Trang chủ > Đọc sách > Nguyễn Thị Vinh – Nhà văn Nhất Linh và Xóm Cầu Mới

Nguyễn Thị Vinh – Nhà văn Nhất Linh và Xóm Cầu Mới

Lẽ ra, tôi nghĩ phải viết cái tựa trên, như thế này mới đúng: “Nhớ về anh Tam & Xóm Cầu Mới”. Có nghĩa là tôi nhớ lại tác phẩm XCM đã được nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam bắt đầu viết lại toàn bộ ở Hương Cảng trong hai năm 1948 và 1949, rồi sau đó lại viết lại và viết tiếp ở Sài Gòn, Đà Lạt cho tới 1957. Đồng thời, tôi cũng xin nhấn mạnh: Nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam và nhà văn Nhất Linh là một. Văn học và chính trị, nơi ông, không hề tách biệt hay đối nghịch: Văn học hướng đến một nền chính trị độc lập, dân chủ; và chính trị nhắm tới một nền văn học tự do, nhân bản và khai phóng. Đặc biệt: Nhất Linh, người mà lúc sinh thời vẫn thích bằng hữu và các “đàn em”, trong đó có tôi, gọi là “anh Tam”, đã vui buồn ra sao khi viết tiểu thuyết XCM?

Kể từ dòng này trở xuống, tôi xin dùng chữ “anh Tam, chị Tam”, với tất cả tấm lòng tưởng niệm đầy tôn kính.

Nỗi nhớ thường có điều quên và “nhớ lại” cũng không thể đồng nghĩa với “lại nhớ” được hết mọi chuyện. Nên hy vọng rằng ở “Nhà văn Nhất Linh & Xóm Cầu Mới”, nếu có gì thiếu sót, xin quý anh và quý bạn chiến đấu thời lưu lạc ở Hương Cảng niệm tình mà thứ lỗi cho tôi. Trong không khí “văn nghệ” của bài viết, tôi tự giới hạn nhiều chi tiết liên quan đến một số nhà cách mạng, hoạt động chính trị, cùng các quan điểm đa dạng của quý vị ấy, bao gồm thân thế, sự nghiệp, đi đúng đường hay lạc hướng. Tôi chỉ viết dưới dạng Tâm Cảm, coi như một bài “bạt” gửi nhà xuất bản Văn Mới, nhân dịp gia đình họ Nguyễn Tường tái bản lần thứ nhất cuốn Xóm Cầu Mới:

Năm 1948, tôi sang Hương Cảng, nơi tôi ở là một căn nhà… không, phải gọi là một túp lều mới ổn. Túp lều của chúng tôi nằm trên một, trong nhiều các ngọn núi đá thấp. Vách ghép bằng các mảnh ván thùng, mái lợp cao su dầy, màu đen. Bên trong ngăn ra làm hai buồng nhỏ, buồng nào cũng có cửa sổ không lớn, nhưng đủ thoáng mát. Bếp ở phía sau lều, vách dựng sơ sài bằng các mảnh thùng sắt tây cũ . Nhu cầu nước, đã có con suối gần nhà, được những mỏm đá thiên nhiên bao bọc rất kín đáo, chúng tôi có thể ra tắm ở đây. Ông Woòng, người chủ của hai túp lều cho chúng tôi thuê, đã có sáng kiến lấy một ống cao su dẫn nước từ suối, cho chảy vào khu nhà bếp, nên việc nấu ăn, rửa bát của chúng tôi rất tiện.

Đời tôi từ bấy đến nay, thời gian qua đi già nửa thế kỷ; đã từng được ở những nơi nhà cửa cao rộng, đầy đủ tiện nghi, mà sao tôi vẫn không thể nào quên được túp lều (trên núi) của chúng tôi. Chao ơi, mỗi khi tắm, tôi chưa thấy có một vòi “hoa sen” nước nào có thể so sánh được với dòng suối ngày ấy. Tiếng suối reo, ào ạt suốt ngày đêm, hoà với tiếng u. u… u… của gió núi, khi thổi lùa qua những hốc đá, đã trở thành “bản nhạc núi” tuyệt vời. Nơi đây, không có hoa lá và ngay cỏ dại cũng chẳng mọc nhiều; dân cư ở xa, nên không cả mùi khói bếp. Không, không có mùi gì hết, tại sao tôi vẫn cảm nhận được mùi thanh khiết của núi đá, của nước. Không khí nhẹ nhàng quá. Phải chăng, tôi chỉ ngửi được bằng hai lá phổi, chứ không bằng mũi…

Tôi biết kể sao cho hết nỗi vui thích của tôi, mỗi khi ra suối tắm. Mặt trời đụng vào dòng nước đang chảy, vỡ tung, thành muôn vàn mảnh ánh sáng nhỏ lấp lánh đủ màu, loang loáng chảy ào ạt lên người tôi. Tôi tưởng như mình đang ở một xứ thần tiên, trong truyện cổ tích nào đó, tôi đã được đọc từ thuở còn bé!.

“Nhà của chúng tôi”, nếu tính từ trung tâm thành phố Hương Cảng về, phải ngồi xe điện mất gần một tiếng. Đến trạm chót, còn phải đi bộ một thôi dài, tới đường Happy Valley gần khu Phảo-mã-tỷ (trường đua ngựa) đến chân núi. Khốn nỗi, lại mất khoảng hai mươi phút từ chân núi, leo ngược con dốc đá thoai thoải, mới lên đến “nhà” lều. Con đường này, mùa hè cũng như mùa đông, mới sáng tinh mơ đã có rất nhiều người dân lao động đến ngồi ven núi, đập đá thuê. (Thời ấy, có một số nhà cách mạng Việt Nam, từng bôn ba sang Tàu; qua Thượng Hải, Quảng Châu v.v.V Rồi trôi dạtt đến Hương Cảng, khi kẹt cũng phải mưu sinh tạm bằng nghề đập đá thuê ở đây).

Sở dĩ tôi phải kể dài dòng cảnh “trên núi” như trên, là vì: Trên bản thảo XCM, còn có tên là Bèo giạt, anh Tam đã ghi lại: “Hương Cảng, trên núi, lúc 01giờ 30 trưa, ngày 16 tháng 10 năm 1949”. Bản thảo XCM, được viết lại lần đầu, ở Hương Cảng và Sường Châu. Sường Châu, hay Sheng Chou là một hòn đảo nhỏ, cách Hương Cảng một hay hai giờ tầu thuỷ, tuỳ theo chuyến chạy nhanh hay chậm. Nơi có gia đình ông Woòng, đã mấy đời, làm nghề cho các thuyền đánh cá trên đảo thuê bến bãi đậu thuyền. Nhà ông Woòng ở sát bờ biển, phong cảnh đẹp, không khí khoáng mát pha mùi nước biển. Gia đình ông, ai cũng hiếu khách, rất quý trọng các nhà chính trị, chí sĩ hay nghệ sĩ lưu vong. Ông Woòng để riêng hẳn một phòng cho khách ngụ, dù ở bao lâu cũng được. Nhưng, ai muốn ở chơi lâu, đều đề nghị với chủ nhà cho ăn riêng, tự nấu lấy bằng cái bếp dầu tây, bằng đồng. Vì thế người Việt Nam tại Hương Cảng thường hay ra Sheng Chou chơi (trong số này thời đó có anh chị hoạ sĩ Võ Lăng cùng con gái nhỏ, tên Hương Anh, cũng đã tới đảo Sheng Chou một thời gian để vẽ; anh Lăng là em ruột anh Võ Hải, bí thư của tổng thống Ngô Đình Diệm, thập niên 1960).

Anh Tam cũng từng vẽ phong cảnh Sường Châu. Giờ đây, mỗi khi có dịp nhìn lại những tấm bìa cũ, các tựa sách do anh Tam phác hoạ, làm mẫu cho nhà in “typo” của nhà xuất bản Đời Nay hay Phượng Giang, nằm trong bộ tài liệu sưu tập của Nguyễn Tường Thiết, con trai anh Tam, lòng tôi lại nhen lên một ánh lửa hồi ức, của que diêm kỷ niệm văn nghệ tưởng như đã tàn. Mẫu bìa XCM, anh Tam vẽ, tuần tự từ trên xuống dưới: “Nhất Linh, Trong Tự Lực Văn Đoàn, Truyện dài, Chữ ký của Nhất Linh 13.01.1950, Huy hiệu và tên nhà xuất bản Đời Nay, 1950”. Các nhà phê bình văn học viết về nội dung, bố cục và bút pháp của XCM; còn riêng tôi, lại nhớ những ngày tháng được nhìn thấy nét “chữ con kiến bò” của anh Tam. Nhỏ, nhưng không tới nỗi quá khó đọc, chạy trên mấy trăm trang giấy bản thảo. Bản thảo đầu tiên của XCM, anh Tam thai nghén từ năm 1940 tại nhà riêng phố Hàng Bè Hà Nội đã mất hết trong chiến tranh, và tới năm 1948 mới được anh viết lại ở Hương Cảng…

Như đã kể, năm 1948, khi đến Hương Cảng, tại túp lều kể trên, tôi được gặp anh Tam lần đầu. Tôi không biết anh là nhà văn Nhất Linh. Khoảng một tuần sau, trong bữa cơm, “cả nhà” ngồi quanh cái bàn dài bằng gỗ ván thùng, do các anh đóng lấy. Nhân một câu chuyện tình cờ, khi biết anh là nhà văn Nhất Linh, tôi đặt bát cơm ăn dở xuống bàn, vội vàng, đến gần như vô lễ, tôi nhìn anh, lắp bắp hỏi: “Anh, anh là ông… Nhất Linh đấy hả?” Anh mỉm cười gật đầu, còn các anh cùng bàn thì bật cười thành tiếng. Tôi lại hỏi tiếp: “Thế anh… chính anh, viết cái cuốn Đoạn tuyệt đấy hả?” Lần này thì anh khẽ cười thành tiếng và trả lời “vâng!”

Hàng ngày, tôi ít dám nói chuyện với anh, bởi vì trên gương mặt anh toát ra một vẻ nghiêm khắc, trầm lắng, rất buồn bã. Ánh mắt luôn luôn như nhìn về một cõi xa xăm…, mọng lên nỗi chứa chất u sầu. Tới nỗi tôi có cảm tưởng, nếu có một tiếng động dù nhỏ, bất chợt vang lên, cũng đủ làm cho những màng nước trong mắt anh oà vỡ! Cặp môi anh có lúc rung rung, như đang nói chuyện với ai đó, vô hình, đôi khi lại thoáng nét nhẹ, thật nhẹ, như mỉm cười!

Không chỉ mình anh Tam, mà tất cả anh em trong nhà đều buồn; vì chúng tôi đang có một cái tang chung! Một chiến sĩ, chí sĩ, một nhà cách mạng hay một nhà văn và cũng là Bạn Chiến Đấu của chúng tôi. Người mới từ giã cõi đời, anh Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, là em ruột anh Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Anh Long từ Quảng Châu về Hương Cảng, dự một phiên họp, (nghe nói buổi họp này gồm “đủ mặt” từ mấy phía, có cả vua Bảo Đại… Ôi! Buổi họp cuối cùng của tác giả “Mười điều tâm niệm” và “Trước vành móng ngựa”… ! Họp xong, anh Long vội rời Hương Cảng đi Quảng Châu, chẳng may đã mất ở trên chuyến tầu hoả đó. Năm 1948.

Năm 1946, Khái Hưng bị giết, năm 1948 lại đến Hoàng Đạo! Vì đâu và do ai? Ai đã gây ra? Trong vòng năm năm, nhóm Tự Lực Văn Đoàn tắt mất hai ngôi sao chủ lực. Đất nước Việt Nam đã mất hai nhà văn, cũng là hai nhà cách mạng, đầy ý chí muốn mở mang dân trí, qua ngòi bút và hành động chính trị vì tình Yêu Nước!

Nỗi đau mất Khái Hưng còn đó, lại tiếp thêm mất Nguyễn Tường Long… Anh Long mất, anh Tam không chỉ mất người em ruột, mà còn là mất một người Bạn Chiến Đấu, một nhà Tư Tưởng thân thuộc, một Bạn Văn đã cùng chung khai sáng Tự Lực Văn Đoàn. Tình trạng đất nước ngày ấy đang thay đổi, với chiều hướng suy đồi, anh Tam nhìn thấy trước mà không đỡ nổi. Cho nên chẳng lấy gì làm lạ, khi thấy anh buồn bã, như tôi đã kể.

Anh là người thương Nước, xót Dân thật sự; bày tỏ một thái độ chính trị Quốc Dân (Quốc gia, Dân tộc) trước sau như một, hết sức trong sáng, rõ ràng. Anh Tam không phải là người “làm chính trị” có chủ trương dựa vào các thế lực ngoại quốc, như: Nhật, Nga, Tàu, Pháp, Mỹ. Để mong “cõng rắn về…” lấy cớ “cứu nước”. Tâm hồn anh lại là một tâm hồn nghệ sĩ lớn. Anh rung động, nhạy cảm, vui buồn với tất cả mọi chuyện xảy ra trong xã hội, trong đời sống thường ngày của mọi người, quanh anh. Và anh đã gửi gấm được tấm lòng này vào trong bộ truyện XCM, cùng với bao nỗi khắc khoải.

Thêm vào đó, “cảnh trên núi” nhà chúng tôi lúc ấy lại vắng đi mấy người, anh Đỗ Đình Đạo, anh Trần Văn Tuyên v.v., vì công việc chung cũng như việc riêng, đã trở về nước. Các anh khác đều bận việc, anh Bảo Sơn làm cho hãng hàng hải của Hoà Lan, tuốt dưới phố; anh Lễ làm cho nhà “băng”, sáng đi, chiều về. May lúc ấy, nhờ Kim Anh, con gái tôi, năm 1948 mới được hai tuổi; chưa biết vui buồn là gì, thường luẩn quẩn bên anh Tam. Nơi nào có trẻ con, không khí sinh động, vui hẳn lên. Đôi lúc anh Tam bế Kim Anh, sửa lại giọng ngọng nghịu, bi bô tập nói của cháu; và thường đùa vui bằng cách sai vặt, thí dụ: “Kim Anh, đưa cho bác cái bật lửa!” Nếu cháu hiểu ra, làm được theo đúng ý anh, anh cười thành tiếng v.v. Như các anh khác, tôi cũng mừng, tiếng cười của người này, thường làm cho người khác vui lây, quên đi phần nào cảnh anh em, bạn bè chia lìa nhiều ngả, mất mát.

Sau khi được tin anh Nguyễn Tường Long mất, chị Long cùng với người con gái lớn của anh chị, là Minh Thư, vội sang Hương Cảng. Anh em đi đón chị Long và Minh Thư từ phi trường, lên thẳng trên núi. Hai ngày sau, mẹ con chị Long đáp tầu hoả đi Quảng Châu. Chắc để lo việc thu nhận di cốt của anh Long. Tôi không nhớ rõ.

Dù không gần gụi, nhưng mọi người thân của anh Tam ở quê nhà, cũng đoán được, chắc chắn anh Tam sẽ đau buồn về chuyện mất anh Long; anh sẽ xuống tinh thần không ít! Vì vậy chẳng bao lâu, chị Tam từ Hà Nội đã sang Hương Cảng thăm anh. Có chị trên núi, không khí nơi đây như tươi lên được đôi chút. Chị Tam kín đáo săn sóc anh, luôn tìm cách nhắc lại về thời anh làm báo, viết sách. Chỉ những khi đó, như một phép lạ, nét mặt anh vui, ánh mắt tươi sáng. Kỳ diệu thay, sức mạnh của văn chương và nghệ thuật! Tôi biết, văn nghệ không làm cho anh quên việc đất nước, nhưng nó làm cho anh tạm yên, để từng bước một bình tĩnh, lo toan nhiều chuyện lớn.

Tôi đưa chị Tam đi chợ “Trung Vàn Cái Xỉ”, là chợ lớn nhất Hương Cảng, giống như chợ Bến Thành ở Sài Gòn. Chúng tôi bị nhiều người lớn nhìn ngó, trẻ con bu coi; họ thấy lạ mắt vì chiếc áo dài Việt Nam chị mặc. Tôi phải đi mua mấy thước lụa Thượng Hải, rồi dẫn đến tiệm đo, may áo Tàu “sường sám” cho chị. Từ những lần sau, ra phố, chúng tôi cùng mặc “sường sám”, nên việc đi lại được tự nhiên, thoải mái. Chị Tam nói riêng với tôi: “Anh Tam yêu văn chương lắm, nhẽ ra anh không nên “đụng” vào chính trị, chính em. Chỉ viết văn, làm báo không thôi, cũng đã đủ thứ bận bịu rồi!”

Tôi cãi: “Nhưng tình hình đất nước như thế này! Rất cần đến những người như anh Tam góp công, góp sức, làm lơ sao đành, hả chị?” Chị Tam nói: “Thì cứ viết những điều mình cho là đúng, là lý tưởng của mình vào sách, cũng tốt thế, chứ sao!”

Tôi nhìn chị Tam với lòng kính mến. Một người phụ nữ không làm văn hoá, văn nghệ, chính trị… Chị chỉ lo “buôn tần, bán tảo”, chăm sóc họ hàng hai bên nội, ngoại, nhất là giúp đỡ chồng con. Việc buôn bán cau khô của chị, trước sau cũng chỉ mong sao kiếm lời, để chồng yên tâm gánh vác việc xã hội, khỏi bận lòng về chuyện nhà, nuôi nấng các con ăn học. Thế mà chuyện chính trị, chị lại bảo: “Cứ viết vào sách, cũng tốt thế, chứ sao!”

Lời nói dễ hiểu mà chí lý. Mặt khác, tôi nghĩ là chị Tam ngờ ngợ, “nhìn ra”, thế “lưỡng đầu thọ địch” của anh Tam, một bên là thực dân, một bên là cộng sản. Sau hai cái tang Khái Hưng và Hoàng Đạo, dường như chị e ngại cho… Song trên thực tế, sự đóng góp tuy gián tiếp nhưng tận tình của chị vào sự nghiệp văn hoá, chính trị của anh, theo tôi biết, không phải là nhỏ.

Tính anh Tam quen tự do như gió trời. Rày đây, mai đó. Đến nơi ở, cũng không có chỗ nhất định; vỏn vẹn chỉ hai bộ quần áo, giặt bộ này mặc bộ kia, được thứ hàng không cần tới bàn là, càng tốt; nếu không, vải bị nhàu một chút cũng chẳng sao. Anh không có tủ sách riêng, khi cần, chạy ra thư viện mượn. Người như thế làm sao có thể “chu đáo”, gần gụi với gia đình vợ con cho được!

Những ngày ở trên núi với chúng tôi, mỗi lần đi chợ về, chị tự tay nấu các món ăn cho cả nhà. Tôi chỉ phụ với chị rửa rau, thu dọn việc vặt. Khi nào mua thịt bò, chị nhờ anh Tam giúp làm món “beefsteak”, chị Tam khoe anh còn biết nấu súp “bouillabaisse”, (nấu với nhiều thứ hải sản: tôm, cua, cá, sò v.v. rất ngon.) Mà ngon thật, y như ăn ở hiệu cơm Tây nổi tiếng. Chị nói riêng với tôi: “Cứ để anh làm cho vui.” Tôi cũng kể với chị: “Lúc chị chưa sang, dù buồn cách mấy, hễ sau bữa ăn trưa, anh Tam nhất định giành việc rửa bát.” Anh Nguyễn Gia Trí cũng phải bảo nhỏ tôi: “Để anh làm cho vui.” Sau này, tôi mới biết tính anh Tam, không chỉ lúc ở Hương Cảng, dù ở đâu anh cũng thích làm một vài món ăn, rửa bát, quét nhà. Anh bảo: “Đó là cách nghỉ ngơi, giải trí của tôi!” Thường buổi chiều, lúc chị không ở cùng, anh không ăn cơm, chỉ tự nấu lấy vắt mì khô, với ít tôm khô và rau cải. Anh ăn mì, uống ly bia xong, yên lặng nằm nghỉ, chẳng chuyện trò với ai, trừ khi có các anh em ở xa đến mở buổi họp, cần có anh.

Tôi thấy hình như anh thích ở những nơi đồi núi và thích nghe tiếng suối. Sau này, ở Sài Gòn, anh cũng thường hay lên Đà Lạt, để được sống bên suối Đa Mê…

Cách nhà bếp không xa, ngay phía trước dòng suối “không tên”, có một hang đá; cửa hang rộng chừng sáu thước, cao gần hai thước, khá sâu, nhưng thoai thoải thấp dần, thấp dần. Từ ngoài cửa vào, khoảng bốn năm thước là đã bị đụng đầu, không đi tới thêm được. Nền đá phía dưới rộng, sạch sẽ và mát lạnh. Vào mùa hè, cả nhà thường vào đấy đọc sách báo, bàn chuyện chính trị. Nếu muốn có thể nằm lăn ra ngủ, nghỉ, chỉ tội, hơi đau mình một chút vì mặt đá lồi cồi, không trơn phẳng.

Phía trước hang, một khoảnh sân, lộ thiên; không biết bằng cách nào, mầm cỏ từ đâu lạc tới, đâm chồi trong các kẽ đá; mọc lên từng đám cỏ xanh non, tươi mát, lả lướt đùa rỡn trong nắng gió. Tôi thầm nghĩ: “Đây là một, trong các món quà tặng của Trời, đã cho muôn vàn sự sống nẩy sinh trên trái đất này!” Một thân cây không lớn lắm, nhưng già cỗi, mọc ghé bên bờ sân, nghiêng ra ngoài vực; vực không sâu, có thể đi men men xuống. Bên dưới, rất nhiều ốc sên, chẳng có gì đẹp, nên không ai buồn xuống đó. Anh Nguyễn Gia Trí thường đem giá gỗ, ngồi vẽ dưới gốc cây. Cũng ở nơi đây, tôi đã ngồi làm mẫu, để anh vẽ “portrait”. Tấm tranh này, sau anh phải bán cho ông bà Lãnh sự Anh ở Hương Cảng, khoảng năm 1948 hay 1949.

Chị Tam mua một chiếc ghế vải, có thể ngồi hay nằm tựa và chiếc bàn nhỏ, kê ở trong hang đá, rồi gọi nơi đó là “nhà mát”. Anh Tam đem vào nhà mát một chiếc cặp da đựng bản thảo XCM cùng với bình thuỷ nước sôi, cà phê, vài bao thuốc lá hiệu “Bastos xanh”, một cái gạt tàn thuốc to gần bằng cái đĩa tây. Với ngần ấy thứ, anh có thể ngồi suốt ngày trong hang đá, viết, viết và viết… Cháu Kim Anh thích quanh quẩn chạy chơi loanh quanh chỗ bác Tam viết, rồi lại chạy ra chỗ bác Trí vẽ. Các anh chỉ vui thêm chứ không lấy thế làm phiền. Anh Trí còn bế cháu lên, cho cháu cầm cọ vẽ nghịch vài nét ngay trên tấm tranh đang vẽ dở của anh. Anh bảo: “Không hề gì, rồi sửa lại, được mà!”

Anh chị Tam, thường hay mời “cả nhà” đi ăn hiệu, (nhậm sà, uống trà), với đủ các thứ bánh trái, xíu mại, há cảo, bánh bao v.v., ăn xong lại cùng đi dạo cảnh Hương Cảng. Ai cũng biết đó là ý riêng của chị Tam bày vẽ ra thế, muốn để anh có dịp đi nơi này, nơi kia cho khuây khoả. Khi về, anh Tam bảo chị mua thêm vài thứ bánh, để làm quà cho một “bà già dưới chân núi”. Căn nhà của bà, cũng vách ván thùng cũ, mái cao su đen. Cửa chính hướng về phía núi. Trước nhà có mảnh sân, trồng dăm luống rau cải, cà chua và một dàn mướp. Lại thêm cái chuồng gà nơi góc sân, nom hệt như mảnh vườn quê ở Việt Nam. Trông vào mà thấy ấm cả lòng! Ấm lòng hơn nữa, bà già chủ nhà lại là người Việt Nam, chừng bảy mươi, vóc dáng xem còn mạnh khoẻ. Bà thường xuyên mặc bộ quần áo Tàu rộng rinh, bằng vải dầy màu lam sẫm đã bạc phếch, vá vài ba chỗ. Mái tóc trắng xám, khô, xơ xác, cắt ngắn, lộ ra cái gáy đen đủi, nhăn nheo.
Vài năm trước đó, bà nhận ra chúng tôi là đồng hương, vì có một lần, anh Đạo và anh Sơn đã nói chuyện với nhau trong lúc đi ngang qua nhà bà. Bà chỉ nghe âm thanh của giọng mà nhận ra các anh là “Nàm dần”, tức người An Nam. Hầu như bà đã quên hết tiếng mẹ đẻ; không còn nói và hiểu nổi ý nghĩa. Trừ mỗi một câu duy nhất, nói được mà lại phát âm lơ lớ bằng giọng Tàu: “Mìn dơ… i tó… ti dờ… dồ…” Nghĩa là “Mình ơi có đi Bờ Hồ…”, một câu, trong bài hát vui, tếu. Đầu thế kỷ 20, bài này được giới bình dân ở Hà Nội và Hải Phòng ưa thích. “Mình ơi có đi bờ hồ. Cùng tôi chén kem kẹo dừa. Xin đừng, là đừng chê nhé. Trong túi tôi có mười đồng xu…”

Chồng bà, gốc dân Tàu nghèo, xưa kia từng lưu lạc sang làm phu mỏ ở Hòn Gai, Móng Cái. Gặp và lấy bà, rồi đưa nhau về Tàu. Chẳng may, ông mất trong thời chiến tranh Nhật Hoa. Bà chỉ có một người con trai. Năm gặp chúng tôi, anh ta khoảng trên bốn mươi, chưa vợ. Vóc người to cao, vạm vỡ. Hàng ngày phơi mình ngoài nắng gió, làn da bị bụi đá và mồ hôi bám két lại, sần lên, đen xám, như da của con voi con, tóc bờm xờm cứng đơ. Nhưng tính anh rất hiền, quá hiền đến gần như ngây ngô. Chúng tôi có hỏi han chuyện gì, anh ta cũng chỉ nhe hàm răng xỉn, cười cười, không trả lời. Mỗi buổi sớm, anh ta đi đập đá; mình bà mẹ ở nhà, vào ra trông coi, săn sóc vườn tược. Bà khéo trồng, nên rau, trái mọc xanh um; hoa màu dùng để nhà ăn và đem bán cho mấy người đập đá thuê, quanh nhà, cũng phụ thêm được tiền gạo chợ cho hai mẹ con. Thỉnh thoảng, bà già sai con trai đem lên núi cho chúng tôi, khi thì vài quả mướp, mấy quả cà chua, hay rau cải v.v. Một buổi xế trưa, chắc người con đi làm chưa về. Bà lọm khọm bưng lên núi một “thố”, loại nồi đất có chiều cao, đựng canh chân giò, nấu với rau cải khô. Chẳng biết bà phải leo bao lâu, lúc đến trước cửa nhà chúng tôi, mới thoáng thấy anh Tam, bà đã quýnh quíu, vừa thở dốc vừa gọi: “Sần, sếng sáng, Sần… sếnh…” (Ông Trần, ông Trần ơ…) Anh Tam họ Nguyễn, nhưng hồi ở Tàu các anh em lại lấy họ Trần để gọi anh. Chưa dứt lời, bà vấp ngã, thố canh đổ vỡ tung toé. Anh Tam hốt hoảng, đỡ bà đứng lên, bà không chịu. Ngẩn người nhìn những miếng chân giò và rau rơi vãi trên nền đá, rồi cuống quít nhặt lên. Miệng không ngớt kêu rên bằng một tràng tiếng Tàu, chẳng vì đau cái đau mới ngã, mà hình như chỉ tiếc nồi canh. Anh Tam vội cúi xuống phụ bà nhặt, vừa vội vàng nói với bà: “Không sao, không sao đâu bà ơi, chỉ rửa đi, rồi đem nấu lại, vẫn ăn được mà. Vẫn ăn được mà…! Bà đứng lên đi, để tôi xem chân bà có đau lắm không…?”

Khi đã nhặt hết, không còn cọng rau và miếng thịt nào, bà mới chịu đứng lên, nhìn xuống; cũng may nhờ vải quần dầy, chỉ xước nơi đầu gối một chút. Bà đòi mang chỗ canh đổ về, để đổi phần canh của mẹ con bà lên biếu anh em. Ai ngăn sao bà vẫn cứ nhất định làm theo ý mình. Anh Tam nói: “Thì chúng ta cứ làm theo ý bà đi… Lòng thương nhớ đất nước của bà, bà gửi vào tình đồng hương đấy!” Anh H., một người bạn trẻ, hôm đó lại phải theo bà xuống núi để đổi lấy phần canh mới.

Đến “mùa hàng” cau khô, chị Tam phải trở về Hà Nội. Anh Tam, phần nào đã tạm ổn định tinh thần, viết văn lại và viết rất đều tay cuốn XCM, khiến chị yên tâm. Sau này, chị Tam còn sang Hương Cảng lần nữa. Ông Woòng mời anh chị qua Sường Châu ở chơi mấy tháng. Nơi đây anh đã nghe chị, người vợ và cũng là người bạn của anh,nhẹ nhàng, từ tốn khuyên giải. Anh viết tiếp, viết tiếp, viết cả văn chính luận, cho đến khi trở về Sài Gòn.

Buồn thay, trước tình hình đất nước dầu sôi, lửa bỏng vào những năm cuối đời viết văn của anh, “con người” cách mạng trong anh không tài nào chịu sống cách xa các anh em cũ, đã từng cùng anh kề vai, sát cánh đấu tranh, chia nhau từng nắm cơm, gói mì. Anh lại rời bàn viết. Tới ngày 07 tháng 07 năm 1963… Những ai có dịp sống gần, quen thân anh lâu, đều hiểu được tấm lòng anh: Anh mang chí hướng Tự Lực, như nhân sinh quan của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học, lúc ngồi viết sách trên căn gác Nam Đồng thư xã ở Hà Nội: “Không thành công thì thành nhân!”

Nguyễn Tường Tam của tư tưởng và hành động Cách mạng Quốc dân, Nhất Linh của văn học, báo chí và Tự Lực Văn Đoàn, hoạ sĩ, nhà văn, nhạc sĩ v.v. Tất cả, trước sau, vẫn là anh Tam của XCM, nơi những người dân bao đời nghèo khó, lầm than trong cảnh “bùn lầy, nước đọng”, như “gia đình bác Lê”, rất cần đến tiếng nói chia sẻ, bênh vực họ từ phía: Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.

Na Uy, Oslo tháng 4 năm 2002

(Nguồn: Talawas.org)

Advertisements
Chuyên mục:Đọc sách
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: