Khái Hưng – Thân thế và Tác phẩm

Khai Hung-Than the va Tac Pham

Advertisements
Chuyên mục:Đọc sách Thẻ:

Phượng-hoàng đã sải cánh bay

(Nguồn)

Khi vừa nhận được tin linh-mục Vũ Khởi Phụng từ-trần hồi 21 giờ ngày Thứ Tư 02-3-2016 tại Tu-viện Thái-hà – Hà-nội, tôi thật bình-tĩnh trong lời thầm nhủ là ngày giờ phải đến thì đã đến thôi. Song rồi tiếp sau đó là bắt đầu thấy bâng-khuâng với một cảm-giác hụt-hẫng và mất-mát cứ thấm dần, thấm dần. Nhất là sau khi nhìn qua một số hình ảnh đầu tiên tại tu-viện Dòng Chúa Cứu Thế Thái-hà khi ông mới ra đi. Người đi vừa thoát hết hệ-lụy, nằm đó thanh-thản như còn say trong giấc ngủ muộn nhưng nhìn những người ở lại đang đứng vây quanh sao lòng thấy bùi-ngùi, se-thắt.

Cha con một thuở là đây, thầy trò duyên nợ cũng còn đây và anh em một đời gắn-bó trong ân-tình và tín-nghĩa cũng chỉ còn những phút này đây. Rồi từ đấy những hồi-ức cứ từ-từ quay ngược về quá-khứ đã bắt tôi đặt bút viết những dòng hoài-niệm này.

Viết… thay cho nén hương bái-biệt.

Cuộc đời có nhiều chuyện tình-cờ đến mà người ta thường gọi nó là duyên. Và tuy chỉ có một chữ duyên đơn-giản song lại gói-ghém biết bao nhiêu ý tình để nhờ đó mà đời người có những liên-hệ làm thành mối tương-quan cảm-thông trong tình thân-hữu, thân-thiết trong nghĩa đệ-huynh hoặc gắn bó bằng tâm-linh giao-cảm.

Nhớ lại, một ngày nào đó năm 1980, tôi đi lễ chiều ở nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp vì nhà tôi muốn tìm một linh-mục Dòng Chúa Cứu Thế giải-tội và lại còn nhờ tôi góp ý chọn giúp một vị nào đó trong những linh-mục tôi đã quen hoặc biết ở đấy. Tôi lừng-khừng trả lời rằng linh-mục nào chẳng có đủ bảy chức thánh, chẳng được trao ban và uỷ-thác cho năng-quyền tha tội…Để Chúa chỉ cho. Vậy là nhà tôi xăm-xăm đi vào phòng khách nhà dòng, còn tôi ngồi lại chờ trước núi đá Đức Mẹ.

Khoảng hai mươi phút sau, cha Phụng và nhà tôi từ trong cửa phòng khách nhà dòng bước ra, quẹo phải và song-song chậm bước đi vòng theo khu sân trước nhà dòng, đi tiếp ngang qua mặt tôi để về phía phòng thánh rồi lòng-vòng đâu đó một hồi thật lâu nữa mới trở lại. Tôi vội đứng lên, ông bắt tay tôi rồi chào từ-biệt sau khi nhắc với nhà tôi ngày giờ họ đã hẹn gặp lại.

Nhà tôi nét mặt rạng-rỡ, nhẹ-nhàng kể-lể là đang đứng lớ-ngớ trước cửa phòng khách thì gặp lúc cha Phụng vừa tiễn khách về đang quay vào, bèn lại gặp. Rồi vào phòng khách xưng tội và sau đó cùng nhau đi lòng-vòng để nghe cha chia sẻ về một số cảm-nghiệm tâm-linh. Và nhà tôi kết-luận là cha có cách nói chuyện rất “người”, không bị ảnh-hưởng bởi cái chủ-quan thường có nơi các giáo-sĩ; nhất là khi làm “cha giải tội” thì chỉ giảng và dạy. Cha Phụng giải tội mà như một người bạn tâm-linh, muốn ủi-an nâng đỡ hơn là làm cho xong một thủ-tục, một trách-vụ.

Từ đó, nhà tôi có vẻ “mê” ông, hay ghé thăm chuyện trò, lại còn rắc-rối thắc-mắc là sao ngay từ thời sinh-viên tôi cũng hay tới lui sinh-hoạt và lễ lạy ở nhà thờ Kỳ-đồng, đã quen biết các linh-mục, tu-sĩ tại đấy như cha Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Cao Đình Trị, Phạm Gia Thụy…chẳng hạn, mà sao lại không quen cha Vũ Khởi Phụng thì tôi chỉ trả lời gọn lỏn và ngang chành là tại không có duyên.

Thực ra thời vào gian ấy, cha Phụng mới chịu chức, rất trẻ-trung và được rất nhiều người ái-mộ vây quanh. Thỉnh-thoảng tôi cũng gặp ông tại phòng làm việc của cha Chân Tín, của Nguyễn Ngọc Lan…và dù vẫn có chào hỏi đủ lễ nhưng không hiểu sao tôi lại không thích nhập vào cái đoàn rồng rắn lúc nào cũng tíu-tít rộn-ràng ấy.

Rồi bỗng dưng từ một nhu-cầu tâm-linh của nhà tôi mà đã mở ra một mối thân-tình cho đến nay.

Độ ấy, tại nhà thờ Giáo-xứ Đức Mẹ Hằng Cứu-giúp, Thánh-lễ tám giờ mỗi sáng Chúa-nhật thường do linh-mục Phạm Gia Thụy phụ-trách và Thánh-lễ 6 giờ 30 chiều do linh-mục Vũ Khởi Phụng phụ-trách. Gia-đình tôi chọn đi lễ tám giờ sáng vì tôi thích nghe cha Thụy giảng trong phong-cách mà người nghe có cảm-tưởng như ông đang trải-nghiệm những suy-tư tâm-linh của chính đời mình. Thế nhưng bây giờ đành phải nhường, đổi sang lễ 6 giờ 30 chiều để nhà tôi nghe cha Phụng giảng mà theo anh thì tự nhiên như chia sẻ tâm-tình. Tôi chỉ biết lẩm-bẩm với chính mình rằng để xem chia-sẻ được bao lâu và tự hứa sẽ chú tâm nghe để còn đem sợi tóc ra chẻ cho vui.

Thú thực, thời-gian đầu tôi không thích lắm cách giảng của cha Phụng với văn-phong chữ nghĩa mà tôi cho là hơi bóng-bảy và có chút “làm dáng” khi diễn ý. Tuy thế tôi đã bắt đầu thầm phục ông về thái-độ luôn chủ-động trong khi diễn giảng, luôn ý-thức về những gì mình đang nói. Lại còn rất nhanh khi cần tự-động chuyển ý nội-dung diễn-tả để ứng-đối cho kịp tình-huống bất ngờ nào đó thật uyển-chuyển mà người nghe có thể vẫn nghĩ như là có soạn sẵn. Có lần, chỉ một đoạn Tin Mừng mà các tác-giả Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca ghi rất gọn sự việc Chúa chữa cơn bệnh nhức đầu cho bà mẹ vợ ông Phê-rô thôi mà cha Phụng thao-thao trên toà. Tôi nghĩ có thể nhiều người chẳng hiểu hết hay nắm bắt được bao nhiêu ý-nghĩa nhưng đã vẫn lắng nghe theo bài-bản và thật mát tai với ý mới được diễn giảng về những điều ông gọi là “cơn cảm cúm và váng-vất tâm-linh”. Lễ xong, chúng tôi đến trước cửa phòng thánh gặp ông. Do vẫn quen với việc chúng tôi thường hay góp chút ý này, ý khác để chia sẻ sau những lần nghe giảng nên cha Phụng hỏi chúng tôi ngay về bài giảng vừa rồi ra sao. Vì mối tương-quan giữa chúng tôi lúc đó đã đủ thân-thiết và tự-nhiên nên tôi nói ngay là cứ như bánh phồng tôm. Ông thẳng-thắn thú nhận là vì vừa đi giảng ở ngoài về, lại thấy nội-dung gọn-gàng quá nên không soạn trước và ông cười nói với nhà tôi rằng, đồng ý là bánh phồng tôm tuy không bổ, không no nhưng lâu lâu ăn một lần kèm theo các món khác thì cũng thêm hương-vị, nhất là sự giòn-giã của nó, thì cũng đâu phải sợ bị lạc-điệu.

Một dịp trao-đổi khác, tôi rất cực-đoan đòi hỏi rằng Thần-khí Đức Ki-tô trao ban và sự sáng của Thánh-linh soi dẫn để đâu mà khi người ta làm bậy, nhất là các đấng bậc, thì lại đổ cho ma quỷ cám-dỗ hoặc là những phút yếu lòng. Đấy là cách nói ăn gian và đổ vấy …Cha Phụng bảo tôi nếu không thích kiểu ăn gian và đổ vấy như thế thì nói cách khác vậy…chẳng hạn như là Chúa Thánh-linh đi vắng chốc lát hay đi vắng thường-xuyên. Lại một lần, trong dịp gặp mặt “bỏ túi” tại nhà, có cả linh-mục Thiện Cẩm cũng là một thân-hữu chí-thiết của gia-đình, sau bữa ăn tôi vừa gọt xoài vừa rào đón là rất ngại mua loại trái cây này vì không biết chua ngọt ra sao. Cha Thiện Cẩm bảo nếu sợ chua thì đừng ăn xoài mà đổi sang đu-đủ đi, còn cha Phụng nói ngay là pha ly nước đường uống là chắc nhất…

Đại-khái những cái kiểu nói “chuyện chẳng ra chuyện” mang ngôn-ngữ đời thường và không cầu-kỳ này thường là nội-dung của các dịp trò chuyện mà có thể nhiều người sẽ gọi là chuyện huề vốn. Với tôi lại khác, tôi thấy mình có lời khi bắt buộc phải thêm nhiều suy-nghĩ để tự-thân rà lại tính quá-khích và cực-đoan của mình trong tâm-linh cũng như ngoài cuộc sống; về đạo cũng như với đời…

Tuy-nhiên, cái cơ-duyên tâm-linh dẫn đến tương-quan bằng-hữu này không phải lúc nào cũng đơn-giản như vị chua của xoài, vị ngọt của đu-đủ hay của ly nước đường. Chẳng hạn trong những dịp cùng phân-tích, trao đổi về dội-dung hay bình-phẩm về các nhân-vật trong một số sách ông cho tôi mượn về đọc như Sous le soleil de satan, Les Grands Cimetières sous la Lune và Journal d’un curé de campagne của Georges Bernanos; L’Avocat du diable của Morris West hay La saison des pluies của Graham Greene… thì lại toàn là “lý sự” khô-khan và gai-góc với một số cách nhìn cuộc sống được phản-ảnh qua các nội-dung câu chuyện. Có điều, cũng nhờ đó tôi nhận ra rằng bằng tâm-thức của một nhà tu hoà với chất văn-chương và nghệ-thuật trong di-truyền, linh-mục Vũ Khởi Phụng đã tạo cho người chung quanh hay thân-cận dễ tìm được nơi ông phong-độ của một hiền-nhân đầy tình người nhẹ-nhàng, dễ làm cho người khác thấy được cảm-thông hơn là một quyền-uy chỉ dùng lý-tính để cột buộc. Đôi khi, dựa vào mối thân-tình sẵn có, chúng tôi đùa vui nói là hèn chi ông có làm cao lắm cũng chỉ đến Phó Giám-tỉnh chứ không bao giờ “dám” tỉnh.

Lần đầu chúng tôi đến căn nhà ở trong khu trại Bùi-phát thăm hai cụ thân-sinh của cha Phụng từ Hà-nội vào là dịp người em trai út của ông vừa ở trại tù cải-tạo về. Khi cụ ông Vũ Thế Hùng vừa giới-thiệu anh Vũ Đằng Giao, tôi buột miệng đọc câu văn trong bài tự Đằng-vương các của Vương Bột, danh-sĩ thời nhà Đường bên Tầu: Đằng-giao khởi-phụng, Mạnh học-sĩ chi từ tông (Giao-long vượt cao, phụng-hoàng nổi dậy; đó là tài-hoa của Mạnh học-sĩ, ông tổ của từ chương – Trần Trọng San dịch) thì cụ ông đọc ngay câu kế tiếp Tử-điện thanh-sương, Vương tướng-quân chi võ-khố (tia chớp tía, hạt sương trong, đó là tiết-tháo của Vương tướng-quân). Rồi sau những lời chào hỏi với hai cụ, với chị Phụng-Anh và anh Giao xong, cụ ông trở lại ngay bài tự Đằng-vương các với thắc-mắc là xưa nay, câu được nhiều người coi như tuyệt-bút trong bài văn viết theo thể “tự” này là câu Lạc-hà dữ cô-vụ tề phi. Thu-thuỷ cộng trường-thiên nhất sắc (Ráng chiều rơi và con cò cô độc cùng bay; nước sông mùa thu nhập với bầu trời thành chung một mầu) mới phải chứ. Tôi thưa với cụ là vì thuộc cả bài nên vừa nghe hai “tên tuổi” trong nhà thì nhớ đến và chắc không ra ngoài ý này. Cụ cuời thay cho lời xác-nhận.

Thế là ngay trong buổi sơ-kiến, nội-dung thăm hỏi thì ít mà cùng tâm-đắc về văn-chương đạo-học Đông-phương thì nhiều. Tôi phải khai thêm lý-lịch là trước 30-4-1975 đã học Văn-chương Việt Hán ở Đại-học Văn-khoa Sài-gòn như muốn gián-tiếp “khoe” với hai cụ cái nếp đào-tạo của nền học-thuật tại Miền Nam Việt-Nam. Từ đó, mỗi thời-gian hai cụ ở Sài-gòn thì chúng tôi hay tới lui thăm hỏi và nghe chuyện văn-chương, chuyện về chốn cũ người xưa của đất cố-đô. Trong câu chuyện, nếu như cha Phụng có được nhắc đến thì cả hai cụ cũng chỉ dùng tên trống không để gọi… Phụng thế này, Phụng thế nọ. Còn với chị Phụng-Anh và anh Giao thì có thêm chữ “ông”.

Năm 1987, tôi có dịp ra Hà-nội. Cả hai cụ niềm-nở chuyện trò khi tôi đến thăm và cụ ông ân-cần bảo tôi …“cô đi vào Nam lúc còn quá nhỏ, cho nên bây giờ dù có thông-kim bác-cổ cũng chưa đủ nếu không biết gì thêm về Thăng-long ngày trước. Tôi tình-nguyện làm người hướng-dẫn cô đi ngược về cái thuở còn núi Nùng, sông Tô-lịch…”. Sáng sớm ngày hẹn, cụ từ đường Trần Hưng Đạo đến đón tôi ở phố Hàng Ngang. Người chị dâu trưởng-tộc của gia-đình tôi đem hết chút di-sản ngàn năm văn-vật trước 1954 còn rơi rớt lại ra dùng đón cụ. Hai cụ con vừa ra khỏi nhà là cụ khen bà chị dâu tôi rối-rít. Tôi phụ-chú là ở ga Hàng Cỏ có bao nhiêu băng nhóm và nói bao nhiêu thứ tiếng là chị con thông-thạo hết đấy. Cụ nói bằng giọng xót-xa… “Xã-hội này nó bắt con người phải ra như thế cô ạ. Tôi khen là chị ấy còn giữ được, chứ bây giờ người ta ứng-xử và giao-tế bằng thứ ngôn-ngữ thô-lậu cứ như dân chợ búa thôi”… Lần đó, tôi được cụ đưa đi thăm chốn hành-cung ngày xưa của các vua nhà Lê là chùa Trấn-quốc hiện nay; sang Trấn Võ để xem pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ đứng cao sừng-sững hơn ba mét và cái gác ở ngay cổng vào, nhỏ như gác chuông của một ngôi chùa ở nhà quê mà cụ bảo rằng đấy là cái lầu nơi đó các văn-nhân đồng thời ngồi nhìn ra Hồ Tây xướng hoạ, ngâm vịnh. Vào vườn Bách-thảo đứng trên đỉnh núi Nùng bây giờ chỉ còn là cái gò đất. Cụ cũng chỉ cho tôi khu trường Bưởi ngày trước là nơi có một đoạn sông Tô-lịch đã bị lấp mất. Khi về lại trong Nam, tôi nói với cha Phụng “đường gian-nan – nếu có – cha đã trải qua chưa bằng gang tay so với những tháng năm hai cụ phải hoà vào nhịp sống của xã-hội Miền Bắc mà tuyệt-đại đa-số đã mất gốc văn-hoá và đạo-học của thời hai cụ”.

Năm 2006, tôi còn được gặp hai cụ thêm lần nữa ngoài Hà-nội, tại Thái-hà. Được cùng cụ đọc lại bài Thăng-long thành hoài-cổ của Bà Huyện Thanh-quan với đá trơ gan cùng tuế nguyệt …nước chau mặt với tang thương… và chỉ vạch cho tôi cái tên đường Cổ Ngư vô nghĩa. Theo cụ, con đường gọi là đường Thanh Niên ngày nay, thuở xa xưa là một lối mòn cỏ mọc kín đầu dẫn vào túp lều tranh của một ông già tên là Ngự, chuyên cất vó cá. Người chung quanh vì kính ông cao tuổi nên gọi là cố Ngự. Khi con đường đuợc mở rộng và nối dài ngăn đôi giữa Hồ Tây và hồ Trúc Bạch thì vẫn còn giữ tên cũ Cố Ngự nhưng lại bị đọc trại thành Cổ Ngư.

Các cha Cao Đình Trị và Phạm Gia Thụy ngạc-nhiên thấy tôi thân với cha Phụng. Theo hai vị thì cách nhìn sự việc của cha Phụng và tôi không giống nhau. Mà cũng đúng, tôi thấy ông nhiều khi như hơi luộm-thuộm, ba phải; các lằn ranh nào ông cũng đứng giữa. Còn ông thì phê tôi lúc nào cũng “jongler avec des concepts”. Tôi tự dịch ngay cho ông nghe và giải-thích là dịch không cần hay hoặc chính-xác mà chỉ cần đúng ý của người nói; đó là “nhảy như con loi-choi với các định-kiến”. Ông cũng bảo tôi rằng chữ nghĩa rất hiền-hoà và vô-tư mà sao cô dùng nó thì cứ như những lưỡi dao, những mũi kim sắc nhọn. Tôi trả lời là vì không đi tu, lại càng không phải một “rédemptorist”.

Có điều, tuy cứ mở miệng là “đốp chát” nhưng tôi cũng nhận ra sự đáng quý nể nơi cha Phụng là cái tâm hiền-hoà, cái tinh-thần khó nghèo và kiêm-ái trong nếp sống đơn-sơ cần thiết của một bậc tu-trì. Quanh năm suốt tháng chỉ đi xe đạp. Nghe đâu cũng có lúc đeo đồng-hồ, nhưng đã gỡ ra cho “đệ-tử” đem bán lấy tiền giúp người nghèo rồi không chịu đeo lại, dù có nhiều người – trong đó có cả nhà tôi – cứ gạ-gẫm mua tặng cái khác. Cha Trị cản đừng mua vì có đeo rồi cũng gỡ ra để đâu không biết hoặc thấy ai đó than khổ thì cho ngay. Lễ thánh bổn-mạng không loan-báo rềnh-rang, ai có biết mà mừng mà chúc thì nhẹ-nhàng cám ơn. Các dịp kỷ-niệm khấn dòng hay thụ-phong linh-mục thì do nhà Dòng làm; còn bản-thân, như chị Phụng-Anh nói, là phải nhắc và bắt về nhà ăn cơm mới nhớ…

Linh-mục Cao Đình Trị là người đã cho tôi nhận ra mối dây huynh-đệ đẹp lành và đầy liên-đới giữa anh em Dòng Chúa Cứu-thế với nhau qua những chia sẻ của ông với tôi về cha Phụng. Một buổi chiều đầu năm 1992, tôi gặp cha Trị trước giờ lễ chiều thì được báo tin “Phụng mới bị đụng xe, đang nằm ở Trần Hưng Đạo”. Cái lối nói chuyện thân-tình này lúc đầu tôi cũng hơi ngại vì vắng bóng những chữ “ngài” này, “ngài” nọ mà chỉ còn chữ “ông ấy” thế vào. Rồi lâu dần tôi cũng bị nhiễm nên cũng quen tai và dùng rất tự-nhiên. Song nếu như khi người khác, nhất là các giáo-dân ngoan đạo, nghe ăn nói như vậy thì sẽ cho là “gở lạ”.

Tôi vào thăm thấy một chân ông đang treo bằng sợi dây “cable” nhỏ máng trên một bánh xe “rouleau”, đầu kia là một khối nặng nằm kênh trên sàn nhà. Y-tá giải-thích vì lúc chân bị cán lên thì chỗ xương gẫy đã chồng lên nhau, giờ phải kéo từ-từ cho ăn khớp lại rồi mới mổ ra bắt vít bắt ốc. Tôi chào “Tại đi nhiều quá nên Chúa tạm treo chân thôi” và ông cười theo cái tính mà nhà tôi gọi là “xem nhẹ các sự thế-gian” trả lời “Người chỉ bẻ nhẹ một chân thì chưa chừa được”. Tâm-linh cũng là thế đấy.

Năm 2008, giữa lúc Thái-hà đang sáng rực ánh nến công-lý, tôi ghé nhà Kỳ-đồng gặp cha Cao Đình Trị, xin được phỏng-vấn linh-mục Giám-tỉnh Phạm Trung Thành và linh-mục Vũ Khởi Phụng khi ấy đã ra Hà-nội làm Bề-trên tu-viện Thái-hà. Sau gần 10 năm không gặp mà cha Trị vẫn cứ cách xưng hô vui-vẻ ngày trước thường dùng “Xếp ở đâu về và về bao giờ vậy”. Trong khi chờ cha Giám-tỉnh Phạm Trung Thành từ trên lầu xuống, câu chuyện hàn-huyên nhanh gọn và về Thái-hà: “Sao lại đưa “ngài” ra đấy vào giữa lúc này, Chúa có lầm không và anh em có hại nhau không vậy”. Cha Trị cười bảo “…có vậy mới phải chịu khó làm việc nghiêm-túc và theo nguyên-tắc đi, để sử-dụng cho hết những cái xưa nay được đánh giá là giỏi-giang, uyên-bác, thâm-trầm và khôn-ngoan trước khi chết chứ…”

Đêm Giáng-sinh năm 2011, tôi đến Thái-hà nghe Thánh-ca và dự lễ đêm. Tôi cứ đứng chù-chừ không biết làm sao chen vào trước một rừng người dầy đặc ngay từ đường lớn dẫn vào bệnh-viện Đống-đa và chật cả khu sân rộng trước Tu-viện. Cuối cùng phải liên-lạc với Nguyễn Hữu Vinh để được dẫn vào qua lòng nhà thờ, xuyên ngang phòng áo rồi từ đấy ra phía sau sân khấu mà xuống chỗ cộng-đoàn đang ngồi. Cha Phụng đứng lên đón rồi chỉ cho tôi vào ghế trống ngay phía sau ông mà ai đó đã nhường cho. Tới cuối buổi trình-diễn Thánh-ca, ông lên nói lời kết-thúc và không quên có lời chào mừng “khách quý”. Ngày hôm sau tôi trở lại Tu-viện định chào để ra phi-trường vào Sài-gòn thì cha Phượng cho biết ông đi dâng lễ ở một nhà dòng nữ nào đó. Và lần cuối cùng nói chuyện với ông là khi gọi điện-thoại từ Sài-gòn ra chào để về Úc.

Và bây giờ, tin ông mất đã làm bao hồi-ức kéo về để rồi một mảnh trời kỷ-niệm được mở ra và sẽ dần-dần khép lại.

Cha kính

Giờ này, xác-thể cha đã tan thành tro than, đã trở về với mớ cát bụi tuyệt-vời từ nguyên-thủy; song con tin rằng làn hơi thần-khí đã hà vào cho chúng ta thành thân-phận thì vẫn còn đó và đang bay gần về cõi phúc trường sinh. Hoặc giả như người xưa quan niệm “thác là thể phách, còn là tinh-anh” thì trong cái tinh-anh ấy đang hoà theo khí thiêng trời đất, khí thiêng sông núi, mong rằng cha vẫn không ngừng nài xin ơn Người phù-trợ cho anh em, cho Giáo-hội, cho Quê-hương, cho khí-phách phượng-hoàng bền vững nơi hết thảy anh em mình. Cho đến một ngày không còn những cái mà theo cách một người anh em Phan-sinh của chúng ta là linh-mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh đã gọi là những con gà mái đủ mầu đỏ, tím, đen.

Vĩnh biệt…

Phạm Minh-Tâm

Chuyên mục:Uncategorized

Nhớ Cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT3/4/2016

Một con người vượt trên bi kịch bản thân và gia đình

Hè năm 1987 tôi được cha già Giuse Vũ Ngọc Bích đón vào tu viện Thái Hà dưới danh nghĩa là cháu đến giúp ông lúc tuổi già [1]. Từ đấy tôi bắt đầu biết cha Mát thêu Vũ Khởi Phụng, vì cha già Bích hay nhờ tôi viết thư cho “chú Phụng” [2] và vì ông bà cố của ngài lại sống ở Hà Nội, số 36 Trần Hưng Đạo, nên hai bên hay qua lại thăm hỏi. Có chuyện gì vui buồn thường chia sẻ.

Mấy năm sau khi cha Phong và tôi được gửi vào Tu viện Kỳ Đồng, thì chính cha Máttthêu Vũ Khởi Phụng là người đón tiếp chúng tôi; từ đó trở đi tôi liên tục sống gần ngài, dưới sự hướng dẫn của ngài, từ Hà Nội đến Sài Gòn. Nhờ vậy tôi mới hiểu hơn về ngài và gia đình ngài mà tôi coi như là một trong những nạn nhân điển hình của chế độ cộng sản.

Cả hai ông bà cố của ngài đều thuộc dòng dõi gia đình quyền quý. Ông quê làng Trung Lao, Nam Định, đạo gốc, tốt nghiệp tú tài bên Pháp và trường Luật Đông Dương. Bà người Huế, gia đình ngoài Kitô giáo, thuộc khuynh hướng tân thời, thích nấu ăn và có năng khiếu nghệ thuật, về sau được phong nghệ nhân. Bà học đạo với các cha DCCT Huế và được rửa tội ở Sài Gòn. Cưới nhau xong, hai ông bà về sống ở Thanh Hóa, vì khi ấy ông làm Tri phủ Tĩnh Gia. Vì vậy cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng được sinh ra ở Thanh Hóa.

Ông cố là vị quan thanh liêm, có tài quản trị, được dân yêu mến và kính trọng, có tinh thần dân tộc, vì vậy năm 1945, chính phủ liên hiệp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mời ông tiếp tục làm công chức ở Thanh Hóa. Tuy nhiên, đến năm 1946, phe cộng sản trong chính quyền tiến hành thanh trừng những người quốc gia, trong bối cảnh đó, ông cố bị cộng sản bắt đi tù; họ đưa ông từ Thanh Hòa vào giam ở vùng Đức Thọ, Hà Tĩnh.

Được nhắn tin là ông cố bị đày đọa và sinh bệnh nặng, bà cố mau vào còn kịp nhìn mặt và liệu cách đưa xác về nếu ông qua đời. Thế là bà cố vội vàng phải gửi ngài và các em ngài về quê Trung Lao, để đi tìm chăm sóc ông. Thấy tình hình ông nguy kịch và điều kiện trong tù khó có thể bảo đảm mạng sống, bà quyết định đeo bám theo những vùng nơi ông cố bị cộng sản giam cầm, làm việc, tìm cách cứu giúp ông cố, thỉnh thoảng mới về thăm ngài và các em ngài.

Ở Trung Lao, cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng học tiểu học tại trường của giáo xứ, rồi nhập tiểu chủng viện Trung Linh. Tiếp theo qua các sinh hoạt trong Liên Đoàn Công Giáo, bà cố quen biết Đức ông Trần Ngọc Thụ, bấy giờ là Thư ký riêng của Đức Cha Lê Hữu Từ và từ mối quen biết này, cha Mátthêu được gửi vào học ở trường Trần Lục, Phát Diệm, nơi có môi trường học tập hiện đại và an ninh ở Miền Bắc thời bấy giờ. Năm 1952, bà cố từ Miền Trung ra Bắc đưa ngài và các em ngài ra Hà Nội, em ngài được gửi cho người thân, còn ngài thi được gửi vào Đệ tử viện DCCT như mong muốn từ ban đầu của bà cố từ khi đang mang thai ngài.

Năm 1954 cộng sản lên nắm quyền ở miền Bắc, bà cố cho ngài theo các cha DCCT di cư vào Nam. Các em ngài cũng di cư theo người thân theo các em của ông cố. Còn bản thân bà cố ở lại Miền Bắc theo ông đang đi tù cộng sản. Vốn là người đảm đang, tháo vát bà làm được được những việc lạ lùng, nhờ vậy ông mới sống sót và cuối cùng mãi đến năm 1973 ông mới được trả tự do khi hiệp định Paris được ký kết.

Đến năm 1975 cộng sản chiếm Miền Nam, đất nước thống nhất, nhưng như tống thống Thiệu nói “đó là nền hòa bình của nấm mồ”. Gia đình ông bà cố vẫn lâm cảnh phân ly. Cô con gái Triều Nghi cùng gia đình bên Hoa Kỳ; con trai thứ, Chú Giao, cựu sĩ quan cộng hòa, vào trại tập trung, rồi khi mãn hạn lại đi HO. Ở lại Việt Nam còn mình cha Phụng ở Sài Gòn, trong khi ông bà cố ở Hà Nội. Từ năm 1990 các cuộc thăm viếng Bắc-Nam mới thường xuyên hơn và mãi cho đến năm 2008 khi Cha Phụng ra Hà Nội làm bề trên tu viện Thái Hà thì ông bà cố và ngài mới được đoàn tụ ít năm trước khi hai ông bà lần lượt qua đời.

Gia đình lâm vào bi kịch như vậy, nên việc giữ được ơn gọi, quả là khó khăn. Tại Miền Nam, cuộc sống của các em ngài trong hơn 1 thập niên đầu cũng chật vật. Ngài cảm thấy phải có trách nhiệm với các em trong tư cách là anh cả. Từ đó ngài có ý định tạm dừng việc tu của bản thân một thời gian để làm gì đó giúp các em. Suy nghĩ ấy còn bị tác động bởi cuộc chiến Việt Nam và trào lưu xét lại ơn gọi thời hậu công đồng của nhiều tu sĩ. Tuy nhiên, nhờ sự cố gắng của ngài và của các em ngài, nên cuối cùng Chúa cũng giúp ngài cũng vượt qua.

Năm 1970 ngài được thụ phong linh mục. Bà cố của ngài ở Hà Nội cũng biết tin qua ngả Sài Gòn-Canada-Pháp-Hà Nội. Bà cố mừng lắm. Bà kể rằng ngày chịu chức của ngài, bà cố làm con gà mang sang mời Đức Cha Khuê và các cha bên Tòa Tổng Giám Mục ăn mừng, rồi xin các ngài dâng lễ tạ ơn. Thế mà vì việc này, sau đó bà cố đã bị công an triệu tập sách nhiễu, hạch hỏi.

Một linh mục thông minh và uyên bác

Cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng là người có tư chất thông minh. Hơn nữa, ngài còn rất chịu khó học tập nên kiến thức của ngài rất uyên bác.

Hình ảnh người ta có về ngài là con người khi đi, đứng, khi ăn, khi ngồi dường như lúc nào cũng kè kè bên cạnh là quyển sách hay tờ báo làm bạn, dường như không còn để tâm đến sự gì khác chung quanh. Nhờ thế, ngài có một vốn văn hóa rất sâu rộng về các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trong lãnh vực thần học, lịch sử và văn chương Kitô giáo.

Ngài nghiên cứu rất sâu rộng về thần học. Những tuyển tập thần học kinh điển và quan trọng hàng đầu của thế kỷ XX như Nouvelle Theologie, Unam Sanctam đều được ngài nghiền gẫm. Ngài rất thích lịch sử và văn chương Latin. Những bộ sách lịch sử quan trọng, đồ sộ như của Fliche et Martin vẫn đọc hết. Đọc đi đọc lại. Ngài là một trong số ít người ngay từ hồi trước 1975 ngài đã tìm đọc bộ giáo phụ latin hơn 200 cuốn của cha Jean Paul Migne, mà ngài nói là còn ở Trung tâm Công Giáo bên đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn.

Từ những năm 1970, ngài là một trong những linh mục giảng thuyết được yêu mến ở nhà thờ Kỳ Đồng, cùng thời gian ấy, ngài thường xuyên được mời đi giảng tĩnh tâm cho các giáo xứ, các dòng tu và các giáo phận.

Ngài cũng làm giáo sư của các lớp thần học bí mật đây đó tại Sài Gòn, đồng thời làm giáo sư Học viện DCCT và sau này còn dạy tại Học viện Liên Dòng. Ngài dạy thần học nhập môn, Giáo phụ học và cả Lịch sử Giáo Hội. Ngài bàn giải các tác giả, các vấn đề rất kỹ lưỡng, rất sâu rộng, rất hệ thống, luôn luôn mới mẻ; nội dung có mật độ suy tư thần học rất cao, rất độc đáo và hấp dẫn. Tôi thấy ngài đáng được gọi là nhà thần học.

Một trong những ơn Chúa ban cho ngài là ơn nói các thứ tiếng. Ngài có thể diễn đạt tư tưởng cách dễ dàng và chuẩn xác bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Latin. Nói cũng như viết. Đặc biệt là dịch thuật. Trong Dòng, ngài thường được mời làm người thông dịch chính thức mỗi khi các đấng bề trên hay anh em ngoại quốc tới Việt Nam. Hồi cách đây mấy năm, Phái đoàn Đức Tổng Giám Mục Đại Diện không thường trú tại Việt Nam đi thăm các giáo phận ở Miền Bắc, ngài cũng được mời đi theo làm người thông dịch.

Liên quan đến việc này, tôi thấy nếu mình cứ nói tiếng Việt đều đều, không cần dừng, thì ngài vừa nghe, vừa có thể dịch trực tiếp ra tiếng Anh, tiếng Pháp, hoặc dịch ngược lại từ tiếng Anh hoặc tiếng Pháp ra tiếng Việt. Dù dịch xuôi hay dịch ngược thì ngài cũng đều diễn tả được cái hồn của nguyên ngữ, khiến người ta có cảm tưởng như đang nghe trình bày bằng trực tiếp bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Từ ta đến tây tôi thấy hiếm người có được khả năng thông dịch kỳ tài như ngài.

Một con người hiếu hòa và được việc

Ngài là típ người trí thức nhưng lại rất hiếu hòa. Gần 30 năm sống với ngài trong Dòng, tôi chưa bao giờ thấy ngài nổi nóng và nặng lời với ai. Ngài luôn tôn trọng mọi người, lắng nghe và tỏ lòng cảm thông với mọi người. Nếu có ai lớn tiếng, ngài thường tránh đi hoặc im lặng lắng nghe, rồi nhỏ nhẹ hỏi thăm hoặc tham gia ý kiến và ý kiến của ngài rất quân bình, rất có tính cách xây dựng. Ngài có thể dung hòa khác khác biệt bằng một giải pháp tốt đẹp đến mức bất ngờ, hợp lý hợp tình mà hầu như ai cũng lấy làm hài lòng. Vì vậy, ngài được mọi người chung quanh yêu mến, kính trọng và tin tưởng. Bởi vậy, từ năm 1975 đến năm 2015, ngài luôn được anh em trong Dòng bầu cử và bổ nhiệm vào những chức vụ quan trọng.

Căn cứ vào những lần phê chuẩn của các vị bề trên tổng quyền, tôi đếm được 4 lần, tức trong 24 năm ngài được bầu cử làm thành viên của Tổng Công nghị; 11 nhiệm kỳ tức 33 năm được bầu làm cố vấn, thành viên hội đồng quản trị Tỉnh Dòng; 4 nhiệm kỳ, tức 12 năm được bầu làm Phó Giám Tỉnh; 2 nhiệm kỳ tức 6 năm được bổ nhiệm làm Bề trên tu viện DCCT và Chánh xứ giáo xứ Đức Mẹ HCG, Sài Gòn; 2 nhiệm kỳ, trong 7 năm làm Bề trên Tu viện DCCT Thái Hà, trong đó có 3 năm kiêm Chính xứ Thái Hà, Hà Nội; hơn 5 nhiệm kỳ tức 16 năm làm Giám học Học viện; 2 nhiệm kỳ làm Phó Tập sư; 2 nhiệm kỳ làm Giám đốc Dự tập; 2 nhiệm kỳ làm Trưởng Ban Truyền thông; 1 nhiệm kỳ làm Giám đốc Hậu Học viện; 1 nhiệm kỳ làm Trưởng Ban Tông đồ Mục vụ.

Ngày cũng tích cực tham gia phục vụ trong các công việc chung của TGP hay của Giới Liên Tu sĩ tại Sài Gòn. Từ năm 1975 cho đến năm 2008, ngài liên tục hoặc là thành viên trong Ban Đại diện, hoặc Ban Nghiên cứu Thần học của Hiệp hội Bề trên Thượng Cấp Việt Nam, hoặc là Chủ tịch Liên Tu sĩ TGP Sài Gòn, hoặc làm tổ trưởng tổ công tác, phụ trách các sinh hoạt thường kỳ của giới Liên Tu sĩ. Sách Gương Chúa Giêsu nói người hiếu hòa được việc hơn người trí thức. Ngài có cả hai, cho nên cuộc đời ngài từ khi làm linh mục, luôn ngập tràn trong trách nhiệm và bổn phận phục vụ ở các vai trò và vị trí khác nhau giữa lòng Giáo Hội.

Một linh mục không đam mê quyền lực

Là người trí thức, sống với những giá trị cốt yếu của đức tin, của đời tu, ngài không ham mê quyền lực. Những ai sống ở gần ngài đều thấy ngài là một trong số ít người không muốn quyền lực.

Có lần anh em trong Dòng tính bầu ngài làm Giám Tỉnh. Tuy nhiên, trước ngày bầu cử ít hôm, thầy Giuse Thuyết, một người cùng lớp Tập viện với ngài, nhưng là bậc niên trưởng trong Dòng và là người rất có uy tín đối với các anh em, than rằng: “Bét mẹ cái anh Phụng anh ấy nhờ mình việc khó quá mà không làm thì cũng tội cho anh ấy. Anh ấy nói với tôi là xin thầy đi nói với anh em đừng bầu con làm Giám Tỉnh, nếu không thì con bị cầm chân không còn đi giảng dạy đây đó được nữa, trong khi Nhà Dòng còn có những anh em khác làm bề trên tốt hơn.”

Không làm Giám Tỉnh, nhưng ngài cũng vẫn phải làm bề trên những tu viện lớn và đông anh em và quan trọng nhất của Tỉnh Dòng tại Sài Gòn và Hà Nội. Trong tư cách là bề dưới của ngài trong nhiều năm, không khi nào tôi cảm thấy ngài có ý thể hiện quyền của ngài trên các cá nhân hay trên cộng đoàn.

Tôi thấy ngài rất tôn trọng anh em dưới quyền, dù hầu hết đều là học trò của ngài. Là bề trên, nhưng khi ngài muốn điều gì thì thực ra là ngài đi xin bề dưới hơn là truyền lệnh cho bề dưới. Ngài cho người ta một cảm nhận đích thực rằng chức vụ để phục vụ chứ không phải là để cai trị, càng không phải để thống trị và thỏa mãn tham vọng của mình.

Ngài đối xử với những người cộng tác rất tế nhị. Nếu có sáng kiến mục vụ nào hay, thì ngài tìm lúc thích hợp để chia sẻ với các anh em và mời gọi anh em cộng tác. Nếu anh em thực hiện tốt, thì ngài khen ngợi; nếu không được như ý thì ngài cũng quảng đại chấp nhận và từ từ tìm giải pháp.

Ở Sài Gòn cũng như ở Hà Nội, khi làm Bề trên-Chính xứ ngài thường nói: tôi là bề trên nhưng thực ra tôi chẳng làm gì cả. Tất cả những thành quả tốt đẹp thực ra đều do anh em và quý ông bà anh chị em giáo dân thực hiện cả.

Ngài đối xử với các cộng tác viên rất nhân hậu và phải đạo. Lúc ở Hà Nội tôi thấy mỗi khi có thể được ngài thường đến thăm những gia đình những người phục vụ trong giáo xứ. Tu viện nhờ một xơ Dòng Mân Côi Trung Linh làm văn phòng giáo xứ. Thấy xơ làm việc tích cực, chu đáo, vượt mức yêu cầu, làm hài lòng mọi người, cho nên ngày tết ngài đích thân xuống chúc tết Dòng Mân Côi và ngài nói rằng “cám ơn Nhà Dòng đã cho tôi một cha phó xứ rất đắc lực”.

Một tu sĩ có tinh thần vâng phục

Dù là người rất có uy tín, nhưng ngài rất khiêm nhường, luôn tế nhị và mau mắn đón nhận ý muốn của các vị bề trên. Ngài không tìm ý riêng mình. Không tìm cách để thay đổi ý định của bề trên. Nếu bề trên có ý muốn việc này thì ngài cố gắng thực hiện. Nếu bề trên có ý không muốn việc kia, thì ngài mau mắn chấm dứt.

Ngài không muốn làm Bề trên-Chính xứ ở Sài Gòn, nhưng khi cha Giám Tỉnh Cao Đình Trị muốn, thì ngài chấp nhận. Thời gian đấy, ngài đặc biệt quan tâm phục vụ sinh viên, bởi vậy ngài dành cho sinh viên một phòng hội lớn tại lầu 1 của Nhà Hiệp Nhất B, các bạn coi đấy như là nhà của mình, là thế giới riêng của mình, có cả một hệ thống tủ sách riêng và tủ đựng đồ đoàn riêng của các bác. Các bạn có thể tổ chức sinh hoạt thường xuyên định kỳ ở đó. Ý là hàng tuần. Lâu lâu cũng có cuộc hội lớn. Nhất là khi những dịp sinh viên Công Giáo ở các thành phố hội lại với nhau. Có lần đến 500 sinh viên. Thời đầu thập niên 1990 mà tụ họp sinh viên như vậy là lớn lắm. Sau đó, sợ ảnh hưởng của phong trào sinh viên, nhà nước đã làm áp lực lên Tỉnh Dòng và lên Tòa Giám Mục. Mặc dù ngài chẳng e ngại áp lực của công an, nhưng vì lợi ích chung của toàn Giáo phận và Nhà Dòng, ngài đã tạm ngưng các cuộc tập hợp kia của sinh viên.

Cũng trong tinh thần tuân phục ấy, tôi biết điều này: mặc dù ông bà cố của ngài ở tại Hà Nội, nhưng ngài rất gắn bó với môi trường mục vụ ở Sài Gòn; ngài không muốn ra Hà Nội. Tuy nhiên, anh em muốn và Cha Giám Tỉnh cũng muốn, thế là ngài đã vâng lời làm Bề trên-Chính xứ Thái Hà vào những năm khó khăn nhất trong lịch sử của Tu viện này.

Một linh mục không đam mê tiền bạc và quảng đại giúp đỡ người nghèo

Ngài cũng không đam mê tiền bạc và quảng đại giúp đỡ mọi người. Có người quên mọi thứ nhưng tiền thì không quên. Ngài thì ngược lại, có thể nhớ mọi thứ nhưng tiền thì không. Tâm ngài không dính vào tiền. Sự thực là vậy.

Tôi nhớ hồi những năm trước 2008, biết ngài ra Hà Nội ăn tết với ông bà cố, thì cha Giám Tỉnh gửi ngài tiền mừng tuổi cho anh em nhà Hà Nội. Ấy vậy mà ngài cứ quên đi quên lại, có khi nhớ mang ra tới Hà Nội, nhưng rồi quên trao cho các anh em và vì thế lại mang vào Sài Gòn. Cứ thế vào ra cuối cùng đến giữa năm tiền mừng tuổi với đến được chúng tôi.

Trước đó, hồi năm 1992, khi ngài bị tai nạn, ngài nhờ tôi và cha Phong vào dọn phòng. Tôi thấy trong túi quần áo cũ còn tiền từ đời nảo đời nào. Nhiều quyển sách bên trong còn cặp các phong bao lì xì chứa tiền Việt Nam Cộng Hòa. Tôi biết là ngài không để ý tới.

Nếu có tiền và nếu có nhớ tới, thì ngài thường chỉ dùng để mua sách và thường xuyên hơn là giúp đỡ người nghèo. Tại tu viện Kỳ Đồng, tôi thấy người nghèo bấm chuông tìm kiếm ngài nhiều nhất. Như thế ngài có bị lợi dụng và mắc lừa? Ngài nói rằng, thôi thì nếu người ta có thể lợi dụng được mình một tý thì cứ để cho người ta lợi dụng! Người ta chẳng biết chạy đến đâu nữa mới chạy đến mình. Thà rằng mình bị mắc lừa còn hơn là linh mục mà đẻ người ta thấy mình thiếu tình thương.

Cũng tinh thần ấy, lúc ngài làm bề trên ở Hà Nội, có những người nghèo từ xa về Thái Hà hành hương, ngài thường giúp đỡ họ. Có lần tôi gặp một nhóm rất đáng thương, tôi trình bày với ngài là nên nói cha quản lý của tu viện giúp đỡ, thì ngài bảo rằng: “Thôi, tớ có tiền, để tớ đi lấy đưa cho cậu giúp họ. Khỏi dùng tiền của cộng đoàn.”

Một nhà rao giảng bằng ngòi bút

Là một linh mục dấn thân, chứ không phải một quan chức văn phòng, cho nên ngài gắn bó với cuộc sống thường ngày của người dân, của Giáo Hội và Đất Nước.

Ngài quan niệm rằng linh mục thời nay một tay phải mang sách Phúc âm và tay kia là tờ báo. Có nghĩa rằng Tin mừng phải gắn liền với cuộc sống hiện tại ở đây và lúc này. Ngài giảng cho chúng tôi như vậy. Trong ý thức đấy, ngài không chỉ thích đọc báo, mà hơn thế còn thích làm báo. Bởi thế, từ hơn 50 năm trước, cho đến cách đây khoảng 1 năm, trong khi sức khỏe còn cho phép, ngài thường xuyên viết bài cho các báo Công Giáo trong ngoài nước.

Ngài là người có sức viết dồi dào hiếm thấy. Ngài viết về những con người khác nhau, về các sự kiện khác nhau và về các vấn đề khác nhau tùy theo tình hình Giáo Hội và xã hội ở từng thời điểm. Ngài viết rất hay, rất thời sự, văn chương rất mượt mà, súc tích. Vốn có óc trào phúng, ngài chỉ ra những khía cạnh thú vị, đọc ra được những ý nghĩa sâu xa của sự việc, hiện tượng mà người khác vốn thấy là bình thường.

Ngoài ra ngài cũng tham gia trả lời phỏng vấn của các hãng thông tấn, các đài báo quốc tế. Nhiều bài viết và bài phỏng vấn liên quan đến tình hình Việt Nam còn được còn được các báo tây đăng lại và còn thấy trong danh mục của các tuyển tập kê khai tư liệu liên quan đến Việt Nam.

Ngài không thờ ơ với con người và ngài quan niệm rằng báo chí là một phương thế rao giảng Tin mừng. Tòa giảng và hay tòa báo đều là nơi thi hành sứ vụ. Viết báo là một cách đưa đạo vào đời, một cách ngài đối thoại với môi trường mình rao giảng. Việc đối thoại ấy diễn ra liên lỉ ở mọi nơi ngài có mặt trong mọi thời điểm.

Các đấng bề trên trong Dòng cũng biết ngài có năng lực báo chí và có quan niệm đúng đắn về truyền thông, cho nên ngay khi ngài vừa thụ phong linh mục, ngài đã được bổ nhiệm làm Thư ký Tòa soạn và Chủ bút của Báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Rồi gần 10 năm vừa qua, gắn liền với các sự kiện ở Thái Hà và Kỳ Đồng, cũng là thời gian ngài được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Truyền Thông của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế.

Một chiến sĩ tích cực dấn thân mưu tìm công lý, sự thật và hòa bình

Những gì ngài nói, những gì ngài viết, những gì ngài làm, những gì diễn ra ở DCCT Thái Hà, Hà Nội và DCCT Kỳ Đồng, Sài Gòn trong những năm qua, là những bằng chứng nói cho chúng ta biết ngài đã dấn thân thế nào trong lãnh vực công lý, sự thật và hòa bình.

Lúc này tôi chỉ muốn nói thêm rằng: theo tôi được biết, thì ngài là một trong những người sớm gửi thư kiến nghị Hội đồng Giám mục Việt Nam mạnh dạn thành lập Ủy Ban Công lý và Hòa bình.

Ngài là một trong những anh em tích cực nhất và có vai trò quan trọng nhất của DCCT Việt Nam trong việc dấn thân cho công lý, sự thật và hòa bình.

Ngài đã sẵn lòng đảm nhiệm vai trò Bề trên-Chính xứ Thái Hà ở vào một trong những thời điểm mà ngài biết là đang gặp khó khăn, thử thách, nguy hiếm nhất trong lịch sử gần 90 năm hiện diện của tu viện này.

Ngài đã không thỏa hiệp trước những đề nghị của nhà cầm quyền để mưu tìm lợi ích riêng cho DCCT của mình. Trái lại, ngài hiệp nhất chặt chẽ với Tổng giáo phận Hà Nội, chấp nhận đồng sinh đồng tử với giáo dân, giáo sĩ và giáo quyền. Chấp nhận bằng hành động cụ thể chứ không phải bằng lời nói.

Yêu cầu của ngài về công lý, sự thật và hòa bình rất cao. Trong tư tưởng cũng như trên thực tế hành độn. Liên quan đến điều này, tôi thấy rằng trong tổng thể cũng như trong từng phương diện, thường thì ý của ngài là 10 phần, thì chúng tôi cố gắng hết sức cũng chỉ thực hiện được khoảng 5 hay 6 phần.

Ngài chủ trương dấn thân mưu tìm CÔNG LÝ, SỰ THẬT VÀ HÒA BÌNH, là bởi vì ngài xác tín rằng cái gốc rễ của của những đổ vỡ và rối loạn về mọi phương diện hiện nay trong xã hội Việt Nam đều phát xuất từ BẤT CÔNG-DỐI TRÁ VÀ BẠO LỰC do chế độ đã và đang thi hành.

Đêm Chúa Nhật 20 rạng ngày 21 tháng 9 năm 2008, khi nhà cầm quyền huy động những thành phần bất hảo đến bao vây tu viện Thái Hà, phá phách Đền thánh Giêrađô và hô hoán đòi giết ngài, ngài vẫn không nao núng, sợ hãi. Thậm chí hôm sau, trong thánh lễ Mátthêu, lễ bổn mạng ngài, tại nhà thờ, ngài còn có thể ca hát và có những lời hài hước khiến cộng đoàn cười nghiêng ngả, đủ biết niềm tin, tình yêu và niềm hy vọng của ngài lớn lao thế nào.

Còn những điều khác liên quan đến ngài trong lĩnh vực này, dần dần lích sử sẽ làm sáng tỏ.

Một nhà thừa sai trong lãnh vực văn hóa và nghệ thuật

Ngài cũng thừa hưởng ít nhiều năng khiếu nghệ thuật của ông bà cố. Những năm tôi ở Sài Gòn, nhất là thời điểm 1989-1992, khi ngài chưa bị tại nạn gãy chân, hầu như tuần nào ngài cũng rủ tôi đạp xe cùng ngài, lang thang đến các phòng triển lãm tranh ở đường Pasteur và đường Đồng Khởi, hoặc các bảo tàng, các nhà văn hóa, các danh lam thắng cảnh ở nội ngoại thành để thưởng thức những giá trị văn hóa nghệ thuật. Đôi khi có phim hay trình chiếu ở đâu đó thì ngài cũng kêu tôi đi xem cùng, tôi thấy thường là ở Trung tâm Văn hóa Pháp, vì có những phim nơi khác cấm ở đấy vẫn có thể chiếu. Nếu ngài bận việc, thì ngài nói tôi đi xem rồi về thuật lại.

Nhưng nơi mà ngài thường lui tới nhất là các nhà sách và các điểm bán sách báo ngoại ngữ của du khách Tây phương mang theo đọc xong rồi bỏ lại, hay bán lại. Ngài đi xem sách cốt yếu để biết. Dù vậy thấy sách nào cần thiết, sách nào có giá trị và giá cả trong mức độ chấp nhận được thì ngài cũng mua. Tôi biết ngài sưu tập được một ít tạp chí Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) và Nam Phong Tạp chí. Cả hai thứ quý này hy vọng là vẫn còn lại trong phòng ngài ở Sài Gòn.

Ngài cũng rất quan tâm đến văn chương kim cổ của thế giới và của Việt Nam. Ngài thường tìm đọc những tác phẩm văn chương đoạt giải Nobel hoặc đoạt giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam. Thời sự văn chương Việt Nam hay dở thế nào thì ngài nắm bắt khá kịp thời. Ngài coi văn chương không những là phương tiện giải trí, mà còn là một cách thức để ngài tiếp cận thực tại xã hội, gợi ý cho ngài trong việc rao giảng và hơn nữa còn là một phương tiện hiệu quả để truyền bá Tin mừng.

Ngài rất quan tâm đến mảng văn thơ Công Giáo Việt Nam. Ngài cổ vũ những ai có khả năng tham gia sáng tác văn học Công Giáo. Những năm ở Hà Nội tôi thấy ngài cũng rất quý trọng nhà văn Nguyễn Hoàng Đức. Có lần chiều mùng một tết, trong lúc mọi người về quê với gia đình, tu viện cũng vắng vẻ hơn ngài thường, cha Vũ Khởi Phụng bảo tôi kêu anh Nguyễn Hoàng Đức đến Nhà Dòng cùng ngài và tôi đi ăn chiều và bàn chuyện văn thơ, triết học.

Năm rồi, sau một cuộc tĩnh tâm Cursillo, tôi có dịp hàn huyên với cha Nguyễn Tầm Thường, một văn sĩ Công Giáo được yêu thích, tôi hỏi con đường nào dẫn ngài đến nghiệp văn chương, thì ngài cho biết: trước 1975, lúc ngài đang làm chủng sinh ở Long Xuyên, thì ngài bắt đầu tập làm thơ, viết văn rồi gửi cho báo Tuổi Hoa và báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Khi nhận được, cha Vũ Khởi Phụng đã viết thư cho ngài, đánh giá rất tốt các bài viết của ngài và đã khuyên ngài tiếp tục sáng tác. Từ đó ngài tự tin vào ơn gọi văn chương và ngài theo nó đến bây giờ.

Ngài cách đích thân tổ chức các buổi giới thiệu các tác giả và tác phẩm Công Giáo. Có khi ít thì 5, 3 người. có khi nhiều cũng được 20, 30 người. Tôi nhớ hai lần cuối ngài tổ chức mà tôi có tham dự, thì một lần giới thiệu về tác giả và tác phẩm của nhà thơ Đình Bảng, lần còn lại giới thiệu về nhà thơ nào đó mà nay tôi quên đã quên tên; tôi chỉ còn nhớ là anh còn đang sống, đang bị bệnh phong như Hàn Mặc Tử và là người đã viết tiếp vở kịch thơ Quần Tiên Hội của Hà Mặc Tử.

Cha Mátthêu quan niệm rằng đức tin của người Công Giáo Việt Nam chưa diễn tả được thành thơ thì đức tin chưa thực sự bén rễ sâu xa để sinh hoa kết quả tốt đẹp trong lòng dân tộc Việt Nam này.

Theo tinh thần đó, bản thân ngài thỉnh thoảng cũng làm thơ, nhân dịp có sự kiện vui buồn gì đó. Chẳng hạn năm 1992, khi đang đạp xe lên Dòng Mến Thánh Giá Gò Vấp giảng tĩnh tâm, đến chỗ sân gôn Gia Định, chỗ gần ngã ba Chú Ía, thì ngài bị cái xe benz đụng gẫy chân. Cha già Jean Thính, người rất mến mộ ngài, đã gửi tặng ngài mấy câu thơ con cóc rằng:

Vũ Khởi Tiên Sinh bị gãy giò
Thế mà phải nói số còn to.
Vụ xe cán nghiến ghê rung rợn.
Hậu quả thông thường: ngủ hũ tro

Cóc Đại Cồ Việt

Và ngài đã họa lại rằng:

Mở mắt thì ra chỉ gãy giò.
Tưởng về với Chúa kiếm lời to.
Thiên đình khó tính chưa cho nhập.
Thôi thế xin từ biệt hũ tro.

Mười mấy năm nay dường như không thấy ngài làm thơ nữa. Tôi hỏi tại sao, ngài bảo từ hồi cụ Jean Thính mất, ngài cũng không còn hứng làm thơ nữa.

Nhưng ca hát và sáng tác thánh ca thì ngài vẫn tiếp tục. Ngài thừa hưởng năng khiếu âm nhạc của bà cố; hơn nữa trong Nhà Dòng, ngài được các cha Canada đào tạo âm nhạc rất bài bản về âm nhạc như các anh em cùng thế hệ như Thành Tâm, Sĩ Tín, Hoàng Đức, Tiến Lộc.

Năm 1994, khi Đức Cha Hoàng Văn Tiệm gặp tôi ở Nhà thờ Fatima Bình Triệu, ngài nói: “Ông còn trẻ mới vào tu nên không biết. DCCT các ông trước ở Đà Lạt quậy lắm. Các thầy mặc âu phục hát nhạc vào đời nên bị “đào” vời ra sạch cả. Tai tiếng lắm!”.

May mà trước đó có lần cha Phụng đã kể cho tôi biết. Ngài nói rằng thực ra thời đáy thế hệ ngài cũng có nhiều anh bỏ tu. Nhưng họ về vì những chuyện khác chứ không phải vì hát nhạc vào đời. Thành viên của ban nhạc Alleluia hát nhạc vào đời vẫn còn nguyên cả đấy: Vũ Khởi Phụng, Thành Tâm, Trần Sĩ Tín, Nguyễn Đức Mầu, Trần Ứng Tường, Tiến Lộc, Trần Văn Quang, Lê Vĩnh Thủy. etc. Sự thật hiển nhiên là vậy, vì những anh em này còn đang sống cả và phần nhiều đều đàn hát hay sáng tác được cả.

Cha Vũ Khở Phụng có giọng tenore rất hay và rất sang. Mỗi khi ngài, cùng quý cha Tiến Lộc, Trần Sĩ Tín, Cao Đình Trị, Thành Tâm cùng đồng ca thì ai nghe cũng thấy cảm động. Một trong những lần trình diễn hay nhất mà tôi ghi nhớ trong ký ức là dịp các ngài hát với cha Labonté, thầy cũ của các ngài từ Canada sang Việt Nam năm 1994.

Ngài thích hát và thích khuyến khích người khác hát thánh ca. Vì vậy, trong những năm khó khăn sau 1975 ngài đã làm linh hướng cho Ca đoàn Trùng Dương, thường gọi là ca đoàn lang thang. Thỉnh thoảng ngài lại mời ca đoàn này trình diễn theo kiểu hát cho nhau nghe theo một chủ đề gì đó, hoặc trong cuộc hội ngộ nào đó; có khi chỉ để cùng nhau suy niệm và cầu nguyện bằng thánh ca nhân Mùa Vọng hoặc Mùa Chay.

Ngài cũng có khả năng sáng tác âm nhạc. Nếu ngài theo chí hướng âm nhạc thì ngài cũng có thể thành ca sĩ, nhạc sĩ như một số người khác. Nhưng không! Ngài biết đâu là sứ vụ chính của ngài. Ngài không sống chết với âm nhạc. Đam mê của ngài không phải là âm nhạc. Đam mê của ngài là người nghèo và phục vụ người nghèo. Ngài chủ yếu coi âm nhạc như là một phương thế rao giảng Tin mừng.

Vì như cầu rao giảng, trong từng hoàn cảnh ngài đã cùng anh em trong Dòng ngẫu hứng sáng tác nhiều bài hát. Những bài hát ngài sáng tác, thường lấy ý tưởng từ Kinh thánh và hiện thực cuộc sống, có lời ca rất duyên dáng, súc tích, lại thấm đượm chất thơ, thấm đượm tình tự của ngài đối với Chúa, đối với người nghèo, đối với Giáo Hội và Quê Hương. Thí dụ bài Tin vui cho bạn nghèo, một trong những bài hát mà mỗi lần hát hay nghe người khác hát, tôi cảm động phát khóc lên được.

TK.1:Ngài sai tôi đi rao giảng Tin mừng cho người nghèo khó; ngài sai tôi loan Tin mừng ơn cứu độ chứa chan nơi người. TK.2:Ngày đi xuân tươi hoa cỏ, với bao nỗi niềm thân thương, đường xa nên duyên nên nợ, bao nhiều người vấn vương vui buồn. TK 3: Nhiều phen ngang qua gian khổ, xin mang theo làm hành trang, trời khuya muôn sao đua nở, dõi bóng người đớn đau băng ngàn. TK 4: Gặp anh em tôi bé nhỏ. Xót thương phận bèo lênh đênh. Rồi nghe miên man tâm sự, những mối tình nước non quê mình. ĐK: Bạn nghèo, bạn nghèo, hãy sống ước ao. Bạn nghèo, bạn nghèo hãy sống khát khao Nước Trời. Bạn nghèo, bạn nghèo, có Đức Kitô. Bạn nghèo, bạn nghèo được phúc đầy no ơn trời.

Lời bài hát đấy tiêu biểu cho phong cách của ngài, cho chính cuộc đời của ngài.

Và đây bài hát này, có lẽ ít nhiều là tâm trạng của ngài hôm nay:

Trên đường về nhà Cha, từng lớp người đi tới. Có muôn dân thế giới, cùng hát một bài ca. Trên đường về nhà Cha, người đông đoài nam bắc. Mang hoa thơm cỏ lạ của rừng sâu đảo xa. 1. Cánh tay Cha chờ đợi luôn đón mời. Lòng bao dung mở ra trời đất mới. Là biển khơi gội sạch mọi tội lỗi. Như nhắn lời mau về đây với tình Cha. 2. Lữ khách bao ngày dài đã khát khô. Nặng âu lo vì thất bại đây đó. Đường mưa gió gập ghềnh nhiều gian khó. Nay đã về vui mừng gặp gỡ lại Cha.

Tôi kể đã dài, mà chưa hết chuyện ngài. Tuy nhiên, một cách vắn tắt có thể nói thế này về ngài: Cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng là người thông minh và hiểu biết; là linh mục hiền lành, thánh thiện, có chiều sâu tâm linh và có lòng bác ái lớn lao; là người không ham mê quyền lực, không đam mê tiền bạc và luôn sẵn lòng tuân theo sự hướng dẫn của các bề trên. Không bao giờ có ai có thể chê trách ngài điều gì liên quan đến những phương diện căn bản của đời tu là đời sống độc thân, khó nghèo và tuân phục. Đối với tha nhân, ngài có lòng bác ái lớn lao, luôn tôn trọng mọi người, lắng nghe và tỏ lòng cảm thông với mọi người và tận tình giúp đỡ mọi người về vật chất và tinh thần trong khả năng của mình. Vì vậy, ngài được mọi người chung quanh yêu mến và kính trọng. Ngài sống hiền hòa, nhưng vì con người và vì hạnh phúc của con người, ngài luôn thao thức đến các vấn đề của Giáo Hội, của Dân Tộc và của Đất Nước, bởi vây không bao giờ khoan nhượng với những bất công, dối trá và bạo lực của các cá nhân hay của cả chế độ. Vì thế, cùng những người khác ngài sẵng sàng xả thân mưu tìm CÔNG LÝ, SỰ THẬT VÀ HÒA BÌNH, nhằm mang lại hạnh phúc cho người dân, sự thịnh vượng cho Giáo Hội và cho Đất Nước. Một cách ngắn gọn, có thể nói rằng đối với Nhà Dòng, với Giáo Hội, với Dân Tộc và Đất Nước, ngài cũng đã yêu mến hết tình và phục vụ hết mình. Phục vụ bằng lời cầu nguyện, bằng tấm lòng chia sẻ, bằng khả năng giảng dạy của mình, bằng năng khiếu viết văn, làm thơ và sáng tác thánh ca. Ngài là một tu sĩ chân chính Dòng Chúa Cứu Thế, một linh mục thánh thiên của Giáo Hội, một mục tử đích thực như lòng Chúa mong muốn, một công dân sống có trách nhiệm nhất đối với Dân Tộc và đất nước Việt Nam đầy đau thương và bất hạnh này./.

Tu viện Thánh Gioacchino Roma, ngày 3 tháng 4 năm 2016

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT

[1] Cha Giuse Vũ Ngọc Bích, DCCT, người sống sót ở Hà Nội là em của bà tôi, lúc ấy tuổi già mắt kém, không còn tự mình đọc sách, viết thư từ được.

[2] Cách gọi của cha Già Bích. Cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng lúc đấy ngài đang là cố vấn của Tỉnh Dòng lại phụ trách Dự tập.

[3] Ở Sài Gòn, tôi không thấy ai mê sách hơn cha Phụng và không ai mê đồ cổ hơn cha Nguyễn Hữu Triết. Chỉ có một khác biệt này nơi hai vị đáng kính: Cha Phụng thấy sách, mê sách nhưng không biết làm sao để sách đẻ ra sách; trong khi cha Triết thấy đồ cổ, mê đồ cổ và biết cách làm sao để đồ cổ đẻ ra đồ cổ. Tuy nhiên, cả hai lối ứng xử ấy của hai vị đều đáng phục và đều rất tốt đẹp. Cả hai đều sống giản dị, nghèo khó và đều cố công tìm cách bảo tồn và phát triển những di sản văn hóa và đức tin.

[4] Nguyễn Hoàng Đức, nguyên là công an cộng sản, được ĐHY Nguyễn văn Thuận cảm hóa, anh đã bỏ nghề công an, chấp nhận sống nghèo và sống trong cô đơn, cô độc để theo Chúa, nghiên cứu Kinh Thánh, thần học và sáng tác thơ văn Công Giáo. Anh đã được cha Nguyễn Xuân Thủy ở nhà thờ lớn rửa tội. Dịp kết thúc cấp giáo phận án phong chân phúc ĐHY Thuận, anh được mời sang Roma tham dự và làm chứng nhân, nhưng giờ cuối anh bị nhà cầm quyền cộng sản cấm xuất cảnh.

Chuyên mục:Khác

Phù Thế, Tận Thế và Sáng Thế

(Nguồn: Tin Mừng Cho Người Nghèo)

GNsP – Chúng tôi vừa nhận được tin buồn cha Matthêu Vũ Khởi Phụng đã rời cõi thế sau hơn một năm mắc bệnh ung thư. Vào khoảng tháng 3 năm 2015 khi đang điều trị bệnh tại Hoa Kỳ, ngài đã gởi cho chúng tôi bài viết của ngài với tựa “Phù thế, tận thế và sáng thế” nói về ý nghĩa của cái chết đối với người Kitô hữu. Nay được tin ngài đã hoàn tất hành trình dương thế, chúng tôi xin đăng lại những dòng suy tư của ngài về thân phận của con người trước cái chết và cái nhìn lạc quan của người tín hữu Chúa Kitô về cái chết như chính ngài đã trải qua trong những ngày tháng cuối đời.

Người ta thường nói: mọi người bình đẳng trước cái chết, vì giàu nghèo, sang hèn, thượng lưu hạ lưu gì cũng chết cả. Vậy mà ngay trong cái bình đẳng ấy, vẫn có vô số sự bất bình đẳng. Mỗi ngày những cỗ xe tang, trên đường tới nghĩa trang vẫn len lỏi giữa dòng người và xe cộ qua lại, đã mấy ai nghĩ đến người quá cố, cái chết là sự thường tình thôi.Nhưng ông Nguyễn Bá Thanh đi chầu Trời thì khác hẳn. Ngay khi biết tin ông bệng nặng dư luận đã xôn xao trong nước ngoài nước. Rồi những biểu lộ của người dân chờ đón khi chuyên cơ đưa ông về quê nhà, cho đến khi ông thở hơi cuối cùng, và tang lễ cực kỳ trọng thể với sự xuất hiện đầy đủ của tất cả thượng tầng hạ tầng xã hội đương đại thật là hết sức ấn tượng.

Không thể kể hết những lời nói, những bản tin, những dòng phân ưu, những bài thơ, bài nhạc ca tụng ông. Ông làm sao mà Đà Nẵng từ một thành phố có nhiều phần nhếch nhác ngái ngủ trở nên một chốn đô hội đẹp đẽ, tiến bộ, văn minh, hãnh diện, “đáng sống nhất” trong các thành phố Việt Nam. Ông đã dám nghĩ táo bạo, dám làm việc lớn và đã thành công. Phong cách ông bộc trực, thẳng thắn, thực tiễn, linh động, gần dân. Chính vì những lẽ ấy ông được đông người cảm phục và yêu mến như ta thấy. Lãnh đạo thời nay không mấy người được như ông.

Dĩ nhiên giữa những lời ca ngợi “có cánh” cũng có người nhắc lại những chuyện không hay về ông. Tôi xin không dài dòng về những chuyện ấy. Thiết tưởng phải nhắc tới những góc tối trong cuộc đời một người vừa nằm xuống là một điều bất hạnh. Người ấy đã đi hết thân phận trần thế gió bụi của mình. Hãy để người ấy yên nghỉ. Nghĩa tử là nghĩa tận. Tuy vậy tôi phải nói một điều vắn tắt: tôi là người đồng đạo và hết sức cảm thông với bà con Cồn Dầu, với những người vẫn sống lây lất trên mảnh đất cổ thân thương ấy và cả những người đã tứ tán, có khi thật xa, và cả những người đã chết mới đây hay các đời Cồn Dầu trước. Tôi tự khai như thế mà không có ý bầy tỏ oán thán gì trong lúc nghĩa tận này, chỉ như ký tên vào giải băng tang vắt lên vòng hoa đem đến viếng ông Nguyễn Bá Thanh thôi.

Sự ra đi của ông làm cho bao người suy nghĩ. Tôi được đọc nhiều bài viết, và đọc cả những lời phân ưu của các vị lãnh đạo Nhà Nước. Nhưng những ý tưởng và lời lẽ ấy riêng tôi lại thấy không thấm thía bằng những câu thơ của một người đã sống cả trăm năm trước, tất nhiên chẳng biết gì về ông Nguyễn Bá Thanh, chẳng thể nào mường tượng ra Đà Nẵng và Việt Nam hôm nay ra sao. Vâng, tiễn đưa ông Bá Thanh tôi nhớ đến thi sĩ Tản Đà ngày xưa “tiễn thu”:

Nào những ai:

Bẩy thước thân nam tử

Bốn bể chí tang bồng,

Đường mây chưa bổng cánh hồng

Tiêu ma tuế nguyệt ngại ngùng tu mi “….

Có lẽ đó chính là một lý do gây xúc động trong thời điểm này. Có nhiều người đã kỳ vọng nơi ông. Ông được tiếng là người giỏi, dám nghĩ, dám làm. Đất nước lại đang khủng hoảng trầm trọng, đạo đức bại hoại, tham nhũng khắp nơi, đồng tiền lên ngôi vị tối cao, nhìn đâu cũng thấy những cảnh bất nhân, bóc lột trâng tráo. Có người nói ung thư đã di căn. Cho nên người dân cảm thấy ngột ngạt. Xã hội, nói như lời Thánh Vịnh, giống như mảnh đất hạn hán “nẻ khô, không nước”. Khi ông Bá Thanh, với tiếng tăm và uy tín của mình, được điều từ Đà Nẵng lên ban Nội Chính trung ương để đánh tham nhũng, người ta hy vọng ông làm được như ông nói “hốt hết, bắt hết”, mang lại cho đất nước một làn gió mới, nhổ bật cho dân một số cỏ độc. Tâm trạng na ná như người Do Thái ngày xưa nhắn hỏi Chúa Giêsu: “Ông là người phải đến chăng hay là chúng tôi sẽ còn chờ ai khác?”

Hôm nay thì câu hỏi ấy được trả lời. Đáp án này không phải là kết quả của một lý luận hay phân tích thấu đáo sắc sảo nào, cũng không hàm ý gì về tài ba của ông Bá Thanh cao thấp ra sao. Câu trả lời đã đến đơn giản vì sự thể xẩy ra như thế đó. Chim bằng “chưa bổng cánh hồng” mà đã “tiêu ma tuế nguyệt“. Sự đời thật hiểm hóc và thật oái oăm. Dự định và toan tính của con người với số mệnh đan chen nhau nhiều khi không biết đâu mà lường. Đỉnh cao với vực sâu, hy vọng với vỡ mộng có lúc gần nhau trong gang tấc. Bi kịch của đời người và của xã hội, thế gian.

Cụ Tản Đà lại cất giọng ngâm:

“Nào những ai:

Kê vàng tỉnh mộng,

Tóc bạc thương thân.

Vèo trông lá rụng đầy sân

Công danh phù thế có ngần ấy thôi”.

Những tháng cuối ông Thanh nằm bệnh viện bên Mỹ là tiết cuối thu sang đông. Cây cối chuyển mầu đỏ rực vàng rực, thiên nhiên như mặc áo gấm rất đẹp. Thế rồi nội trong vài ba tuần lá ào ào rụng hết chỉ còn cành cây khô chờ mùa đông băng tuyết. Không biết từ trong phòng bệnh viện, ông Thanh có dịp nhìn cảnh vèo bay lá rụng không; nhưng chắc chắn ông đã giáp mặt với chân lý về “công danh phù thế“. Thật ra thiên nhiên và thời gian vẫn thăm thẳm vô tận, nhưng tất cả đã trở nên “phù thế” vì con người. Vì thân phận và công danh của con người chỉ được dành cho một khoảnh khắc, chỉ “có ngần ấy thôi“. Tận thế không chỉ là một biến cố trong tương lai xa lắc nào đó. Mặc dù thế gian và bao nhiêu con người vẫn luôn còn đấy, nhưng rồi mỗi người sẽ đi qua một lần tận thế cho riêng mình một khi đã chạm tới cái ngần cái hạn phù sinh của mình, dẫu công danh đến bao nhiêu đi nữa.

Trịnh Công Sơn hát:

“Con chim ở đậu cành tre,

Con cá ở đậu trong khe nước nguồn.

Tôi nay ở đậu trần gian

Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời…”

Hóa ra thi nhân làm thơ “tiễn thu” mà thưc ra là tiễn con người, những vần thơ đầy âm hưởng văn tế. Ngày nay những lời điếu dành cho người nằm xuống thường ca tụng những thành tích mang đậm mầu sắc chính trị hay xã hội đến độ như hô một chuỗi khẩu hiệu thời sự, mà xem ra các vị càng quyền cao chức trọng phúng điếu thì càng hô khẩu hiệu nhiều hơn, thể loại văn tế dường như biến mất. Thôi thì văn hóa chính thức của thời đại này là như thế. Thời này là thời duy vật. Nhưng như thế thì con người đã phù thế lại càng phù thế hơn, vì đã khuất lấp mất rồi “chốn xa xăm cuối trời“. Đó là một sự thiếu sót và hụt hẫng cho người thời nay.

Thời cụ Tản Đà “tiễn Thu” nền văn hóa gợi lên chất tâm linh hơn nhiều. Thậm chí cụ không chỉ mông lung về “chốn xa xăm cuối trời“, mà có lúc thèm khát được bay vọt về trời. Cụ tin rằng thi tài của mình là mệnh Trời để cải hóa thế gian:

Trời định sai con một việc này

Là việc thiên lương của nhân loại

Cho con xuống thuật cùng đời hay

Cố xong công việc của Trời sai

Trời sẽ cho con về Đế khuyết …. (1932)

Với niềm tin như thế, người ta có thể thanh thản vui tươi trước vấn đề sống chết:

Giang sơn còn nặng gánh tình,

Trời chưa cho nghỉ thì mình cứ đi

Bao giờ Trời bảo thôi đi

Giang sơn cất gánh ta thì nghỉ ngơi…

(Cảm tưởng về sự sống chết, 1932)

Cứ sống, mà lòng vẫn hướng về trời, như một nỗi nhớ nhung không nguôi:

Một năm ba trăm sáu mươi đêm

Sao được mỗi đêm lên chầu Trời … (Chầu Trời, 1932)

Ý tưởng về mệnh Trời và chầu Trời đó không phải là một cảm hứng thoáng qua, nó theo đuổi cụ cả chục năm. Sáu năm sau, ngày tiễn Táo quân về Trời, cụ còn ký thác tâm sự:

Trời có sai tôi làm việc nặng

Đến nay tôi vẫn làm chưa xong …

Câu chuyện hầu Trời khi tưởng đến

Gan vàng như nấu lại như nung … (1938)

Và không đầy một năm sau, Tản Đà đi chầu Trời thật.

Và tôi băn khoăn tự hỏi: thế còn ông Bá Thanh, ngày tiễn ông Táo năm vừa rồi, chỉ hai hôm trước khi ông “hầu Trời”, thì “gan vàng” của ông hướng về đâu ….

Theo một vị trong ban săn sóc sức khỏe cho Trung Ương Đảng, thì ông Thanh rất đau đớn. Tôi nghĩ: đau đớn phần xác là tự nhiên rồi, nhưng cũng đau đớn phần tinh thần, phải xa lìa gia đình thân yêu, và cả cái thực trạng mà ái nữ của ông, cô Hoài An tóm gọn trong ba từ: “đời phụ Ba“. Không biết từ “phụ” ở đây bao gồm những ý nghĩa gì? Thôi thì nói ít hiểu nhiều. Lại có một bài thơ dài của cô Hoài An khóc cha, và tiết lộ:

Ba nói rằng Ba không nuối tiếc,

Đà Nẵng chừ đẹp, hai con đã trưởng thành” …

Đó là điều hay, hình như ông đã làm hòa với số mệnh phần nào. Ông đã đặt một cự ly nào đó giữa mình với những gì mình làm cho đời và đời làm cho mình. Trước đây như lời trưởng nam Nguyễn Bá Cảnh nhận xét: “Cả cuộc đời Ba, con ít thấy lúc nào Ba thảnh thơi … Bao nhiêu gian truân lận đận dường như sẵn sàng tìm đến…” Ông là người của tham vọng phấn đấu, say sưa tạo lập, say sưa nối tiếp cái truyền thống ngàn đời mà Thánh Kinh bảo là đã có từ thời “Khanoc xây thành” và “Tuval Cain rèn đồng rèn sắt”. Ông đã xây dựng lớn, tất nhiên cũng dấn sâu vào trong máu lửa của con cháu Cain (sách Sáng Thế 4, 17-24). Bây giờ đến lúc một mình đi vào cõi khác, “thành quách” và “đồng sắt “để lại sau lưng, căn cơ chỉ là mình với mình. Lá rụng về cội là vậy. Và “gan vàng” hướng về đâu?

Có thể tôi lẩn thẩn: sao lại so sánh một thi hào rất nho gia, và cũng rất nghệ sĩ, rất “muôn năm cũ“, với một nhà chính trị của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đầu thế kỷ XXI? Hai xã hội, hai môi trường, hai thế giới khác nhau quá, có gì chung đâu? làm gì có tâm trạng hướng về Trời mà nói? Nhưng mặt khác: các thi nhân, nghệ sĩ lớn đều là những người có một sứ điệp gì đấy gửi tới tất cả đồng loại, mặc dù phần lớn đồng loại không có cái duyên, hay cơ hội, hay khả năng để cảm và để nói lên những điều sâu xa ấy, bởi dù có khác biệt đến bao nhiêu chăng nữa thì vẫn có một cái chung là sự sống và sự chết trong cõi người ta. Một năm trước đây thôi, ai nghĩ rằng ông Nguyễn Bá Thanh chết vội thế? Vậy mà hôm nay ta giáp mặt với sự thật phũ phàng, ông phải ra đi, đến lúc về với đất mẹ, lá rụng về cội. Vậy thì đến lúc khơi lại những điều đã vùi sâu khiến cho trong đời thường người ta không màng nghĩ đến nữa. Những điều bị lãng quên ấy được dự phần vào mầu nhiệm mà Thánh Kinh gọi là “Viên đá bị thợ xây loại bỏ lại trở thành đá góc”.

Và đó cũng là một chiều kích mà xã hội ngày nay, dù có tiến bộ và phát triển, vẫn thiếu hụt trầm trọng, làm thiệt hại cho tất cả mọi người. Đó là nguyên nhân của rất nhiều mâu thuẫn, đổ vỡ, hoang tàn đau đớn mà những tiến bộ vật chất không bù đắp nổi. Một sự hài hòa cốt yếu nào đó đã mất đi.

Lúc ông Bá Thanh đã nằm liệt trong bệnh viện, nghĩa là lúc ông đã bắt đầu xa lìa cái thế gian đa sự đó, như con tầu từ từ rời bến, thì bên ngoài những bàn tán, dư luận về vụ việc của ông lại càng thêm chát chúa, thị phi. Sự lúng túng về thông tin nói lên những hiểm hóc của thời đại này.

Sau thời gian dài dài giấu giấu giếm giếm đến khi có nguồn tin mật về tình trạng của ông Thanh, mà là những tin li kỳ chẳng kém gì tiểu thuyết, khiến mọi người giật bắn mình đua nhau tìm hiểu thì chẳng bao lâu hiểu được sự thật não nề: những thông tin ấy, dù có thật, cũng không phải vì có ai quý mến hay thương cảm gì ông Thanh, hay có ai muốn phục vụ sứ mệnh cao quý của truyền thông, chẳng qua là lợi dụng người đã bị loại khỏi cuộc chơi, đã sắp chết, làm sân khấu, làm võ khí cho những người chưa chết quyết đấu với nhau cho đến chết bằng cả sự thật lẫn dan dối, trong một cuộc chiến không có lý do và không có khả năng để chấm dứt. Cuộc chiến ấy có khả năng để tự nó sinh ra nó, sinh sôi nẩy nở không cùng. Sự thật chỉ được tiết lộ và xử dụng vừa đúng mức để làm gia vị cho những mục đích bất cần thật giả. Cho nên cái thật và cái giả lồng vào nhau. Cái thật nói lên sự dã tâm trong những chuyện được thông tin, cái giả nói lên dã tâm của những ai tung tin. Hai cái dã tâm húc nhau như trâu bò húc nhau, ruồi muỗi nên cảnh giác để đừng chết. Vào lúc đói thông tin thì ta cứ tìm hiểu, được phần nào hay phần nấy. Nhưng phải cảnh giác kẻo những “thông tin” ảo ảo thực thực của những người đang tương tranh ác liệt tàn nhẫn kia nó hấp dẫn ta như cờ bạc đỏ đen hấp dẫn kẻ đang cay cú vì thua thiệt, như ma túy hấp dẫn con nghiện. Xã hội ngày nay khốc liệt như vậy đấy.

Cái khốc liệt ấy càng làm lộ rõ sự khủng hoảng tinh thần, khủng hoảng về điều Tản Đà gọi là “Thiên lương“. Nó chính là một tiếng gọi mọi tâm hồn thiện chí hãy lo bồi đắp cái “việc nặng đến nay vẫn làm chưa xong” và chẳng những chưa xong mà còn đang phải đối đầu với những thách thức lớn hơn, trầm trọng chưa từng có. Chúng ta còn cần suy nghĩ và dồn hết tâm trí và hành động cho công việc Trời trao này. Bên cạnh những gì đang diễn ra, con người và xã hội này còn cần một khoảng cách để nhìn lại từ căn bản, và cần cả những thái độ và hành động cụ thể, chứ không phải những hô hào lý thuyết chung chung.

Trong Cựu Ước có truyện ông Jacob trên bước đường lưu lạc giang hồ ân oán một hôm đi đến một mảnh đất nọ thì trời vừa tối, ông gối đầu lên một hòn đá và nằm ngủ. Đêm đó ông chiêm bao thấy một chiếc thang, chân thang chạm đất, đầu thang chạm thấu trời, và trên các bậc thang có các sứ thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống. “Và kìa Thiên Chúa đứng kề bên, Ngài phán rằng: Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của Abraham tổ phụ ngươi. Đất ngươi đang nằm, ta ban cho ngươi và dòng dõi … Này Ta ở cùng ngươi …”. Khi tỉnh giấc, Jacob sợ hãi và nói : “Quả thật có Đức Chúa ở chốn này mà tôi không biết …. Đáng sợ nhường bao chốn này! Là nhà của Thiên Chúa và là Cửa Trời, chứ không phải gì khác”. Ông lấy viên đá gối đầu dựng thành bàn thờ. (St 28, 10-19) Phải chăng cái thang chân đạp đất, đỉnh đụng Trời đó chính là một nhân tố bị lu mờ trong xã hội chúng ta? Đất đai vẫn là đất đai này, vẫn nhà cửa, vẫn người ta với nhau, nhưng ta ít nhìn nhận cái thang ấy, nó là chiều kích gắn người ta với siêu việt, nó biến mặt đất này thành quà tặng, thành thiên ân, thành một cõi hài hòa. Và đó chính là điều mọi người nên cất công tìm lại, cho chính mình và cho lẫn nhau.

Xin trở lại với ông Nguyễn Bá Thanh, cơn bệnh đau đớn và cái chết của ông vẫn là cái rất chân thật. Trước sự chân thật ấy, tôi muốn xin cho ông một lễ cầu hồn, bởi cuối cùng ông đã rời khỏi chiến trường, đã tách lìa những chiêu trò của mê hồn trận thế gian. Trong một bức thư cổ mà nội dung vẫn được Giáo Hội giữ gìn từ thế kỷ thứ II, thánh Ignatio giám mục Antiokia, bị nhốt trong cũi đưa về Roma để chịu án tử thú dữ cắn xé và ăn thịt giữa hý trường, ngài nhìn những kẻ đang áp giải mình, họ cũng chẳng kém gì thú dữ, và thánh dâng một lời nguyện cầu hồn cho chính mình: “Xin cho tôi được đến với ánh sáng tinh khôi, tới đó tôi được làm người.”

Vâng, ánh sáng của tất cả chúng ta bây giờ không phải là “Ánh sáng tinh khôi”. Ánh sáng của chúng ta loang nhiều sắc máu đỏ quạch, nó vẩn đục khói bụi như bầu khí trên nhiều khu công nghiệp và thành phố ô nhiễm thời nay. Gần hai mươi thế kỷ sau, ở Việt Nam Phạm Duy vẫn hát về “tiếng khóc chơi vơi thế giới lạc loài chưa thoát ra phận người”. Nước mắt tiễn đưa nhiều người Đà Nẵng dành cho ông Nguyễn Bá Thanh chắc là những “tiếng khóc chơi vơi” như thế. Thánh Ignatio lại nhìn cảnh mặt trời chiều tà Trung Đông và cầu nguyện cho mình như mặt trời chìm lặn đi ở chân trời này để mọc lên ở chân trời khác trong một bình minh của “Ánh sáng tinh khôi”.

Trong sách Khải Huyền, tác giả Gioan nhìn thấy một quyển sách đóng bảy ấn niêm phong. Cuốn sách ấy trên trời dưới đất không ai mở được. Tác giả đã bức xúc bật khóc nức nở. Xảy có lời dụ rằng: đừng khóc, vì sẽ có một Chiên con mở được sách ấy. Thế rồi Chiên con đã bị tế sát xuất hiện. Chiên lãnh lấy cuốn sách và mở ấn. (Kh 5) Mở ấn tới đâu,những chuyện bi hùng thê thảm của thế gian lộ ra tới đó. Nhưng tận cùng thì thấy “Trời mới Đất mới”. Nếu được cầu nguyện cho ông Nguyễn Bá Thanh thì tôi nguyện xin rằng trên đường ông đi vào cõi u minh, có một lúc ông cũng thấy một Chiên con bên quyển sách niêm phong. Ông sẽ tìm đến và nói rằng: “Thưa Chiên con, tôi là Nguyễn Bá Thanh ở Đà Nẵng, xin Chiên con vui lòng mở quyển sách niêm phong để tôi được đọc.” Tôi tin rằng Chiên con sẽ mở. Và ông sẽ đọc đến tận cùng. Đến tận “Trời mới Đất mới”. (Kh 21, 1)

Tới đó thì con người của thân phận phù thế, đã đi qua tận thế, sẽ nhìn thấy Ánh Sáng tinh khôi của Sáng Thế. Amen.

Vũ Khởi Phụng, CSsR

Chuyên mục:Tư liệu Thẻ:

Tiểu sử cha Matthêu Vũ Khởi Phụng được đọc trong nghi thức nhập quan

Nguồn: giaoxuthaiha.net

cha VKP

.

Lúc 8 giờ sáng nay 3/3/2016, cha Giuse Trịnh Ngọc Hiên, Bề trên Tu viện DCCT Hà Nội đã cử hành nghi thức nhập quan cha Matthêu Vũ Khởi Phụng, DCCT. Trong nghi thức nhập quan, thầy Phanxicô X. Trần Văn Bắc, DCCT đã đọc sơ lược tiểu sử về cha Matthêu. Bản tiểu sử này lấy tư liệu từ văn khố Trung Ương Dòng Tại Rôma và do cha Giuse Nguyễn Văn Khải, DCCT đang du học tại Rôma viết. Mời quý vị đọc bản tiểu sử về cha Matthêu chính thức được đọc trước giáo dân và những người tới tham dự nghi thức nhập quan của ngài.

VẮN TẮT VỀ CUỘC ĐỜI

CHA MÁTTHÊU VŨ KHỞI PHỤNG DÒNG CHÚA CỨU THẾ

Cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng, sinh ngày 05 tháng 11 năm 1940 tại Thanh Hóa.

Năm 6 tuổi ngài được gửi vào học tại trường tiểu học của giáo xứ Trung Lao, giáo phận Bùi Chu, giáo xứ quê hương ngài. Tiếp theo ngài theo học tại Tiểu Chủng viện Trung Linh, giáo phận Bùi Chu và trường Trần Lục, giáo phận Phát Diệm.

Từ năm 1952 đến năm 1954, ngài học tại tiểu đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội.

Từ năm 1954 đến năm 1956, ngài học tại tiểu đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế Huế.

Từ năm 1956 đến năm 1962, ngài học tại Đệ Tử viện Vũng Tàu; tốt nghiệp với bằng tú tài toàn phần theo chương trình Pháp.

Từ năm 1962 đến năm 1963, ngài được gọi vào Tập viện Dòng Chúa Cứu Thế Nha Trang.

Ngài được khấn Dòng ngày 02 tháng 07 năm 1963 tại Nha Trang.

Từ năm 1963 đến năm 1969, ngài học triết học và thần học tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt.

Ngài được thụ phong linh mục ngày 04 tháng 04 năm 1970.

Từ năm 1970 đến năm 1975, trong Dòng Chúa Cứu Thế, ngài được bổ nhiệm làm Phó Giáo tập, Kiêm Thư ký Tòa soạn và Chủ bút báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Thời gian này, trong hoàn cảnh chiến tranh, ngài vẫn đi đi về về hàng tuần bằng xe đò giữa Nha Trang và Sài Gòn.

Từ năm 1975 đến năm 1978, ngài làm Cố vấn Thường vụ tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

Từ 1978 đến năm 1984, ngài làm Phó Giám Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, kiêm Giám học Học viện.

Từ năm 1984 đến năm 1987, ngài làm Cố vấn Tỉnh Dòng và phụ trách xóm giáo 7, giáo xứ Đức Mẹ HCG Sài Gòn.

Từ năm 1987 đến năm 1990, ngài làm Cố vấn Tỉnh Dòng, Phụ trách Dự tập Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

Từ năm 1990 đến năm 1993, ngài làm Cố vấn của Tỉnh Dòng, Trưởng ban Linh đạo tông đồ, Giám học và Phụ trách Dự tập.

Từ năm 1993 đến năm 1999, ngài Phó Giám tỉnh Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam kiêm Bề trên tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn – Chánh xứ giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, kiêm Trưởng Ban Tông đồ của Tỉnh Dòng.

Từ năm 1999 – 2005, ngài làm Cố vấn Tỉnh Dòng, giáo sư Học viện Dòng Chúa Cứu Thế và Học viện Liên Dòng tại Sài Gòn.

Từ năm 2005 đến năm 2008, ngài làm Trưởng ban Đào tạo của Tỉnh Dòng, Giám học Học viện Thánh Anphongsô, Giám đốc Hậu Học viện.

Từ năm 2008 đến năm 2011, ngài làm Cố vấn Tỉnh Dòng, Trưởng Ban Truyền thông và làm làn Bề trên-Chánh xứ Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội.

Từ năm 2011 đến năm 2015 ngài làm Bề trên Tu viện DCCT Hà Nội, Trưởng Ban Truyền thông của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

Đối với Dòng Chúa Cứu Thế trên thế giới, từ năm 1978 đến năm 2002, trong 4 nhiệm kỳ liên tiếp, ngài làm nghị viên Tổng Công hội, tham gia vào các cuộc hội thảo và các quyết định nhằm xây dựng Nhà Dòng tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương và trên toàn thế giới.

Ngoài các chức vụ và các công việc chính thức và thường xuyên do Nhà Dòng trao phó, ngài còn tự nguyện tham gia tích cực vào việc phục vụ trong Giáo Hội và xã hội:

Từ năm 1975 đến năm 1993 ngài tổ chức và phụ trách giáo lý dự tòng tại giáo xứ Đức Mẹ HCG Sài Gòn.

Từ năm 1975 đến 2008, khi kín đáo, khi công khai, ngài đồng hành với một số các nhóm sinh viên và một số nhóm tông đồ giáo dân khác cùng lúc tại Hà Nội -Huế và Sài Gòn, tham gia cổ vũ và tổ chức các chương trình văn hóa, giáo dục và tông đồ cho giới trẻ.

Đối với Giáo Hội tại thành phố Sài Gòn và tại Việt Nam, ngài tích cực tham gia và và góp phần khiêm tốn theo vai trò và vị trí của mình trong các sự kiện quan trọng của Giáo Hội. Ngài đặc biệt gắn bó với giới Liên Tu Sĩ. Tại Sài Gòn, ngài là một trong những người có mặt và đồng hành với các sinh hoạt của giới tu sĩ Liên Tu sĩ ngay từ những tháng đầu khó khăn của năm 1975 cho đến năm 2008 khi ngài chính thức rời Sài Gòn trở lại Hà Nội làm Bề trên-Chính xứ tu viện và giáo xứ Thái Hà. Trong thời gian này, ngài liên tục đảm nhận các công việc phục vụ khác nhau như làm thành viên trong Ban Đại diện Hiệp hội Bề trên Thượng cấp Việt Nam, làm thành viên trong Ban Nghiên cứu Thần học và Linh Đạo của Hiệp hội này, làm Chủ tịch Liên Tu sĩ Tổng Giáo phận Sài Gòn và làm tổ trưởng tổ công tác, phụ trách các sinh hoạt thường kỳ của giới Liên Tu sĩ tại đây. Ngài là một trong những người góp phần quan trọng làm nên diện mạo của giới Liên Tu sĩ tại Sài Gòn và qua đó đối với Liên Tu Sĩ tại Việt Nam.

Cũng trong những thập niên này (1975-2008) ngài tham gia giúp tĩnh tâm cho nhiều dòng tu nam nữ, nhiều giáo xứ và giáo phận khác nhau ở khắp ba Miền Đất nước và tham gia một số cuộc hội thảo quốc tế về các vấn đề thần học, linh đạo và hòa bình.

Trong cuộc đời mình, vốn là người yêu nghệ thuật, ngài đã cũng với anh em trong Dòng sáng tác rất nhiều bài thánh ca và hoạt ca, đang được phổ biến hiện nay tại Việt Nam.

Hơn nữa, trong hơn 50 qua, từ khi vừa khấn dòng, dưới nhiều bút hiệu khác nhau, ngài đã viết rất nhiều bài báo, đăng trên các báo và tạp chí trong nước và nước ngoài, phản ánh và suy tư về các vấn đề khác nhau liên quan đến Giáo Hội và đến đất nước Việt Nam và cũng như Giáo Hội hoàn vũ và thế giới.

Năm 2015, ngài mãn nhiệm chức vụ Bề trên Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà Hà Nội, một tu viện gặp nhiều khó khăn và thử thách nhất của DCCT nói riêng và của Giáo Hội tại Miền Bắc nói chung. Sau ít tháng nghỉ hưu tại Sài Gòn, ngài trở lại Hà Nội tháng 1 năm 2016. Tại đây, ngài lâm bệnh năng và vào lúc 21h ngày 2 tháng 3 năm 2016 tại Bệnh viện Lão Khoa Hà Nội, cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng đã được Chúa gọi về sau 76 năm làm con Chúa trên dương thế, 53 năm làm tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế và 46 năm thi hành sứ vụ linh mục.

Cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng là người thông minh và hiểu biết; là người hiền lành, có chiều sâu tâm linh và có lòng bác ái lớn lao; là người không ham mê quyền lực, không đam mê tiền bạc và luôn sẵn lòng tuân theo sự hướng dẫn của các bề trên. Không bao giờ có ai có thể chê trách ngài điều gì liên quan đến vấn đề cốt tủy của đời tu là đời sống độc thân, khó nghèo và tuân phục. Đối với tha nhân, ngài có lòng bác ái lớn lao, luôn tôn trọng mọi người, lắng nghe và tỏ lòng cảm thông với mọi người và tận tình giúp đỡ mọi người về vật chất và tinh thần trong khả năng của mình. Vì vậy, ngài được mọi người chung quanh yêu mến và kính trọng. Ngài sống hiền hòa, nhưng vì con người và vì hạnh phúc của con người, ngài luôn thao thức đến các vấn đề của Giáo Hội và của Đất Nước và Dân Tộc, bởi vây không bao giờ khoan nhượng với những bất công, dối trá và bạo lực của các cá nhân hay của cả chế độ. Vì thế, ngài sẵng sàng xả thân để cùng những người khác bảo vệ những giá trị này, nhằm mưu cầu hạnh phúc cho người dân, sự thịnh vượng cho Giáo Hội và cho Đất Nước. Một cách ngắn gọn, có thể nói rằng đối với Nhà Dòng, với Giáo Hội, với Dân Tộc và Đất Nước, ngài cũng đã yêu mến hết tình và phục vụ hết mình. Ngài là một tu sĩ chân chính Dòng Chúa Cứu Thế, một linh mục thánh thiên của Giáo Hội, một mục tử đích thực như lòng Chúa mong muốn, một công dân sống có trách nhiệm nhất đối với Dân Tộc và đất nước Việt Nam đầy đau thương và bất hạnh này. Hôm nay, ngài đã hoàn tất tốt đẹp hành trình trần thế, trong niềm tin vào sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Cứu Thế, chúng ta hiệp lòng tạ ơn với ngài và xin ngài cầu nguyện cho chúng ta được tiếp tục phục vụ người nghèo, phục vụ Giáo Hội, Dân Tộc và Đất Nước Việt Nam thân yêu này, như ngài đã làm, như Chúa đang muốn và như bao nhiêu người đang mong đợi. Amen./.

Roma tháng 3 năm 2016.

Văn khố Trung ương và Tu viện Thánh Gioakim

Học trò của cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT

Chuyên mục:Tư liệu Thẻ:

CHỮ TÌNH TRONG THÔNG ĐIỆP DEUS CARITAS EST”

I. Tác giả, nội dung và mục đích của thông điệp:
Dư luận thường rất chú ý đến thông điệp đầu tiên của một vị tân Giáo Hoàng. Người ta cố tìm trong đó những ý hướng chủ đạo cho cả triều đại của vị Giáo Hoàng ấy. Đặc biệt Đức Benedicto XVI từ ngày được đưa lên Tòa Thánh Phê-rô đã khiến nhiều người thắc mắc. Người ta công nhận ngài là người rất thông minh, uyên bác, là một bộ óc thần học tầm cỡ. Nhưng cũng có tiếng than rằng ngài bảo thủ, cố chấp, ngăn cản đường tiến của thần học. Thậm chí người ta đặt cho ngài danh hiệu “Hồng Y thiết giáp”, coi ngài như cỗ chiến xa bắn hạ, húc đổ, san bằng tất cả trên đường đi của mình. Một số lập trường bảo thủ của Đức Gio-an Phao-lô II gây bực bội cho những thành phần nào đó được coi là do có sự đóng góp tích cực, và những gợi ý đắc lực của Hồng Y Ratzinger. Phải chăng Hồng Y Ratzinger là một người có bàn tay sắt, chuyên môn siết chặt, chuyên môn dập tắt, chuyên môn đàn áp mọi thứ cảm hứng ? Ít ra đó là ấn tượng ta cảm nhận từ một số nhà thần học và dư luận báo chí Phương Tây.
Đến khi Đức Gio-an Phao-lô II qua đời, trong cương vị đoàn trưởng Hồng Y Đoàn, Đức Hồng Y Ratzinger phải xuất hiện trước mắt toàn thế giới, nhiều người đã ngạc nhiên: “Hóa ra đây là cụ Ratzingger nổi tiếng đấy ư ?” ( tiếng dữ đồn xa ). Cụ già tóc bạc, nói năng khiêm tốn, tình nghĩa, khi thuyết giảng thi chinh phục được những người khó tính nhất, chẳng có gì là hiện thân của những thái độ tiêu cực. Lại thêm mấy hôm nữa, Hồng Y Ratzinger trở thành Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI. Người ta lại đưa ra những dự đoán, dự báo về sự siết chặt và dập tắt. Tương lai sẽ cho biết những lời tiên tri ấy đúng đến mức nào.
Cho tới nay một năm đã qua chưa thấy Đức Giáo Hoàng mới siết chặt hay dập tắt gì nhiều. Chỉ thấy ngài liên tục kêu gọi đối thoại, hợp tác, thậm chí mời cơm những người chỉ trích mình gay gắt nhất và nhẩn nha trao đổi với họ hằng tiếng đồng hồ ( một việc mà Đức Gio-an Phao-lô II trong suốt 26 năm trị vì, không bao giờ chịu làm ). Đức Hồng Y Gioan B. Phạm Minh Mẫn vừa đi dự hội nghị Hồng Y về nói rằng Đức Benedito XVI ngồi suốt buổi chăm chú lằng nghe mọi ý kiến, cuối phiên họp Ngài đúc kết ý kiến của anh em Hồng Y và thay vì đưa ra mệnh lệnh hoặc quyết định, Ngài đưa ra những định hướng. Có người nói trong cương vị bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, Ngài Ratzinger có nhiệm vụ bảo toàn giáo lý chính thống, đó là một phương diện của Ngài. Ngày nay, với tư cách mục tử của toàn Dân Chúa sẽ lộ ra một cá tình khác mà những người thân quen với Ngài vẫn biết, nhưng những người chỉ quen nghe những lời chỉ trích phê bình sẽ cho là bất ngờ: Ngài Ratzinger là người của đối thoại, cảm thông, rất tôn trọng người khác.
Không biết thông điệp mới này có giúp ta vượt quá những ấn tượng do phe này phái nọ tạo nên để phát hiện một định hướng nào của Đức Giáo Hoàng cho toàn thể Giáo Hội ?
Đọc bản văn thông điệp không khó lắm. Sau những chiêm niệm thâm trầm trùng điệp của Đức Gio-an Phao-lô II, ta gặp lối nói khúc chiết như suối trong chảy xuôi của Đức Benedito XVI. Ta có cảm tưởng như trên Toà Thánh Phê-rô ngày nay vẫn là vị giáo sư trên bục giảng ngày nào. Thậm chí có cả giai thoại vui vui như những lời châm chọc nhau của hai triết gia Gassendi và Descartes. Xưa nay thông điệp của các Đức Giáo Hoàng thường đưa ra những nhận định cao xa, bằng một giọng văn tôn nghiêm diệu vợi. Đức Benedicto XVI thì không ngần ngại nêu đích danh những nhân vật trong đời: Gassendi, Descartes, Friedrich Nietzsche. Ngài trích dẫn cả thi hào Latinh Virgilio…
Nhưng quan trọng nhất vẫn là nội dung. Đức Thánh Cha nói rõ chủ đề ngay từ đầu thông điệp: “Thiên Chúa là Tình Yêu, ai ở trong Tình Yêu thì ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người ấy ( 1Ga 4, 16 ). Những lời này trong thư thứ nhất của Thánh Gio-an đã bày tỏ minh bạch đâu là trọng tâm của Đức Tin Ki-tô Giáo”.
Đức Thánh Cha muốn bày tỏ chân lý trọng tâm này cho “một thế giới đôi khi gắn kết Thánh Danh Thiên Chúa với thù hận, thậm chí với căm hờn bạo lực được coi như một bổn phận. Cho nên trong thông điệp đầu tiên này Tôi muốn nói đến tình yêu Thiên Chúa chan chứa trên chúng ta, để rồi đến lượt chúng ta cũng phải chia sẻ tình yêu ấy với người khác”.
Thông điệp được chia làm hai phần: “Phần Thứ nhất thiên về suy tư nhiều hơn, vì vào buổi khởi đầu sứ vụ giáo tông, tôi muốn làm sáng tỏ ở đây những sự kiện cốt yếu về tình yêu Thiên Chúa đã hiến tặng cho con người một cách nhưng không nhiệm mầu, cùng là mối liên hệ nội tại của Tình Yêu ấy với tình yêu hiện thực của con người”.
Phần hai ứng dụng niềm tin ấy, tức là nói về cách Giáo Hội thực thi điều răn yêu mến, nhằm gây nên “trên thế giới này một sinh lực mới, một dấn thân mới của con người để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa”.
Tiếp đó vị giáo sư đi tìm ý nghĩa của từ “Yêu”. Ngày nay “tình yêu” là một từ được sử dụng nhiều nhất, chúng ta gán cho cùng một từ đó những ý nghĩa khác nhau. Ví dụ: yêu nước, yêu nghề, cha mẹ con cái yêu nhau, yêu người, yêu xã hội và yêu Thiên Chúa. Nhưng giữa tất cả những tình yêu ấy, nổi bật lên “tình yêu nam nữ” xem ra như là “một hứa hẹn hạnh phúc không gì cưỡng lại nổi”. Cho nên vấn đề đặt ra: “tất cả những dạng yêu thương ấy cơ bản có phải là một chăng, khiến cho tình yêu dù thể hiện đa dạng đa diện, nhưng xét cho cùng chỉ là một thực tại, hay là chúng ta đã dùng chỉ một từ mà ám chỉ những thực tại hoàn toàn khác nhau ?” ( Số 2 ).
II. Thiên Chúa dựng nên người ta có Nam có Nữ.
Trong thông điệp này, tình yêu nam nữ được hân hạnh mở đường đưa ta vào thế giới của tình yêu.
Đã rõ tình yêu nam nữ là một cao đỉnh của tình, thông điệp bàn luôn đến dục tính. Xưa nay tính dục ít có vinh dự được làm đề tài cho một thông điệp của Đức Giáo Hoàng. Vả lại, thông thường người ta cho rằng Giáo Hội có nói đến tính dục thì cũng là nói với một thái độ tiêu cực thôi, nghĩa là cảnh giác, bài xích, cấm đoán sự tội lỗi.
Bàn về tình dục, thông điệp “Deus Caritas Est” đưa ra lập luận có tính cách biện chứng, xin được giảm lược như sau:
1. Định đề: Tình dục có ý nghĩa tích cức của nó. ( Do đó phải có ý kiến phê bình Giáo Hội đã đàn áp tình dục ).
2. Phản đề: Phân tích và phê bình tình dục ( và do đó giải thích đạo lý của Giáo Hội ).
3. Hợp đề: Đặt chữ dục lại trong chữ tình.
1. Thông điệp Deus Caritas Est đã không ngại đề cao tình dục khi nói rằng dường như nó “hứa hẹn một hạnh phúc không gì cưỡng lại nổi”. Đã thế thông điệp đặt ra câu hỏi: “Phải chăng Giáo Hội với tất cả những điều răn cùng cấm đoán, đã biến cái điều quý báu nhất trên đời thành sự đắng cay ?” Thông điệp cũng công nhận rằng trong Đạo Ki-tô, từ xưa tới nay vẫn có những khuynh hướng “đối nghịch với thân xác”, và như thế những lời phê bình như của Nietzsche rằng “giới Ki-tô Giáo đã đầu độc tính dục” cũng có đôi chút cơ sở ( số 3 – 5 ).
2. Nhưng phê bình có đôi chút cơ sở không có nghĩa là phê bình đúng. Vừa nhìn nhận thực tại tính dục và một chút cơ sở của những lời phê bình đối với Giáo Hội xong, thông điệp liền chỉ rõ đâu là những độc tố khiến cho Giáo Hội thận trọng trước vấn đề tính dục. Đức Benedicto XVI duyệt qua từ những tôn giáo phồn thực cổ. Đức Giáo Hoàng nói tới “người Hy Lạp, cũng như nhiều nền văn hóa khác…” ( số 4 ), ( như thế ta nghĩ ngay đến từ những đạo thờ sinh thực khí, mà vết tích còn nhiều ở nước ta ) cho đến nền văn minh kích dục khiêu dâm hiện đại với thân xác con người, bản thân con người bị biến thành đồ vật, một món hàng bán buôn ( số 5 ).
Ít ra thì những tôn giáo phồn thực cổ còn gợi lên một ý niệm gì thiêng liêng. Người ngày nay hơn hay kém người ngày xưa ở chỗ đã vất bỏ cái phần thiêng liêng hư hư thực thực ấy, chỉ còn lại tính dục trơ trẽn, vô tâm. Khiêu gợi giữa chợ, bán buôn giữa chợ, chợ thật ngoài đời và chợ ảo trên các phương tiện truyền thông. Lòng dục cũng là một thứ ma túy, nó cho người ta những giây phút hưng phấn, nhưng lại gặm nhấm mất cái nhân phẩm.
Dần dần nó tạo cho những kẻ mê dục một thái độ khinh người rẻ của trong lãnh vực tính giao; xác thịt lên ngôi độc tôn thì giá trị tinh thần lần lượt tắt lịm. Có thể nói đến lúc đó thì tình dục chỉ còn lại chữ dục mà đã mất chữ tình.
Hiện tượng mê chữ dục mà mất chữ tình ngày nay ta thấy nhan nhản. Xin nêu vài ví dụ: Tệ nạn phá thai đang phổ biến là một bộ mặt trái của dục mà thiếu tình. Không hiểu sao những ân ái sôi nổi lại gần với sự nhẫn tâm hủy hoại sự sống đến thế, những yêu đương lại gần với tâm địa sát sinh đến thế. Một vị linh mục ở Kontum vừa gởi về cho chúng tôi những tấm hình chụp các thai nhi đã đầy đủ hình hài bị tống khứ khỏi bụng mẹ. Bên nghĩa trang dành cho các thai nhi có tấm bia với một bài thơ dài. Xin trích một đoạn:
“Con nằm đây hai tay chắp nguyện cầu
Lạy mẹ cha trăm ngàn lạy nữa
Hãy để con, cho con được sinh ra…”
Nhưng rồi…
“Con không có lời ru
Đưa con vào cuộc đời
Để con được làm người
Con không còn tiếng khóc chào đời…
Xin thắp lên cho con một ngọn nến…
Trong lòng đất lạnh…
Xin cắm cho con một cành hoa”
( Thơ Xuân Vũ Trần Đình Ngọc )
Bây giờ thỉnh thoảng lại thấy báo chí nói đến các cô dâu Việt Nam được “xuất khẩu” sang nước ngoài. Cha Nguyễn Văn Hùng ở Đài Loan gửi về cho chúng tôi nhiều chứng từ về những cô dâu thay vì được làm vợ thảo mẹ hiền, thì hóa ra phải làm “nô lệ tình dục”. Rất nhiều người, đặc biệt chị em phụ nữ đã bầy tỏ sự phẫn nộ và tủi nhục. Những chị em đã lập gia đình hạnh phúc đúng nghĩa với người nưới ngoài cũng mang tiếng oan lây. Mấy hôm trước đây, chúng tôi phải an táng một thiếu phụ có học hẳn hoi, vì hoàn cảnh gia đình cũng đã nhắm mắt đưa chân trong một cuộc hôn nhân có tính cách mua bán đó. Ít lâu sau, chị trở về Việt Nam trong tâm trạng trầm uất.
Bạn bè rủ chị đi Nhà Thờ. Chị đã định ngày hôm sau sẽ đi xưng tội. Không biết bị ngăn cản thế nào, thay vì đi xưng tội, chị đã treo cổ tự tử.
Thật ra, những điều linh mục Nguyễn Văn Hùng ở Đài Loan mô tả về tình cảm nhiều cô dâu Việt Nam còn khủng khiếp hơn gấp nhiều lần những điều báo Chosun của Hàn Quốc nói. Báo tuổi trẻ đã có loạt bài ( Xem Tuổi Trẻ những ngày cuối Tháng 5 – 2005 ) phản ánh tình cảnh khốn cùng đó. Nhưng không biết vì đâu sau đó tất cả lại chìm vào yên lặng. Tại sao ta không lắng nghe tiếng nói thiện chí và nhân ái của chính đồng bào ta, mà phải đợi đến báo chí nước ngoài bêu riếu mới làm ầm ỹ lên ? Và, quan trọng hơn nữa: ầm ỹ rồi thì có biện pháp gì hữu hiện để chữa lành những nỗi đau thể xác và tinh thần đó ?
Như một câu thơ Việt Nam đã mô tả: Kết cuộc của những mối tình đó là “Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi”
Khi tình dục đã quay lại huỷ hoại sự sống, thì tình dục là bạo lực.
Vì thế ở đây không đơn thuần chỉ là tình dục nữa, nhưng là cả một hệ thống xã hội đen trục lợi bất lương trên thân xác và hoàn cảnh nghèo khổ của người dân nước mình. Chúng tôi tự hỏi: Ở Tòa Thánh đã có ủy ban Công Lý và Hòa Bình, và nhiều Giáo Phận trên thế giới cũng có ủy ban này, phải chăng Giáo Hội Việt Nam chúng ta cũng cần có một ủy ban để đến với những nạn nhân của bất công và bất an đó ?
3. Số 4 và số 5 của thông điệp cho ta cảm nhận được tai họa đó. Có một thứ tình yêu bị đồng hóa hoặc bị chế ngự bởi nhục dục, gọi theo từ Hy Lạp là Eros ( do đó ngôn ngữ Tây Phương có những từ Erotisme, Erotique ): “Ái tình ( eros ) hứa hẹn sự vô tận, sự vĩnh hằng, một thực tại lớn hơn nhiều và hoàn toàn khác hẳn so với cuộc sống thường ngày”. Nói thế, rõ ràng là nhìn nhận một cách tích cực về tình dục, nhưng, liền đó có một chữ nhưng: “Nhưng… để đạt mục đích đó thì không thể đơn giản quỵ lụy bản năng. Cần phải có sự thanh luyện và trưởng thành, mà muốn thế thì phải hy sinh”. Thanh luyện, trưởng thành, hy sinh chẳng những không hề khước từ hoặc “đầu độc” tính dục, mà thật ra chữa lành và phục hồi sự cao cả của nó.
Sở dĩ như thế trước tiên là vì “con người được cấu thành bởi xác và hồn. Con người thực sự là mình khi xác và hồn kết hợp với nhau khăng khít; thách thức của Eros chỉ thực sự được khắc phục khi ta đạt được tình trạng xác hồn thống nhất. Giả sử con người muốn là tinh thần thuần túy mà hất hủi xác thịt coi như nó chỉ là phần thú tính ở nơi mình, thì cả tinh thần lẫn thể xác đều mất nhân phẩm; đàng khác, nếu con người phủ nhận tinh thần mà coi như chỉ có vật chất, xác thịt mới là thực tại duy nhất, thì cũng đánh mất luôn sự cao cả của mình… Không phải chỉ có tinh thần, cũng không phải chỉ có thể xác yêu, mà là con người, là nhân vị, là thụ tạo xác hồn đồng nhất, yêu. Chỉ khi nào cả hai chiều kích ấy thực sự thống nhất, thì con người mới đạt đến tầm vóc đầy đủ của mình. Chỉ như vậy thì ái tình, – Eros – mới chín, mới đạt đến sự cao cả của nó”… Chỉ khi ấy Eros mới mang tính cách “xuất thần” lên cõi Chúa, nó đưa ta vượt quá chính mình; chính vì lẽ đó mà nó cần một con đường đi lên, khổ chế, thanh luyện và chữa lành ( số 8 ).
III MẠC KHẢI MỚI VỀ TÌNH YÊU TRONG KINH THÁNH.
“Suy tưởng có phần triết lý trên đây về bản chất của tình yêu”. chúng ta đã tiến đến “ngưỡng cửa của Đức Tin theo Kinh Thánh”. Đức Thánh Cha trở lại với câu hỏi ban đầu: tất cả những tâm trạng khác nhau được diễn tả cùng bằng từ “yêu” có quy về một uyên nguyên duy nhất nào không, hay trái lại, chẳng liên hệ gì với nhau. Và câu hỏi đặc biệt quan trọng nữa là “sứ điệp yêu thương như Kinh Thánh và truyền thống Hội Thánh công bố cho ta có điểm nào tiếp giáp với cảm nghiệm thông thường của người ta về tình yêu không, hay là trái nghịch với cảm nghiệm đó” ( số 7 ).
Ngay từ đầu Thông Điệp, Đức Benedicto XVI đã nhắc lại rằng Cựu Ước Hy Lạp chỉ dùng từ Eros có hai lần, còn Tân Ước thì không dùng đến nó. Tân Ước lại thích dùng từ Agape, là một từ không thông thường lắm trong tiếng Hy Lạp (số 3 ). Vậy, Eros và Agape sánh với nhau như thế nào ?
Eros gợi lên sự thèm muốn chiếm đoạt còn Agape thì hàm ngụ ý hướng hiến dâng, hiến tặng. Có thể nói Eros nặng về chữ dục mà Agape thì nặng về chữ tình. Nhưng “giả sử sự đối nghịch này được đẩy đến tận cùng, thì hóa ra bản chất của Đạo Ki-tô đã tách ra khỏi những sinh hệ căn bản của kiếp người, để làm thành một thế giới riêng, có lẽ là tuyệt vời đấy, nhưng dứt khoát cách biệt với tình huống phức hợp của nhân sinh”.
Vậy mà Eros và Agape… lại không bao giờ có thể tách rời nhau hoàn toàn. Hai phương diện khác nhau ấy càng tìm được sự hợp nhất đặc thù trong cùng một thực hữu tình yêu, thì bản tính chân thực của tình yêu… càng thành hiện thực. Dù cho lúc đầu Eros chủ yếu là thèm muốn và lăm le chiếm đoạt, vì đã bị thu hút bởi một hứa hẹn hạnh phúc lớn lao, nhưng khi đến gần đối tượng, thì mỗi lúc mỗi bớt quan tâm đến mình, mỗi lúc mỗi gia tăng tìm kiếm hạnh phúc cho đối tượng, mỗi lúc mỗi thêm quan tâm đến người yêu, hiến mình để mong muốn “sống vì” người ấy. Thế là nhân tố Agape đã lọt vào tình yêu, bởi nếu không như thế thì Eros sẽ trở nên nghèo nàn, thậm chí còn đánh mất cả bản tính của mình. Mặt khác, con người không thể chỉ sống bằng tình yêu dâng hiến, quan hoài mà thôi. Không thể cho mãi được, còn phải nhận nữa. Bất kỳ ai muốn trao tặng tình yêu cũng phải nhận tình yêu như một món quà tặng” ( số 7 ).
Nếu được phép ví von, ta có thể nghĩ đến mối tình của người phụ nữ trong ca dao nam bộ:
“Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”.
Trong lời “cho thiếp theo cùng” có chất Eros, nhưng đến khi “đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”, thì Eros đã biến thành Agape rồi !
Do đó, “về cơ bản, “yêu” là một thực thể duy nhất, với những chiều kích khác nhau; vào những thời điểm khác nhau, chiều kích này hay chiều kích kia có thể nổi rõ hơn. Nhưng nếu hai chiều kích ấy hoàn toàn tách biệt nhau, thì kết quả chỉ còn là một bức biếm họa về tình yêu, quá lắm cũng chỉ là một thứ tình yêu bần cùng”. Và đến đây, Thánh Kinh mặc khải “những chiều kích mới của tình yêu” ( số 8 ).
Mạc khải Thánh Kinh tiết lộ cho ta một điều mới: ấy là cái tình của con người, với Eros và Agape, lại là một phản ánh của Thiên Chúa. Trong cõi siêu việt của Ngài, Thiên Chúa cũng yêu với Eros và Agape. Ngài yêu các thụ tạo của Ngài. Ngài yêu con người. Ngài yêu Dân Ngài tuyển chọn. Các ngôn sứ: “đặc biệt là Hôsê và Ezekiel đã mô tả nỗi đam mê của Thiên Chúa đối với Dân Ngài bằng ngôn ngữ luyến ái táo bạo” ( số 9 ). Mà vì thế Sách Diễm Ca, tức là một tập thơ tình, một tập tình ca đề cao tình yêu nam nữ ( số 6 ) cuối cùng lại “diễn tả được quan hệ của Thiên Chúa với con người, của con người với Thiên Chúa” và trở nên một “nguồn nhận thức và cảm nghiệm thần hiệp”, diễn tả chính cái huyền nhiệm con người có thể kết hợp với Thiên Chúa.
Nhưng Thiên Chúa đã nhìn thấy gì nơi thế giới này và nơi con người để mà yêu thương đến như vậy ? Hóa ra thế giới này và con người được tạo dựng có một giá trị thẳm sâu khiến cho Thiên Chúa cúi xuống và cuốn hút nó vào huyền nhiệm yêu thương của Ngài: “Thiên Chúa là uyên nguyên tuyệt đối của vạn vật; nhưng nguyên lý của vạn vật trong cõi tạo thành ấy… đồng thời cũng là một tấm lòng yêu mến với tất cả nỗi dạt dào của một tình yêu chân thực. Thành ra Eros được nâng lên cực điểm cao quý, nhưng đồng thời cũng trở nên trong sáng đến mức trở nên một với Agape” ( số 10 ). “Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người lớn đến nỗi Ngài trở nên người và đi theo con người cho tới mức bằng lòng chịu chết” ( số 10 ). Và đó là mầu nhiệm, là mạc khải Đức Ki-tô.
Từ con đường đi tìm chiên lạc đến con đường lên Golgotha, từ nhập thể đến bí tích Thánh Thể ( Thánh Thể với Agape là một, số 14 ), Thiên Chúa đã tự hiến mình để nên một với con người và yêu thương cho đến tận cùng ( số 12 – 13 – 14 ): “Đây là tình yêu ở dạng căn cội nhất. Chiêm ngưỡng cạnh nương long bị đâm thâu của Chúa Ki-tô ( Ga 19, 37 ), ta sẽ hiểu được thông điệp “Thiên Chúa là Tình yêu” ( 1 Ga 4, 8 ) khởi đi từ đâu. Đây chính là nơi chân lý ấy phải được chiêm ngưỡng. Ta phải khởi đầu từ đó mà định nghĩa tình yêu. Chính trong sự chiêm ngưỡng đó mà Ki-tô hữu phát hiện đâu là đường sống, là đường yêu thương của mình” ( số 12 ).
Mở đầu câu chuyện, Đức Benedicto XVI có nói đến tính dục, nhưng khởi đầu thật của vấn đề không phải là tính dục, mà là trái tim bị đâm thâu của Chúa Ki-tô. Đó mới là uyên nguyên, là nguồn cơn. Và đó cũng là giải đáp cho câu hỏi lúc đầu: mọi thứ tình trên đời đều có một nguồn chung, phát xuất từ Thiên Chúa là Tình Yêu.
Từ uyên nguyên đó, có Eros, có Agape chảy tràn xuống cuộc đời. Người đồ đệ Chúa đón nhận lấy nguồn yêu thương cho riêng bản thân mình: “đương đối với Thiên Chúa duy nhất là hôn nhân nhất phu nhất phụ. Hôn nhân dựa trên tình yêu chính chuyên trọn đời trở nên hình ảnh của mối quan hệ của Thiên Chúa với Dân, của Dân với Thiên Chúa. Cách Thiên Chúa yêu thương trở nên chuẩn mực cho tình yêu của con người” ( số 11 ).
Người đồ đệ Chúa cũng để cho tình yêu thương của Thiên Chúa qua mình tràn vào thế gian. Biết rằng Thiên Chúa yêu thương con người, nên ta nhìn ai cũng thấy đó là “người thân cận” ( số 15 ).

Chuyên mục:Uncategorized Thẻ:

NHỚ CHA TRẦN HỮU THANH

“Thôi, tắt đèn đi ngủ !” đó là những lời nói cuối cùng của cha Trần Hữu Thanh. Lúc đó đã gần 2 giờ sáng ngày 24.10.2007. Có ba đệ tử ở bên cha già trong phòng bệnh viện. Hai chú đã ngủ, một chú thức bên giường cha, không hiểu sao cha cho đánh thức hai người đang ngủ rồi lại bảo tắt đèn đi ngủ. Chú đệ tử thưa rằng ánh sáng là do đèn ngoài đường hắt vào, còn trong phòng đã tắt đèn rồi. Đột nhiên cha Thanh nấc liền hai lần. 92 năm cuộc đời chấm dứt.
Tôi cứ nghĩ ra Hà Nội chuyến này, một việc cần làm trước tiên là đến bệnh viện thăm cha già Thanh. Không ngờ tôi chưa kịp bước lên máy bay, thì cha đã… tắt đèn đi ngủ. Tối hôm ấy tôi bước vào Nhà Thờ Nam Đồng Hà Nội, nhìn qua nắp kính quan tài thấy nét mặt cha thật bình yên. Những nét già nua thường thấy như biến đâu mất. Khuôn mặt đầy đặn làm tôi liên tưởng đến ngày tôi còn bé, đến những ấn tượng hồi mới được biết cha Thanh. Ngày ấy cha đi ngược về xuôi, khi Miền Trung, khi Miền Nam, khi Châu Âu, khi Thái Lan, cả con người là một khối năng lượng lúc nào cũng sục sôi. Những ý tưởng lời nói vừa thực tế, vừa sâu sắc vừa hóm hỉnh cứ liên tục trào ra như suối trong mát bất tận. Nhiều người đến viếng cha có cảm tưởng trông cha “hiền” hơn lúc còn sống.
Thật ra sáu bảy năm cuối đời về sống giữa bà con Giáo Dân Nam Đồng, lúc nào cha chẳng “hiền” ? Nhưng cha già ơi, cha tắt đèn nhắm mắt rồi, từ nay mỗi khi đến đây con sẽ không thấy đôi mắt long lanh dưới mái tóc bạc phơ, và một nụ cười chúm chím. Cười thế này là cụ sắp nói ra một cái gì oái oăm mặn mà lắm đây. Lại có lúc cụ nằm trên giường cười một mình. Đó là lúc cụ vừa sáng tác ra một câu chuyện gì tiếu lâm đủ mùi gia vị, cứ đợi đấy rồi cụ sẽ kể với nụ cười chúm chím vỡ toang thành tiếng cười rung rung sảng khoái. Nghe bà con kể đến những ngày cuối cùng trên giường bệnh, yếu lắm rồi không nói được nữa, cụ vẫn còn những cử chỉ trêu chọc bác sĩ hay chị bếp Nhà Dòng tìm đến vấn an.
Cái hài của cụ không phải là tếu suông. Nó là một mặt của tình yêu toàn diện cụ dành cho cuộc sống, cuộc sống tranh sáng tranh tối, vàng thau lẫn lộn, tồi tàn bệ rạc, nhưng với tính lạc quan tự nhiên, với nhiệt tình sẵn sàng xắn tay hành động, và nhất là với Đức Tin mãnh liệt vào Chúa, cụ vẫn tìm ra ở đó cái vẻ đáng cười, đáng thương, đáng cứu.
Đức Tin mãnh liệt ấy cụ thừa hưởng được từ gia đình từ những thời tai bay vạ gió 1885: phong trào Văn Thân không chỉ “bình Tây” mà còn “sát Tả”. Ông nội và nhiều người thân trong gia đình cụ đã chịu tử vì đạo, bây giờ tôi thấy tiếc đã không hỏi cụ cho rõ một điều: trong lăng mộ tập thể các vị tử đạo ở họ Tri Bưu gần bên linh địa La Vang phải chăng có hài cốt của những bậc tiền nhân trong gia đình cụ ? Quá khứ của một dòng họ là yếu tố quan trọng định hình nhân cách cho các thế hệ tương lai. Khí thiêng của Đức Tin nhập thể nơi những diễn biến quằn quại của lịch sử làm nên dung mạo của Tín hữu và của Giáo Hội. Cụ Thanh là một dung mạo như thế.
Cụ Thanh bắt đầu cuộc đời Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế vào thời điểm dân tộc chuyển mình trong đau thương máu lửa. Cụ chịu chức tháng 6 năm 1942 tại Nhà Thờ Cửa Bắc, Hà Nội. Thế chiến thứ II đưa quân đội Nhật vào chiếm đóng Việt Nam, và cũng đưa cả bom đạn của người Mỹ. Linh Mục Thanh được giao nhiệm vụ dạy văn chương Việt Nam cho các đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế ở Huế. Ngay từ trẻ Cha đã có những khiếu về ngôn ngữ và hùng biện.
Dòng Chúa Cứu Thế Huế do các Thừa Sai Canada thành lập đang là một điểm thu hút cả giới bình dân cố cựu lẫn giới trí thức tân tiến của đất Thần kinh. Thư viện Accueil do cha Thomas Côté điều hành là nơi hội tụ của nhiều người đang ưu tư về vận nước. Có sinh hoạt văn hóa được hoàng hậu Nam Phương đến chủ tọa, nhưng nhiều lúc khác những người sau này sẽ là lãnh tụ cách mạng, những người như ông Tố Hữu, ông Tạ Quang Bửu cũng thường lui tới. Nhiều người khác sau này sẽ là những khuôn mặt tri thức lớn của Miền Nam: Giáo sư Nguyễn Huy Bảo ( anh ruột cha Nguyễn Huy Lịch ) người Hà Nội, đồ đệ của triết gia Henri Bergson gây dựng sự nghiệp giáo sư triết học của mình ở Huế. Ông Bùi Xuân Bào xuất thân từ một gia đình nho học thâm nghiêm đang trải qua những trăn trở tâm linh dữ dội trên đường đến với Chúa.
Tất cả những lớp người đó nay đã thuộc về quá khứ, ở Sài-gòn có chăng còn Nữ Tu Mai Thành, em ruột giáo sư Bào. Trong sự “trở lại đạo” của hai anh em họ Bùi ít nhiều có phần đóng góp của Dòng Chúa Cứu Thế. Sau này soeur Mai Thành sẽ nói, sẽ viết về bước đường tâm linh gian khổ mà diệu kỳ của gia đình bà, cho đến ngày cụ thân sinh sau bao nhiêu phiền muộn về mấy người con bỏ đi theo Chúa lại càng được Chúa soi sáng và giải thoát.
Ngày nay thư viện Accueil của cha Thomas Côté đã làm vừa xong nhiệm vụ. Sách báo ngồn ngộn của nó đang chồng chất trong một căn phòng đầy bụi bặm và đang có nguy cơ bị mối mọt và những mùa mưa lê thê xứ Huế xâm hại. Cùng với những người đã nâng niu chúng, những sách báo ấy cũng đã đi dần về phía quá khứ. Nhưng không vì thế mà ta phải than thở như trong Sách Thánh: “Phù vân của mọi phù vân, mọi sự đều là phù vân”: “Vanitas vanitatum, omnia vanitas” là vì những người đã từ đấy đi làm cách mạng thì cách mạng vẫn còn đây. Những người đã từ đã từ đấy đi làm nhà giáo, đi làm nhà tu thì đồ đệ của họ cũng vẫn còn đây.
Nhắc tới cái thư viện ấy là để trình với bạn đọc rằng cái môi trường do Dòng Chúa Cứu Thế ở Huế tạo nên đã có thời oanh liệt của nó. Trong môi trường đó cha Thanh xuất hiện và được nhìn nhận như một thế hệ kế thừa không thiếu những điểm xuất sắc và cũng từ giữa môi trường ấy mà cha chứng kiến những ngày long trời lở đất của Cách Mạng tháng 8 mùa thu năm 1945.
Khí thế của những ngày ấy còn đọng lại trong một câu hát, cha Thanh không giỏi nhạc, hát lại càng không hay, nhưng trong một buổi họp mặt mừng Xuân Đinh Hợi vừa qua, giới trẻ đua nhau ca hát, tự nhiên cụ ôn lại kỉ niệm trẻ khỏe năm xưa. Cụ Thanh ngồi trên xe lăn cất tiếng ồ ề ca một bài do ai khác đặt nhạc nhưng cụ phổ những lời còn mang chất lửa của những ngày toàn quốc vùng lên đó:
“Ta người Công Giáo đáp tiếng non sông cương quyết đấu tranh
Nam Bắc một lòng xông pha quật cường sống
Trong thời nguy biến đã có chúng ta không tiếc hy sinh
Cho quốc dân minh tự do vẫy vùng…”
Thế rồi một vài câu sau đó:
“Ta xin thề: Ta theo Vua Giê-su mà tranh đấu…”
Đối với cái “gu” của người thời nay chẳng biết cung cách “ta người Công Giáo” như thế có phần nào hơi nghênh ngang, hơi hiếu thắng, hơi “triomphaliste” một chút không ? Nhưng khí phách ngày ấy nó như thế. Và bên dưới những điệu nhạc lời ca có vẻ hành khúc khải hoàn đó, đã có thể đoán được một vấn đề sâu hơn, thậm chí là vấn đề thường hằng.
Một người như cha không thể không suy nghĩ nhiều về vận mạng dân tộc đã đành mà cũng về vận mạng của Đức Tin, của Giáo Hội giữa lòng dân tộc này nữa. Thánh Phao-lô đã bảo đời sống Đức Tin của người tín hữu, của người tông đồ “là kho tàng vô giá mang trong bình sành lọ đất.” Còn Giáo Hội thì như con thuyền Việt Nam “lênh đênh qua cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”. Bây giờ quá nửa thế kỷ đã qua, nhìn lại thấy chìm thì không chìm, vẫn nổi, nhưng quả là lắm cảnh lênh đênh.
Sáu mươi năm đã qua rồi, từ những ngày sôi bỏng ấy, cha Thanh trở về nơi cha đã ra đi> Học Viện DCCT, nơi ngày xưa cha theo học, đã biến thành bệnh viện Đống Đa. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn ngôi Nhà Thờ do Nhà Dòng xây dựng, các Linh Mục và Tu Sĩ của Dòng vẫn phục vụ tại đó. Một Tu Viện mới đã mọc lên.
Hôm nay Cộng Đồng Dân Chúa ở Hà Nội tiễn đưa cha. Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ, và Giáo Dân tề tựu rất đông. Bầu khí trang nghiêm và tĩnh lặng, chỉ nghe thấy tiếng đàn tranh rỉ rả, và những giọng hát trầm bổng: “Có một điều tôi hằng ước mong, là được ở trong Nhà Chúa, suốt đời tôi, suốt đời tôi…” Cha muốn thế thì đã được thế. Chuyện đời của cha lắm tình tiết, cha bôn ba tìm kiếm nhiều, lênh đênh cũng nhiều, nhưng xuyên suốt cuộc đời vẫn là ước mong Nhà Chúa. Trước sau vẫn là thế thôi.
Từ năm 1949, cha Thanh từ giã bục giảng lớp học để dốc toàn lực cho tòa giảng trong Nhà Thờ. Một nỗi ưu tư chẳng bao giờ vắng bóng trong tâm tưởng của cha: đất nước và dân tộc sẽ ra sao ? Chiến tranh Việt Pháp đạt tới cường độ tạo ra một khúc quanh mới, trên bàn cờ chiến lược thấy xuất hiện những thế và lực mới. Đối với cha, điều mệnh hệ trên hết là Đức Tin sẽ nẩy nở hay tàn lụi qua cơn biến loạn này ? Hội Thánh sẽ phát triển hay tan hoang theo thời cuộc ?
Cha không phân biệt một bên là dân tộc một bên là tôn giáo. Phân biệt như thế là không có Đức Tin nữa rồi. Người như cha chỉ biết gieo mầm Đức Tin bất kể hoàn cảnh thuận hay nghịch. Trời cho cha bản tính lạc quan và nhiệt thành, cha lao vào công cuộc tông đồ của Hội Thánh, dẫu biết rằng người cộng sản đang nắm ngọn cờ độc lập dân tộc để lãnh đạo kháng chiến. Giữa Cộng Sản và tôn giáo trong tình hình thế giới lúc ấy, mối quan hệ thật gay go phức tạp. Xem ra có mâu thuẫn đối kháng.
Có lúc cha Thanh đã tưởng cựu hoàng Bảo Đại có thể là một giải pháp. Cha đã góp công phác họa lá cờ vàng ba sọc đỏ được nối liền bởi một con rồng uốn hình chữ S, tượng trưng cho dân tộc Việt da vàng máu đỏ ba miền Bắc Trung Nam là một. Về sau, cụ Tôn Thất Sa là một họa sĩ có tiếng ở Huế dựa vào bản phác thảo của cha, bỏ con rồng đi làm ra lá cờ vàng của chế độ quốc gia vào lúc trong cuộc chiến tranh Việt Pháp thấy lộ ra những ý đồ đấu tranh quốc – cộng.
Dù sao thì lịch sử cũng cho thấy ông Bảo Đại không phải là người có đủ bản lãnh để trụ lại được trong bão táp lịch sử. Mà suy cho cùng thì lá cờ hay chế độ chính trị cũng chẳng phải là điều cha Thanh tìm kiếm. Phút cao hứng vẽ cờ qua đi, cha trở về với con người thực chất của mình. Điều cha thật sự muốn ngã ngũ với đời không phải là vấn đề chính trị hay quân sự. Mấu chốt của nó ta đã thấy từ trong sánh Công Vụ Tông Đồ: Có một Giê-su mà người Do Thái bảo là đã chết, nhưng Phao-lô cố quyết là vẫn sống ( Cv 25, 18 ). Và suốt từ ngày ấy tới tận đời các tổ tiên Tử Đạo của cha Thanh đến cha Thanh, những người tin vẫn một mực nói như Phao-lô. Và không những chỉ nói Giê-su vẫn sống mà thôi, mà còn nói chỉ co Giê-su đang sống ấy mới nắm bí quyết của mọi lẽ sống ở đời.
Lần lượt cha Thanh đi dọc ngang các tỉnh duyên hải miền Trung từ Quảng Trị đến Khánh Hòa. Cha thức tỉnh đức tin cho hàng chục ngàn người có Đạo, hàng nghìn người ngoài Đạo xin gia nhập Hội Thánh.
Năm 1954, chiến tranh đến hồi kết cục với Hiệp Định Genève. Trước mắt đã thấy rõ Giáo Hội ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ phải làm sao sống được trong những điều kiện ngặt nghèo. Cha Thanh lao vào soạn thảo tài liệu nhằm giúp người Công Giáo miền Bắc sống Đạo trong thời Cách Mạng. Tuy vậy, Nhà Dòng không phân công cho cha Thanh ở miền Bắc. Nhiệm vụ góp phần chống đỡ ngôi nhà Giáo Hội ở miền Bắc được trao phó cho cha Vũ Ngọc Bích.
Cha Thanh ở lại miền Nam. Tình hình miền Nam diễn ra những đổi thay quan trọng. Giải pháp Bảo Đại đã đổ sụp. Ông Ngô Đình Diệm nắm chính quyền, với sự trợ lực của người em là ông Ngô Đình Nhu. Hai anh em họ Ngô đã chọn một học thuyết để dựa vào đó mà đương đầu với chủ nghĩa Marx. Người ta bắt đầu nghe nói đến thuyết Nhân Vị.
Gì chứ nhân vị thì đúng là điều cha Thanh quan tâm, lần này không chỉ là một lá cờ, mà là cả một hệ tư tưởng. Phải chăng đây là giải pháp cho những ưu tư về con người mà xã hội đang thao thức tìm kiếm ? Lại một lần nữa, những khắc khoải về thân phận con người đưa cha vào nhiều nỗi truân chuyên.
Từ ngày chế độ do anh em nhà họ Ngô gây dựng sụp đổ, ở Miền Nam người ta hay nói đến nền “Cộng Hoà Nhân Vị” với nhiều dụng ý mỉa mai. Sự mỉa mai này được duy trì từ khi cả nước đi vào cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa. Không riêng gì nước ta, ngay từ hồi ông Diệm, ông Nhu còn thống trị, ở bên Tây, quê hương của ông Emmanuel Mounier là người lập thuyết Nhân Vị, cũng có những nhà trí thức bĩu mỏ cái xã hội mang danh là “nhân vị” ấy chẳng nhân vị gì hết. Thôi thì ông Diệm, ông Nhu làm chính trị, các ông phải đưa đầu chịu báng, phải hứng lấy búa rìu của lịch sử, và ít ra hai ông cũng được điểm này: Đã kiên trì với tâm tưởng của mình cho đến nỗi thiệt mạng.
Nhưng nếu sự mỉa mai phát xuất từ một thực tế xã hội lại lan đến cả một chủ nghĩa, thì thật là bất công đối với thuyết Nhân Vị của ông Emmanuel Mounier. Xét cho cùng, nếu thời ấy xã hội Miền Nam không phản ảnh được những lý tưởng nhân vị, thì ngày nay xã hội của chúng ta đâu có phản ảnh được lý tưởng của Kail Marx ? Người có Đức Tin vẫn biết rằng có một thứ tội đầu, một thứ nguyên tổ, dân gian gọi là tội tổ tông, hay tội nguyên tổ, nó làm cho những người điều tốt đẹp nhất như bột, hư đường, hư các thứ vườn địa đàng.
Dù thế nào chăng nữa, đối với những người như cha Thanh, thuyết Nhân Vị quả là hấp dẫn. Cha cũng lên tiếng cổ vũ Nhân Vị. Thực tế mà nói, đó là một công việc đội đá vá Trời. Xã hội Việt Nam đang đi vào một cuộc chiến tranh mới, một cuộc đấu sinh tử. Thuyết Nhân Vị xem ra chỉ sống và triển khai được trong một môi trường hoà bình, hoặc nếu không được như vậy thì nó chỉ tác động, khi người ta thấm đòn của những sự phi nhân trong cuộc đời. Ngoài ra thì nó quá tinh tế, nó không đủ độ chát chua cho những thời kỳ chém to kho mặn. Những người như cha Thanh cố gắng diễn giải nó sao cho thật cụ thể. Như mang hết khoa hùng biện, mang cả cái khiếu kể chuyện, các khiếu hài hước tự nhiên của cha vào cuộc.
Ngày nay nhìn lại bối cảnh lịch sử, thấy rằng đó là một bước đi liều lĩnh theo nghĩa: “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, mà xem còn tạo xoáy vấn đề đến đâu”. Lòng tin dạy cha rằng hạt giống phải chết đi mới mong có mùa gặt. Bảo rằng có thể từ đó làm nên cả một chế độ xã hội thì sẽ là thất bại. Nhưng sẽ có thành công nếu có những con người cảm nhận được thế nào là nhân phẩm. Như một nhà cách mạng tiền bối đã nói: “Không thành công cũng thành nhân”. Và “Thành nhân” thì trong lòng cuộc đời vẫn có cái mà Tin Mừng gọi là muối, là men.
Người tin theo Chúa là người không chỉ lo toan thực hiện ý đồ của mình, mà trước tiên phải tỉnh thức chiêm ngưỡng những việc Chúa làm thường ở ngoài mọi sự mình chuẩn bị và tiên liệu. Chính vì thế điều quan trọng nhất không phải là những dự phóng này nọ của mình, mà là nắm chặt lấy lời Mạc khải, rồi gieo Lời, nói Lời. Cha Thanh hoạt động nhiều, xoay xở nhiều, nhưng trước sau rồi cũng quay về với Lời Chúa.
Năm 1959, cha khăn gói lên đường du học ở Học Viện Lumen Vitae, thuộc Đại Học Công Giáo Louvain ( Bỉ ). Tuổi 53 không còn là tuổi sinh viên, nhưng bù lại cha Thanh mang đến trường cả một bề dày kinh nghiệm để suy nghĩ dưới sự xúc tác cuả các bậc thầy trong lĩnh vực huấn giáo. Cha có được đức tính luôn tỉnh thức cảm nhận những đổi thay của sự sống và của thời cuộc. Cha nhận ra rằng thế giới nói chung, đất nước nói riêng, đang biến chuyển liên tục, và sự biến chuyển ấy hàm chứa rất nhiều tiềm năng cả lành lẫn dữ. Thách thức trước mắt đối với Hội Thánh là làm sao cho cái xã hội tương lai đang từng ngày thành hình đó phải là một môi trường thông thoáng để đón nhận được tiếng gọi của Đức Tin. Như tên gọi của nó, Lumen Vitae có hoài bão phục vụ Lời Chúa sao cho anh sáng của sự sống xuyên qua được những tấm màn trần thế để chiếu toả trong cõi nhân sinh.
Ở tuổi ấy, và với thời cuộc lúc ấy, cha nóng lòng muốn học hỏi cho nhanh để còn về nước phục vụ. Sau hai năm học cha lĩnh bằng cử nhân Thần Học Mục Vụ Giáo Lý. Cha chọn đề tài luận văn tốt nghiệp: “Huấn giáo nơi những vùng dân cư thiên Cộng” ( “Catéchèse et Populations Communisantes” ). “Communisantes”. ở đây được hiểu về những người đã chịu ảnh hưởng, đã có cảm tình, đang dần dần trở thành người cộng sản, hoặc sống trong những vùng, những thời thế đang từng bước chuyển sang chế độ do đảng Cộng Sản lãnh đạo.
Cha đưa vào luận văn những kinh nghiệm thu thập được trong những năm tháng cha hoạt động ở miền Trung từ Bình Trị Thiên, đến Nam Ngãi, Bình Phú, và trong giới Việt Kiều Thái Lan. Luận văn của cha được đánh giá khá cao. Cha nhớ nhất và tâm đắc nhất lời nhận xét của một vị nào đó đã đọc hoặc nghe những luận điểm của cha: “Tác giả có một điều gì đó để nói, và cũng biết cách nói ra điều đó” ( Il a quelque chose à dire, et il sait comment le dire ). Thì ra đang khi góp phần xây dựng chủ thuyết Nhân Vị, cha lại đã quan tâm đến một tình thế khác, một hệ tư tưởng khác. Xuyên qua hai tình thế mâu thuẫn đó, vẫn có một sứ mạng duy nhất. Cha vẫn có một điều gì đó để nói và phải nói.
Cũng cần nói rằng ở thời điểm này Giáo Hội Công Giáo khắp nơi như đang dậy men. Mọi người đang chờ đợi, đang chuẩn bị Công Đồng Vatican II, dưới sự chỉ đạo của Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII. Nhiều nhà thần học, nhiều giới chuyên môn đã linh cảm rằng trong kho tàng Thánh Kinh, Thần Học, Giáo Phụ của Giáo Hội còn tiềm tàng rất nhiều sức bật mà những thói quen trì trệ, lưu cữu, hẹp hòi đã khiến cho bị quên lãng. Đức Giáo Hoàng nói tới một mùa xuân mới, một bầu khí mát lành mới, một sức mạnh hợp nhất, bình an cho mọi người.
Năm 1962, Công Đồng Vatican II khai mạc. Sau những bước đầu chầm chậm, dè dặt, thì những nét về nguồn, những nét canh tân cứ dần dần nổi bật lên. Bầu khí trong Giáo Hội trở nên rất phấn khởi cho những ai quan tâm nghiên cứu và muốn có sáng kiến, muốn mở những con đường mới cho một thời đại mới. Cha Thanh cũng như bao người khác hàng ngày theo dõi những diễn biến trong Công Đồng. Mặc dù tư tưởng “Nhân Vị” bị thời thế cho rơi vào câm lặng, nguồn cảm hứng mới từ Công Đồng Vatican II như một dòng chảy mênh mang khiến cha hăng say cống hiến tâm huyết của mình cho đồng bào.
Đây cũng là thời kỳ Dòng Chúa Cứu Thế của cha mở rộng công việc truyền giáo ở những vùng nghèo khổ. Gần Sài-gòn thì có vùng rừng ngập mặn Cần Giờ, ở miền Trung là vùng Châu ổ trong tỉnh Quảng ngãi. Trên cao nguyên, ngoài miền truyền giáo đã có từ trước ở vùng Fyan ( Lâm Đồng ) để đến với bà con dân tộc K,ho, một địa hạt mới rất rộng đã mở ra trong tỉnh Pleiku ( nay là Gia Lai ) khi ấy còn âm u rừng núi để phục vụ người dân tộc Jrai.
Riêng phần cha Thanh thì vẫn miệt mài với công tác huấn giáo. Lúc này cả những ý tưởng lẫn hoạt động của cha đã được bên ngoài biết đến. Trong thập niên 1960, cha được các hội nghị Giáo Lý Quốc Tế mời đi tham luận ở Đức, Philippines, Thái lan.
Tóm lại là một thời để gieo. Sẽ phải đến một thời hạt giống gieo phải biến tan trong lòng đất. Cuộc chiến tranh khốc liệt ở Việt Nam cũng đi dần đến hồi kết thúc…
Một lần cuối cha Thanh chủ động dấn thân vào chính trị: đó là năm 1974 ở Sài-gòn. Cha cùng với 301 Linh Mục khác ký tuyên ngôn lập Ủy Ban Chống Tham Nhũng. Cha Thanh trăn trở đã nhiều về tiền đồ đất nước, cha cũng đã xoay xở nhiều bề, nhiều phía. Càng ngày càng thấy rõ một điều: sự tham lam ích kỷ như một thứ tà khí bao trùm lên xã hội, nó gặm nhấm, nó làm tiêu tan, nó vô hiệu hóa những ý đồ tốt đẹp nhất. Cha cũng có kinh nghiệm về chống tham nhũng: trong những năm 50 với việc phanh phui vụ “Gạo miền Trung”, cha góp phần làm cho nhiều quan chức đứng đầu 6 tỉnh miền Trung mất chức. Nhưng lần này không chỉ là chuyện của những quan chức cấp tỉnh. Lần này vấn đề lớn hơn nhiều: tham nhũng là quốc nạn, nó biến thành thói tục, thành cơ chế, thành cái nếp xuyên suốt xã hội từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Nó khiến xã hội trở nên vô hồn, nó đầu độc sinh khí cộng đồng.
Mặt khác, chiến tranh Việt Nam đang đến hồi kết thúc. Súng vẫn còn nổ trên các mặt trận, nhưng Hiệp Định Paris đã ký kết rồi. Sớm hay muộn sẽ có thử thách quyết định. Một xã hội bị tham nhũng làm cho mọt ruỗng về tinh thần thì làm sao chịu đựng nổi sóng gió. Cha Thanh lao vào cuộc đấu tranh mới với cảm giác tình hình đã trở nên cấp bách. Phong trào chống tham nhũng tạo ra những cuộc xuống đường rầm rộ, công bố những bản cáo trạng nẩy lửa. Các nhà báo cũng vào cuộc với những hình thức đấu tranh ngoạn mục. Có những buổi sáng Chúa Nhật đi giữa phố xá Sài-gòn người ta có cảm giác lạ lùng bỡ ngỡ, đường phố không bóng xe qua lại, nghe được cả tiếng chim hót líu lo như ở giữa đồng quê. Hôm đó là ngày phong trào chống tham nhũng biểu tình, các ngả đường trung tâm thành phố bị vây chặn bằng những hàng rào dây kẽm gai.
Ở miền Nam ngày ấy, và trong một số giới nào đó, cho đến tận ngày nay, có những người không tha thứ cho cha Thanh và các bạn hữu của cha. Người ta bảo cha phá hoại cuộc chiến chống Cộng Sản, cha làm suy yếu chế độ chống cộng. Cái hôm trung tâm Sài-gòn không bóng xe, đứng bên hè phố có một ông mặc complet rất lịch sự, nhưng miệng phun ra một chuỗi những lời tục tĩu như để đáp lại tiếng chim hót trên cây. Ông đang chửi cha “những thằng Linh Mục làm lợi cho Cộng Sản”. Gia đình ông thường vẫn đi lại rất thân thiết với nhiều Linh Mục. Ông là một trong những người giầu nhất Sài-gòn, và trong những mặt hàng ông sản xuất và kinh doanh có những cuộn dây kẽm gai đang ngăn cắt đường phố.
Cha Thanh thì nghĩ rằng một xã hội đã bị tham nhũng di căn sẽ chẳng chống được cái gì mà cũng chẳng xây được cái gì. Và cũng có nhiều người nghĩ như cha nên vụ việc mới thành phong trào. Có những ông chống cộng cùng mình như ông dân biểu Đỗ Sinh Tứ và các bạn, xưa nay vẫn rất kỵ cái nhóm “cấp tiến” ở Dòng Chúa Cứu Thế, nay cũng tươi cười xuất hiện tay trong tay với nhóm cha Thanh, thậm chí với cả nhóm Chân Tín – Nguyễn Ngọc Lan nữa. Có hôm cha Thanh từ trong nhà bước ra sân Nhà Thờ, bỗng dưng có mấy người Nhật tiến lại nghiêng mình rất sâu chào cha. Mọi người cứ tưởng đó là bạn hữu của cha hay nhà báo gì đó, hóa ra không phải. Họ nhận ra cha vì đã thấy cha trên tivi bên Nhật, và họ muốn tỏ lòng ngưỡng mộ. Thành ra có người khen cha Thanh sáng suốt, có người chê cha điên khùng mê muội. Cha Thanh lại cười chúm chím, ngúc ngắc đầu bảo rằng: “Tôi đã cưỡi hổ rồi, không xuống được nữa đâu”.
Nhưng con hổ cha đang cưỡi sắp bị tử thương rồi. Cách Mạng sắp đến rồi. Và chính quyền Cách Mạng không đặt vấn đề cha Thanh sáng suốt hay mê muội. Sáng suốt hay mê muội thì cũng thế thôi, đàng nào thì cha cũng là người có tội. Đấu tranh làm sạch xã hội nếu là có công với xã hội tư sản thì sẽ là có tội với xã hội cách mạng vô sản. Thế mới là biện chứng.
Ngày 30.4.1975 đưa cha Thanh và cả Sài-gòn sang một thế giới khác. Những người, những vấn đề, những tranh đấu của mấy hôm trước bỗng dưng biến đâu mất. Hôm đầu tháng 5 đó, cha Thanh từ trong Nhà Thờ bước ra, đón người đến hỏi thăm bằng nụ cười chúm chím: “Té ra mình vẫn còn phong độ như xưa !” – Phong độ gì thế cha ? Còn phong trào đâu, còn lãnh tụ gì đâu, còn tranh đấu gì đâu mà phong với độ ? – Không. Phong độ trong cái thuật dạy Giáo Lý cho trẻ con kìa ! Vẫn cứ hào hứng y nguyên như khi còn trẻ vậy ! Bao giờ cũng thế, thăng trầm chán chê rồi thì cha Thanh lại trở về Giáo Lý làm điểm tựa.
Trong Thánh Kinh Cựu Ước có chuyện ông ngôn sứ Giô-na. Chúa bảo ông đi công tác ở phía Đông, ông lại đi ra biển ở phía Tây. Cứ tưởng ông sẽ thành bổn mạng của những người vượt biển di tản, nào ngờ sự việc xảy ra biến ông thành bổn mạng của những người hồi hương giảng đạo. Cha Thanh thì chẳng hề có ý tưởng di tản sang Tây hay sang Mỹ. Có điều những ước mơ của cha cho đất nước có phần hơi nghiêng về phía Tây so với lịch sử đang diễn biến trên mảnh đất Á Đông này. Ông ngôn sứ Giô-na mở mắt ra thấy mình đã trôi dạt đến ngay trước cửa thành Ni-ni-vê to đùng. Trời cho một cơn biến động lịch sử và ở thời điểm 1975 ấy, cha Thanh bước những bước đầu tiên vào quãng đường cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Thế là không đơn giản rồi. Một phút vui mừng vì cái phong độ dạy trẻ con vẫn còn nguyên thì Ccha nói vậy, nhưng cuộc đời đâu có dễ dàng thế. Người như cha, tình hình như thời điểm ấy, làm gì có thể bình an chí thú bên lũ trẻ. Điều ấy cha dư biết. Một hôm cha đi đâu không biết, nhưng không thấy về nhà nữa. Thế là bắt đầu con đường chông gai và gian nan đi vào xã hội mới. Con người ta cần 9 tháng để đi vào cuộc đời, cha Thanh phải mất 12 năm để đi vào xã hội mới. Hơn 3 năm tù ở nhà lao Chí Hòa ( Sài-gòn ) và Thanh Liệt ( Hà Nội ). Rồi 9 năm bị quản chế, 5 năm ở Họ Đạo Quang Húc dưới chân núi Ba Vì, rồi 4 năm ở thôn Trần Nội, Giáo Phận Hải Phòng…
Một thời gian khá lâu, chẳng có tin tức gì về cha Thanh, chẳng có thăm nuôi, chẳng biết cha ở đâu. Thậm chí ở nước ngoài đồn cha đã chết rồi. Không biết có phải vì chuyện đồn đại ấy không mà Nhà Nước cho báo nước ngoài phỏng vấn cha. Ảnh cha được phóng to trên trang nhất của tờ báo. Hồi đó đất nước chưa mở cửa, nhưng tờ báo đi vòng vo thế nào đó, rồi cũng đến Sài-gòn. Ít ra thì thân nhân, bạn bè anh em trong Dòng cũng biết ở một nơi nào đó trong cõi vắng lặng thông tin cha Thanh vẫn còn sống.
Có một Thánh Vịnh nói về chuyến đi qua những thung lũng âm u sát khí, ở đó người ta chỉ chống cây gậy của Chúa để trấn tĩnh tâm hồn. Về sau cha Thanh chia sẻ rằng chưa bao giờ cha nhớ đến từng người, từng việc trong cuộc đời và cầu nguyện nhiều cho bằng những năm tháng ấy. Một cảm nghiệm nữa là tình cảnh nghèo khó, thiếu thốn trăm bề của các Xứ Đạo miền Bắc. Nông thôn miền Bắc không thiếu gì những Nhà Thờ nhỏ hoang phế, trống vắng, bị sự ẩm thấp, mối mọt, rêu phong gặm nhấm dần. Thường thường bên cạnh đó cũng có một Nhà Xứ hay Nhà Phòng cũng xuống cấp như Nhà Thờ. Chung quanh là một khoảng đất trống hay vườn cây có thể tạo thế cô lập cho cơ sở tôn giáo. Những Giáo Sĩ bị quản chế thường được đưa tới những nơi như thế, thử làm người lão bộc thức đêm đợi Chúa đi vắng rất lâu chưa thấy về.
Chúa có vẻ chưa đến, nhưng ông Linh Mục quản chế dần dần nghe thấy hơi thở và nhịp tim của một đoàn chiên vẫn thầm lặng đâu đấy chung quanh Nhà Thờ. Đoàn chiên xem chừng hao gầy, xơ xác vì sống sót qua nhiều đợt phong ba. Rồi đôi bên có nhiều phương cách nhẹ nhàng bắt liên lạc với nhau, dựa vào nhau, sưởi ấm lẫn nhau. Những người giáo dân mộc mạc ấy sau những năm dài bơ vơ về mặt tâm linh, có khi chẳng còn biết gì nhiều. Trơ trần ra chỉ có một lòng trung thành mỏi mòn. Cảm thấy có một ông Linh Mục ở gần, dù bị ngăn cách, là như đất hạn gặp được trời mưa. Tình cảnh ấy khiến cho Linh Mục tuy không được tự do, nhưng lại bồi hồi vì nghe tiếng gọi phát xuất từ những tầng sâu thẳm của Thiên Chức nơi mình.
Cảm nghiệm ấy khiến cho cha Thanh khi mãn hạn 14 năm tù và quản chế không còn muốn về miền Nam nữa. Cha chỉ về Nam thăm nhà Dòng, thăm thân nhân, bạn bè nhưng đã tâm niệm định cư bên ngôi Nhà Thờ trống vắng ở thôn Trần Nội, gần thị xã Hải Dương, Giáo Phận: Hải Phòng. Đến tuổi già, cha lại phát hiện một sứ mạng mới, Giáo Phận Hải Phòng cũng như những Giáo Phận khác ở Miền Bắc, đang hết sức neo đơn về nhân sự, lại gặp một người tầm cỡ như cha xin tình nguyện phục vụ, nên cũng rất vui lòng đón tiếp cha.
Trước mắt cha Thanh bây giờ có cả một thế hệ trẻ mọc như cỏ dại chẳng biết gì về sinh hoạt trong Hội Thánh. Ngày Đức Cha Nguyễn Tùng Cương về thăm thôn Trần Nội, lũ trẻ con mở mắt nhìn thao láo, bảo nhau “chúng mày ơi ! Ông này mặc áo đàn bà !”. Cha Thanh nối lại nghiệp cũ là dạy Giáo Lý, giảng và làm lễ, bây giờ không phải là những cộng đoàn đông nghẹt, nhưng là thôn dân trong ngôi nhà nguyện vài chục mét vuông. Cha tiếp đón người này kẻ khác, không phân biệt tôn giáo. Cha quan tâm đến công việc làm ăn của thôn làng. Bạn bè cũ ở nước ngoài gửi cho cha những hạt giống rau, quả mới. Cha mang phân phát cho dân trồng thử. Trần Nội có những sản phẩm rau, dưa độc đáo bắt đầu làm ăn khấm khá hẳn lên.
Có lúc DCCT tìm cách đưa cha về Hà Nội. Nhà Dòng có thời đã hoạt động khá mạnh ở miền Bắc. Vào thăm rất nhiều ngôi Nhà Thờ vắng lạnh, ta vẫn gặp thấy ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, màu sắc đã mờ đi theo năm tháng. Đó là vết tích hoạt động của Dòng. Khi mọi sự đổi thay, thì Đức Mẹ vẫn kiên trì ở lại giữa đoàn con nghèo khó về mọi mặt. Nhưng bây giờ trên toàn miền Bắc, Dòng chỉ còn lại hai Linh Mục già. Cha Vũ Ngọc Bích được mọi người kính cẩn gọi là cha Bề Trên, mặc dù suốt bao nhiêu năm cha sống một mình, chẳng có ai để làm “bề dưới”. Nay thì cha Bích đã mù mắt rồi, đã “mất sức lao động rồi”. Sau một đời kiên trung, đã đến lúc phải tìm cho cha Bích một người thừa kế. Ngoài cha Thanh thì có còn ai nữa đâu ?
Các ông ở ban tôn giáo Thành Phố cười cười hóm hỉnh: “vậy là các vị định đưa cụ 79 lên kế vị cụ 80 à ?” Thật ra vấn đề không đơn giản là tuổi tác. Cha Thanh thường nhắn nhủ các anh em trẻ trong Dòng: “Khi tiếp xúc với chính quyền, ta luôn phải khiêm tốn và lế độ.” Việc tiếp xúc với chính quyền đối với cha là chuyện thường lệ trong bao nhiêu năm. Cha luôn chủ ý tỏ ra khiêm tốn và lễ độ. Chỉ có điều trao đổi một lúc thì bao nhiêu vấn đề ùa tới, chuyện nước, chuyện non, chuyện đạo, chuyện đời. Thế là cái giọng sang sảng từ ngày xưa lại cất lên. Bây giờ nghĩ lại thấy quả nhiên đất nước đã biến đổi từ từ, nhưng biến đổi rõ ràng. Có những chuyện ngày nay mọi người, từ báo chí đến tư nhân đều nói, nhưng 15, 20 năm trước là điều cấm kỵ. Để cho cái giọng sang sảng của cha Thanh hồi sinh trên tòa giảng một Nhà Thờ ở Hà Nội thì khác nào cho bom nổ giữa thủ đô ? Đấy mới là vấn đề, chứ không phải cái tuổi 79.
Vậy thì lấy ai tiếp nối sự kiên trì của cha Bích ? Câu hỏi hiểm hóc ấy tìm được đáp án thật bất ngờ, mà lại là một đáp án Nhà Dòng mong đợi từ lâu. Chẳng là toàn Hà Nội chỉ có 4 Nhà Thờ thôi, để cho Nhà Thờ của cụ Bích không có Linh Mục, chẳng hóa ra Hà Nội không có tự do tôn giáo ? Các vị trong Mặt Trận Tổ Quốc và Ban Tôn Giáo TP vận động khẩn khoản. Một ngày đẹp trời cha Bích mù lòa chống gậy ngồi xích-lô lên Tòa Tổng Giám Mục xin một Linh Mục về Nhà Thờ Thái Hà thay thế mình. Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng tỏ ra tiêu cực. Ngài trả lời một câu rất có dụng ý: “Nhà Thờ đó xưa nay DCCT phụ trách. Nhà Dòng phải tìm người thay thế. Phần tôi dẫu có dư Linh Mục cũng không cử ai về đấy cả.” Đức Hồng Y làm gì mà có dư Linh Mục, ngài cũng thiếu thốn đủ điều. Thực sự là ngài muốn yểm trợ nhà Dòng.
Vậy là kẹt cứng. Dân miền Bắc từ kinh nghiệm của mình lâu nay có một câu ngạn ngữ mới. Người ta không nói: “Cái khó nó bó cái khôn”, Người ta nói: “Cái khó nó ló cái khôn.” Giữa một cụ Thanh có giọng nói sang sảng và cụ Hồng Y cứ lắc đầu liên tục, các vị trong Ban Tôn Giáo Nhà Nước cũng “ló cái khôn”. Bên cạnh cụ Bích từ vài năm nay có Thầy Sáu Trịnh Ngọc Hiên. Thầy Sáu Hiên đã học xong chương trình chủng viện trong Nam, lại là người biết thuốc Nam, biết châm cứu. Nhà Dòng xin cho thầy ở bên cạnh cụ Bích để săn sóc, đỡ đần cụ lúc tuổi già sức yếu.
Thầy Hiên là người nhẫn nại, hiền hòa, nhỏ nhẹ. Chính cái tính hiền hòa, nhỏ nhẹ đó đã khiến nhà Dòng chọn thầy để sống ở Hà Nội. Các vị trong Ban Tôn Giáo bảo: “thế sao không phong chức cho ông Hiên đó ?” Nhà Dòng mừng quá. Thay vì hai cụ già, từ nay có hai cụ già và một cụ trẻ ở miền Bắc. Tốt lành quá đi thôi. Thế là thầy sáu Hiên chuẩn bị nhanh chóng. Đã gần một nửa thế kỷ mới lại có một Tu Sĩ chịu chức Linh Mục ở Hà Nội. Thấm thoát lại hơn 15 năm qua, cụ Bích đã về bên Chúa rồi, cho đến ngày nay Giáo Dân Hà Nội vẫn yêu mến cha Bề Trên Hiên vì cái tính tận tụy, hiền hòa, nhỏ nhẹ…
Hôm cha Giu-se Trinh Ngọc Hiên chịu chức, cha Giu-se Trần Hữu Thanh ngồi khóc giữa đoàn đồng tế ! Cha có nhiều điều để nhớ; cha nhớ một lần chưa lâu, có ai đó thấy xa trông rộng đã phân giải với cha rằng: “Ai lai giết những người như cụ làm gì. Giết cụ để cụ làm Thánh Tử Đạo à ? Lớp các cụ là những người để cho lịch sử đào thải. Các cụ cứ già cõi dần mòn rồi tan biến thôi”. Vậy mà hôm nay ở đâu nẩy ra cái ông Linh Mục mới này. Tre cứ già mà măng vẫn cứ mọc. Bên cạnh cái già cỗi vẫn có cái trường tồn. cái gì tự nó già cỗi thì để cho lịch sử đào thải, tiếc hay không tiếc cũng thế thôi ! Khi những cái già cỗi đã qua đi rồi, sẽ lộ ra cái trường tồn, với tất cả tính mịn màng của một sự sống mới. Đó là định luật muôn đời của tất cả những gì có thực chất, có nội lực. Đời người, xét cho cùng là một quá trình nhận thức cái gì già cỗi và cái gì trường tồn ở nơi mình.
Điều cha Thanh chứng kiến lúc cuối đời là chung quanh cha có nhiều mầm non. Những lần về thăm Sài-gòn và thấy các thế hệ trẻ của Dòng đang học tập, cha đã khóc như đã từng khóc hôm cha Hiên chịu chức. Năm lần đầu tiên sau năm 1975, DCCT Sài-gòn có một lễ phong chức Linh Mục, cha Cao Đình Trị, khi đó là Giám Tỉnh, đã đứng lên cám ơn mọi thân nhân bằng hữu và quan khách đạo đời. Cha nói: “Người ta cưu mang một đứa con mất 9 tháng, Nhà Dòng chúng tôi cưu mang những người con mới này mất 19 năm”. Gian nan khó nhọc là thế, nhưng Ơn Trên thương rồi ra cũng mẹ tròn con vuông. Trong số những người trẻ mới nhập Dòng, nhiều người đến từ miền Bắc. Nhà Dòng yêu cầu các bạn trẻ ấy giữ nguyên hộ khẩu ở miền Bắc cho sâu rễ, bền gốc, để khi nào đào tạo xong, thì họ trở về phục vụ Chúa nơi quê hương mình.
Cha Thanh có nhiều dự tính cho tương lai. Với những điều cha kinh nghiêm về Giáo Hội miền Bắc, cha nhẩm tính số các Xứ Đạo trong và ngoài Giáo Phận Hải Phòng, số anh em trẻ đang sắp đến thời kỳ hoạt động, và cha mơ ước lập những đoàn Thừa Sai Đại Phúc để lui tới khắp nơi theo truyền thống từ xưa của Dòng. Trong khi chờ đợi, cha Hiên cũng đã bớt lẻ loi, những anh em trẻ gốc miền Bắc đã lác đác trở về Hà Nội tiếp tay với cha.
Ngôi Nhà Thờ cha già Bích suốt mấy chục năm duy trì cho sống qua những mùa khắc nghiệt bắt đầu nẩy cành xanh ngọn. Chung quanh Nhà Thờ, sinh viên các tỉnh lên Hà Nội học ở trọ khá đông. Dân lao động từ dưới quê lên Hà Nội làm ăn, sinh sống, những anh xe ôm, những chị đồng nát, và trăm thứ ngành nghề trí óc lẫn chân tay cũng nhận ngôi Nhà Thờ như nhà chung của mình. Nhà Thờ Nam Đồng thành ra một cộng đoàn hết sức đông đảo, với rất nhiều người trẻ. Tối thứ bảy, tối Chúa Nhật, người ta đến chật ních Nhà Thờ, chật kín sân, tràn khắp hành lang tầng trệt và tầng lầu Nhà Dòng. Rồi các hội đoàn, các lớp Giáo Lý, các ca đoàn, các nhóm sinh viên v.v…
Năm 2001, cha Thanh trở về Hà Nội, chứng kiến và đồng hành với những bước phát triển ấy. Ông cụ 79 không thể về làm việc ở Hà Nội được, nhưng ông cụ ngoài 80 thì phải về thôi. Cha Thanh càng ngày càng suy yếu. Những cơn thấp khớp đau đớn khủng khiếp khiến cha cắn răng nằm liệt nhiều ngày liền. bệnh trạng ngày càng phức tạp, người ta chuẩn bị làm đám tang, đã xây sẵn kim tĩnh cho cha ngoài nghĩa trang Giáo Xứ Phú tảo ( thôn Trần Nội là một họ lẻ của Giáo Xứ Phú Tảo ). Không thể không đưa cha về Hà Nội, là nơi có bệnh viện, có thầy, có thuốc. Vậy rồi sức sống dai dẳng của cha cũng vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo, tưởng chết mà lại hồi sinh. Có điều tay chân bị biến dạng nhiều, dần dà cha phải ngồi xe lăn.
Từ đó, hầu như năm nào cha cũng phải nhập viện một vài lần. Nhưng hễ xuất viện trở về nhà là lại cười, lại tếu. Chiều tối cha vẫn lên Nhà Thờ ngồi xe lăn đồng tế với anh em. Dù sao thì đất nước cũng từ từ thay đổi. Không còn ai cảm thấy phải e dè điều gì về những bài giảng của cha. Tay chân bị bệnh tật làm mất hiệu năng, nhưng tiếng nói vẫn rất tốt, vẫn ấm, vẫn rành mạch. Có khi cha cứ ngồi xe lăn mà giảng trong Lễ chiều cả tuần liền. Hễ anh em đề nghị cha giảng là cha nhận lời ngay. Cha nhận thấy còn nhiều điều lắm để nói.
Không ra ngoài nhiều nhưng cha theo dõi tình hình trong đạo ngoài đời. Mỗi ngày cha dành thì giờ đọc báo chí trong nước, ngoài nước, rồi ngẫm nghĩ, cầu nguyện. Gặp anh em ở các nơi xa đến Hà Nội, cha hỏi thăm ngay những chuyện xảy ra ở các địa phương mà cha đã biết qua các phương tiện truyền thông. Giáo Dân gần xa, và cả những người bên lương quen dần với hình ảnh vị Linh Mục tóc bạc phơ, tối tối thì ở trên Cung Thánh, nhưng ban ngày hay lăn xe đi trong sân Nhà Thờ, thăm hỏi người già, trêu chọc người trẻ, với một bầy nhi đồng, thiếu nhi hay tìm đến lân la, quẩn quanh. Trong tuổi già, không còn chuyên trách một nhiệm vụ nào, cha như một nền móng tâm linh cứ tự nhiên lan tỏa trên những lớp trẻ đang cố gắng gánh vác sứ mệnh đời trước truyền lại.
Lần cuối cùng cha Thanh giảng là hôm Nhà Thờ Nam Đồng dâng lễ cầu hồn cho cha Mi-ca-e Hoàng ( tên gốc là Michel Laliberté ) mới qua đời ở Canada. Đây là một trong hai người cuối cùng còn sống sót trong lớp Thừa Sai DCCT người Canada qua lập Dòng và hoạt động ở Việt Nam.
Những người đã cao tuổi ở Nam Đồng còn nhớ hình ảnh vị Thừa Sai trẻ tóc vàng, râu vàng ngày xưa hay lái một chiếc xe hơi nhỏ chạy khắp phố phường Hà Nội. Chiếc xe ấy trong những năm khốn khó cuối thế chiến thứ II đã từng chở những bệnh nhân nghèo đi cấp cứu. Hồi nạn đói Ất Dậu, có lúc xe chở cả người chết đi chôn. Những người tương đối trẻ tuổi hơn ở miền Nam thì còn nhớ cha Mi-ca-e Hoàng sống giữa bà con người Thượng K’Hor trên Lâm Đồng. Nghe nói từ năm 1975, trở về Canada, cha Hoàng kiếm được đồng nào đều dành hết cho bà con K’Hor nghèo.
Cách đây hơn 10 năm, nghe nói nước ta mở cửa, cha Hoàng cùng mấy vị Thừa Sai khác, tất cả đều đã ngoài 80 rủ nhau sang Việt Nam thăm lại cảnh cũ ( nay đã khác trước nhiều ). Về lại Nam Đồng sau 50 năm biệt tăm tích, Giáo Dân Nam Đồng đã đón tiếp các bậc cố tri vô cùng đằm thắm. Nhân các vị hỏi thăm tình hình, một Giáo Dân đã buột miệng: “Chúng con nghèo lắm, cha ạ”. Và một vị Thừa Sai bỗng nhớ lại tiếng Việt đã mấy chục năm không nói, đã trả lời nghẹn ngào: “Nhưng tình thì không nghèo đâu, giầu lắm, giầu lắm !”
Vị Thừa Sai ca ngợi tình giàu đó cùng với mấy vị nữa đã qua đời rồi. Nay đến lượt cha Hoàng từ giã thế gian, cha chỉ ước được thăm Việt Nam một lần nữa, nhưng mộng không thành. Mấy Linh Mục Tu Sĩ trẻ ngày nay không biết gì nhiều về cha Mi-ca-e Hoàng. Họ nhờ cha già Thanh, hình như học trên cha Hoàng một lớp thì phải, nói mấy lời chia sẻ ( các vị Thừa Sai Canada ngày xưa có một sáng kiến độc đáo: họ đưa các Đại Chủng Sinh Thừa Sai người Canada sang Việt Nam đào tạo chung với các Đại Chủng Sinh người Việt của Dòng, do đó lập ra Học Viện DCCT Hà Nội. Cha Thanh vẫn nói rằng đó là bí quyết khiến các vị Thừa Sai Canada này thành công ở Việt Nam ).
Tối hôm đó trong Thánh Lễ dù đã cảm thấy mệt, cha Thanh vẫn ôn lại những kỷ niệm với người anh em đồng song; cha Mi-ca-e Hoàng chịu chức Linh Mục năm 1945 ở Nhà Thờ Cửa Bắc, không một thân nhân ruột thịt nào có mặt. Gia đình không chỉ ở cách xa nửa vòng trái đất, mà còn bị ngăn cách bởi cuộc thế chiến khốc liệt. Hà Nội và vùng phụ cận sống dưới sự đe dọa của mưa bom bão đạn. Từ đó cha Thanh suy ra cái hồn của người Thừa Sai. Cha vừa giảng, vừa khóc.
Giảng xong bài giảng cuối cùng đó, cha Thanh trở bệnh nặng lúc đêm khuya…
Tình giầu của người Giáo Dân Việt Nam lại hiện lên; không cần phải hô hào, mọi người tự động tìm về Nhà Thờ. Các chú Đệ Tử của Dòng đã săn sóc cha từ nhiều năm nay đưa cha về Tu Viện, và lo việc khâm liệm. Các ông, các anh thanh niên phân công nhau lo giữ gìn trật tự, tiếp tân. Các bà, các cô xé hàng ngàn chiếc khăn cho khách thập phương sắp đến viếng và lo việc chợ búa, cơm nước cho gia đình, bạn bè của cha…
Hai ngày cha Thanh nằm như ngủ trong chiếc hòm kính ở Nam Đồng, người đến viếng hết lớp này đến lớp khác, nhưng bầu khí thật bình an, thanh tĩnh.
Trong những đoàn người đông đảo ấy, thỉnh thoảng nổi lên những khuôn mặt đã như đồng hóa với những giai đoạn thăng trầm của Dân Chúa.
Một chiếc xe nhỏ đậu lại trong sân Nhà Thờ. Một chiếc xe lăn được đưa xuống. Mấy thanh niên dìu một cụ già từ xe hơi lên xe lăn. Đó là cha Phạm Hân Quynh từ một Xứ Đạo xa về viếng cha Thanh.
Cha Quynh bây giờ có vẻ như một bóng mờ của cha Quynh ngày xưa. Tuổi cũng ngót nghét chín mươi, lại đã ba lần tai biến mạch máu não, làm gì mà bóng chẳng mờ. Ngày xưa cha Quynh lanh lẹ, tinh anh bao nhiêu ! Từ ngày ở Đại Chủng Viện đã là một bộ óc Triết Học xuất sắc, chủ động trao đổi ý tưởng với các triết gia lớn đương thời. Rồi đi học Sorbonne, bạn học với người sau này là Tổng Giám Mục Lustiger của Paris, cha Quynh ở Pháp vào lúc đất nước chuyển mình trong Cách Mạng Tháng 8. Cha đã từng bàn bạc, suy nghĩ biết bao nhiêu về đất nước với các bạn Việt Nam cùng học ở Paris. Cha tốt nghiệp và về nước vào thời điểm 1954, với ý thức rõ ràng là về nước sẽ gặp một hoàn cảnh khó khăn và tế nhị. Giáo Hội Hà Nội nói riêng, miền Bắc nói chung dàn hàng một loạt trí thức trẻ, mong xây dựng Đức Tin giữa thời Cách Mạng.
Những tên tuổi như Phạm Hân Quynh, Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Thông ( từ Châu Âu về ), Nguyễn Ngọc Oánh ( từ Mỹ về ) một thưở đã sáng chói trong lòng giới trẻ Công Giáo Hà Nội. Hai cha Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Thông sẽ có một số mệnh bi thảm. Cha Quynh và cha Oánh cũng lao đao tợn, nhưng rồi cũng sống sót qua thời khốn khó. Cha Oánh vừa qua đời hồi tháng 8 năm 2007, cha Quynh còn chèo chống đến ngày nay.
Giữa những năm Giáo Hội như bị đóng băng về tư tưởng, cha Quynh vẫn cố duy trì hoạt động trí thức. Dẫu cha không thể để lại những tác phẩm lớn, cha vẫn đóng góp bằng lời nói và ngòi bút giúp cho Dân Chúa động não. Cha đề cập những vấn đề cụ thể, thiết thực bằng một văn phong dễ tiếp thu cho những người mộc mạc chung quanh cha. Đặc biệt cha đào tạo được những người Giáo Dân, tuy chất phác, nhưng biết làm việc Tông Đồ có hiệu quả. Khi dòng đời đưa cha Trần Hữu Thanh cập bến Giáo Phận Hải Phòng, thì cha Quynh với cha Thanh trở thành đôi bạn tương đắc, cộng tác với nhau.
Hôm nay cha Quynh, với các đồ đệ vây cạnh, đang đứng trước linh cữu cha Thanh. Cha đang mấy máy nói gì đó, như tâm sự, như khấn xin. Lại gần thì thấy cha đang nói: “Anh đã ngẩng cao đầu mà sống. Anh đi trước, rồi tôi sẽ theo anh”.
Còn một cụ nữa tóc cũng bạc phơ, vừa đến với vài người đồ đệ. Cha Bergmann Thảo của Đan Viện Xi-tô Châu Sơn đấy. Châu Sơn là nơi từ ngày thành lập, có những con người và câu chuyện giống như là huyền thoại. cha Thảo đã có mặt từ những ngày đầu, chứng kiến và tham gia mọi sự. Biến cố 1954 đưa cha vào miền Nam. Ba mươi năm sau, cha chịu thương chịu khó trở về chốn cũ. Nhà Dòng Châu Sơn nổi tiếng ngày xưa đã thành một nơi hoang phế, ẩm thấp, âm u, với vài cụ già tuổi đời đã ngót một thế kỷ. Cha Thảo cũng đã tuổi cổ lai hy, lao vào dựng lại người, dựng lại nhà. Ngày nay Đan Viện Châu Sơn lại sáng sủa, khang trang, với một cộng đoàn trẻ, đông đúc. Cha Thảo đang dự định xây một nhà Tĩnh Tâm hơn 100 phòng. Mỗi khi có ai ở Dòng Chúa Cứu Thế vào Châu Sơn, Cha Thảo bao giờ cũng hỏi thăm bạn già: “Cha Thanh lúc này ra sao?”
Bây giờ thì cụ Thanh, cụ Thảo, cụ Quynh, người đi và người ở lại, đều hội tụ ở đây. Đó là lớp người, lúc ở xa, lúc ở bên nhau, nhưng đã cùng lên thác xuống ghềnh. Đã đến lúc người ta gọi là: “chuyển giao các thế hệ”. Thế hệ mới đã đứng sẵn đó rồi. Cộng đoàn trẻ Dòng Chúa Cứu Thế khá đông đúc, riêng Cha Thanh trước khi qua đời được niềm an ủi nhìn thấy một đứa con tinh thần, ở nơi chính Cha từng bị quản chế, chịu chức Linh mục ( xem bài… ). Rồi Linh mục đoàn trẻ Giáo phận Hải Phòng, với vị Giám mục trẻ dẫn đầu, đang quây quần chung quanh linh cữu, đang hiệp thông trong một lời ca: “Có một điều tôi hằng ước mong, là được ở trong nhà Chúa suốt đời tôi…”
Cha Thanh được an táng khá xa tu viện Dòng Chúa Cứu Thế. Người ta không đưa Cha lên nghĩa trang Thanh Tước, nơi đa số các Linh mục và tu sĩ của Dòng an nghỉ, ở đó có những vị thừa sai đầu tiên người Canada, thuộc lớp người “một đi không trở lại”, và những Linh mục tu sĩ đầu đàn người Việt: Cha Hiệp chết vì lây nhiễm khi săn sóc các bệnh nhân chấy rận trong một nạn dịch, Cha Dong chết khi đang trên đường từ Nam Định lên gần đến Hà Nội thì trúng bom Mỹ trong năm cuối của thế chiến thứ hai. Cũng không đưa Cha về nghĩa trang Thạch Bích để an nghỉ bên người anh em Vũ Ngọc Bích, người đã giữ đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và đón tiếp khách nghèo thập phương suốt gần 20 năm cô đơn.
Theo yêu cầu tha thiết của giáo dân, của Giáo phận Hải Phòng, mọi người đưa Cha về Phú Tảo, nơi Cha từng bị quản chế. Chắc chắn ý Cha cũng muốn thế, vì suốt những năm cuối đời, dù đau yếu, dù ngồi xe lăn, cứ đến các lễ lớn và Tết nguyên đán, là nhất định Cha phải về đấy, sống giữa đoàn chiên nghèo. Ngày nay người con tinh thần của Cha là Cha Hội đang tiếp nối công việc của Cha, chăm sóc ngôi nhà thờ cổ và giáo xứ ở đây.
Người địa phương, người từ Hải Phòng về, người Hà Nội đến, anh em trong Dòng từ khắp nơi, gia đình ruột thịt của Cha từ Quảng Trị, từ Đồng Nai tụ lại. Cả một đoàn người thật dài đi bộ đưa tiễn, từ nhà thờ Phú Tảo ra nghĩa địa cách xa hai cây số. Thời tiết đã tàn thu chớm đông, nhưng trời vẫn nắng hâm hấp qua màn sương. Thanh niên ba xã chia phiên nhau khiêng linh cữu từng đoạn suốt từ nhà thờ đến nghĩa địa.
“Có một điều tôi hằng ước mong…”
VŨ, Sài-gòn ngày 7.1.2008

Chuyên mục:Uncategorized