của nước Ý, vì ông ta sử dụng những phương thế “gian tà và nghịch Tin Mừng”. Thực tế mỗi ngày lại chứng minh thêm cho nhận xét đó, khiến cho nhiều người vỡ mộng.
Sau mấy năm đầu lấy lòng người Công Giáo và Tòa Thánh nhằm mục tiêu an dân, bộ mặt thật của chế độ Phátxít hiện nguyên hình. Nhà Nước, cụ thể là Mussolini, tự gán cho mình ngôi vị tuyệt đối, bất cứ cái gì khác sớm muộn đều phải lọt vào cơ cấu Nhà Nước. Ví dụ như Đoàn Hướng Đạo Công Giáo phải hòa vào đoàn Thanh Niên Phátxít. Thôi thì chế độ như thế, Công Giáo tuy buồn phiền nhưng đành chịu. Nhưng đến khi Mussolini định “Phátxít hóa” luôn phong trào Công Giáo Tiến Hành, thì Giáo Hội ở vào tình thế không thể nhượng bộ nữa.
Có cả một chiến dịch nói xấu và vu cáo Giáo Hội: phong trào Công Giáo Tiến Hành bị coi là một tổ chức chính trị, có chủ ý phá hoại Nhà Nước, hàng Giáo Sĩ thì là một bè lũ vong ân bội nghĩa. Chẳng bao lâu các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành của thanh niên và trí thức bị giải tán bằng vũ lực, có nhiều người mang thương tích.
Đứng đầu Giáo Hội Công Giáo thời ấy là một vị Giáo Hoàng rất nhiệt thành, đồng thời cũng rất sáng suốt và rất thẳng tình: Đức Piô 11.
Ngày 29.6.1931, Thông Điệp “Non Abbiamo bisogno” được công bố: Đức Thánh Cha lớn tiếng tố giác từng điểm một trong các lời vu cáo; ngài vạch trần các vụ bất hạnh chống Giáo Hội. Ngài nói thẳng rằng đây không phải là một cuộc đấu tranh chính trị, mà là đấu tranh về đạo đức và tôn giáo.
“Chúng tôi có chủ ý vạch rõ và lên án tất cả những gì ở trong chương trình và hành động của Đảng Phátxít mà chúng tôi đã thấy và xác định là trái với Giáo Lý và với Đạo Công Giáo, và do đó, không thể dung hợp được với danh nghĩa và với Đạo Công Giáo”.
Đức Thánh Cha cô đọng những điều “không thể dung hợp” đó trong một phán quyết: “Ý thức hệ Phátxít xét cho cùng, đúng là một sự tôn thờ Nhà Nước như kẻ ngoại đạo tôn thờ một ngẫu tượng”.
Tình hình ở Ý còn đang căng thẳng, thì đến lượt Giáo Hội ở Đức đi vào một giai đoạn bi đát.
Thất trận sau Thế Chiến thứ nhất, đế chế sụp đổ, nước Đức đi vào một thời kỳ hết sức hỗn loạn. Sự cay cú bất mãn dọn đường cho một chế độ độc tài. Người hùng nảy sinh từ thời thế đó là quái nhân Adolf Hitler. Đảng của Hitler,Đảng Dân Tộc – Xã Hội ( National – Sozialist, viết tắt: Nazi, Việt Nam thường dịch là Quốc Xã ) với khẩu hiệu: một dân tộc – một đế chế – một lãnh tụ tập họp quần chúng. Hitler, con người lúc đầu có vẻ lập dị, hoang tưởng, lại tỏ ra một hấp lực kỳ lạ đối với quần chúng. Những bài diễn văn trường giang, ông đọc như thể đang bốc cơn đồng thiếp, hớp hồn cử tọa. Tổ chức Quốc Xã, với đội ngũ quyết tâm, tạo ấn tượng một sức mạnh vô địch sẽ hồi sinh dân tộc và đất nước.
Đứng trước hiện tượng cá nhân, chính trị, đại chúng đó, người Công Giáo phải làm gì ? Gần một nửa thế kỷ, người Công Giáo Đức có một chính đảng đại diện cho mình, là Đảng Trung Dung ( Zentrum ). Đảng Trung Dung đã từng lập được nhiều công nghiệp vẻ vang. Sau Thế Chiến, đa số các thủ tướng Đức cũng thuộc đảng này.
Năm 1932, 20 triệu người Công Giáo vẫn bỏ phiếu cho Đảng Trung Dung. Nay đứng trước một trào lưu vũ bão xem ra không có gì ngăn cản được, Trung Dung toan tính gia nhập phong trào, hy vọng sự có mặt của mình sẽ làm cùn những khuynh hướng phản đạo của Quốc Xã. Tư tưởng Quốc Xã thượng tôn đến mức tuyệt đối về chủng tộc, huyết thống, và vũ lực đúng là mâu thuẫn với Tin Mừng. Vả lại khi ấy chế độ Quốc Xã chưa có, bản chất độc tài của nó chưa lộ nguyên hình. Năm 1933, Đảng Trung Dung cùng nhiều đảng khác ở Quốc Hội biểu quyết trao toàn quyền cho Hitler trong 4 năm.
Ở Tòa Thánh, Đức Piô 11 rất lo lắng cho Giáo Hội Đức. Cùng với Hồng Y Quốc Vụ Khánh Pacelli ( sau này là Đức Piô 12 ), Đức Thánh Cha xét rằng trong giai đoạn mới này cần có những bảo đảm cho Giáo Hội. Một Thân Ước được ký kết với Hitler năm 1933. Nhà Nước công nhận những quyền thiết yếu của Giáo Hội, bù lại Nhà Nước có quyền can thiệp vào sự chỉ định các Giám Mục, và các Giám Mục phải tuyên thệ trung thành với chế độ. Sau này người ta sẽ trách cứ Thân Ước này đã ru ngủ lương tâm người Công Giáo và trói tay các Giám Mục, mà vẫn chẳng thu được lợi gì, vì Hitler liên tục vi phạm.
Thật ra không cần phải đợi lâu. Vừa sang năm 1934, bản chất tàn bạo của Hitler đã bộc lộ không sao chối cãi được. Đêm 30.6.1934 còn ghi lại mãi trong lịch sử dưới tên gọi “Đêm Trường Đao”. Đêm ấy Hitler cho ám sát những lãnh tụ nào của Đảng Quốc Xã đã không có ý phục tùng ông ta. Cùng bị ám sát trong đêm ấy là ba thủ lãnh của phong trào Công Giáo Tiến Hành ở Đức: Klausener, Probs, Fritz Beek. Và từ đó các tổ chức tôn giáo và báo chí Công Giáo bị áp bức một cách có hiệp thông. Và không biết từ đâu nẩy ra nhiều vụ các Giáo Sĩ bị lôi ra xử trước tòa án, tội lỗi toàn là “sống vô luân” và “tình dục bệnh hoạn”. Chính sách bài Do Thái cũng nổi rõ.
Năm 1937, nhiều Giám Mục Đức lên tiếng. Đức Hồng Y Bertram, Tổng Giám Mục Breslau, nhận định:
“Trong mọi vùng nước Đức, những người thù nghịch với Đạo Kitô đã lớn tiếng. Họ kêu gào rằng Đạo Kitô không còn lý do hiện hữu, Đạo không thích hợp với những người Đức chân thành. Đạo Kitô đã thành bất động, bị chôn vùi dưới những đổ vỡ của chính mình. Giáo Hội sụp đổ như một lâu đài bằng giấy”.
Đức Cha Groeber, Tổng Giám Mục Freiburg-en-Brisgau đặt ra từng loạt câu hỏi:
“Chẳng lẽ nhân dân và tổ quốc ta có thể mong chờ rằng một tôn giáo mới, dựa trên những quan niệm còn đang dậy men và chưa được thử thách, và theo chúng tôi nghĩ, hoàn toàn không có một cơ sở nào vững chắc, mà lại được Thiên Chúa chúc lành ư ? Chẳng lẽ những kẻ thù của Đạo Kitô có thể ngang nhiên tung vào giữa nhân dân Đức từng khối chất liệu tuyên truyền xách động, trong khi chính chúng tôi… bị ngăn chặn không thể chuyển các văn thư chính thức đến các Giáo Dân trong địa phận của mình ?”
Đức Cha nhắc đến chiến dịch bôi nhọ hàng Giáo Sĩ Công Giáo, và những đàn áp đối với các công dân Công Giáo… Đức Cha Simon Konrad, Giám Mục Passau khẳng định:
“Với sức mạnh vô địch của Thánh Danh Giêsu, chúng ta muốn tiến vào tương lai đen tối và nặng trĩu lo âu… Có thể rằng các Linh Mục chúng ta phải có một tinh thần hy sinh to lớn phi thường để kiên trung trong mọi hoàn cảnh với Chúa Cứu Thế”.
Thì ra tuyên thệ trung thành với chế độ không có nghĩa là cúi đầu vâng dạ mọi điều chế độ truyền khiến. Trung thành nghĩa là phải nói sự thật.
Ngày Lễ Lá 21.3.1937 xảy ra một sự kiện gây chấn động. Một thông điệp của Đức Giáo Hoàng Piô 11, viết trực tiếp bằng tiếng Đức, với sự tham gia góp ý và soạn thảo của vị Hồng Y người Đức Faulhaber, mở đầu bằng mấy từ “Mit Brennender Sorge” đã được đưa lén vào nước Đức và đúng ngày Lễ Lá, tất cả các Nhà Thờ Công Giáo ở Đức nhất loạt tuyên đọc.
Vị Giáo Hoàng đã bắt đầu lâm trọng bệnh, dùng những lời lẽ sắt đá để nói với con cái mình vào thời điểm “Đức Tin của anh chị em đang bị thử thách như lửa thử vàng, do những gian nan và bách hại, cả công khai lẫn nham hiểm, thời điểm mà quyền tự do tôn giáo của anh chị em đang bị vây đánh muôn ngàn cách”.
Tiếp theo là một loạt những lời phi bác tư tưởng Quốc Xã một cách đanh thép:
“Bất kỳ ai đồng hóa Thiên Chúa với trời đất này, hạ Thiên Chúa xuống ngang tầm với thế giới này, hay nâng thế giới này lên ngang tầm Thiên Chúa, đều không phải là người tin vào Thiên Chúa… Bất kỳ ai rêu rao là trở về với quan niệm của người Đức cổ trước Chúa Kitô, để đặt một định mệnh u ám và vô ngã để thay cho ngôi vị Thiên Chúa… đều không thể coi mình như thuộc về số những người có Đức Tin vào Thiên Chúa…
Bất kỳ ai lấy nòi giống, chủng tộc, hay Nhà Nước, hay hình thái Nhà Nước, hay những người cầm quyền, hay bất cứ giá trị cơ bản nào của cộng đồng nhân loại, rồi tách các khái niệm đó ra khỏi nấc thang giá trị, kể cả giá trị tôn giáo, và rồi dựng các khái niệm đó làm thần tượng để tôn thờ mê tín, thì đều làm đảo lộn và sai chệch trật tự của vạn vật như Thiên Chúa đã truyền phán và tạo dựng…”
Đức Thánh Cha nhắc lại tinh chất của Tín Lý về Thiên Chúa, về Đức Kitô, về Hội Thánh. Ngài nhắc lại những điều các Giám Mục Đức đã tố cáo về chính sách đàn áp các tín hữu để xúi người ta bỏ Đạo. Ngài kêu gọi mọi thành phần trong Giáo Hội, Giới Trẻ, Giáo Sĩ, Tu Sĩ, Giáo Dân can đảm công bố Lời Chúa. Ngài gửi lời chào “đám đông vô số con trai, con gái, mặc dù Giáo Hội ở Đức đang đau khổ, và chính bản thân họ cũng đang đau khổ, nhưng lòng tận tụy với Thiên Chúa không hề suy suyển”. Ngài nói đã cân nhắc từng lời của thông điệp này trong cán cân của chân lý và tình yêu.
Dư luận khắp nơi cho rằng Đức Piô 11 đã đối đầu trực diện với Hitler. Ở Đức, phản ứng của báo Voelkische Beobachter, cơ quan ngôn luận của Đảng Quốc Xã, ngày 22.3.1937, như xác nhận tất cả những điều Đức Thánh Cha đã nói:
“Sự trung thành phải là một đòi hỏi đạo đức tuyệt đối trên bình diện các giá trị tuyệt đối như Thượng Đế, quốc gia, chủng tộc, danh dự, và những người nào là hiện thân bất biến của các giá trị ấy. Còn sự trung thành với các giá trị phụ tùy, hay thay đổi, thì tự bản chất vốn là tương đối và có khi trở nên nguy hiểm và vô luân. Sự trung thành với một hiệp ước cũng vậy…”
Nói cách khác, Nhà Nước Đức Quốc Xã không việc gì phải giữ những điều đã ký kết với Tòa Thánh. Nhiều tờ báo khác cho rằng Thông Điệp không liên quan gì đến tôn giáo cả, nhưng là một thủ đoạn chính trị chống nước Đức. Theo luận điệu này, thì Hitler là nước Đức, là dân tộc Đức !
Đúng là đã đến thời u ám cho những ai muốn trung thành đến cùng với Tin Mừng của Chúa Kitô. Nhiều người con đau khổ mà Thông Điệp “Mit Brennender Sorge” đề cao, sau này sẽ được người kế vị Đức Piô 11 là Đức Gioan Phaolô 2 tôn phong.
Ít lâu sau, trong một lần nói chuyện riêng với Đức Cha Roncalli, Đức Piô 11 giãi bày tâm sự:
“Tôi không lo sợ gì về số phận Giáo Hội. Giáo Hội chỉ yêu cầu một điều, là được tự do. Tôi biết rõ lắm đấy chữ, về những điều có thể dành cho Giáo Hội: đau buồn, cấm cách… Nhưng rồi Giáo Hội sẽ vẫn nói tiếng nói cuối cùng, bởi vì Giáo Hội đã nhận được Lời Hứa của Chúa. Nhưng mà tôi tun sợ cho một số quốc gia ngày nay”.

20

Chúng ta tiếp tục dõi bước theo Đức Hồng Y Roncalli – sau này là Đức Giáo Hoàng Gioan 23 – giữa những biến động rung chuyển kinh hoàng của thế chiến thứ hai…

9Càng ngày càng thấy rõ trong bộ ba “một dân tộc – một đế chế – một thủ lãnh” của Quốc Xã Đức, thì “một dân tộc” có nghĩa dân tộc Đức ( nòi giống Arya – tiếng Pháp: Ariens ) là dân tộc ưu việt, còn các nòi giống khác là hạ đẳng. Chế độ Quốc Xã cấm hôn nhân dị chủng, cho tiến hành những thí nghiệm khoa học truyền sinh nhằm gây dựng và gia tăng một chủng tộc thuần túy. Còn những nòi giống hạ đẳng thì có thể tiêu diệt nếu cần. Người Do Thái cách riêng bị coi là nguồn gốc của mọi sự dữ trên thế gian.
Chính sách diệt chủng đối với Do Thái sẽ được thi hành một cách khủng khiếp sau khi Thế Chiến thứ hai bùng nổ. Người Do Thái đã cảm thấy tai họa không còn xa. Tư tưởng của Hitler vừa độc ác vừa lỏng chỏng, chẳng có một cơ sở lý thuyết vững chắc nào. Thảm thay, đó lại là tư tưởng của một tập đoàn nắm hết quyền lực, đã gây lên được cả một phong trào quần chúng say sưa mơ ước ngông cuồng và muốn báo thù trả hận.
Rất nhiều lời cảnh báo và kêu cứu được gửi đến Tòa Thánh, ví dụ như thư của Thánh Nữ Edith Stein. Edith Stein là một nữ triết gia trẻ rất xuất sắc người Do Thái. Bà trở lại Đạo Kitô nhờ các tác phẩm của Thánh Nữ Têrêxa thành Avila. Để đến với Giáo Hội, bà đã vượt qua muôn vàn trăn trở tan nát cõi lòng. Chịu Phép Rửa rồi, bà ẩn thân trong Dòng Kín để cầu nguyện ngày đêm. Cuối cùng bà chết mất xác trong trại tập trung Đức Quốc Xã. Đức Gioan Phaolô 2 đã tôn phong bà lên hàng Hiển Thánh.
Lại một lần nữa, Đức Piô 11 chuẩn bị đương đầu với tai họa. Năm 1938, khi tiếp một đoàn hành hương người Bỉ, Đức Thánh Cha thốt lên một lời đầy ý nghĩa: “Về mặt tâm linh, tất cả chúng ta đều là dân Sem” ( Sem, theo điển Kinh Thánh, là thủy tổ của dân Do Thái ). Ngài lại cho chuẩn bị một bức thông điệp mới, lần này lên án chủ trương thù hận và bài trừ người Do Thái.
Các biến cố cho thấy ý định bành trướng của Hitler. Ở phía Nam nước Đức là nước Áo, cũng là vùng nói tiếng Đức, và là một nước Công Giáo. Sau một đợt tuyên truyền cường độ rất lớn, nước Áo đã sáp nhập nước Đức nhân danh “một dân tộc”.
Trong bầu khí kích động dân tộc chủ nghĩa, Đức Hồng Y Innitzer, Tổng Giám Mục thủ đô Wien, cũng lôi kéo hàng Giám Mục Áo hoan hô sự sáp nhập. Ngay lập tức, Đức Thánh Cha gọi Hồng Y về Roma nhận chỉ thị phải giữ khoảng cách với chế độ Quốc Xã.
Hitler không chỉ thôn tính nước Áo. Trước Thế Chiến thứ nhất, nước Áo là một đế chế của dòng họ Habsburg bao trùm cả những vùng rộng lớn ở Đông Âu. Hitler thừa thắng liền thực hiện ý đồ thôn tính mọi vùng đất có một thiểu số người Đức cư ngụ. Tháng 9.1938, Hitler chiếm một phần Tiệp Khắc. Tuy các cường quốc Tây Âu, chủ yếu là Pháp và Anh, đã bảo đảm nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia trước đây thuộc đế chế Áo, trong đó có Tiệp Khắc; nhưng họ đành cam chịu trước thái độ hung hăng của Hitler, nhằm tránh một cuộc chiến tranh lớn.
Sáng sớm ngày 10.2.1939, Đức Giáo Hoàng Piô 11 qua đời. Thông điệp lên án chủ nghĩa bài Do Thái vẫn còn là bản thảo. Những giới hiếu chiến đã phớt lờ những cảnh báo của ngài, cũng như trước kia họ đã không đếm xỉa đến những cố gắng của Đức Piô 10 và Đức Benedicto 15 để cứu vãn hòa bình, cũng như ngày nay họ gạt qua một bên những lời kêu gọi liên tục của Đức Gioan Phaolô 2. Dù sao thì hồi ấy Đức Piô 11 cũng đã gióng lên một tiếng nói rất thống thiết, trước dã tâm của chủ nghĩa Phátxít và chủ nghĩa Quốc Xã. Ngài có thể phủi bụi dưới chân mà đi khỏi thế giới bi thảm này.
Ngày 15.3.1939, Hitler thôn tính toàn thể lãnh thổ Tiệp Khắc, thiết lập chế độ bảo hộ của Đức. Ngày 1.9.1939, Hitler xâm lăng Ba Lan để chiếm lấy hành lang Danzig. Tới đây thì các nước Phương Tây không thể ngồi yên được nữa. Ngày 3.9.1939, Pháp và Anh tuyên chiến với Đức, Thế Chiến thứ hai bắt đầu.
Nước Pháp bại trận, chế độ đệ tam Cộng Hòa sụp đổ rất mau chóng. Ngày 12.6.1940, Pháp ký kết ngừng bắn với Đức ở Rethondes. Chỉ hai ngày trước, 10.6.1940, Mussolini, đồng minh của Hitler, tuyên chiến với Pháp để nhẩy vào ăn có. Thật ra đây là bước mở đầu tai họa cho Mussolini, vì tuy Pháp bại trận, nhưng nước Anh vẫn còn đó. Cả Anh và Ý đều có thuộc địa ở Châu Phi. Quân đội hai bên chạm nhau ở đây, mà hầu như trận nào Ý cũng thua. Nhưng Hitler thì vẫn bừng bừng khí thế. Tất cả sức mạnh của không quân Đức dồn vào tấn công nước Anh bằng những trận mưa bom khủng khiếp.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, với rất nhiều người Công Giáo sống ở Đức và trong các vùng bị Đức chiếm đóng, Đức Tân Giáo Hoàng Piô 12 chọn thái độ trung lập, nhưng vẫn liên tiếp kêu gọi hòa bình.
Thế Chiến lần này, Thổ Nhĩ Kỳ đứng trung lập. Đức Cha Roncalli sống xa chiến địa, nhưng không hẳn là yên thân. Vì Istambul là đất trung lập, nên người của cả hai phe lâm chiến đều có mặt. Nước nào cũng có những điệp viên, tai vách mạch rừng, rình rập nhau từng chút hòng phanh phui những bí mật của đối phương. Đại diện Tòa Thánh tất nhiên không thoát khỏi tầm nhắm của giới gián điệp Anh, Mỹ, Đức, Liên Xô. Đức Cha Roncalli có một nhận xét hóm hỉnh: “Tôi chẳng sao biết được là bọn họ theo dõi tôi hay là theo dõi lẫn nhau”.
Đến đây thì trong vòng quen biết của Đức Cha Roncalli nẩy ra một nhân vật mới: Franz Von Papen.
Von Papen vốn là người Công Giáo, 60 tuổi, trước chiến tranh là một chính khách hàng đầu của nước Đức, ông đã góp công đưa Hitler lên nắm chính quyền. Trong chính phủ đầu tiên do Hitler lãnh đạo, ông giữ chức phó thủ tướng. Ông cũng là một tay thợ cả trong vụ sáp nhập nước Áo vào nước Đức. Nhưng ông không phải là đảng viên Quốc Xã, nên việc xong rồi thì bị thất sủng. Hitler định cử ông đi làm đại sứ ở Vatican. Không biết vì lý do gì, Đức Giáo Hoàng Piô 12 không ưng thuận. Cuối cùng, ông giữ chức đại sứ ở Thổ Nhĩ Kỳ, dù thất sủng cũng là bậc khai quốc công thần, quen biết với Hitler và các giới chóp bu nước Đức.
Đức Cha Roncalli gặp Von Papen lần đầu ngày 2.8.1939 ở nhà nghỉ hè của các Nữ Tu Dòng Sion. Hôm ấy Von Papen đến dự Thánh Lễ. Ngày 2.8.1940, Von Papen điện thoại mời Đức Cha Roncalli đến tư thất dùng bữa. Lúc đó vừa ngớt đợt tấn công tổng lực của không quân Đức vào nước Anh. Trái với mong đợi của Hitler và dự đoán của nhiều người, nước Anh vẫn không nao núng. Đức Cha Roncalli lại không muốn tỏ ra quá thân thiện với một người ở vào địa vị Von Papen. Ngài đề nghị hai bên gặp nhau trong một cơ sở tôn giáo. Vị đại sứ vừa từ Đức về sau khi đã nói chuyện lâu dài với Hitler.
Von Papen tiết lộ: “Quốc trưởng nói với tôi rằng ông không bao giờ có ý tiêu diệt nước Anh, nhưng chỉ muốn làm cho nước Anh phải cư xử phải chăng với nước Đức. Ngay bây giờ, quốc trưởng vẫn lấy làm tiếc vì đã phải dốc toàn lực tấn công nước Anh. Ông sẽ vui mừng nếu sau cuộc đụng độ đầu tiên này, nước Anh chịu ký một thỏa ước để tránh cho mình khỏi tan hoang tận cùng”.
Theo Von Papen, Hitler tiên liệu chiến tranh sẽ kết thúc trước cuối năm 1940. Ông đã vẽ lại bản đồ Châu Âu hậu chiến. Vùng Alsace – Lorraine và quận quốc Luxembourg sẽ sáp nhập nước Đức. Bỉ và Hà Lan được độc lập, nhưng phải trở thành vùng phi quân sự. Ba Lan cũng vậy. Nước Pháp sẽ nhường cho nước Ý vùng đất cận biên cho đến thành phố Nice và đảo Corse. Pháp cũng phải trả lại cho Đức các thuộc địa cũ. Các nước bại trận phải lấy nguyên liệu của các thuộc địa để trả chiến phí… Ngay hôm sau, Đức Cha Roncalli viết một bản phúc trình dài, ghi lại mọi điều Von Papen nói, và gửi về Đức Hồng Y Magliore, Quốc Vụ Khánh Tòa Thánh.
Cuối tháng giêng 1941, Von Papen thành công một vụ. Ông thuyết phục được Hitler tôn trọng thế trung lập của Thổ Nhĩ Kỳ. Về sau, ông còn tiết lộ rằng ông đã tự tiện làm trái ý bộ trưởng ngoại giao Von Ribbentrop, vốn là người cự tuyệt mọi đề nghị thương thuyết. Ông thăm dò những đường lối mới để đi tới hòa bình, ông nhờ vua Thụy Điển làm trung gian thăm dò ý kiến của vua Anh.
Tới lúc đó, Von Papen đưa một nhân vật nữa vào cuộc: nam tước Kurt Freiberr Von Lersner, một người gốc Do Thái theo Đạo Tin Lành và chống Quốc Xã. Von Papen đưa ông này sang Thổ Nhĩ Kỳ với sự đồng tình của đô đốc Canaris, chỉ huy hải quân Đức. Vị nam tước này là chủ tịch Hiệp Hội Phương Đông, có mục đích phát triển các mối quan hệ kinh tế và văn hóa giữa Đức và các nước Cận Đông. Hiệp hội này chỉ là một tấm bình phong. Lersner gặp Đức Cha Roncalli nhiều lần.
Ngày 30.1.1941, ông viết cho Đức Cha một lá thư dài, trong thư ông chỉ trích tổng thống Mỹ Roosevelt. Khi ấy nước Mỹ chưa lâm chiến, nhưng Roosevelt đã quyết liệt chống Quốc Xã Đức. Ngày 16.1, ông vừa tuyên bố một điều làm dư luận xôn xao: ông nói ông không thể quan niệm được một sự thỏa thuận nào hay một thương thuyết nào khả dĩ với Đức Quốc Xã: “Không ai có thể thuần hóa một con hổ dữ để biến nó thành con mèo con meo meo”.
Trái lại, Lersner muốn thuyết phục Vatican rằng đã đến lúc can thiệp để vận động cho hòa bình. Có thể Von Papen và Lersner chỉ muốn làm cho Tòa Thánh hiểu rằng trong lòng Đế Chế Đức có một lực lượng đáng kể chống đối chế độ Quốc Xã. Phe chống đối này chỉ có cơ hội hành động nếu chiến tranh không kéo dài, còn nếu kéo dài thì chế độ Hitler tất yếu sẽ ngày càng cứng rắn hơn. Trước tất cả những gợi ý đó, Đức Piô 12 tỏ ra rất lạnh nhạt.
Để chứng tỏ lòng chân thành, Lersner cố ý tiết lộ một chuyện lớn: ngày 7.2.1941, đang nói chuyện với Đức Cha Roncalli, ông ta thủng thẳng báo tin rằng các đơn vị Đức đang chuẩn bị tiến quân vào vùng Balkans. Vị Khâm sứ Tòa Thánh vội điện về Vatican… Đúng vậy, sau khi đã “chiếm đóng hòa bình” Bulgarie vào tháng 3, qua tháng 4, quân đội Đức tiến chiếm Hy Lạp và Nam Tư, với 21 sư đoàn.
Tháng 12.1941 là một khúc quanh của Thế Chiến thứ hai. Ngày 8.12, không tuyên chiến, Nhật đột ngột tấn công Trân Châu Cảng ( Pearl Harbor ). Nước Mỹ nhẩy vào cuộc chiến liên minh với nước Anh.
Tháng 6.1942, Hitler đi một nước cờ định mệnh: xua quân xâm lăng Liên Xô. Đến khi Đức không chiếm được Moskva, Von Papen lại vận động với Vatican một lần nữa. Ông phái Lersner đi Roma, tới nơi, Lersner được Đức Hồng Y Magliore và vị phụ khuyết ở phủ Quốc Vụ Khánh là Đức Ông Montini ( sau này là Giáo Hoàng Phaolô 6 ) tiếp kiến. Cả hai vị đều cho Lersner hiểu rằng không hề có chút hy vọng nào Đồng Minh Anh – Mỹ sẽ quan tâm đến việc thương thuyết hòa bình.
Trên chiến trường, tình hình ngày càng bất lợi cho quân Đức. Bị cầm chân ở Liên Xô, ở Châu Phi thế thắng lại chuyển thành thế bại. Từ năm 1941, Đức đã phải đưa quân sang Châu Phi để cứu đồng minh Ý đang thua trận. Lúc đầu họ đẩy lui quân Anh về Ai Cập. Nhưng với viện trợ Mỹ, quân Anh đã phản công và thắng lớn ở El Alamein tháng 11.1942.
Từ 14 đến 24.1.1943, Hội Nghị Thượng Đỉnh của phe Đồng Minh Anh – Pháp – Mỹ diễn ra ở Casablanca ( Maroc ). Tổng thống Mỹ Roosevelt đưa ra đòi hỏi Đức phải đầu hàng vô điều kiện. Von Papen lại gắng sức một lần cuối. Lần này ông tìm đến người đại diện riêng của Roosevelt ở Thổ Nhĩ Kỳ, ông George H. Earle. Ông nhờ Earle hỏi thăm xem mục tiêu thực của phe Đồng Minh là diệt trừ chế độ Quốc Xã hay là phá hủy toàn thể nước Đức. Ông hy vọng Đức Hồng Y Francis Spellman, Tổng Giám Mục New York, sẽ làm trung gian đưa câu trả lời khi ngài viếng thăm Istambul vào tháng 5.
Đức Hồng Y Spellman đến Thổ Nhĩ Kỳ, làm thượng khách của Đức Cha Roncalli từ ngày 14 đến 16.5, rồi về nước mà không gặp đại sứ Đức. Von Papen buồn bã ghi vào sổ tay: “Những cố gắng gây dựng hòa bình của ta thế là công cốc…”
Nhưng đối với cá nhân Von Papen, nhưng cố gắng ấy không phải là vô tích sự. Sau Thế Chiến, các lãnh tụ Đức bị đưa ra trước Tòa Án Quốc Tế ở Nuremberg. Von Papen được tha bổng, một phần nhờ lá thư của Đức Cha Roncalli bênh vực ông.
Về sau, có những người chê Đức Cha Roncalli ngây thơ, mắc lỡm Von Papen, còn Von Papen chỉ là con rối trong tay Hitler. Thật ra, ông đại sứ về già đang cố gắng thực hiện một ước mơ không thể nào thành sự thực: ông muốn cản một cỗ xe đang lao xuống vực thẳm, mà chính ông đã góp phần khởi động. Nhưng đã quá muộn rồi ! Với Hitler, ông đã thất sủng, Đồng Minh Anh – Mỹ lại chẳng tin ông. Vả chăng ông cũng chẳng có quyền hành gì. Ông là một ông già đơn độc.
Còn về Đức Cha Roncalli, các tài liệu của phủ Quốc Vụ Khánh Tòa Thánh cho thấy ngài không làm gì khác hơn là thi hành đúng nhiệm vụ của mình: tường trình với cấp trên những gì mình được nghe, không bình luận…

21

“Khi một người đã rũ bỏ được chính cái tôi của mình, mang cái tôi đó ra chà đạp dưới chân, thì khi đó, và chỉ khi đó thôi, người ấy có khả năng làm mọi việc, kể cả làm Giáo Hoàng” ( Gioan 23 ).

10Ngày 20.11.1958, Đức Giáo Hoàng bắt đầu một khóa Tĩnh Tâm cho đến ngày 6 tháng 12. Ngài nói: “Nhiều khi Chúa Quan Phòng hướng dẫn ta làm những việc khác hẳn điều ta đang nghĩ tới, khác hẳn những điều ta đang chuẩn bị”. Ngài mới đắc cử được có một tháng. Mới tháng trước, mọi người và chính ngài khi nhìn vào cuộc đời mình, chỉ thấy những năm tháng tuổi già bình lặng. Một đời “xuôi ngược trên những nẻo đường Đông Tây” đã qua rồi. Kinh nghiệm kể cũng nhiều, nhưng giữ kín trong lòng.
Phương châm cả đời là “Vâng Phục và Bình An”. Vì “vâng phục” nên lúc nào cũng tin tưởng và thi hành chỉ thị của cấp trên, gạt sang một bên những tâm tư của riêng mình; và “bình an”, nên luôn luôn lắng nghe và làm cầu nối, kín đáo gây dựng bác ái và an hòa thay vì những hành động chói chang nẩy lửa, để đến nỗi mang tiếng là người ba phải, trí tuệ tầm thường. Và đến cuối đời, như một con tàu cũ về neo đậu bên vùng biển Venezzia, tâm hồn thanh thản sau mọi việc đã làm, chẳng vướng bận gì lắm vì những lời phê bình đánh giá này nọ của thiên hạ. Thôi thế cũng là kết thúc êm đẹp một cuộc sống cúc cung phục vụ Hội Thánh.
Thế rồi, Chúa Quan Phòng dẫn cụ già đi làm những việc khác hẳn điều đang nghĩ tới, khác hẳn những điều đã và đang chuẩn bị”, hay nói như trong Tin Mừng: “Thần Khí như gió, muốn thổi đâu thì thổi”. Bắt đầu từ lúc nào đấy, gió đổi chiều. Cụ già chuẩn bị về hưu, nội trong vài ngày được gọi lên ngôi vị lãnh đạo cao nhất trong Hội Thánh Chúa. Lại vẫn cứ bình an thanh thản mà vâng lời. Một cách rất tự nhiên, rất khoáng đạt. Mọi người nhận thấy ngay một bầu khí mới.
Sau giai đoạn tôn nghiêm, cao xa của Đức Piô 12, người ta có cảm giác vị Giáo Hoàng mới là một cha xứ miền quê, rất phúc hậu, mà mỗi lời nói, cử chỉ, đều tỏa ra một hương vị Tin Mừng thấm sâu vào lòng người. Vì đâu mà một người vốn không được đánh giá là xuất sắc lại chinh phục nhân tâm mau thế ?
Don Loris Capovilla, thư ký riêng của Đức Gioan 23, nhận định: “Tinh thần ngài luôn trẻ trung, vui vẻ, mạnh sức; lời nói thì hồn nhiên, vừa đàm luận vừa kể những giai thoại ngộ nghĩnh, nhưng tuyệt nhiên không phê bình chỉ trích, không chút bi quan, không mảy may nặng lời với ai, cũng không lên án chung thẩm cho ai”. Lúc khác, Don Loris lại nói: “Ngài không phải là người âu lo, hoặc vội vã hấp tấp. Ngài biết rằng sau thời ngài, thế giới sẽ vẫn tiếp tục. Cho nên ngài bình an làm việc, tinh thần hoàn toàn thanh thản”.
Nhưng Đức Thánh Cha tâm sự với Don Loris: “Khi một người đã rũ bỏ được chính cái tôi của mình, mang cái tôi đó ra chà đạp dưới chân, thì khi đó, và chỉ khi đó thôi, người ấy có khả năng làm mọi việc, kể cả làm Giáo Hoàng”.
Thì ra là vậy, suốt đời, ngài Roncalli đã quên cái tôi của mình, một cách vui tươi, như thể đó là điều dĩ nhiên. Như thế không có nghĩa là cái “tôi” đó không phong phú. Người ta cứ nghĩ là ngài không có tư tưởng gì độc đáo. Nhưng người ta không phát hiện một bí quyết: ngài đã luôn đặt ý muốn của Tòa Thánh lên trên ý riêng của mình. Những kinh nghiệm ngài chất chứa suốt đời, được soi sáng và nuôi dưỡng không ngừng bằng Thánh Kinh, bằng tư tưởng các Giáo Phụ, và bằng kiến thức về lịch sử Giáo Hội đã tạo cho ngài một hành trang tinh thần mà ngài “giữ lấy trong lòng và suy đi nghĩ lại”. Ngài giữ kín, không phô trương vì chí nguyện bỏ mình, “vâng lời và bình an”. Nếu có cái gì đấy đã đi vào cốt cách ngài, thì đó là sự đơn sơ, khiêm tốn, đặt Lòng Mến lên trên hết.
5 giờ sáng, Roma còn đang ngủ, Đức Giáo Hoàng đã thức dậy, thói quen dậy sớm của nông dân theo ngài đến cuối đời. Đổng Lý Văn Phòng thưa: “Nếu Đức Thánh Cha muốn, chúng con sẽ cho nhân viên làm việc sớm hơn” – “Ấy đừng, tôi dậy từ rạng sáng là để được sống một mình đấy mà”. Một mình để cầu nguyện, suy niệm, trầm tư, nguyện Kinh Thần Vụ, nói chuyện với Chúa. 7 giờ sáng dâng Thánh Lễ, lần chuỗi năm sự Vui.
8 giờ điểm tâm rồi về phòng duyệt lại mọi tài liệu, theo dõi tin tức thời sự. 9 giờ bắt đầu gặp các người cộng sự và tiếp xúc với đủ hạng người: “Tôi lắng nghe, ghi nhận tất cả rồi cầu nguyện Chúa soi sáng cho tôi” – “Sáng nay, tôi phải tiếp các vị Hồng Y, nhiều ông hoàng và thành viên quan trọng của chính phủ. Nhưng chiều nay, tôi muốn được tiếp xúc với những người thường, những người chẳng có chức phẩm hay tước vị gì, ngoài một điều rằng họ là những con người và là những đứa con của Thiên Chúa”.
Đức Thánh Cha tâm đắc với những lời của một vị Thánh từ thế kỷ thứ 7, Isidoro Sevilla, mô tả phong cách một Giám Mục phải có: “Lời nói phải đơn sơ, hồn hậu, đáp ứng nhu cầu cụ thể của các tâm hồn. Quản trị thì thận trọng, nghiêm khắc mà không cứng cỏi, hiền lành mà không mềm yếu, cách riêng: bác ái, trong sáng, khiêm nhường, hết sức thương yêu người nghèo, lo lắng cho các cô nhi, giải thoát kẻ bị giam cầm”.
Cho nên, Đức Thánh Cha thoải mái nhất là lúc được ở giữa những người bình dân, những người làm ruộng trồng nho, những công nhân, thợ thủ công, các nhân viên, cán bộ nghiệp đoàn, thanh niên, trẻ nít. Có hôm tiếp phu quét đường, hôm khác lân la với những người thu dọn cống rãnh: “Anh chị em đến đây không phải để gặp một ông hoàng con vua cháu chúa, hay ông to bà lớn nào của thế gian này, nhưng là một Linh Mục con nhà nghèo mà Chúa gọi mang gánh nặng Thượng Tế”.
Còn đối với trẻ con thì khỏi phải nói. Đôi bên thông cảm với nhau trong tích tắc. Hồi ngài mới lên ngôi, có một chú bé 10 tuổi viết cho ngài mấy chữ: “Đức Giáo Hoàng thân yêu, không biết lớn lên con nên làm cảnh sát hay làm Giáo Hoàng. Cha nghĩ sao ? Bruno”. Người ta kể rằng Đức Gioan trả lời: “Bruno con, nếu con muốn biết ý cha, thì cha khuyên con nên học nghề cảnh sát, tại vì cái nghề ấy không tùy hứng mà làm được đâu. Còn làm Giáo Hoàng thì để con lớn lên rồi sẽ tính. Ai làm Giáo Hoàng mà chả được ! Bằng chứng là cha đây này. Nếu con có đi qua Roma thì đến chơi với cha. Cha sẽ rất vui nếu có dịp bàn lại với con chuyện này”.
Các nhà viết sử điều tra, hóa ra Đức Giáo Hoàng không viết như thế bao giờ. Lá thư trả lời này là dân Roma tiếu lâm sáng tác và phổ biến. Nhưng, như người ta nói: “Không có lửa sao có khói”. Đức Gioan 23 quá gần gũi với những người đơn sơ bé mọn, ngài lại hay tự cười cợt mình, hay, như lời ngài nói:“Không lấy mình làm trọng !”
Chẳng biết Chúa Quan Phòng thế nào mà đường đời lại đưa người “không lấy mình làm trọng” đến Tòa Thánh Phêrô. Trên đời này, triều đình vua chúa là một, tôn giáo là hai, tạo ra môi trường giữ gìn mãi những truyền thống cổ. Vatican vừa là Trung Tâm Tôn Giáo rất lớn, vừa có rất nhiều nền nếp của triều đình vua chúa, di sản của hàng chục thế kỷ Giáo Hội sống và làm việc trong thế giới và trong thời đại phong kiến quân chủ.
Đức Gioan 23 ngồi trên kiệu ( sedia gestatoria ) đặt trên vai toán ngự lâm, mình mặc áo gấm vàng, đầu đội ba tầng vương miện, mà trong lòng cứ thấy bứt rứt. Đi ra đi vào có những ông vệ binh quý tộc bao quanh, rồi vệ binh Thụy Sĩ áo vàng sọc xanh, trang phục từ thế kỷ 16 truyền lại, gươm giáo dàn chào, rồi dàn quân nhạc cử lên uy hùng, tất cả đều là gánh nặng. Bắt đầu hãy cho dẹp đi hai cây quạt flabelli bằng lông đà điểu, như hai đóa hoa khổng lồ, sừng sững hai bên kiệu sedia gestatoria.
Đức Giáo Hoàng nhìn đôi hài ngài đang đi, và lại phì cười: “Ghê quá, ghê quá ! Cái này chắc cũng nằm trong kế hoạch âm mưu không muốn cho tôi ra khỏi điện Vatican. Đôi hài này chật quá, dòng họ Roncalli nhà tôi toàn những người chân to !” Theo ngài thì chẳng gì bằng đôi giày đinh to tướng hồi ngài còn đi lính, với đôi giày đó thì đi bộ bao nhiêu cũng vẫn thoải mái. “Bây giờ làm Giáo Hoàng rồi, muốn đi bộ một lúc cũng khó quá. Ở Vatican này, người ta canh mình như canh tù. Muốn đi dạo thì chỉ có hoa viên”.
Cũng may là có Hoa Viên Vatican. Dọc theo những tường thành xây từ thời Trung Cổ, để bảo vệ Tông Lăng, là một khoảng thiên nhiên rộng mát: cây cao bóng cả, hoa cỏ đua nở, chim chóc tụ về ríu rít. Sau Kinh Chiều, và lần chuỗi năm sự Thương, nếu có thì giờ và thời tiết tốt, Đức Thánh Cha xuống vườn đi bộ hồi lâu. Bao giờ ngài cũng dừng bước ở một điểm, những vòm lá xanh bao lấy một khoảng không gian thông thoáng, thu hút tầm nhìn về mái vòm tuyệt đẹp của Đền Thờ Thánh Phêrô, nơi hội tụ những kiệt tác nghệ thuật ghi dấu ấn thiên tài của Michelangelo, Raffaello, Bramante…

22

Tác giả tiếp tục giúp độc giả nhìn ngắm Đức cố Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan 23 trong bối cảnh Giáo Triều Roma giữa thế kỷ 20 cùng với các mối tương quan ngoại giao với các nước lớn trên thế giới. Nhiều người đã bị đánh động bởi phong cách của ngài…

1Năm 1959, Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle thăm viếng Vatican và hội kiến hồi lâu với Đức Gioan 23. Hai vị không phải là người xa lạ đối với nhau. Ngày 30.12.1944, khi Đức Cha Roncalli tức tốc đến Paris nhận chức Sứ Thần Toà Thánh tại Pháp, De Gaulle đang đứng đầu chính phủ.
Vừa ở nhiệm sở được một ngày, Sứ Thần Toà Thánh, theo thông lệ, phải thi hành nhiệm vụ đoàn trưởng Ngoại Giao Đoàn, dẫn đầu các đại sứ đi chúc mừng năm mới tướng De Gaulle. Sau đó là những thương thuyết dai dẳng với chính phủ Pháp đang muốn hạ bệ một số Giám Mục.
Một năm sau, chính tình nước Pháp khiến cho De Gaulle phải về vườn. Nhưng đến năm 1958, De Gaulle trở lại cầm quyền, thế lực chính trị rất mạnh, và bắt đầu phục hồi vị trí của nước Pháp trên trường quốc tế. Bốn tháng sau ngày De Gaulle chấp chính, nguyên Sứ Thần Toà Thánh ở Paris lên ngôi Thánh Phêrô. De Gaulle tính tình cao ngạo nhưng mọi người phải công nhận ông ta chẳng những có bản lãnh rất cao, mà còn là con người có tầm nhìn sâu rộng.
Chính vì thế, những ấn tượng cô đọng của De Gaulle về Đức Gioan 23 đáng cho ta lưu ý. Đó cũng là nhận xét của De Gaulle về một người khác hẳn ông ta về mọi phương diện: Tổng Thống Pháp cao lênh khênh, dáng vẻ lúc nào cũng đường bệ uy nghi, hình như nhìn đời bằng nửa con mắt, lời nói thì trau chuốt, sắc cạnh; còn Đức Giáo Hoàng thì thấp người, nhưng rất đẫy đà phúc hậu, miệng cười rất tươi, cặp mắt long lanh hóm hỉnh, nổi tiếng về lối nói năng hồn nhiên như bật ra từ cuộc sống, tinh thần lúc nào cũng khiêm tốn và trong sáng. Giữa hai người có một nét chung, ấy là cả hai đều là người Công Giáo. De Gaulle viết:
“Đức Giáo Hoàng có một nỗi lo âu, nhưng nhờ tâm tính thanh thản nên ngài chế ngự được; ngài đàm đạo với tôi về vấn đề những đảo lộn khổng lồ của thế kỷ đã gây nên một cơn chấn động tâm linh trong đạo Kitô như thế nào. Nơi tất cả những dân tộc nào ở Châu Âu hoặc Châu Á mà đang sống dưới chế độ Cộng Sản, thì cộng đồng Công Giáo bị o ép và ngăn cách với Roma. Nhưng, ở mọi nơi khác, dưới những chế độ tự do, vẫn tản mác một thái độ ương ngạnh, nếu không phải là phá Đạo, thì ít ra cũng tác hại đến hoạt động, quy luật, quyền bính, nghi thức của đạo.
Lo thì có lo, nhưng Đức Giáo Hoàng nhận định rằng đó chỉ là một cơn khủng hoảng mà thời đại chúng ta cộng thêm vào những cơn khủng hoảng Giáo Hội đã kinh qua và khắc phục từ thời Chúa Giêsu Kitô cho đến bây giờ. Ngài tin rằng bằng cách huy động nguồn hứng và khả năng phán xét đặc thù của mình, thế nào rồi Giáo Hội cũng tái lập thế quân bình của mình một lần nữa. Ngài muốn cung hiến cả triều đại của mình để làm việc đó”.
Nhưng để làm việc đó, ngài có thể cậy nhờ ai ? Gần ngài nhất, bao bọc lấy ngài, trước tiên có Giáo Triều Roma. Giáo Triều Roma là cơ cấu Trung Ương Giáo Hội, có nhiệm vụ tiếp tay cho Đức Giáo Hoàng để lãnh đạo và điều hành Giáo Hội. Hệ thống Giáo Triều là sản phẩm của hai mươi thế kỷ lịch sử. Ngay từ đầu lịch sử Giáo Hội, chắc chắn các Giám Mục Roma phải có những cố vấn và cộng tác viên.
Thế kỷ thứ 4, khi chính sách cấm Đạo tưởng như bất tận trong đế chế Roma chấm dứt, người ta đã thấy có văn phòng của Giám Mục Roma. Từ đó, càng ngày các cơ chế ở Trung Ương Giáo Hội càng phát triển. Vị Giáo Hoàng được coi là có công lớn hoàn chỉnh kế đồ guồng máy Trung Ương của Giáo Hội là Đức Sixtô 5. Cấu trúc của ngài bền vững gần bốn thế kỷ cho đến khi Thánh Piô 10 cải tổ tổng thể năm 1908.
Khi Đức Gioan 23 bắt đầu sứ vụ của mình, Giáo Triều Roma gồm có mười một “Toà” ( theo nguyên ngữ Hy Lạp: Dikasterion” ) thường được dịch là Bộ: Mỗi bộ do một Uỷ Hội Hồng Y điều hành.
Bộ Thánh Vụ: Đây là bộ cổ nhất trong Giáo Triều, với nhiệm vụ giữ gìn Đức Tin cho nguyên vẹn. Về danh nghĩa, Đức Giáo Hoàng đích thân chủ trì bộ này. Trong thực tế, tất nhiên phải uỷ nhiều quyền lực cho các vị Hồng Y. Các vị Hồng Y ở đây và các nhân viên thường mang tiếng là khó khăn, ráo riết, độc đoán, thậm chí hẹp hòi. Chả là do nhiệm vụ phải luôn luôn cảnh giác, xét nét về mặt tư tưởng, cẩn tắc cho khỏi áy náy…
Bộ Truyền Bá Đức Tin: Sau thiên niên kỷ đầu phát triển mạnh, đến thời Trung Cổ, vì nhiều lý do, lịch sử, địa lý, chính trị, tâm lý, v.v… sứ mệnh loan báo Tin Mừng có vẻ chựng lại. Nhưng từ những chuyến hải hành viễn du cũng người Châu Âu đi phát kiến đất mới Christophoro Colombo khám phá Châu Mỹ năm 1422, Vasco De Gama vòng Châu Phi đến Ấn Độ năm 1498, nhiệm vụ loan báo Tin Mừng lại được tiếp nối hết sức nhiệt thành trên các lục địa Á, Mỹ, Phi và Đại Dương Châu. Nhiều cộng đồng mới được thiết lập, Giáo Hội mở rộng thêm: Bộ Truyền Bá Đức Tin trở nên rất mực quan trọng.
Bộ Giám Mục: Bộ này cũng do Đức Giáo Hoang chủ trì. Bộ này theo dõi hoạt động của các Giám Mục, chuẩn bị danh sách các ứng viên Giám Mục để trình lên Đức Thánh Cha phê chuẩn.
Bộ Giáo Hội Đông Phương: Tuy từ năm 1054 bất hạnh, đại đa số các cộng đồng bên Cận Đông, Trung Đông, Nga… không phục quyền Toà Thánh nữa, tách ra xưng danh là Chính Thống nhưng vẫn có những cộng đoàn nhỏ hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo; họ có truyền thống, nghi lễ, và quy luật riêng. Đây là bộ thứ ba do Đức Giáo Hoàng chủ trì.
Bộ Kỷ Luật Bí Tích: Lo hướng dẫn đời sống Phụng Vụ trong Giáo Hội.
Bộ Công Đồng: Lo giữ gìn kỷ cương, luật lệ trong Giáo Hội. Bộ này cùng với Bộ Giám Mục đảm đương công việc tương đương như bộ nội vụ trong các chính quyền phần đời.
Bộ Tu Sĩ
Bộ Phong Thánh: Lo nghiên cứu các hồ sơ xin tuyên phong Chân Phước và Hiển Thánh.
Bộ Chủng Viện và Đại Học
Bộ Nghi Lễ
Bộ Đặc Trách Đền Thánh Phêrô
Ngoài ra còn có các Pháp Đình, có Viện Hoạt Động Tôn Giáo, tức Ngân Hàng Vatican, lo các vấn đề Kinh Tế và Tài Chính.
Đứng đầu tất cả các bộ và cơ quan là Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh, tương đương với thủ tướng chính phủ, kiêm bộ trưởng ngoại giao. Đây là cánh tay mặt của Đức Giáo Hoàng. Trên đây, ta đã thấy Đức Gioan 23 ngay buổi tối đắc cử, đã chọn Đức Cha Tardini làm Quốc Vụ Khanh. Ngài Tardini được mọi người tôn trọng, vì ngài là người đơn sơ, rất thông minh và thạo việc, phải tội hơi càu nhàu, nhưng thật ra rất tốt bụng, rảnh rỗi giờ nào chỉ thích chăm sóc trẻ mồ côi. Chẳng may, ngài giữ chức không đầy ba năm thì qua đời vì một cơn đau tim.
Đức Gioan 23 chỉ định Đức Hồng Y Amleto Cicognani làm người kế vị. Vị tân Quốc Vụ Khanh khi ấy đã 78 tuổi. Có người ngạc nhiên: “Tâu Đức Thánh Cha, nhiệm vụ nặng nề như vậy, sao ngài lại chọn một người già thế ?” – “Già ư ? Nhưng ông ấy còn thua tôi hai tuổi đấy !”
Hình như Đức Giáo Hoàng đã quên bẵng tuổi tám mươi của mình là tuổi già ! Ngài còn đang mải hướng về tương lai. Nhưng trong những văn phòng và hành lang ở Vatican, không phải ai cũng thảnh thơi trong sáng như Đức Thánh Cha, miệng lưỡi họ không thiếu phần mỉa mai sâu cay. Có nhiều người bàn tán: “Nếu cụ Amleto không thành công, cứ viện lý do sức khoẻ cho cụ đi nghỉ là xong”.
Thế nhưng cụ Amleto lại thành công rất khá. Cụ là người giàu kinh nghiệm về Giáo Triều lẫn xã hội trần thế. Cụ vào phục vụ Giáo Triều từ năm 1905. Trong 28 năm ở Vatican, cụ lần lượt có nhiệm sở ở bốn bộ, đến nhiệm sở thứ năm thì ở ngay Phủ Quốc Vụ Khanh. Năm 1933, cụ được cử làm Khâm Mạng Toà Thánh ở Mỹ và giữ chức vụ này 25 năm liền. Nước Mỹ với Toà Thánh không có quan hệ ngoại giao.
Đến thời thế chiến thứ hai, đang khi Đức Cha Roncalli làm Khâm Mạng Toà Thánh ở Thổ Nhĩ Kỳ, nghe ngóng tình hình, đảm bảo các mối giao liên đạo đời với Trung Tâm Roma, lo cứu người Do Thái và cứu đói, thì người đồng nhiệm Cicognani ở Washington vận động được Franklin Roosevelt gửi một đại diện riêng của Tổng Thống Mỹ thường trú bên Vatican, ông Myron Taylor. Sau đó ngài Cicognani cũng rất quen biết các Tổng Thống Truman và Eisenhower. Ngài có mối quan hệ thân tình với đại gia đình của John Kennedy, vị Tổng Thống Công Giáo đầu tiên của nước Mỹ.
Như vậy hai vị Quốc Vụ Khanh của Đức Gioan 23 đều là những nhân vật rất có uy tín. Còn về các vị Hồng Y khác trong Roma thì sự thể có phức tạp hơn nhiều. Dĩ nhiên, được phong Hồng Y và điều hành các bộ ở Toà Thánh phải là những người đàng hoàng, có những đức tính ưu việt. Đức Gioan XXIII có thể yên tâm vì các vị đều là những người tận tuỵ, biết việc, giàu kinh nghiệm, cẩn trọng.
Nhưng có mặt phải thì cũng có mặt trái. Ưu điểm nhờ hoàn cảnh mà phát triển, thì khuyết điểm cũng do hoàn cảnh mà nảy sinh. Hầu hết các vị được đào tạo và thăng tiến trong môi trường Giáo Triều. Mà cho tới khi ấy Giáo Triều là một môi trường cổ kính, giàu truyền thống lâu đời, thu hút hết năng lực trí tuệ cũng như tình cảm của các vị. Nó có những công thức riêng của nó, nó là một tiểu thế giới đã thành nề thành nếp. Do chức năng, nó thượng tôn luật lệ và nặng về hành chánh. Một môi trường như thế dễ biến người ta thành bảo thủ, câu nệ. Nó trở thành một cõi thâm cung cách biệt với thế giới cụ thể của con người.
Cho nên nhiều vị Hồng Y của Giáo Triều nắm quyền cao chức trọng nhưng không mấy nhạy cảm với các vấn đề thời đại. Đã vậy lại nặng lòng với cơ chế đã bao năm gắn bó thì thủ cựu là lẽ đương nhiên. Các vị có khuynh hướng đơn giản hoá mọi vụ việc thành những công thức cổ điển. Trong cái cơ chế khép kín mà bình an đó, người ta sống lâu lên lão làng. Đấy là một chế độ kính lão, hầu hết các vị trí lãnh đạo ở các bộ Toà Thánh đều do những vị trên 70 tuổi, thậm chí trên 80 tuổi nắm giữ.
Lại nữa vì Trung Ương Giáo Hội nằm ở Roma, nên tất cả các vị bộ trưởng khi ấy đều là người Ý. Người Ý vốn linh hoạt, dễ thương, nhưng ở Ý thịnh hành một lối sống đạo bình dân cổ truyền, không mấy khi là nơi đầu sóng ngọn gió. Những vấn đề mệnh hệ đối với tâm linh thế giới nhiều khi chỉ vọng về đây như những thanh âm xa xôi. Vả chăng, thời đó tuy kỹ thuật truyền thông đã tiến bộ lắm, nhưng thế giới vẫn chưa phải là một xa lộ thông tin như bây giờ.
Về những tương quan của Đức Gioan 23 với Giáo Triều, người ta đã viết nhiều điều kể cũng là chắt lọc từ thực tế, nhưng có thể tạo ấn tượng sai lầm. Ví dụ như không nên hình dung triều đại của ngài là một chuỗi đối đầu liên tục giữa một vị Giáo Hoàng cách tân với một bộ máy hành chính bảo thủ, không muốn nhúc nhích.
Đã đành Đức Gioan 23 không câu nệ những hình thức tỉ mỉ, ngài quá gần cuộc sống, cho nên những lề thói quan liêu, bàn giấy, chậm chạp, không thích hợp với ngài. ngay từ khi chưa lên ngôi, ngài đã cho rằng cần phải cải tổ guồng máy Trung Ương của Giáo Hội. Nhưng tất cả quá khứ của ngài cho thấy ngài không đi theo đường lối đấu tranh gay gắt, mà thường làm hết cách để tiến bước trong tinh thần hoà ái. Ngài đợi giây phút thuận tiện, tạo ra một sự thay đổi cơ cấu, thay đổi phương pháp. Trước khi thay đổi như vậy, phong cách cá nhân của ngài đã làm lan toả một bầu khí mới, khiến cho Giáo Hội nói chung cảm thấy sự thay đổi như một hậu quả tự nhiên.
Jean Dreyfus trong tác phẩm Jean XXIII có đưa ra mấy nhận định:
“Trong lịch sử cận đại của ngôi Giáo Hoàng, Đức Gioan 23 làm lộ ra một cái gì còn lớn hơn một sự thay đổi: ngài thật sự tạo ra một cuộc cách tân.
Kế vị những đấng xuất thân từ giới tư sản hoặc quý tộc, là một con nhà dân dã, xuất thân từ giới bần nông.
Kế vị những người Latinh được hun đúc trong văn hoá Roma, là một người Ý đã giao thiệp với đạo Chính Thống, gần gũi với đạo Hồi và đạo Do Thái, quan hệ với những người vô tín ngưỡng.
Kế vị những bậc Giáo Sĩ đã sống phần lớn sự nghiệp của mình ở Vatican, là một nhà ngoại giao đã từng sống xa trung tâm quyền lực.
Kế vị những đấng chuyên sử dụng giấy tờ, tài liệu là một người chuyên giao tiếp, mỗi khi có thể, vẫn thích những cuộc đàm đạo giữa người với người hơn là những ghi chú, báo cáo, bị vong lục.
Kế vị những đấng an định mãi một nơi, là một đại hành giả, say sưa tự mình khám phá con người, như hiếm có khi nào khám phá được trong sách vở. Ở nơi ngài Angelo Roncalli có một phong cách phóng viên, ngài học biết một đất nước bằng gót giầy của mình.
Đức Gioan 23 đưa vào Điện Vatican không phải chỉ bầu khí nông thôn như người ta đã nói. Ngài đưa đến ngọn gió Đông, cơn gió lộng của biển khơi, hơi thở của thế giới”.
Bầu khí mới là ở đó. Còn phải xem nó tác động thế nào trên một môi trường còn xa lạ với nó, hay trên những con người vẫn mơ ước nó mà không dám tin là có ngày sẽ gặp…

23

Các vị Hồng Y mà Đức Gioan 23 đã gầy dựng trong vòng ba năm bốn tháng ( 15.12.1958 – 19.3.1962 ) là một phần trong những sáng kiến của ngài, làm thay đổi bầu khí trong Giáo Hội, như thể bơm vào huyết quản một dòng máu mới. Tình hình nhân sự biến đổi.

2Các vị Hồng Y không chỉ ở trong Giáo Triều, nhưng rải ra nhiều nơi trong Giáo Hội. “Hồng Y” là từ Việt ngữ dựa vào màu áo để gọi các vị chức sắc mà tiếng Latinh gọi là Cardinales, do từ nguyên cardo, cardinis, có nghĩa là bản lề. Thế kỷ thứ hai, Đức Giáo Hoàng Evaristo ( qua đời năm 109 ) chia Roma thành 10 Họ Đạo, giao cho các vị Cardinales chủ trì. Bản lề tức là vị thế cố định, bất biến, mà lại làm điểm tựa cho sự chuyển động tuần hoàn của một khối lớn. Các vị Cardinales ở vị trí vững chãi của mình mà làm giềng mối cho sức sinh động của cộng đồng Đạo Thánh. Các đấng Cardinales bao quanh Đức Giáo Hoàng là những phụ tá, những cố vấn của ngài trong nhiệm vụ điều hành Giáo Hội.
Năm 1059, Đức Giáo Hoàng Nicolas 2 quyết định dành cho các vị Cardinales quyền bầu cử Giáo Hoàng. Năm 1150, thời Đức Giáo Hoàng Eugenio 3, các vị Cardinales mang danh hiệu chung là Thánh đoàn ( Sacrum Collegium ).
Năm 1244, Đức Giáo Hoàng Innocente 4 ban mũ đỏ, từ đấy các vị Cardinales chính thức mang sắc phục đỏ. Màu đỏ ở Roma cổ là màu áo vương tôn quý tộc. Giáo Hội thế kỷ 13 cũng đang sống trong trật tự phong kiến, nhưng màu áo đỏ khi du nhập Thánh Đoàn lại mang ý nghĩa mới: những người ấy mang áo đỏ vì họ sẵn sàng hy sinh đến cả máu của mình để bảo toàn Giáo Hội. Thời cấm đạo đã qua, nhưng Giáo Hội vẫn nhớ mình vừa là mẹ vừa là con của các vị Tử Đạo, bởi vì Giáo Hội sinh ra từ mầu nhiệm cây thập giá Tử Đạo. Từ màu áo đỏ ấy, Việt Nam dịch Cardinal, Cardinales, là Hồng Y ( Có lẽ người đầu tiên phổ biến từ “Hồng Y Giáo chủ” là Nguyễn Văn Vĩnh, khi ông dịch cuốn tiểu thuyết “Ba người ngự lâm pháo thủ” – “Les trois mousquetaires” của nhà văn Pháp Alexandre Dumas. Một nhân vật quan trọng trong đó là Hồng Y Richelieu ).
Cuối thế kỷ 16, Đức Giáo Hoàng Sixto 5 ấn định nhân số Thánh Đoàn Hồng Y là 70 vị, quy điển 70 vị lão trượng được Thiên Chúa ủy phái làm phụ tá cho Môsê để cai quản Dân Chúa chọn. Khi Đức Gioan 23 lên ngôi, thì đã gần 6 năm, trong Giáo Hội chưa có lễ trao hồng y, hồng mão. Vị tiền nhiệm của ngài, Đức Pio 12, có khuynh hướng tự mình theo dõi và đôn đốc mọi việc; có lẽ vì thế ngài không cảm thấy cần bổ nhiệm các vị tân Hồng Y. Trong gần 6 năm ấy, nhiều vị đã qua đời. Trong Giáo Hội chỉ còn 51 vị Hồng Y.
Ngày 15.12.1958, Đức Giáo Hoàng Gioan 23 cử, thuật ngữ trong Giáo Hội gọi là “dựng” ( như tạo dựng, créer ) cùng một lúc 23 vị Hồng Y mới, đưa tổng nhân số Thánh Đoàn lên 74, vượt quá con số 70 truyền thống. Giáo Triều xôn xao. Chẳng những Đức Thánh Cha vừa vượt qua thông lệ của 4 thế kỷ, mà con số túc mãn 70 có ghi trong điều 231 Giáo Luật hẳn hoi. Tất nhiên những tiếng eo xèo đến tai Đức Thánh Cha. Chẳng đến tai ngài cũng dư biết quyết định của mình sẽ gây ra lắm lời bình luận. Cho nên ngài giải thích: “Biên giới của Giáo Hội từ thời Đức Sixto 5 đã chẳng mở rộng thêm là gì ? Ngày nay Giáo Hội trải ra đến tận cùng thế giới. Những khuôn khổ cũ của Tòa Thánh cũng trở nên quá chật chội, vậy tại sao không mở rộng ra ?”
Đứng đầu danh sách các tân Hồng Y kỳ này là một người được cả Giáo Hội biết tiếng: Đức Cha Giovanni Battista Montini, Tổng Giám Mục Milano.Con người mảnh khảnh, với cặp mắt rực lửa trong một khuôn mặt đầy nét tinh anh này từng là cánh tay mặt của Đức Pio 12 nhiều năm, với chức vụ quyền Quốc Vụ Khanh. Người khắp nơi có việc về Roma, đều có ấn tượng sâu sắc về Đức Cha Montini, con người rất mực uyên bác, khoáng đạt và nhân bản. Ngài được cử đi làm Tổng Giám Mục Milano, khiến cho có nhiều lời đồn đoán trong dư luận.
Có người nói Đức Cha Montini bị đi đày vì quá cởi mở, trong lúc Giáo Triều đang ở giai đoạn bảo thủ; người khác lại cho rằng Đức Pio 12 muốn cho người con tinh thần thân yêu của mình, sau những năm rực sáng ở trung ương, được có kinh nghiệm Mục Vụ trực tiếp trong một Giáo Phận lớn và đông đúc nhất nước Ý, và như thế cũng là chuẩn bị cho ngài phục vụ Giáo Hội một cách phong phú hơn nữa. Chẳng biết thế nào, nhưng dù hoạt động mạnh hay ngồi yên, thì Đức Cha Montini vẫn cứ được coi là một nguồn sáng lớn trong Giáo Hội. Thậm chí khi Đức Pio 12 qua đời, có ý kiến cho rằng chỉ có Đức Cha Montini xứng đáng là người kế vị. Ấy là mấy người “được” hay “bị” coi là “tiến bộ” trong Giáo Hội nghĩ thế. Hiềm một nỗi, ngài không phải là Hồng Y. Trên nguyên tắc, chẳng có gì ngăn cấm một người không phải là Hồng Y được bầu lên làm Giáo Hoàng.
Khi Đức Pio qua đời, có ý kiến cho rằng chỉ còn Đức Cha Montini xứng đáng là người kế vị ấy là những người muốn “được” hay “bị” coi là “tiến bộ” trong Giáo Hội nghĩ thế. Hiềm một nỗi ngài không phải là Hồng Y. Trên nguyên tắc, chẳng có gì ngăn cấm một người không phải là Hồng Y được bầu lên làm Giáo Hoàng. Nhưng đã nhiều thế kỷ rồi, vị Giáo Hoàng đắc cử luôn luôn là một Hồng Y. Lần này cũng vậy. Thế cho nên người ta mới coi vị tân cử Roncalli Gioan 23 là một Giáo Hoàng chuyển tiếp, ý nói một triều đại ngắn ngủi, vô sự, chờ thời. Chỉ có điều Đức Gioan 23 sắp làm một cuộc “chuyển tiếp” không ai ngờ tới.
Dù sao, khi vứa đắc cử, Đức Gioan 23 đã nghĩ ngay đến Đức Cha Montini như vị Hồng Y đầu tiên Ngài sẽ “dựng”. Và khi ghi danh Đức Cha Montini vào đầu danh sách các tân Hồng Y, Đức Thánh Cha nói: “Đáng lẽ ngài phải làm Giáo Hoàng đấy chứ. Nhưng tôi giữ chỗ giùm…” Lời tiên tri không mấy khó khăn nay đã thành sự thực. Sau này Đức Hồng Y Montini sẽ kế vị Đức Gioan 23 với danh hiệu Phaolô 6. Nếu Đức Gioan 23 là người khởi xướng Công Đồng Vatican 2, thì Đức Phaolô 6 là người đưa Công Đồng đến kết thúc tốt đẹp. Thì ra mầu nhiệm Thiên Chúa Quan Phòng là có thật.
Nhiều nhà bình luận về sau cho rằng nếu không có một người mạnh trực giác, trẻ tâm hồn, linh động và táo bạo trong hành động, lúc nào cũng gần gũi với cuộc sống như Đức Gioan 23, thì không thể tạo được một bước đột phá Vatican 2. Nhưng một khi Công Đồng đã họp rồi, bao nhiêu khuynh hướng, bao nhiêu ý kiến đã lộ ra rồi, trăm hoa đua nở rồi, nếu không phải là người có tầm nhìn cao xa, tâm hồn cháy bỏng, có óc tổng hợp, có sự suy nghĩ cân nhắc chín chắn chi ly, có kinh nghiệm lão thành như Đức Phaolô 6 thì không biết làm thế nào đưa dòng chảy miên man đó đến kết cuộc nguyện ước. Âu là sông có khúc và người có lúc.
Cũng trong danh sách các tân Hồng Y lần đó, có hai vị nối tiếp nhau làm Quốc Vụ Khanh cho Đức Gioan 23, là Đức Cha Tardini và Đức Cha Cicognani.Ngoài ra còn hai vị sẽ có tác động mạnh đến Công Đồng Vatican 2 nói riêng, và toàn thể Giáo Hội nói chung; là Đức Cha Doefner, Giám Mục Berlin ( Đức ) và Đức Cha Koenig, Tổng Giám Mục Wien ( Áo ).
Như vậy là Đức Gioan 23 đã vượt qua túc số truyền thống 70 vị Hồng Y. nhưng đã vượt qua con số 70 rồi, cớ gì không mở rộng thêm ? Một năm sau, 15.12.1959, Đức Thánh Cha lại tặng Hồng Y cho 8 vị nữa. Trong số 8 vị này, người ta đặc biệt chú ý đến cha Dòng Tên Agostino Bea, người Đức. Cha này trước đây là cha giải tội của Đức Piô 12. Bề ngoài là một cụ già gù lưng, nhưng nụ cười mới rạng rỡ làm sao. Cha nổi tiếng thông minh tinh tế, tinh thần cởi mở, văn hoá uyên thâm, rất hoà nhã với mọi người. Đức Hồng Y Bea sẽ giữ một nhiệm vụ rất quan trọng, trong công tác chuẩn bị Công Đồng cũng như khi Công Đồng Họp, vì Ngài được cử đứng đầu Văn Phòng Hiệp Nhất các Kitô hữu; sau khi Công Đồng họp, văn phòng được nâng lên thành Uỷ Ban.
Ba tháng sau, 28.3.1960, lại thêm 10 vị Hồng Y mới. Lần này cũng có một vị sẽ nổi bật trong Công Đồng: Đức Cha Alfrink, Tổng Giám Mục Utrecht ( Hà Lan ). Dịp này Đông Á và Châu Phi cũng góp mặt: lần đầu tiên có một vị Hồng Y người Nhật, Đức Cha Tatsuo Doi, Tổng Giám Mục Tokyo, một vị người Philippines, Đức Cha Santos, Tổng Giám Mục Manila, ( Trung Quốc và Ấn Độ thì có Hồng Y đã lâu ), và một vị người Tanzania, Đức Cha Rugumbwa, Giám Mục Buboka.
Ở Giáo Triều, có vài vị Hồng Y già có ý cự nự, sao lại đưa lên làm Hồng Y “cái anh da đen sinh ra trong lều tranh vách đất” ? Hoá ra óc chủng tộc sô-vanh ( chauvinisme ) len vào cả những nơi bất ngờ, đáng lẽ phải là cấm địa đối với nó, Đức Gioan 23 tâm sự: “Không phải ai cũng đồng ý để đưa ông ấy lên làm một bậc vương thân của Giáo Hội Roma. Nhưng tôi cố quyết. Tôi nghĩ có một vệt đen nho nhỏ giữa tất cả những gương mặt trắng ấy là đúng lúc”.
Sau đó còn hai lần phong Hồng Y nữa, 16 tháng 1 và 19 tháng 3 năm 1962. Lần sau này, có Đức Cha Suenens, Tổng Giám Mục Maline – Bruxelles ( Bỉ ) sẽ là một khuôn mặt nổi bật của Công Đồng. Những người như Đức Cha Silva Henriquez, Tổng Giám Mục Santiago ( Chi Lê ) sẽ là tiếng nói lớn của Giáo Hội trong thế giới chậm phát triển.
Tất cả năm lần phong tặng, Đức Gioan 23 tạo ra 55 Hồng Y, đưa nhân số Hồng Y Đoàn lên 90 vị, trong đó nhiều vị sẽ tác động lớn đến Công Đồng Vatican 2, nhiều vị khác là biểu tượng của các miền Truyền Giáo hoặc chậm phát triển Á, Phi, Mỹ Latinh, nhưng từ nay sẽ là thành phần quan trọng của Giáo Hội. Tính quốc tế của Hồng Y Đoàn đã gia tăng đáng kể.
Đức Hồng Y Lercaro có lần nói về quan hệ của Đức Gioan 23 với Giáo Triều như sau: “Trong cơ chế, Đức Thánh Cha rất cô đơn trước các cơ quan của Giáo Hội. Những cơ quan ấy đáng lẽ phải là công cụ để ngài quản trị và giáo huấn, đáng lẽ họ phải bám sát lấy những trực giác tiên tri của ngài, đáng lẽ họ phải cộng tác một cách chân tình, chủ động đưa ra những dự án cụ thể”. Đức Hồng Y có ý nói rằng họ đã không làm như thế. Không phải họ không có thiện chí, Nhưng Đức Thánh Cha và họ đến từ những chân trời khác nhau, họ thì có não trạng cố thủ, còn Đức Thánh Cha thì như vị Thừa Sai băng băng đi vào một thế giới còn chưa nhận biết Tin Mừng. Đôi bên có phần đồng sàng dị mộng. Trong Giáo Hội, nhiều khi người ta gặp nhau và phải làm việc với nhau mặc dù không hề chọn nhau. Hiểu được nhau là một quá trình lâu dài và nhiều thử thách. Đường vào lòng người có thể gian nan chẳng kém gì thám hiểm một miền đất lạ.
Cho nên Đức Gioan 23 chẳng bực bội, chẳng buồn phiền, cũng chẳng đập phá. Ngài còn hồn nhiên, trong sáng, đơn sơ hơn bao giờ. Nhưng những vị Hồng Y mà ngài gầy dựng trong ba năm bốn tháng ( 15.12.1958 – 19.3.1962 ) là một phần trong những sáng kiến của ngài, làm thay đổi bầu khí trong Giáo Hội, như thể bơm vào huyết quản một dòng máu mới. Tình hình nhân sự biến đổi.
Người ta đã đặt vấn đề: liệu Đức Gioan 23 có lường trước hết mọi hậu quả của những việc ngài làm không ? Câu trả lời có vẻ như vừa có lại vừa không. Có, bởi vì ngài là một người có trực giác bén nhậy, thấy ngay điều gì là phù hợp với sự sống. Không, bởi vì ngài là người khiêm tốn, không coi mình là bá chủ người khác, hay bá chủ thời gian. Ngài quy tụ những nhân tố đầy sức sống, rồi nhìn xem những nhân tố ấy phát triển, không tiên quyết bắt buộc đời phải thế này hay thế kia. Duy có định hướng sống và loan báo Tin Mừng là không thay đổi.
Trước sau, ngài vẫn là “tôi tá của các tôi tá Chúa”.

24

Đức Gioan 23 luôn tâm niệm một điều rằng mình được đặt vào ngôi vị ấy là vì toàn thể nhân loại mà Chúa muốn cứu độ. Ngài ở trong mầu nhiệm hiệp thông với “Hội Thánh hằng có ở khắp thế này”.

3Giáo Triều và các Hồng Y, dẫu quan trọng, mới chỉ là những phụ tá và cố vấn của Đức Giáo Hoàng, không phải là tất cả Giáo Hội. Đức Gioan 23 luôn tâm niệm một điều rằng mình được đặt vào ngôi vị ấy là vì toàn thể nhân loại mà Chúa muốn cứu độ. Ngài ở trong mầu nhiệm hiệp thông với “Hội Thánh hằng có ở khắp thế này”.
Ngay khi tiếp quản phòng khách lớn ở lầu hai điện Vatican, ngài đã tỏ ý: “Ở đây, tôi muốn đặt một bản đồ thế giới thật lớn”. Người ta liền đi tìm cha Emmerich, người Thụy Sĩ thuộc Dòng Ngôi Lời. Cha này là chuyên viên lập bản đồ truyền giáo, tác giả của một bản đồ thế giới. Cha đi lục lọi khắp nơi, cuối cùng tìm được một bản đồ thế giới cực lớn bằng plexiglas, có thể gắn đèn sáng phía trong. Tuy rằng tỷ lệ vẫn còn nhỏ, 1/10.000.000, cha Emmerich khéo tay đã ghi rõ lên bản đồ từng Giáo Phận trên thế giới, chỉ trừ các Giáo Phận ở Ý, vì nước Ý từ xưa đã có quá nhiều Giáo Phận, thành ra các Giáo Phận quá nhỏ. Dù sao cha cũng cố gắng ghi đậm nơi quê hương thân yêu của Đức Thánh Cha, làng Sotto in Monte, và Giáo Phận Bergamo. Cha lại gắn thêm một bàn đạp để bản đồ có thể nâng cao hạ thấp.
Đôi khi, Đức Thánh Cha tiếp một vị Giám Mục từ nơi xa đến, đặc biệt là từ những miền Truyền Giáo, ngài sẽ dẫn Giám Mục đến trước bản đồ, để nhìn cho rõ miền đất nào đang có những đoàn chiên của Chúa ( Paul Dreyfus, Jean XXIII, trang 215 ). Thậm chí cả những khi chỉ có một mình, ngài cũng đứng tư lự trước bản đồ. Cánh đồng mênh mông Chúa giao cho ngài đấy.
Khi Đức Gioan 23 lên ngôi, dân số thế giới khoảng 2, 8 tỷ, trong đó có 483.587.000 người Công Giáo, tức là khoảng 17 % dân số thế giới ( tỷ lệ này đến nay vẫn không thay đổi là bao ). Số đông người Công Giáo vẫn ở Châu Âu: 229.511.000, vùng đất cổ kính của Giáo Hội. Nhưng dân số Công Giáo ở Châu Mỹ sắp bắt kịp Châu âu: 200 triệu, 108 triệu ở Châu Mỹ Latinh, riêng Hoa Kỳ 37 triệu. Ở Châu Á 32 triệu, riêng Philippines đã chiếm hơn một nửa: 17 triệu. Châu Phi mới chỉ có 20 triệu, chủ yếu ở Congo thuộc Bỉ ( nay là Zaire ): 4 triệu; Uganda: 1,5 triệu; Rwanda-Burundi ( khi ấy còn thống nhất ): 1,4 triệu; Nigeria: 1 triệu; Tanganyika ( nay là Tanzania ): 1 triệu. Châu Đại Dương có 2,5 triệu người Công Giáo, đa số ở Úc ( 1,5 triệu ).
Tất cả ngót 500 triệu tín hữu đó chia ra khoảng 2.000 Giáo Phận: Giám Mục Đoàn cả thảy được 2.692 vị. Châu Âu vẫn dẫn đầu với 1.088 Giám Mục: 914 vị ở Tây Âu ( 344 vị ở Ý, 163 vị ở Pháp, 94 vị ở Tây Ban Nha, 58 vị ở Đức ). Riêng thành phố Roma, nơi đặt các cơ quan trung ương của Giáo Hội, có 65 vị Giám Mục thường trú. Còn lại 174 vị cho Đông Âu, thì riêng Ba Lan đã 65 vị. Châu Mỹ Latinh có 601 Giám Mục, riêng Brasil 194 vị. Ở Bắc Mỹ có 332 Giám Mục, riêng Hoa Kỳ 226 vị. Đông Á có 256 Giám Mục, riêng Ấn Độ 77 vị. Châu Phi được 250 vị, trong số đó 40 vị ở Congo. Các nước Hồi Giáo Cận và Trung Đông có 95 Giám Mục, trong số đó 24 vị ở Liban. Sau hết, Châu Đại Dương có 70 Giám Mục.
Trên thế giới, có tất cả 160.654 Xứ Đạo, riêng ở Châu Âu đã là 118.272 Xứ. Tổng số Linh Mục là 381.500, với 265.000 vị là Linh Mục Triều và 116.000 là Tu Sĩ các Dòng. Như vậy, trung bình trên thế giới cứ 1.261 người Công Giáo thì có một Linh Mục. Nhưng sự phân bố không đồng đều. Ở Châu Đại Dương, một Linh Mục phục vụ 588 người Công Giáo, còn ở Châu Phi là 1 Linh Mục cho 1.538 tín hữu và ở Nam Mỹ là 1 Linh Mục cho 4.509 tín hữu. Nhưng nếu ta nghĩ đến nhiệm vụ của Giáo Hội là loan báo Tin Mừng cho mọi người, chứ không riêng phục vụ cho người Công Giáo thôi, thì tỷ lệ sẽ lớn hơn nhiều. Trung bình trên thế giới là 1 Linh Mục cho 7.334 người. Ở Châu Âu: 1/2.510; Châu Phi: 1/16.555; và Châu Á: 1/75.827.
Có 283.000 Tu Sĩ nam, kể cả 116.000 Tu Sĩ Linh Mục. Đông nhất là Dòng Tên ( 32.936 ), kế đến là Dòng Phanxicô ( 26.151 ), Dòng Sư Huynh các Trường Công Giáo ( 16.275 ), Dòng Capucino ( 14.500 ) và Dòng Biển-đức ( 11.500 ). Số Nữ Tu là 932.824. 61 % chị em sống ở Châu Âu, 21 % ở Bắc Mỹ. Riêng Hoa Kỳ có 159.000 chị và nước Ý có 152.000 chị.
Các trường Công Giáo quy tụ được 21 triệu học sinh trên khắp thế giới, riêng Châu Mỹ 10 triệu. Sáu nước Mỹ, Pháp, Bỉ, Canada, Tây Ban Nha, Hà Lan chiếm hơn một nửa sĩ số. Có 40 đại học Công Giáo: 11 ở Mỹ, 5 ở Pháp, 4 ở Brasil, 3 ở Canada, 2 ở Tây Ban Nha, 2 ở Ý và Columbia, 1 ở Bỉ, Congo thuộc Bỉ, Chilê, Xích Đạo, Peru, Ireland, Hà-lan, Liban, Nhật, Philippines và Balan. 172.241 sinh viên học tại các trường đại học này. 10 trường trong số này do Dòng Tên đảm nhiệm.
Đấy là những con số thống kê. Nhưng, như Paul Dreyfus nhận xét:
“Thống kê tuy quan trọng, vẫn chỉ là một phương diện của Giáo Hội, cho phép ta đo được các chiều kích hữu hình, nhưng không bày tỏ được thực tại sâu xa. Bởi vì có hai bộ mặt của Giáo Hội: một Giáo Hội là cơ chế siêu quốc gia, và một Giáo Hội là sứ giả của Tin Mừng. Trong hai mươi thế kỷ lịch sử, cả hai bộ mặt ấy gắn liền với nhau bất khả phân ly. Và có Chúa biết rằng Giáo Hội, với tính cách là xã hội trần thế, nhiều khi đã chiếm hết mặt nổi.
Giáo Hội ấy là hệ cấp giáo quyền, là bản văn luật lệ, là quyền hành chính, là nghi lễ, nghi vệ, đó không phải là những điều Đức Gioan 23 say mê. Những thứ ấy có đó, và có tầm quan trọng. Ngài không thể bỏ qua. Vả lại ngài vẫn tôn trọng những truyền thống thật sự đáng trọng. Nhưng trong nhãn quan của ngài, Giáo Hội chủ yếu là Giáo Hội vô hình, Giáo Hội ấy vẫn sống mãi bao lâu dưới đáy một nhà tù, vẫn có một Giám Mục đang truyền chức cho một tân Linh Mục; bao lâu giữa lòng một thành phố khổng lồ Châu Âu hay Châu Mỹ vẫn có một thanh niên nghe thấy Chúa Kitô bảo mình: “Hãy đi theo Ta”; bao lâu trong một túp lều gỗ ở Châu Mỹ Latinh vẫn có một bà già lần hạt; bao lâu trên một ruộng lúa Châu Á vẫn có một người nhớ lại lời đã hứa xưa với một bác chài nghèo xứ Galilê” ( trích Paul Dreyfus, sđd trang 219 ).
Đấy là cả một cõi mênh mông, hữu hình lẫn vô hình, mà từ nay Đức Gioan 23 có nhiệm vụ chăn dắt.
Ngày 29.6.1959, Đức Thánh Cha công bố Thông Điệp đầu tiên của ngài “Ad Petri Cathedram” ( Bên Tòa Thánh Phêrô ). Thật ra nội dung không có gì mới mẻ, nhưng phảng phất đâu đó một vài ý tưởng sẽ mau chóng nổi lên thành một phong cách lớn. Chủ đề của Thông Điệp được nêu lên ngay trong lời chào mở đầu: “Kính gửi các anh em Thượng Phụ, các Tòa Chủ đệ nhất tòa, các Tổng Giám Mục, Giám Mục và các cấp Giáo Quyền khác đang hiệp thông bình an với Tông Tòa, toàn thể hàng Giáo Sĩ và Giáo Hữu khắp thế giới, lời chúc chân lý, hiệp nhất và bình an trong Lòng Mến”.
“Chân lý, hiệp nhất, bình an, yêu mến”, bốn ý chủ lực của triều đại Gioan 23.
Trước tiên là rao truyền chân lý: “Có thể nói nguyên nhân của mọi sự dữ là do người ta không biết chân lý”. Chỉ có Tin Mừng mới đưa con người đến sự sống đời đời.
Kế đó là những chủ đề Đức Gioan 23 hằng ấp ủ: hiệp nhất, đồng tâm, hòa bình. Ngài kêu gọi các nhà lãnh đạo quốc gia: “Chúng tôi khích lệ các vị lãnh đạo tối cao các quốc gia hãy đồng tâm hòa thuận. Chúng tôi đứng trên một bình diện cao ngoài vòng xung đột giữa các nước để ôm lấy mọi dân tộc trong cùng một lòng yêu mến. Chúng tôi không hề có tham vọng thống lĩnh chính trị, cũng chẳng ước muốn một quyền lợi thế trần nào. Cho nên khi chúng tôi nói về chủ đề quan trọng này, thiết tưởng người mọi nước có thể thanh thản lắng nghe và suy nghĩ”.
Đấng Tạo Hóa đã dựng nên con người cho làm anh em một nhà, cho nên Đức Giáo Hoàng lên án chiến tranh: “Người ta đánh nhau như thế là quá đủ rồi ! Đã có quá nhiều người trẻ, tuổi đời đang độ thanh xuân, phải đổ máu ! Quá nhiều nghĩa trang liệt sĩ trên mặt đất này, nghiêm khắc cảnh cáo mọi người hãy cùng nhau trở về với sự đồng tâm, hiệp nhất và một nền hòa bình công bằng”.
Nhưng cứ gì các nước mới chia rẽ nhau. Giữa các tín hữu của Chúa Kitô đã có sự hiệp nhất đâu ! Đức Thánh Cha đưa ra lời kêu gọi với các anh chị em Tin Lành, Chính Thống: “Xin anh chị em lưu ý: chúng tôi trìu mến kêu gọi anh chị em về một Giáo Hội duy nhất, đó không phải là mời anh chị em vào một ngôi nhà xa lạ, nhưng là mời về nhà chung… Chúng tôi lấy tình anh em kêu gọi tất cả những ai đã ly cách với chúng tôi, như Thánh Augustino đã nói: “Dù muốn hay không, đó vẫn là anh em ta. Chỉ khi nào không đọc Kinh Lạy Cha nữa mới hết là anh em”.
Sau hết, đối với hàng Giám Mục, Giáo Sĩ, Tu Sĩ nam nữ, các Thừa Sai, các Tông Đồ Giáo Dân, các chiến sĩ Công Giáo Tiến Hành, các người bệnh tật già yếu, người nghèo, người tị nạn tha hương, người đang bị cấm cách bắt bớ vì Chúa, Đức Thánh Cha kêu gọi cầu nguyện; ngài cũng căn dặn những người ấy hãy có lòng trắc ẩn, nhân từ, khiêm tốn, hiền hòa, nhẫn nại và trên hết hãy có lòng bác ái.
Xét ra, toàn những lời kêu gọi thông thường. Nhưng Đức Gioan 23 đã bắt đầu và còn đang tiếp tục làm cho những điều tưởng là thông thường ấy biến thành một nguồn sáng rực rỡ.

25

Và thế là không đầy ba tháng sau khi đắc cử, Đức Gioan 23 mở đường đưa tất cả Giáo Hội vào Công Đồng: “Ý tưởng ấy không chín dần như kết quả của một trầm tư diệu vợi, nhưng là như một đóa hoa xuân bất chợt nở tươi”.

4Đức Thánh Cha nói thế với các thành viên Phong Trào Công Giáo Tiến Hành ( theo Osservatore Romano, 10 – 11.8.1959 ).
Từ đấy bao nhiêu nhà nghiên cứu đã tìm tòi, luận bàn để tìm hiểu thế nào là “đóa hoa xuân bất chợt nở tươi” ? Người ta nhìn lại quá khứ của Đức Gioan 23 thấy cũng có những nhân tố khả dĩ chuẩn bị tinh thần để đến thời điểm cho Chúa Quan Phòng sắp đặt ngài đưa ra quyết định bất ngờ. Người ta nghiên cứu tâm lý để nhận định rằng nếu không phải ngài Roncalli ở ngôi Giáo Hoàng thì không thể có những quyết định đột xuất kiểu ấy.
Triết gia Jean Guitton, một Giáo Dân được mời làm quan sát viên ở Công Đồng nhận xét về Đức Gioan 23 rằng: “Hình như ngài hành động mà không nhìn thấy những trở ngại, cứ thế xăm xăm đi xuyên qua, chứ chẳng cần vòng vo lèo lái: đó là ơn riêng của những con người thần hiệp” ( Jean Guitton, Regard sur le Concile, Ed. Montaigne, Mayenne, 1963 ). Trước đó, ông nói rằng khi lâm cảnh khó khăn, phương pháp Đức Gioan 23 rất hay sử dụng là “vươn cả tinh thần, ý thức, toàn thể linh hồn lên… cõi đơn sơ” ( “Hausser son esprit, sa conscience, son âme entière… à la simplicité”. Sđd. )
Một câu chuyện có thật được lưu truyền và được dư luận chú ý: một hôm có vị khách hỏi Đức Thánh Cha: “Thưa ngài, thế theo ngài thì Công Đồng là gì vậy ?” Đức Thánh Cha đi tới bên cửa sổ, mở toang hai cánh và trả lời: “Công Đồng là vậy đấy: là không khí ùa vào Giáo Hội”. Có lẽ mở cửa sổ, thở khí trời cũng là vươn tới cõi đơn sơ chăng ? Có vấn đề về quan hệ giữa một cõi đơn sơ căn bản với những phức tạp thường tình ở thế gian.
Jean Dreyfus đặt câu hỏi và thử trả lời: “Vào lúc Đức Gioan 23 tung ra ý tưởng về Công Đồng, ngài có tiên liệu được Công Đồng sẽ ra sao không ? Không chắc ! Ngài có vài ý tưởng lớn, nhưng tuyệt nhiên chưa ra hình thù gì cả. Nói gì đến những phương pháp, lịch trình, chương trình, còn lâu ngài mới nghĩ đến !
Có bốn lý do khiến cho ngài không muốn tiền định mọi việc một cách bất di dịch, trong một khuôn khổ quá cứng ngắc: một là ngài phó thác cho Ơn Trên khơi nguồn cảm hứng; hai là ngài muốn tham khảo ý kiến chung của hàng Giám Mục khắp thế giới; ba là ngài muốn rộng tay ứng biến; bốn là ngoại trừ vài điểm ngài xét là thiết yếu, còn thì ngài không muốn tự quyền áp đặt quan điểm của mình” ( Paul Dreyfus: Jean XXIII, Le Sarment, Saint Amand, 2000 ).
Gần bốn tháng trôi qua từ Đức Thánh Cha loan báo quyết định họp Công Đồng. Dư luận đoán già đoán non đủ thứ. Có người bảo đây sẽ là Công Đồng của sự sợ hãi. Giáo Hội cần xiết chặt hàng ngũ trước “hiểm họa cộng sản”. Người khác lại hoang tưởng đến nỗi cho rằng Đức Giáo Hoàng đành phải nhượng bộ, đành phải hy sinh loại bỏ một vài tín điều.
Nhưng điều dự báo được nói tới nhiều hơn hết, giống như một niềm hy vọng mọi người khấp khởi đợi chờ, đó là Công Đồng sẽ thống nhất được mọi người theo Chúa Kitô trên khắp thế giới. Như ta đã thấy, trong lịch sử hai ngàn năm của mình, Giáo Hội đã bị những chấn thương nặng nề. Tổn thất khủng khiếp không thể hàn gắn được là đã đánh mất sự hiệp nhất. Các Kitô hữu không còn là một Đoàn Chiên duy nhất, đã tản mác theo những con đường riêng.
Năm 1054, Thượng Phụ Constantinopoli Mikhael Kerulario tách khỏi Roma, từ đó Kitô giáo chia thành Công Giáo và Chính Thống. Năm 1517, Martin Luther phủ nhận quyền bính trong Giáo Hội, từ đấy lại chia thành Công Giáo và Tin Lành.
Biết bao nhiêu lời tuyệt thông lẫn nhau, đả kích, bôi nhọ lẫn nhau, coi nhau như quỷ dữ, thậm chí máu đã đổ, nhất là khi chính trị xen vào. Làm sao lại đến nỗi như vậy ? Làm sao lại chia năm xẻ bảy chiếc áo liền một dải của Chúa Kitô ? Làm sao sức mạnh Loan Báo Tin Mừng lại biến thành sức mạnh cắn xé lẫn nhau ? Lời cầu nguyện của Chúa xin cho các đồ đệ “nên một, như Cha với Con là một” đâu rồi ?
Nhưng chín thế kỷ đã qua, bốn thế kỷ đã qua, dữ dằn cách mấy thì cũng phải hạ hỏa, không nhiều thì ít. Từ đầu thế kỷ 20, phong trào Đại Kết đã nổi lên, bắt đầu từ phía Tin Lành. Giáo Hội Công Giáo thì còn quan sát, lúc đầu còn nghi kỵ, dần dần cũng có cảm tình, tuy vẫn còn dè dặt. Là vì Giáo Hội “duy nhất, thánh thiện, Công Giáo, và tông truyền” ( hiểu theo nghĩa Công Giáo ) đâu có thể chỉ ngang vai với người khác ?
Từ ngày trên Tòa Thánh Phêrô có một người mang danh hiệu Gioan 23, vài cơn gió nhẹ báo hiệu chuyển mùa. Hình như đông tàn xuân tới. Thiên hạ xôn xao cho rằng Công Đồng sắp họp sẽ thống nhất Kitô giáo. Một Đức Thánh Cha giao hảo đã lâu năm và có lòng quý trọng đối với Chính Thống Giáo thời ngài ở Bulgarie, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Từ ngày ngài ở ngôi cao, thế giới có duyên may cảm nhận một tinh thần rất trong sáng, bác ái, khiêm tốn, hồn nhiên.
Nguyên một việc ngài loan báo triệu tập Công Đồng vào ngày bế mạc tuần lễ cầu nguyện cho Đại Kết cũng là một sự kiện giàu ý nghĩa. Lại có những lời nói khoáng đạt như hôm 29.1.1959, bốn ngày sau khi công bố ý định họp Công Đồng, ngài nói với các cha xứ Roma: “Chúng ta sẽ không xét xử một vụ án lịch sử, sẽ không tìm xem ai đúng ai sai. Trách nhiệm sẽ chịu chung. Chúng ta chỉ nói: Hãy họp nhau lại. Chấm dứt những bất hòa đi thôi !” ( René Laurentin, L’Enjeu du Concile, Seuil, Paris, 1963, trang 98 – 99 và 187 ).
Tờ báo bán chính thức của Tòa Thánh, Osservatore Romano, ngày 31.1.1962, không dám ghi lại những lời trên đây khi tường thuật cuộc gặp gỡ của Đức Thánh Cha với các cha xứ. Những lời ấy có vẻ mới lạ quá. Xưa nay người ta quen lối trình bày hắc bạch phân minh. Đời nào Giáo Hội lại chung phần trách nhiệm với quân rối đạo. Nói thế chẳng lẽ Giáo Hội cũng có lỗi sao ? ( Phải đợi đến Năm Thánh 2000, một vị Giáo Hoàng khác, Gioan Phaolô 2 mới chính thức xin lỗi về những sai lầm của Giáo Hội trong lịch sử ).
Nhưng nhà Thần Học René Laurentin, sẽ là một chuyên viên trong Công Đồng Vatican 2, viết: “Những lời của Đức Gioan 23, được báo chí quảng bá, gây ra sự rung động, rung động bởi vì những lời ấy mang cung cách ngôn sứ, mặc dù có vài phản ứng này nọ, nhưng là những lời giải thoát. Những lời ấy xác lập một cung cách mới, thật ra là một cung cách đã bị lãng quên từ thời Đức Eugenio 4 và Hadriano 6; những lời ấy khiến cho bức cổ thành của mấy trăm năm nghi kỵ phải lung lay, những thái độ hung hăng hóa ra vô lối, và tạo ra những khả năng đối thoại mới, hồi phục khí thế yêu thương giữa Roma với các Kitô hữu ly cách”. ( Laurentin, Sđd. Trang 99 ).
Laurentin nhắc tới Giáo Hoàng Hadriano 6. Vị này, vào năm 1522, nghĩa là năm năm sau khi cuộc khủng hoảng Tin Lành bùng nổ, gây xáo trộn khắp Châu Âu không những về tôn giáo, mà cả về chính trị và kinh tế, khi gửi đặc sứ Chierigati đi dự Lập Pháp Hội Nuremberg, đã chỉ thị cho đặc sứ như sau: “Ngài sẽ nói rằng chúng ta chân thành thừa nhận Thiên Chúa đã để cho Giáo Hội của Chúa bị bách hại thế này là vì tội lỗi của người ta, và nhất là của các Linh Mục và Giáo Phẩm. Vì vậy… ngài sẽ hứa là chúng ta sẽ tận lực cải tổ trước tiên là triều đình Roma, vì mọi sự dữ có lẽ từ đấy mà ra, sự mục nát cho mọi người phát xuất từ đấy… thì cũng từ đấy mà lành bệnh và mọi người được sửa đổi”. ( Laurentin, Sđd. Trang 187 ).
Vậy là trong lịch sử Giáo Hội, đã có lúc, khi sự đổ vỡ chưa đến mức quá tồi tệ, mọi người, kể cả Giáo Hoàng, có thể ứng xử một cách bình an, khiêm tốn.
Điểm đặc sắc nơi Đức Gioan 23 là vị Giáo Hoàng nổi tiếng cách tân thật ra lại rất hay tiếp nối những truyền thống cổ. Hình như trong những lúc Giáo Hội gặp khó khăn, cứ đào sâu hơn nữa trong truyền thống sẽ gặp những mạch nước mát lành để tìm ra lối thoát. Những người càng có khả năng xuyên qua những truyền thống gần đây để bắt gặp những truyền thống sâu hơn, nghĩa là càng về nguồn thì càng có khả năng đổi mới.
Nhưng không nên lạc quan thái quá. Thảm trạng chia lìa đã kéo dài nhiều thế kỷ, thì không thể hàn gắn trong vài tháng, vài năm. Bầu không khí trở nên hòa hoãn ai cũng cảm thấy, nhưng không có nghĩa là không có vấn đề tín lý ở bên dưới. Cho nên nghĩ rằng họp Công Đồng là có thể tạo ra sự hiệp nhất ngay là một ảo tưởng. Làm thay đổi bầu khí đã là một bước tiến rất lớn. Nhưng đường về hiệp nhất vẫn còn dài lắm. Công Đồng chỉ là một chặng.
Jean Guitton viết: “Mục đích đầu tiên ( của Công Đồng ) là một mục đích xa, ta có thể gọi là mục đích cánh chung: đó là chuẩn bị hiệp nhất mọi Kitô hữu thành một thân mình duy nhất, hầu thực hiện ý muốn của Đức Kitô là Đấng đã hiến mình tế lễ để cho các đồ đệ nên một. Còn mục đích gần là cập nhật toàn diện mọi tư tưởng, mọi hoạt động của Giáo Hội, để Giáo Hội trẻ lại, mất đi những vết hư hao mỏi mòn lưu cữu, mất đi những vết nhăn, và như thế làm cho khuôn mặt vĩnh hằng của Giáo Hội trong sáng hơn, khả ái hơn, hấp dẫn hơn đối với các anh em ly cách, và mở rộng ra là đối với cả thế giới”. ( Guitton, Sđd. Trang 31 ).
Guitton đã dùng những từ mà Đức Gioan 23 thích dùng. Từ “cập nhật” trở nên phổ biến trong Giáo Hội, từ khi Đức Gioan 23 hay nói tới: “Aggiornare” và “Aggionamento”. Động từ và danh từ tiếng Ý này gợi lên sự trẻ trung hóa, hiện đại hóa. Làm sao để trong một thế giới đang biến đổi, Giáo Hội hoàn nhập tất cả tính trẻ trung, nồng nàn của mình để lanh lẹ đáp ứng đúng mức các vấn đề của con người. Đức Giáo Hoàng đề cập vấn đề “Aggiornamento” này đặc biệt trong diễn từ ngày 14.6.1959 ở Học Viện Hy Lạp; trong Thông Điệp “Bên Tòa Thánh Phêrô” ( Ad Petri Cathedram ) ngày 29.6.1959, trong diễn từ đọc trước các cha Dòng Thánh Thể, ngày 20.8.1961.
Còn những “vết nhăn” thì như trong Diễn Từ đọc trước Phong Trào Công Giáo Tiến Hành Ý ngày 9.8.1959: “Chúng ta sẽ loại bỏ những gì, trên bình diện nhân phàm, có thể gây trở ngại khiến cho không tiến nhanh được. Chúng ta sẽ giới thiệu Giáo Hội trong tất cả vẻ đẹp huy hoàng, không tì vết, không nếp nhăn”.
Cũng trong chiều hướng ấy, Đức Gioan 23 nói: “Mạnh mẽ trẻ hóa Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô” ( Lễ phong Thánh Tu Huynh Martino Porrès năm 1962 ). Ngài nói đến ”mùa xuân”, “mùa hoa” ( 3.11.1961 ), đến những “sinh lực mới” ( 8 và 21.4.1962 )… ( Laurentin, Sđd. trang 195 )
Jean Guitton viết tiếp: “Hai ý đồ đó ( về nguồn để cập nhật và hiệp nhất )là điều hết sức đơn giản; nhưng trong việc lãnh đạo tâm linh ở mức độ cao, cái đơn giản bao giờ cũng là cái rất khó định hình, làm cho người ta chấp nhận còn khó hơn, và thực hiện được nó lại càng khó hơn nữa. Công trình của một bậc thầy là diễn tả một cách rõ ràng điều mà mọi người chung quanh mình ao ước, nhưng không ai dám, hoặc không ai biết cách nói thành lời. Nhưng một khi lãnh tụ đã tìm ra công thức rồi, thì ai cũng nghĩ thầm: “Đó chính là điều tôi vẫn nghĩ, đó chính là điều tôi vẫn muốn”. Lý do khiến cho Đức Thánh Cha thu phục lòng người đến thế là do trong lời nói nhân ái và cởi mở của ngài, người thời nay nhận ra chính mình”. ( Guitton, Sđd. trang 32 ).

Lm. VŨ KHỞI PHỤNG, DCCT
Chúa Nhật 25.5.2003

Advertisements
Chuyên mục:Công Giáo Thẻ:
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: